Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài Mục đích nghiên cứu đề tài là trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện QLNNnhằm phát
Trang 1PHẠM THỊ THANH MAI
quản lý nhà nước nhằm phát triển các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo
Trang 2Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Ngư ờ i hư ớ ng dẫ n khoa họ c: PGS, TS Nguyễn Hữu Thắng
Phả n biệ n 1:
Phả n biệ n 2:
Phả n biệ n 3:
Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Vào hồi giờ , ngày tháng năm 20
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia và
Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo luôn là vấn đề được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm,đặc biệt đối với các nước đang phát triển như Việt Nam Xóa đói giảm nghèo(XĐGN) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta và đang được thựchiện từ nhiều năm nay Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và XĐGN đượcphê duyệt tháng 5/2002 nêu rõ: “Chính phủ Việt Nam coi vấn đề XĐGN làmục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển KTXH của đất nước”
Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ XI chỉ rõ: “Tập trung triểnkhai có hiệu quả các chương trình XĐGN ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặcbiệt khó khăn Đa dạng hoá các nguồn lực và phương thức xoá đói, giảmnghèo gắn với phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển giáo dục, dạynghề và giải quyết việc làm để xoá đói, giảm nghèo bền vững; tạo điều kiện
và khuyến khích người đã thoát nghèo vươn lên làm giàu và giúp đỡ ngườikhác thoát nghèo”
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quyết liệt trong chỉ đạo điều hành củaChính phủ và thực thi của các cấp chính quyền, nước ta đã đạt được nhữngthành tựu đáng kể trong công cuộc XĐGN, đưa tỷ lệ đói nghèo từ 64%những năm 1980 xuống còn 17% năm 2001 và xuống khoảng 14% hiện nay
Cùng với các địa phương khác trong cả nước, thành phố Hà Nội đã cónhiều cố gắng trong công tác XĐGN, trở thành một trong số địa phươngtiêu biểu, đi đầu của cả nước về XĐGN Đến năm 2005, Hà Nội không còn
hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh: đến cuối năm 2007 chỉ còn 2,3% Từngày 01/8/2008, thực hiện Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH12 của Quốc hội,địa giới hành chính thành phố Hà Nội được mở rộng với diện tích tự nhiênhơn 334.470 ha và dân số hơn 6,2 triệu người Tỷ lệ hộ nghèo tăng lên, đạtmức 7% Mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo vì thế cũng là một thách thức đốivới chính quyền thành phố
Những năm qua, chính quyền thành phố Hà Nội đã triển khai nhiềudịch vụ khác nhau cho người nghèo Hà Nội như: cho vay lãi suất ưu đãithông qua quỹ tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội (CSXH), xâydựng chính sách ưu tiên đối tượng thuộc hộ nghèo trong xuất khẩu laođộng, đào tạo nghề, khuyến khích doanh nghiệp nhận lao động địa phươngthuộc hộ nghèo vào làm việc Nhờ đó, đến năm 2012, tỷ lệ hộ nghèo của
Hà Nội còn 1,52% và Hà Nội thuộc nhóm năm tỉnh, thành phố có số hộnghèo thấp nhất cả nước
Trang 4Bên cạnh những thành tựu đạt được, quản lý nhà nước (QLNN) đốivới XĐGN nói chung và nhằm phát triển các dịch vụ cơ bản đối với ngườinghèo nói riêng còn những hạn chế nhất định, nhất là: QLNN đối với dịch
vụ việc làm (DVVL) chưa sâu sát; hoạch định và kiểm soát dịch vụ tàichính cho người nghèo vẫn còn hạn chế
Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, cùngvới sự tác động của thiên tai, nhiều rủi ro bất trắc có thể xẩy ra, tình trạngphân hóa giàu nghèo tăng lên, tình trạng tái nghèo có nguy cơ gia tăng Đểgiảm nghèo được vững chắc, việc cung cấp các dịch vụ cho người nghèo mộtcách có hiệu quả có ý nghĩa lớn Do vậy, việc nghiên cứu nhằm tìm các giảipháp hoàn thiện QLNN nhằm phát triển các dịch vụ cơ bản đối với ngườinghèo trên địa bàn thành phố Hà Nội có ý nghĩa thiết thực, cấp bách Đó là lý
do chủ yếu của việc lựa chọn đề tài: “Quả n lý nhà nư ớ c nhằ m phát triể n các dị ch vụ cơ bả n đố i vớ i ngư ờ i nghèo trên đị a bàn thành phố Hà Nộ i”.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài là trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận
và thực tiễn có liên quan, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện QLNNnhằm phát triển các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo trên địa bàn thànhphố Hà Nội
Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài đặt ra gồm: Hệ thống hóa những vấn đề lýluận và thực tiễn về QLNN nhằm phát triển các dịch vụ cơ bản đối vớingười nghèo; phân tích và đánh giá thực trạng QLNN nhằm phát triển cácdịch vụ cơ bản đối với người nghèo trên địa bàn Hà Nội; đề xuất phươnghướng và giải pháp hoàn thiện QLNN của chính quyền thành phố Hà Nộinhằm phát triển các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo trên địa bàn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là QLNN ở cấp tỉnh, thành phố nhằm phát triểncác dịch vụ cơ bản đối với người nghèo trên địa bàn thành phố Hà Nội
Về phạm vi nghiên cứu, việc nghiên cứu đề tài tập trung vào nhữngnội dung cơ bản của QLNN chủ yếu đối với hai loại dịch vụ cho người
nghèo trên địa bàn Hà Nội là dịch vụ tài chính và dịch vụ việc làm.
Việc nghiên cứu thực trạng QLNN nhằm phát triển các dịch vụ cơbản đối với người nghèo trên địa bàn Hà Nội từ năm 2000 đến nay; cácgiải pháp hoàn thiện QLNN nhằm phát triển các dịch vụ cơ bản đối vớiđến năm 2020
Trang 54 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận: Việc nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp
luận duy vật biện chứng; trên cơ sở quan điểm, đường lối, chính sách củaĐảng và Nhà nước
Về phương pháp nghiên cứu: các phương pháp được sử dụng bao hàm
cả phương pháp diễn dịch và phương pháp quy nạp; phương pháp định tính,định lượng và phối hợp
Ngoài ra, tác giả đã tiến hành điều tra xã hội học theo mẫu phiếu tại
648 hộ dân thuộc 6 quận, huyện (Sóc Sơn, Ba Vì, Thanh Trì, Hoàng Mai,Ứng Hòa và Mỹ Đức); điều tra 197 cán bộ quản lý thuộc hai sở ngành vàmột viện nghiên cứu; phỏng vấn sâu 10 nhà quản lý thuộc hai sở và mộthuyện có nhiều hộ nghèo
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án đã có một số đóng góp mới về khoa học như sau:
- Tiếp cận đói nghèo đa chiều, lựa chọn hai loại dịch vụ cơ bản là dịch
vụ tài chính và dịch vụ việc làm làm công cụ giảm nghèo bền vững theotiếp cận đa chiều phù hợp với các thành phố lớn như Hà Nội, xây dựng môhình QLNN đối với hai loại dịch vụ cơ bản đó
- Lượng hoá được nghèo theo tiếp cận đa chiều, giảm nghèo vàQLNN nhằm phát triển dịch vụ tài chính và việc làm để giảm nghèo bềnvững đối với người nghèo ở Hà Nội và được kiểm chứng bằng điều tra xãhội học
- Các giải pháp hoàn thiện QLNN nhằm phát triển hai dịch vụ cơ bản
là tài chính và việc làm đối với người nghèo phù hợp với Hà Nội, phù hợpvới cấp thành phố trực thuộc Trung ương Kết quả nghiên cứu có thể nhânrộng ra cho các thành phố lớn khác ở Việt Nam
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình đã công bố củatác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận ánđược kết cấu thành 4 chương, 11 tiết
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về đói nghèo và quản lý nhà nước nhằm phát triển các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Các nghiên cứ u về đói nghèo, dị ch vụ cơ bả n đố i vớ i ngư ờ i nghèo và vai trò củ a chính phủ trong việ c giả i quyế t vấ n đề đói nghèo trên thế giớ i
Thời gian qua, có nhiều nghiên cứu về đói nghèo và XĐGN Trong
đó, phải kể đến các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (NHTG),UNDP, với các công trình có giá trị, mang tính định hướng cho hoạt
động XĐGN ở nhiều nước như: “Đánh giá tình trạng nghèo trên thế giới”,
“Báo cáo tình hình phát triển thế giới: tấn công đói nghèo”, “Báo cáo phát triển thế giới 2004: Cải thiện các dịch vụ để phục vụ người nghèo” Ngoài
ra, có các nghiên cứu khác như của Trung tâm nghiên cứu quản lý thànhphố Hyderabad (Ấn Độ), của tác giả Nguyễn Thị Hoa (bản tiếng Anh) Các công trình khoa học này đã hệ thống hoá các vấn đề cơ bản về đói
nghèo, đặc biệt làm rõ các trường phái lý thuyết như: trường phái phúc lợi; trường phái nhu cầu cơ bản; trường phái năng lực Các nghiên cứu gần
đây đi đến nhận định rằng, cách tiếp cận đói nghèo hiện nay là tiếp cận đachiều - không chỉ nghèo về lương thực, mà nghèo về “tiếp cận dịch vụ cơbản”, nghèo về “năng lực” Do vậy, việc xác định chuẩn nghèo hiện naycần được điều chỉnh theo cách tiếp cận đa chiều các giải pháp giảm nghèo
dựa trên ba trụ cột chính là tạo cơ hội, trao quyền và thiết lập mạng lưới
Trang 7Một số công trình khác như Phát triển quỹ hỗ trợ các dịch vụ cơ bản cho người nghèo khu vực đô thị” tại thành phố Hyderabad (Ấn Độ) chỉ ra 7
loại dịch vụ cơ bản cần thiết cho người nghèo, đề xuất quy trình quản lý vàphát triển quỹ hỗ trợ dịch vụ cơ bản đối với người nghèo đô thị
1.1.2 Các nghiên c u v d ch v c b n cho ng i nghèo và qu n
lý nhà n c nh m phát tri n các d ch v c b n i v i ng i nghèo
Vi t Nam
Ở Việt Nam, vấn đề đói nghèo và XĐGN cũng đã được nghiên cứu từ
những năm 1990 với các công trình như Đánh giá đói nghèo và chiến lược của NHTG, Xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam của UNDP, Các nghiên cứu
này làm rõ được đặc điểm, nguyên nhân của đói nghèo ở Việt Nam và đềxuất được một số giải pháp XĐGN theo hướng cải thiện thu nhập cho ngườinghèo; tăng khả năng tiếp cận giáo dục, y tế, tín dụng; tạo việc làm
Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu khác cũng như các tổng kết, đánh giáthực tế về XĐGN và cung cấp dịch vụ cho người nghèo như Đề tài khoahọc của Bộ Lao động TBXH (2007), Chương trình của hợp tác Việt - Đức,
Dự án đánh giá nghèo theo vùng tại đồng bằng Sông Hồng của UNDP(2003, 2007); của tác giả Nguyễn Thị Hoa (2000), Đào Văn Hùng (2000),Nguyễn Thị Tuệ Anh (2010), Đỗ Thị Hải Hà (2007) Các công trìnhnghiên cứu gần đây không chỉ làm rõ bản chất, nguyên nhân của đói nghèo
ở Việt Nam mà còn chỉ ra các biện pháp XĐGN, đặc biệt là cung cấp cácdịch vụ cho người nghèo
1.2 T ng quan các công trình nghiên c u v ói nghèo, d ch v cho ng i nghèo và qu n lý nhà n c nh m phát tri n các d ch v c
b n i v i ng i nghèo Hà N i
1.2.1 Các công trình nghiên cứ u về đói nghèo ở Hà Nộ i
Đã có một số công trình nghiên cứu về đói nghèo và XĐGN ở Hà Nội
như “Giảm nghèo tại các huyện ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thi hóa” của tác giả Phạm Minh Liên (2008); nghiên cứu của tác giả Bùi Thu
Thủy (2008); khảo sát thực tế về đói nghèo của UBND thành phố Hà Nội(2010) do UNDP tài trợ; nghiên cứu của Chi nhánh Ngân hàng CSXH thànhphố Hà Nội (2011) Các nghiên cứu này chỉ rõ nguyên nhân đói nghèo và
đề xuất một số biện pháp XĐGN ở Hà Nội
Trang 81.2.2 Các nghiên cứ u về dị ch vụ cho ngư ờ i nghèo và quả n lý nhà
nư ớ c nhằ m phát triể n các dị ch vụ cơ bả n đố i vớ i ngư ờ i nghèo ở Hà Nộ i
Một số nghiên cứu theo hướng này được triển khai như đề tài khoahọc cấp ngành của Viện Nghiên cứu phát triển KTXH Hà Nội (2002) Một
số nghiên cứu đi sâu vào các dịch vụ cụ thể cho người nghèo như dịch vụviệc làm của tác giả Hoàng Văn Hoa (2007), đào tạo nghề của tác giảNguyễn Tiệp (2005), nhà ở cho người thu nhập thấp của tác giả HoàngXuân Nghĩa (2007) Ngoài ra, còn có một số bài viết đề cập đến các dịch vụ
cụ thể như: y tế, văn hóa, giáo dục, nước sạch, vệ sinh môi trường, trênđịa bàn Hà Nội
1.3 Đánh giá chung v các công trình nghiên c u liên quan n tài lu n án
1.3.1 Các kế t quả đạ t đư ợ c từ các nghiên cứ u liên quan đế n đề tài luậ n án
Từ các công trình nghiên cứu đã phân tích ở trên, có thể rút ra một số
vấn đề sau: Một là, cách tiếp cận đói nghèo ngày càng phù hợp hơn, đặc biệt là tiếp cận đói nghèo đa chiều; Hai là, các công trình nghiên cứu đều có những
đề xuất ở các mức độ khác nhau về cách thức, biện pháp XĐGN như tạo việclàm để tăng thu nhập, tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận nguồn lực, cung
cấp các dịch vụ cho người nghèo, ; Ba là, các nghiên cứu nhấn mạnh đến vai
trò của nhà nước trong XĐGN và khuyến cáo chính phủ cần tích cực hơn
trong XĐGN; Bốn là, một số công trình nghiên cứu có đề cập tới QLNN
nhằm phát triển các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo, tuy còn khá sơ lược
1.3.2 Các vấ n đề liên quan đế n đề tài luậ n án cầ n tiế p tụ c nghiên
cứ u làm rõ
Từ tổng quan các công trình nghiên cứu cho thấy, hiện còn nhiều vấn
đề về QLNN nhằm phát triển các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo chưađược làm rõ, cần tiếp tục nghiên cứu như:
Một là, phần lớn các nghiên cứu chưa làm rõ được những dịch vụ cần
thiết và phù hợp đối với người nghèo gắn với điều kiện từng địa phương
Hai là, phần lớn các nghiên cứu mới chỉ ra một số dịch vụ cơ bản, có
ít nghiên cứu riêng nào về dịch vụ việc làm cho người nghèo
Ba là, các nội dung của QLNN đối với phát triển dịch vụ cơ bản cho
người nghèo chưa được làm rõ
Trang 9Bốn là, các nghiên cứu về đói nghèo của Hà Nội chưa được cập nhật,
phần lớn được thực hiện trước năm 2010 Cách tiếp cận đói nghèo chưatheo hướng đa chiều
Năm là, chưa có nghiên cứu nào trên phạm vi cả nước nói chung và ở
Hà Nội nói riêng về QLNN nhằm phát triển các dịch vụ cơ bản đối vớingười nghèo
Từ thực tế đó cho thấy việc nghiên cứu QLNN nhằm phát triển các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo trên địa bàn thành phố Hà Nội là rất
2.1 Người nghèo và các dịch vụ cần thiết cho người nghèo
2.1.1 Khái quát về ngư ờ i nghèo và nguyên nhân đói nghèo
2.1.1.1 Quan niệm về đói nghèo và người nghèo trên thế giới
Hiện có nhiều cách quan niệm khác nhau về đói nghèo Về lý thuyết,
đói nghèo được xem xét theo ba trường phái khác nhau: Trường phái phúc lợi coi đói nghèo là hiện tượng mà một bộ phận dân cư chưa đạt tới mức
phúc lợi kinh tế cần thiết để đảm bảo một cuộc sống tối thiểu hợp lý theo
tiêu chuẩn của xã hội đó Trường phái nhu cầu cơ bản coi đói nghèo là hiện
tượng không được đáp ứng các nhu cầu cơ bản (lương thực, thực phẩm,nước, điều kiện vệ sinh, nhà ở, quần áo, giáo dục và y tế cơ sở, và giao
thông công cộng) Trường phái năng lực coi đói nghèo là sự hạn chế về khả
năng thực hiện các chức năng cơ bản, cần thiết của con người, từ khả năngđảm bảo dinh dưỡng, sức khoẻ đến khả năng tham gia vào đời sống xãhội, có tiếng nói và quyền lực
Hiện nay, nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế đều mở rộng khái niệmđói nghèo Về mặt định tính, đói nghèo được hiểu khá thống nhất, đó là
sự khốn cùng về vật chất, sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế, nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro, không có tiếng nói và quyền lực Tuy nhiên, về mặt định lượng, quan niệm về đói nghèo lại rất khó
Trang 10thống nhất với nhau, hơn nữa, mức nghèo cũng biến động theo thời gian.
Do vậy, mỗi quốc gia xây dựng cho mình một thước đo mức độ đóinghèo riêng thông qua những tiêu chí cụ thể và được gọi là chuẩn nghèovới thức đo đơn chiều (chủ yếu là mức thu nhập) và đa chiều (cả kinh tế
và xã hội)
2.1.1.2 Quan niệm đói nghèo và người nghèo ở Việt Nam
Ở Việt Nam, quan niệm về đói nghèo có sự phát triển Trước đây, đóinghèo được phân chia thành hai mức độ là đói và nghèo Trong đó, đói làtình trạng không đủ ăn, không đủ dinh dưỡng, còn nghèo là chỉ đủ ăn vàkhông đáp ứng được các nhu cầu tối thiểu khác như ở, mặc, y tế, giáodục Để xác định tỷ lệ đói nghèo, Chính phủ đưa ra chuẩn nghèo theovùng (nông thôn và đô thị) cho từng giai đoạn Chẳng hạn, chuẩn nghèogiai đoạn 2011-2015 được xác định theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTgvới mức thu nhập bình quân mỗi người/tháng ở nông thôn là 400.000đồng, ở thành thị 500.000 đồng
Ngoài ra, các tiêu chí xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn, huyện nghèocũng được xác định theo Quyết định số 587/2002/QĐ-BLĐTBXH Theo
đó, xã nghèo là xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên và chưa có đủ từ 3trong 6 hạng mục kết cấu hạ tầng thiết yếu (đường giao thông; trường học;trạm y tế; nước sinh hoạt; điện sinh hoạt; chợ); còn huyện nghèo là huyện
có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% tổng số hộ
2.1.1.3 Đặc điểm của người nghèo ở Hà Nội
Do phân cấp về quy định chuẩn nghèo cho địa phương và với sựkhác biệt về điều kiện, mức sống của người dân Thủ đô nên người nghèo ở
Hà Nội có một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, chuẩn nghèo của Hà Nội luôn cao hơn chuẩn nghèo chung
cả nước Chẳng hạn, năm 2011, Hà Nội ban hành chuẩn nghèo cao gấpnhiều lần chuẩn nghèo chung của cả nước: Giai đoạn 2011 - 2015, chuẩnnghèo của Hà Nội (vùng nông thôn và cả đô thị) gấp 3,3 lần chuẩn nghèochung cả nước
Thứ hai, người nghèo Hà Nội dễ bị tổn thương hơn do thu nhập chủ
yếu bằng tiền từ các hoạt động phi nông nghiệp; đối với vùng nông thônngoại thành, nhiều hộ nghèo không có nghề phụ, trình độ hạn chế
Trang 11Thứ ba, do mật độ dân cư đông đúc nên khả năng tìm việc làm để
thoát nghèo bền vững rất khó Kết quả của một khảo sát thực tế cho thấygần 50% người trả lời rằng rất khó hoặc không thể tìm việc làm
Thứ tư, đa số người nghèo ở Hà Nội là người dân nhập cư từ các tỉnh
khác nên người nghèo phải cạnh tranh khốc liệt trong tìm việc
2.1.2 Các dị ch vụ cơ bả n đố i vớ i ngư ờ i nghèo
2.1.2.1 Khái ni m và c i m c a các d ch v cơ bản đối với ng i nghèo
Trên cơ sở phân tích và luận giải để đi đến khái niệm và các loại dịch
vụ thiết yếu cho người nghèo Đó là các dịch vụ gắn với nhu cầu thiết yếu,
cơ bản của người nghèo để họ cải thiện cuộc sống, vươn lên
Tuy nhiên, dịch vụ nào được coi là thiết yếu cho người nghèo thìhiện có nhiều quan điểm khác nhau Liên hợp quốc (1995) đưa ra bốn loạilà: giáo dục, y tế, các dịch vụ xã hội (như cứu trợ xã hội), dịch vụ nướcsạch và vệ sinh; còn NHTG đưa ra ba nhóm dịch vụ gồm các dịch vụ giúptạo thu nhập để cải thiện đời sống (tín dụng, việc làm, giao thông); cácdịch vụ giúp thỏa mãn nhu cầu cơ bản (giáo dục, y tế, nước sạch, vệ sinhmôi trường, nhà ở, dịch vụ điện và năng lượng); các dịch vụ giúp ngườichống đỡ, giảm nguy cơ bị tổn thương và nâng cao năng lực cá nhân (bảohiểm, hỗ trợ pháp lý) Nhìn chung, các dịch vụ thiết yếu cho người nghèothường thay đổi theo thời gian và tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từngquốc gia, từng địa phương
Trong điều kiện KTXH tương đối phát triển như Hà Nội, các dịch vụ
cơ bản cần thiết cho người nghèo chủ yếu là nhóm dịch vụ cải thiện thunhập như dịch vụ tín dụng, dịch vụ việc làm
2.1.2.2 Một số dịch vụ cơ bản cần thiết cho người nghèo
Thứ nhất, dịch vụ tài chính cho người nghèo
Dịch vụ tài chính cho người nghèo chủ yếu là tài chính vi mô - tài chính quy mô nhỏ Đó là các hoạt động cho vay, tiết kiệm, bảo hiểm,
chuyển giao dịch vụ và các sản phẩm tài chính khác cho nhóm khách hàng
có thu nhập thấp Trên thực tế, dịch vụ tài chính cho người nghèo chủ yếu làtín dụng - cung cấp các khoản vay nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn củangười nghèo Dịch vụ tín dụng có vai trò quan trọng trong việc giúp ngườinghèo tiếp cận nguồn vốn, góp phần nâng cao năng lực XĐGN, vươn lênthoát nghèo
Trang 12Thứ hai, dịch vụ việc làm cho người nghèo
Dịch vụ này không chỉ nhằm chắp nối cung - cầu về lao động, mà theoILO, đó còn là việc tư vấn, trợ giúp hướng nghiệp và đào tạo nghề chongười nghèo
Dịch vụ việc làm do nhà nước cung cấp gọi là dịch vụ việc làm công.Dịch vụ việc làm công thường là hoạt động phi lợi nhuận nên rất phù hợpcho người nghèo
2.2 Khái ni m, n i dung và các nhân t tác ng n qu n lý nhà
Từ khái niệm nêu trên cho thấy đối tượng của QLNN là các dịch vụ
cơ bản đối với người nghèo mà thực chất là các chủ thể tham gia cung ứngcác dịch vụ, các đối tượng thụ hưởng dịch và các mối quan hệ giữa các chủthể này cũng như với Nhà nước; chủ thể QLNN là các cơ quan nhà nước mà
ở cấp tỉnh, thành phố đó là HĐND, UBND tỉnh và các cơ quan chức năngtham mưu, giúp việc cho chính quyền cấp tỉnh như Sở Lao động TBXH vàmột số cơ quan cấp tỉnh khác; cơ chế tác động của QLNN bao gồm cácnguyên tắc, phương pháp và công cụ gắn với đặc thù của các dịch vụ cơ bảnđối với người nghèo và phù hợp với đối tượng người nghèo
2.2.1.2 S c n thi t c a qu n lý nhà n c nhằm phát triển các dịch
vụ cơ bản đối với người nghèo
Sự cần thiết đó được thể hiện trên các mặt: khắc phục những thất bạicủa thị trường dịch vụ cho người nghèo; tăng khả năng tiếp cận dịch vụ chongười nghèo; định hướng tiếp cận đúng dịch vụ
Trang 132.2.2 Nộ i dung cơ bả n củ a quả n lý nhà nư ớ c cấ p tỉ nh, thành phố nhằ m phát triể n các dị ch vụ cơ bả n đố i vớ i ngư ờ i nghèo
2.2.2.1 Các nội dung cơ bản của quản lý nhà nước nói chung nhằm phát triển các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo
Quản lý nhà nước nhằm phát triển các dịch vụ cơ bản đối với ngườinghèo nói chung gồm 4 nội dung chính là hoạch định phát triển cácdịch vụ cơ bản đối với người nghèo; xây dựng và thực hiện thể chếquản lý các dịch vụ cho người nghèo; tổ chức bộ máy QLNN đối vớicác dịch vụ cho người nghèo từ trung ương đến địa phương; đánh giá,kiểm tra, kiểm soát đối với các dịch vụ cho người nghèo
Ở cấp trung ương, hoạch định về dịch vụ cho người nghèo là nội dungrất quan trọng, bao gồm xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chươngtrình liên quan đến dịch vụ cho người nghèo
2.2.2.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước ở cấp tỉnh, thành phố nhằm phát triển các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo
Do cấp tỉnh, thành phố là cấp thừa hành của trung ương và được phânquyền quản lý nên QLNN nhằm phát triển các dịch vụ cơ bản đối với ngườinghèo có một số nội dung sau:
Thứ nhất, triển khai thực hiện thể chế, chính sách của trung ương:
tuyên truyền, phổ biến và triển khai thực hiện pháp luật, chính sách về dịch
vụ đối với người nghèo
Thứ hai, xây dựng và thực thi quy hoạch, kế hoạch, quy trình cung
ứng các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo trên địa bàn tỉnh, thành phố Cụthể là đề ra các quan điểm chiến lược phát triển dịch vụ; triển khai thực hiệncác chương trình, kế hoạch về dịch vụ cho người nghèo; xác định rõ mụctiêu tổng quát về XĐGN, các mục tiêu và biện pháp lớn về phát triển dịch
vụ cho người nghèo
Thứ ba, ban hành và tổ chức thực hiện thể chế, chính sách phát triển
dịch vụ cơ bản đối với người nghèo theo chức năng, nhiệm vụ được phâncấp Trên cơ sở thể chế, chính sách của trung ương, các tỉnh, thành phố xâydựng các văn bản quy phạm pháp luật của địa phương nhằm cung ứng vàquản lý các dịch vụ cho người nghèo
Thứ tư, tổ chức huy động và quản lý sử dụng các nguồn lực để cung
ứng dịch vụ cho người nghèo, bao gồm nguồn tài chính từ ngân sách nhànước và các nguồn huy động trong dân