1.1. Tổng quan về hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. + Khái niệm, định nghĩa về hoạt động du lịch: + Thực trạng hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. 1.2. Nhu cầu thông tin và thực trạng đáp ứng nhu cầu thông tin này. 1.3. Đề xuất hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh về hoạt động du lịch trên: + Đưa ra nguyên tắc, yêu cầu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê. + Đề xuất được danh mục chỉ tiêu thống kê. + Giải thích hệ thống chỉ tiêu thống kê. 1.4. Thử nghiệm một số chỉ tiêu hoặc phương pháp thu thập.
Trang 11
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
VIỆN KHOA HỌC THỐNG KÊ
B¸o c¸o tæNG HîP KÕt qu¶ nghiªn cøu khoa häc
Thư ký khoa học : CN.Nguyễn Bình
Thư ký hành chính : CN.Nguyễn Thị Xuân Huệ
NINH BÌNH,2012
Trang 22
Chương 1: Một số khái niệm cơ bản và thực trạng hoạt động du
lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2006-2010
9
1.2 Thực trạng hoạt động du lịch Ninh Bình giai đoạn 2006-2010 16
Chương 2 : Thực trạng hệ thống chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt
động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
28
2.1 Nhu cầu sử dụng thông tin về hoạt động du lịch 28
2.2 Thực trạng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh hoạt động du
Trang 33
TÓM TẮT QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Trước khi được Viện Khoa học Thống kê duyệt và cho phép thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học này, Cục Thống kê Ninh Bình đã dự kiến thành lập Ban chủ nhiệm đề tài, phân công các thành viên của tổ nghiên cứu, chủ yếu là lãnh đạo phòng Thống kê Tổng hợp và phòng Thống kê Thương mại, giá cả Đồng thời thực hiện các công việc cần thiết như: Tham khảo ý kiến các cơ quan Đảng, Chính quyền, các cơ quan và đối tượng sử dụng thông tin về nhu cầu sử dụng các chỉ tiêu thống kê hoạt động du lịch, về kế hoạch triển khai và các bước nghiên cứu để xây dựng mục tiêu đăng ký
Sau khi đề tài được duyệt, Ban chủ nhiệm có kế hoạch nghiên cứu, phân công cụ thể công việc của từng thành viên trong tổ nghiên cứu, tiến hành thu thập thông tin như: Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X, XI, Luật Du lịch, văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, Nghị quyết 15/TU của Ban Thường vụ Tỉnh
uỷ về việc phát triển du lịch Ninh Bình đến năm 2015, chế độ báo cáo, điều tra
du lịch của Tổng cục Thống kê và UBND tỉnh Ninh Bình; Sưu tầm kết quả nghiên cứu của các đề tài khoa học có liên quan đến vấn đề thống kê các hệ thống chỉ tiêu du lịch
Đây tuy không phải là vấn đề mới, nhưng để nghiên cứu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình hoàn chỉnh, đáp ứng được nhu cầu sử dụng dùng tin của các cơ quan quản lý Nhà nước và yêu cầu của Tổng cục Thống kê đòi hỏi có sự nghiên cứu tỷ mỷ và đưa ra các luận cứ khoa học chính xác Ban chủ nhiệm đề tài phân công các nhóm nghiên cứu khác nhau tìm hiểu về tổng quan hoạt động du lịch tại tỉnh Ninh Bình hiện nay, tìm hiểu các quan điểm, các lý luận về hoạt động du lịch, nội dung và phạm vi quản lý Nhà nước về du lịch, xác định nhu cầu đòi hỏi về thông tin du lịch của các đối tượng dùng tin, sự cần thiết phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phản ánh hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh; Điều tra thu thập hoàn
Trang 44
thiện tính toán thử nghiệm các hệ thống chỉ tiêu đó để từ đó tiến hành hoàn thiện
hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh hoạt động du lịch ở tỉnh Ninh Bình phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, thực tiễn công tác thống kê hiện nay ở Cục Thống kê Ninh Bình
Đã tiến hành hội thảo, phân công các nhóm nghiên cứu các mảng chuyên
đề khác nhau, viết báo cáo chuyên đề về từng mảng, bao gồm 4 chuyên đề sau:
- Tổng quan về hoạt động du lịch tại tỉnh Ninh Bình hiện nay
- Nhu cầu thông tin và thực trạng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh hoạt động du lịch tại tỉnh Ninh Bình
- Đề xuất hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh tình hình hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
- Điều tra, tính toán thử nghiệm một số chỉ tiêu 6 tháng năm 2011
Trong mỗi chỉ tiêu cần làm rõ một số điểm cơ bản: Khái niệm, phạm vi thu thập, nguồn số liệu, phương pháp tính, đề nghị đơn vị nào có trách nhiệm thu thập là tốt nhất, sử dụng điều tra hay thông qua hệ thống báo cáo cơ sở hiện có
để thu thập số liệu, công bố số liệu, sự phù hợp của mỗi chỉ tiêu đối với hoàn cảnh cụ thể hiện nay
Kết quả chủ yếu sẽ được trình bày ở các chuyên đề, các thành viên tham gia nghiên cứu đề tài khoa học này đều có cơ hội nâng cao trình độ kiến thức về chuyên môn thuộc lĩnh vực thống kê hoạt động du lịch Tài liệu nghiên cứu có thể được sử dụng cho các đối tượng sử dụng thông tin du lịch thường xuyên, mặt khác là cơ sở để nhiều người quan tâm đến hoạt động du lịch có thể tham khảo, giúp ích cho các công trình khoa học khác
Trang 5
5
MỞ ĐẦU
Sự cấp thiết của đề tài
Ninh Bình là tỉnh có tài nguyên du lịch phong phú, nhiều danh lam thắng cảnh, quần thể du lịch nổi tiếng hấp dẫn, đồng thời là điểm thu hút nhiều nhà đầu
tư vào các hoạt động du lịch trên địa bàn.Với tài nguyên du lịch đa dạng, phong phú cùng với sự đầu tư lớn của Nhà nước và doanh nghiệp, ngành du lịch Ninh Bình ngày càng trở thành ngành kinh tế tổng hợp, mũi nhọn của tỉnh Các loại hình du lịch cũng rất đa dạng, dựa trên tiềm năng, thế mạnh sẵn có của địa phương như: Du lịch tâm linh, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ ngơi, du lịch nghiên cứu khoa học, du lịch nghỉ ngơi cuối tuần, du lịch thể thao … Số lượng khách du lịch trong và ngoài nước gia tăng nhanh qua từng năm, cơ sở vật chất,hạ tầng cơ
sở phục vụ du lịch ngày càng được đầu tư lớn, nhiều tour, tuyến du lịch được hình thành và mở rộng Xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, ngành khai thác tiềm năng sẵn có của tỉnh, mặt khác để thúc đẩy du lịch phát triển nhanh, bền vững Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ ngày 13/7/2009 đã có Nghị quyết số 15/ NQ-TU về phát triển du lịch đến năm 2020 định hướng đến năm
2030
Cục thống kê Ninh Bình là cơ quan tham mưu, cơ quan quản lý nhà nước
về Thống kê, ngoài tổ chức hoạt động Thống kê theo chương trình công tác của Tổng Cục trưởng Tổng Cục Thống kê giao, còn có nhiệm vụ cung cấp thông tin kinh tế - xã hội phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành của lãnh đạo, chính quyền tỉnh Ninh Bình và cho các cơ quan tổ chức, cá nhân theo pháp luật Do vậy công tác thu thập, cung cấp số liệu phải đảm bảo đáp ứng nhu cầu đánh giá tình hình kinh tế - xã hội của địa phương nói chung và hoạt động du lịch nói riêng
Trang 66
Hiện nay, theo Thông tư số 02/2011/TT- BKH ngày 10 tháng 1 năm 2011 của Bộ Kế hoạch và đầu tư, hệ thống chỉ tiêu Thống kê cấp tỉnh về du lịch bao gồm:
- Doanh thu dịch vụ du lịch: Doanh thu thuần do bán, tổ chức thực hiện
các chương trình du lịch; Doanh thu hoạt động đại lý lữ hành; Doanh thu từ các lĩnh vực khác giúp đỡ khách du lịch
- Số lượt khách du lịch: Bao gồm khách du lịch quốc tế và nội địa đi du
lịch được thống kê qua số lượt khách phục vụ của các cơ sở lưu trú, lượt khách phục vụ của các công ty lữ hành
- Năng lực hiện có và năng lực mới tăng của các cơ sở lưu trú: Là các chỉ
tiêu số lượng cơ sở lưu trú du lịch, năng lực sử dụng cơ sở lưu trú, công suất sử dụng
Hoạt động du lịch là nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch, bao gồm các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống và giải trí…Nhưng chỉ với
3 chỉ tiêu thống kê về thống kê du lịch cấp tỉnh nói trên thì chưa đáp ứng đầy đủ được nhu cầu sử dụng thông tin phản ánh hoạt động du lịch của địa phương, nhằm đánh giá kết quả hoạt động du lịch qua các kỳ : tháng, quí, năm và 5 năm, phục vụ công tác chỉ đạo, lãnh đạo và điều hành của các cấp, các ngành ở địa phương
Mặt khác bản thân của các chỉ tiêu về mặt phạm vi vẫn chưa được hoàn
thiện như chỉ tiêu số lượng khách du lịch, mới chỉ thống kê được số lượt khách
tại nơi cư trú và công ty lữ hành còn số lượng khách tự tổ chức đến du lịch và
không nghỉ tại các cơ sở lưu trú không thu thập được; chỉ tiêu doanh thu dịch vụ
du lịch mới chỉ là tính phần hoạt động theo phân ngành kinh tế (chỉ bao gồm
phần tổ chức chương trình du lịch, ðại lý lữ hành và các dịch vụ giúp khách du
lịch) còn phần ăn uống, vận chuyển, lưu trú chưa tính được; chỉ tiêu sản phẩm
Trang 77
du lịch như: tour tuyến, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi, giải trí … cơ sở
hạ tầng du lịch, môi trường du lịch …vẫn chưa được thu thập và công bố
Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh hoạt động du lịch, đề xuất phương hướng ứng dụng trong đánh giá ngành du lịch để đáp ứng nhu cầu lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của tỉnh trở thành vấn đề có ý nghĩa cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình đến 2015 và tầm nhìn 2030 Vì vậy Cục Thống kê Ninh Bình chọn đề tài
nghiên cứu: “Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình”
Mục tiêu của đề tài: Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh hoạt
động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đáp ứng hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh do Tổng Cục Thống kê ban hành, đồng thời phục vụ công tác quản lý hoạt động Du lịch các cấp, các ngành tỉnh Ninh Bình
Nội dung nghiên cứu:
Để đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu đề tài,nội dung nghiên cứu bao gồm:
1 Tổng quan hoạt động du lịch tỉnh Ninh Bình hiện nay
2 Cơ sở lý luận và căn cứ thực tiễn để hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống
kê phản ánh hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
3 Đề xuất hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê về hoạt động du lịch
4 Thử nghiệm thu thập và tính toán một số chỉ tiêu thống kê Du lịch
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động sản xuất kinh doanh các tổ chức, cá nhân trong ngành du lịch
- Giai đoạn nghiên cứu: 6 tháng đầu năm 2011
Trang 88
- Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn tỉnh Ninh Bình, tập trung ở những địa phương có tiềm năng du lịch như: Thành phố Ninh Bình, thị xã Tam Điệp, huyện Hoa Lư, huyện Gia Viễn, huyện Nho Quan, huyện Kim Sơn
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm cơ sở
lý luận và phương pháp luận nghiên cứu Ngoài ra còn kết hợp các phương pháp tổng hợp, qui nạp, phân tích, so sánh, điều tra thống kê, khảo sát, phỏng vấn xã
hội học
Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần tóm tắt quá trình thực hiện, mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo thì đề tài được kết cấu thành 3 chương và 11 tiết
Chương 1: Một số khái niệm cơ bản và thực trạng hoạt động du lịch trên
địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2006-2010
Chương 2: Thực trạng hệ thống chỉ tiêu phản ánh hoạt động du lịch trên
địa bàn tỉnh Ninh Bình
Chương 3: Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê du lịch
Trang 9
9
Chương 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH
- Du lịch là gì? Có nhiều khái niệm khác nhau về du lịch được nghiên cứu
trên các giác độ nhìn nhận khác nhau của người nghiên cứu, nhưng tựu chung lại
nó có một số khái niệm sau:
Du lịch là 1 dạng nghỉ dưỡng tham quan tích cực của con người ở ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch
sử, công trình văn hoá, nghệ thuật …( Theo Bách khoa toàn thư Việt nam online www.bachkhoatoanthu.gov.vn)
Hoặc: Du lịch là 1 ngành kinh tế tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình Về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể con người là hình thức xuất khẩu hàng hoá và lao động dịch
vụ tại chỗ Hầu như nước nào cũng coi trọng phát triển hoạt động du lịch Nói chung trên thế giới du lịch ra nước ngoài có xu hướng phát triển nhanh, Việt Nam có tiềm năng lớn về du lịch
Trang 1010
Theo Luật Du lịch (Số 44/2005/QH) qui định
Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan tìm kiếm, giải trí, nghỉ dưỡng một khoảng thời gian nhất định
Tóm lại từ rất nhiều khái niệm khác nhau thì: Du lịch phát sinh từ sự di chuyển của con người và họ đến ở tại các địa điểm khác Du lịch có 2 thành phần chính là chuyến đi đến các địa điểm du lịch và các hoạt động của du khách tại địa điểm du lịch, các chuyến đi và hoạt động du lịch thực hiện ở bên ngoài
nơi họ ở hay làm việc, chuyến đi là tạm thời và ngắn hạn
- Khách du lịch
Theo tổ chức du lịch Thế giới (WTO), đặc trưng của khách du lịch đó là
người đi khỏi nơi cư trú của mình, không theo đuổi mục đích kinh tế, thời gian rời khỏi nơi cư trú từ 24 h trở lên, khoảng cách tối thiểu từ nhà đến điểm đến là
từ 30 dặm trở lên
Luật Du lịch Việt Nam qui định: Khách du lịch là người đi du lịch hoặc
kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu
nhập ở nơi đến
Khách du lịch gồm:
Trang 1111
+ Khách du lịch quốc tế là người thăm viếng một số nước khác ngoài
nước cư trú của mình với bất kỳ lý do nào ngoài mục đích hành nghề để nhận thu nhập từ nước được viếng thăm Cụ thể đối với Việt Nam là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch, công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch
+ Khách du lịch nội địa: Là công dân Việt Nam và người nước ngoài
thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Vậy khách du lịch là những người giàu về thời gian, giàu về tiền bạc và
giàu về trí tuệ, mỗi khách du lịch chịu sự tác động rất lớn của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, môi trường tự nhiên và môi trường xã hội lại là yếu
tố khách quan quan trọng tác động đến sự phát triển của du lịch, nên khách du lịch là đối tượng quan trọng trong việc nghiên cứu hoạt động du lịch
- Ngành kinh tế du lịch
Kinh tế du lịch là một loại hình kinh tế đặc thù mang tính dịch vụ, và thường được xem như ngành công nghiệp không khói, gồm có du lịch quốc tế và du lịch trong nước, có chức năng, nhiệm vụ tổ chức vào việc khai thác các tài nguyên và cảnh quan đất nước (tài nguyên thiên nhiên, phong cảnh kinh tế, văn hoá, lịch sử…) nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, tổ chức buôn bán, XNK tại chỗ hàng hoá và dịch vụ cho khách du lịch Là 1 ngành dịch vụ thu ngoại tệ góp phần quan trọng trong việc tăng thu nhập quốc dân Trong tình hình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới, du lịch quốc tế ngày càng phát triển Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về du lịch của con người ngày càng lớn, mang nhiều ý nghĩa văn hoá và xã hội sâu sắc, kinh tế du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp có liên quan mật thiết với nhiều ngành kinh tế khác, trước hết là ngành kinh tế đối ngoại và với nhiều ngành văn hoá, xã hội và mang tính nhân bản, văn hoá, tính dân tộc ngày càng cao Kinh tế du lịch có nhiều nội dung và nhiều hình thức phong phú, đa dạng như du lịch thắng cảnh, du lịch nghỉ dưỡng sức, du lịch
Trang 1212
thể thao, du lịch hội nghị, du lịch nghiên cứu khoa học, du lịch tìm hiểu nền văn hoá dân tộc và nền văn hoá thế giới Cũng như các ngành kinh tế khác, kinh tế
du lịch chịu sự chi phối của các qui luật kinh tế, do đặc thù của ngành nên nó có
những cơ chế vận động riêng …( Theo Bách khoa toàn thư Việt nam online www.bachkhoatoanthu.gov.vn)
Dưới giác độ nghiên cứu của ngành Thống kê Việt Nam:
Theo phân ngành kinh tế quốc dân Việt Nam năm 2007 (VSIC 2007) thì hoạt động du lịch không được phân ngành riêng thành 1 ngành kinh tế độc lập, hoạt động du lịch được phân vào khu vực các ngành dịch vụ,xếp phân tán trong các ngành cấp 1 khác nhau thuộc khu vực dịch vụ như:
- Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác;
- Vận tải kho bãi (Vận chuyển hành khách đường sắt, vận chuyển hành khách đường bộ; vận chuyển hành khách ven biển và viễn dương; đường thuỷ nội địa; vận chuyển hành khách hàng không, hoạt động dịch vụ hỗ trợ cho vận tải như nhà ga, bến cảng … )
- Lưu trú và ăn uống
- Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ: Hoạt động của các đại lý du lịch, kinh doanh tour du lịch và các dịch vụ hỗ trợ, liên quan đến quảng bá và tổ chức tour du lịch
- Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội: Hoạt động y tế, hoạt động y tế khác chưa phân vào đâu, hoạt động chăm sóc, điều dưỡng tập trung
- Nghệ thuật, vui chơi, giải trí
Như vậy theo phân ngành kinh tế quốc dân thì hoạt động du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, nó được phân tích và liên quan đến 6 ngành kinh tế cấp 1 thuộc khu vực các ngành dịch vụ
Trang 1313
Đây là điều cần được phân biệt rõ giữa hoạt động du lịch theo phân ngành kinh
tế quốc dân (VSIC) và ngành du lịch theo quản lý Nhà nước về hoạt động du lịch.Thực tế cho thấy đã có sự hiểu khác nhau về khái niệm hoạt động du lịch nói trên,dẫn đến việc sử dụng số liệu thống kê theo phạm vi và nguồn số liệu tính toán khác nhau
1.1.2 Phân loại du lịch:
Loại hình du lịch rất đa dạng, nó được phân loại thông qua động cơ đi du lịch như động cơ về thể chất muốn được thư giãn sảng khoái về đầu óc và thân thể phục hồi sức khoẻ, thể thao và giải trí; động cơ về văn hoá tìm hiểu phong tục, tập quán, kiến trúc, âm nhạc, hội hoạ, ẩm thực, hàng thủ công …; động cơ
về giao tiếp muốn tìm hiểu khám phá tự nhiên khác nơi cư trú như tìm hiểu về hệ động thực vật, khí hậu, bãi biển, hang động, sinh thái …) ; động cơ về sự khẳng định địa vị và kính trọng Cho nên loại hình du lịch chính là một tập hợp các sản phẩm du lịch có đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng thoả mãn các nhu cầu, động cơ tương tự nhau, hoặc được bán cho cùng 1 nhóm khách hàng, hoặc vì chúng có cùng 1 cách phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc chúng được xếp chung theo 1 mức giá bán nào đó
+ Phân theo phạm vi lãnh thổ của chuyến đi:
Trang 14- Du lịch thanh thiếu niên
- Du lịch dành cho người cao tuổi
- Du lịch trung niên
- Du lịch phụ nữ
- Du lịch doanh nhân
Trang 1515
- Du lịch học sinh, sinh viên
- Du lịch tuần trăng mật
+ Theo độ dài chuyến đi:
- Du lịch ngắn ngày (Dưới 1 tuần)
- Du lịch dài ngày (Trên 1 tuần trở lên)
+ Phân theo mùa:
- Du lịch mùa xuân, hè, thu, đông
Trang 1616
- Du lịch mùa lễ hội
+ Phân theo đức tin,tôn giáo
- Du lịch vì đức tin,tâm linh,tôn giáo
- Du lịch tìm hiểu đức tin,tâm linh,tôn giáo
1.2 Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2006-2010
1.2.1 Tiềm năng du lịch của tỉnh Ninh Bình
Ninh Bình là tỉnh nằm ở cực nam đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp giữa Bắc Bộ và Trung Bộ, có diện tích tự nhiên là 1.390,3 km2, dân số trung bình năm
2010 là 900.620 người, mật độ là 648 người/ km2
Bộ máy hành chính của Ninh Bình có 8 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố, 1 thị xã, 6 huyện với 146 xã, phường, thị trấn Tuy nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng, nhưng địa hình của
Ninh Bình rất đa dạng, có thể nói là hình ảnh của “Việt Nam thu nhỏ” vừa có
núi cao, đồi núi thấp (bán sơn địa), đồng bằng, vùng trũng, và đồng bằng ven biển.Do vậy Ninh Bình là tỉnh có tài nguyên du lịch phong phú, tài nguyên du lịch Ninh Bình phong phú cả về tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo,khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên được sử dụng mục đích du lịch Lợi thế của tài nguyên du lịch tự nhiên của Ninh Bình là phần lớn các điểm, khu du lịch đều thuận lợi về giao thông, nhiều điểm, khu du lịch ngay tại Thành phố Ninh Bình và gần kề thành phố, tạo thành quần thể du lịch đa dạng, từ đó từng bước hình thành nên đô thị du lịch; nhiều điểm, khu du lịch du khách có thể thăm quan du lịch cả bằng đường bộ lẫn đường thuỷ, phần lớn các điểm, khu du lịch ở Ninh Bình đều có thể kết nối với các điểm, khu du lịch của các tỉnh Hà
Trang 17Thánh, Mẫu, Phật, Chúa”, Vua là 3 triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý; Thánh là
Thánh Nguyễn Minh Không hay còn gọi là Thánh Nguyễn ông Tổ của ngành
dược và đúc đồng Việt Nam; Phật là chùa Bái Đính là trung tâm Phật giáo lớn nhất Việt Nam; Chúa là Giáo Phận Phát Diệm trung tâm Công giáo lớn nhất Việt Nam; Mẫu là việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng
sinh sôi, bảo trừ và che chở cho con người, được giới tính hoá mang khuôn hình người mẹ
Du lịch làng nghề và du lịch cảnh quan sinh thái nông nghiệp đồng bằng, cảnh quan sinh thái ven biển cũng là tiềm năng du lịch nhiều triển vọng như làng nghề thêu ren Văn Lâm (Hoa Lư), đá mỹ nghệ Xuân Vũ (Ninh Vân), làng nghề sản xuất hàng cói mỹ nghệ (Kim Sơn), đây đều là những điểm du lịch tham quan hấp dẫn Ngoài ra còn các truyền thuyết xa xưa về cửa biển Thần Phù (Yên Mô), cửa biển Đại Nha các thời vua Hùng dựng nước, các huyền thoại về núi cánh Diều, núi Dục Thuý, những làn điệu hát xẩm, hát chèo truyền thống và những áng thơ văn của biết bao thi nhân mặc khách Văn hoá ẩm thực với những sản phẩm đặc sắc của Ninh Bình như thịt dê, gỏi nhệch, cơm cháy, cá rô Tổng Trường, nem Yên Mạc, rượu Kim Sơn cũng là một phần tạo nên sự hấp dẫn đối với du lịch của tỉnh
Những điểm khác biệt muốn nói kỹ hơn ở phần tài nguyên du lịch nhân văn so với các địa phương khác đó là du lịch tâm linh Tập trung ở 3 tôn giáo lớn
đó là Phật Giáo, Công Giáo, tín ngưỡng dân gian
Trang 1818
Phật Giáo: Phật Giáo du nhập và xuất hiện ở Ninh Bình khá sớm Từ thời
Đinh - Tiền Lê Phật giáo được coi là Quốc Giáo, trở thành hệ tư tưởng chính thống, chi phối đời sống tinh thần của xã hội, năm 971 vua Đinh đã ban chức cho các nhà sư
Thiên chúa giáo (Công giáo): Thiên chúa giáo được du nhập vào Ninh
Bình từ năm 1627 do linh mục và Pháp truyền đạo tại cửa Thần Phù (nay là giáo
xứ Hảo Nho), ở thời điểm ban đầu, cơ sở vật chất của giáo xứ rất đơn sơ, song với số lượng giáo dân phát triển nhanh, cơ sở vật chất đã ngày càng được xây dựng qui mô, bề thế
Tín ngưỡng dân gian: Là lĩnh vực văn hoá tâm linh có sức sống lâu bền và
mãnh liệt trong sinh hoạt tinh thần của cộng đồng dân cư, chủ yếu là tục thờ các
vị thần tự nhiên Thần Núi (Phủ Đồi), Thần Biển (đền Thần Phù), các vị nhân thần chính là các vị anh hùng dân tộc như vua Đinh, vua Lê, Đền thờ Nguyễn Bặc, Lưu Cơ, Thánh Nguyễn, thờ Mẫu Bà chúa Liễu Hạnh (đền Dâu), Nguyễn Công Trứ (Kim Sơn) …
Chính từ những tiềm năng và lợi thế của Ninh Bình nói trên, nên tỉnh Ninh Bình đã xác định ngành du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Theo Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XX để xác định rõ phương hướng chung đó là: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành của chính quyền các cấp; phát huy sức mạnh
đoàn kết toàn dân; duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, đưa kinh
tế du lịch vào thời kỳ tăng tốc; tập trung trí tuệ, nguồn lực từng bước xây dựng
nông thôn mới nhằm giải quyết đồng bộ các vấn đề: nông nghiệp nông dân và nông thôn; phát triển mạnh mẽ văn hoá, giáo dục, không ngừng chăm lo đào tạo nguồn nhân lực; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; tăng cường quốc phòng địa phương, củng cố vững chắc
Trang 19Giai đoạn 2006-2010: Là giai đoạn du lịch tăng trưởng khá mạnh, với
việc ra đời NQ 15/NQ-TU của Ban Chấp hành đảng bộ tỉnh về phát triển du lịch đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 triển khai bước đầu có hiệu quả Kết cấu hạ tầng du lịch được tăng cường, tạo ra bước phát triển mới có tính đột phá, tập trung chủ yếu là du lịch tâm linh và du lịch sinh thái Các dự án trọng điểm như khu du lịch Tràng An, Bái Đính, Tam Cốc- Bích Động; khu du lịch lịch sử - văn hoá Cố đô Hoa Lư; các công trình phục vụ Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội; hồ Đồng Chương, Yên Thắng; khu du lịch sinh thái đất ngập nước Vân Long được tập trung đầu tư xây dựng Chính sách khuyến khích xây dựng cơ sở lưu trú từng bước phát huy tác dụng, số cơ sở lưu trú tăng nhanh
Dưới đây là một số kết quả chủ yếu:
Thứ nhất: Số lượng cơ sở kinh doanh và phục vụ hoạt động du lịch tăng
nhanh, thu hút và giải quyết được nhiều lao động
Trang 2020
Biểu 01- Cơ sở, lao động hoạt động trong ngành du lịch tỉnh Ninh Bình
giai đoạn 2006-2010 chia theo lĩnh vực phục vụ du lịch
Đơn vị tính : Cơ sở, người
Tốc độ phát triển giai đoạn 2006- 2010(%)
( Nguồn số liệu - Niên giám Thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2010 )
Ghi chú : (*) - Chưa bao gồm số lao động chèo đò phục vụ khách du lịch
- Cơ sở và lao động hoạt động ăn uống đang bị tính trùng
Đến năm 2010 có 4.895 cơ sở kinh doanh và phục vụ du lịch, trong đó 179
cơ sở lưu trú, 9 cơ sở lữ hành, 4.707 cơ sở ăn uống So với năm 2005 số cơ sở
tăng gần 75%, trong đó lưu trú gấp 2,2 lần, lữ hành gấp 9 lần, ăn uống tăng
73,2%; Tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2006-2010 về số cơ sở là 11,8%
Trang 21Số lao động nêu trên vẫn chưa tính số lao động chèo đò phục vụ khách tham quan ở 2 điểm du lịch lớn là Tam Cốc- Bích Động và Tràng An (khoảng 2.739 lao động) Số lao động phục vụ ở ngành du lịch năm 2010 chiếm 1,9% tổng số lao động làm việc trong các ngành kinh tế, còn năm 2005 chỉ chiếm khoảng 1,03%
Thứ hai: Số lượng khách du lịch đến Ninh Bình ngày càng tăng, số lượng
ngày khách lưu trú tăng lên
Bình quân giai đoạn 2006-2010, số lượt khách du lịch đến Ninh Bình tăng gần 27%, trong đó khách Việt Nam tăng 32,2%, khách Quốc tế tăng 14% Đến năm 2010 tổng số lượt khách đến các điểm,khu du lịch Ninh Bình là hơn 3,3 triệu người, trong đó khách Việt Nam là 2,6 triệu, chiếm 78,8%, khách Quốc tế
là gần 700 nghìn chiếm 21,2% So với năm 2005 tổng số khách gấp 3,3 lần, trong đó khách Việt Nam gấp 4 lần và khách Quốc tế gấp gần 2 lần Nếu so với năm 1992 thì gấp 520 lần, trong đó khách Việt nam gấp 418 lần và khách Quốc
tế gấp 5.551 lần (Năm 1992 tổng số khách là 6.380 người, trong đó khách Việt Nam 6.254 người, khách quốc tế 126 người) Có thể nói giai đoạn 2006-2010 là
giai đoạn “Bùng nổ” khách du lịch đến Ninh Bình, sau khi khu du lịch Tràng
An- Bái Đính từng bước đi vào hoạt động, kéo theo sự thu hút khách du lịch ở các khu, điểm du lịch khác Số ngày lưu trú của khách ngày càng tăng, bình quân giai đoạn này tăng 32,2%, năm 2010 số ngày khách lưu trú là 356.038, gấp hơn 4 lần năm 2005
Trang 22Chia ra Thời gian
lưu trú (Ngày khách) Việt Nam Quốc tế
( Nguồn số liệu – Niên giám Thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2010 )
Ghi chú : - Số lượt khách bao gồm cả lượt khách đến các khu,điểm du lịch
Thứ ba: Doanh thu hoạt động du lịch ngày càng tăng
Chất lượng các sản phẩm du lịch và dịch vụ du lịch trên địa bàn ngày càng
đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của khách du lịch trong và ngoài nước Trong
đó phải kể đến các dịch vụ như: khách sạn, vận chuyển hành khách, dịch vụ ăn
uống, hàng hoá, dịch vụ viễn thông, ngân hàng, dịch vụ vui chơi giải trí, các hoạt
Trang 2323
động xúc tiến quảng bá giới thiệu du lịch Doanh thu từ hoạt động du lịch năm
2010 đạt 145 tỷ đồng trong đó từ hoạt động khách sạn là 101 tỷ đồng, chiếm gần 7%; hoạt động ăn uống là 1.346 tỷ đồng chiếm 92,7%; còn lại là hoạt động lữ hành là 4 tỷ đồng, chiếm 0,3% ( Năm 2005 các chỉ tiêu tương ứng là: 277 tỷ; khách sạn: 13,5 tỷ chiếm 4,9%; ăn uống 263 tỷ, chiếm 95%, lữ hành 0,033 tỷ, chiếm 0,1%) Như vậy có sự chuyển dịch trong cơ cấu doanh thu hoạt động du lịch, tỷ trọng doanh thu của hoạt động khách sạn ngày càng tăng từ 4,9% năm
2005 lên 7% năm 2010, việc này đồng nghĩa với số lượng khách lưu trú tăng
Biểu 03: Doanh thu hoạt động du lịch Ninh Bình thời kỳ 2006-2010
Đơn vị tính : Triệu đồng
Tốc độ phát triển giai đoạn 2006-2010
( Nguồn số liệu - Niên giám Thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2010 )
Ghi chú : - Doanh thu hoạt động ăn uống đang bị tính trùng
So với năm 2005, doanh thu của ngành du lịch gấp 5,2 lần; khách sạn gấp 7,5 lần; lữ hành gấp 131 lần; ăn uống gấp 5,1 lần Bình quân doanh thu du lịch giai đoạn này tăng 39,3%, trong đó cao nhất là hoạt động lữ hành tăng 265,2%, tiếp đến khách sạn gần 50%, ăn uống 38,6% Doanh thu từ ngành du lịch ngày càng có vai trò quan trọng trong phát triển của khu vực dịch vụ, nếu như năm
2005 doanh thu ngành du lịch chỉ chiếm 10,7% giá trị sản xuất (giá thực tế) khu
Trang 2424
vực dịch vụ ( Giá trị sản xuất theo giá thực tế khu vực dịch vụ năm 2005 là 2.583
tỷ đồng) thì đến năm 2010 đã chiếm 13,7% Năng suất lao động xã hội chỉ tính riêng ngành khách sạn, nhà hàng đạt 43,7 triệu đồng, gấp 3,6 lần năm 2005
Thứ tư: Thu hút lượng vốn đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng các khu, điểm du
Chia ra:
1- TP Ninh Bình 4.836 36.377 111.437 119.191 189,8 2- TX Tam Điệp 2.332 1.530 1.865 78.052 201,8
4- Huyện Gia Viễn 104.350 150.112 210.208 380.486 129,5 5- Huyện Hoa Lư 115.298 189.911 264.501 275.769 119,1
( Nguồn số liệu - Niên giám Thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2010 )
Trang 25Thứ năm : Năng lực cơ sở vật chất của hoạt động du lịch ngày càng
được nâng cao, xu hướng xuất hiện nhiều cơ sở lưu trú, khu du lịch cao cấp phục vụ khách du lịch hạng sang
Biểu 05: Số lượng buồng, giường của các cơ sở lưu trú tỉnh Ninh Bình có đến năm 2010
Trang 26( Nguồn số liệu – Niên giám Thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2010 )
Do có sự đầu tư của ngân sách Nhà nước, cùng với sự thu hút vốn đầu tư
từ các thành phần kinh tế khác, nhất là khu vực kinh tế ngoài Nhà nước, nên hiện nay hệ thống khách sạn, nhà hàng, điểm vui chơi, ngày càng phục vụ kịp thời khách du lịch, bắt đầu xuất hiện các khu du lịch cao cấp phục vụ phân khúc khách du lịch cao cấp như khu du lịch Resot Cúc Phương, khu du lịch Anmandara, Ninh Bình Plaza (vissa) 5 sao, khu sân golt 54 lỗ Yên Thắng, khách sạn 4 sao Legend (Thuỳ Anh), Hoàng Sơn, Quang Dũng, siêu thị Đông Thành, vũ trường Đông Thành
Như vậy, tổng số cơ sở lưu trú năm 2010 so với năm 2005 gấp 2,5 lần, số phòng gấp gần 3 lần, số giường gấp 2,9 lần Như đã nói ở trên, nếu năm 2005 chưa có cơ sở lưu trú nào đạt tiêu chuẩn 3 sao thì đến năm 2010 đã có cơ sở với
226 phòng và 359 giường, đối tượng phục vụ chủ yếu là khách du lịch cao cấp,
có mức chi tiêu lớn
1.2.3- Hạn chế, tồn tại:
Thứ nhất: Tuy nhiên với những kết quả trên là khá nhưng vẫn chưa tương
xứng với tiềm năng và lợi thế về du lịch của tỉnh, hiệu quả kinh doanh du lịch vẫn còn thấp, tuy đã có bước chuyển biến, nhưng chưa thật sự là ngành kinh tế
có bước phát triển đột phá tạo bước chuyển dịch cơ cấu mạnh trong toàn bộ nền kinh tế, chất lượng dịch vụ còn chưa cao, chưa thu hút được khách ở lưu trú dài
Trang 2727
ngày do thiếu các dịch vụ vui chơi giải trí, số lượng khách du lịch quốc tế còn chiếm tỉ trọng thấp (năm 2010 chỉ chiếm 21,2%)
Thứ hai : Chi tiêu của khách du lịch tại Ninh Bình còn thấp, năm 2009
theo kết quả điều tra chi tiêu khách du lịch, bình quân 1 ngày khách chi tiêu của khách quốc tế (Chủ yếu là khách Châu Âu, Hàn quốc) là 88,8 USD chỉ bằng 97,3
% bình quân cả nước, đều thấp so với các tỉnh du lịch miền Bắc (Hà nội : 155,8 USD, Hải phòng: 103,2 USD, Quảng Ninh: 104 USD, Lào cai: 98 USD ) và miền Trung (Nghệ An: 129,9 USD), chỉ cao hơn chi tiêu khách du lịch tại Lạng sơn (chủ yếu khách Trung quốc - 68,9 USD); Chi tiêu bình quân 1 ngày khách của khách Việt Nam là 488,6 nghìn đồng bằng 69,4 % bình quân chung cả nước
Thứ ba: Quản lý nhà nước về du lịch đặc biệt là trật tự, vệ sinh môi trường các khu, điểm du lịch còn hạn chế Nguồn nhân lực phục vụ còn yếu và thiếu cả về chuyên môn và thái độ dịch vụ Sản phẩm du lịch chưa đa dạng, chưa phong phú và thiếu hấp dẫn, hoạt động lữ hành chưa được quan tâm, chủ yếu là
hoạt động “nối tua” và làm đại lý tour du lịch do vậy cơ sở và doanh thu của
hoạt động lữ hành còn quá nhỏ bé và chiếm tỉ trọng thấp trong hoạt động du lịch
Trang 2828
Chương 2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI TỈNH NINH BÌNH
2.1 Nhu cầu sử dụng thông tin về hoạt động du lịch
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, phải có hệ thống chỉ tiêu thống kê đánh giá hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Trong NQ 15/TU về phát triển du lịch, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đã xác định một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những tồn tại hạn chế trong phát triển du lịch giai đoạn 2001-2008 đó là công tác điều tra cơ bản về du lịch chưa đầy đủ và đồng bộ, do vậy chương trình
kế hoạch hành động thực hiện NQ15 của UBND tỉnh Ninh Bình ngày 17/7/2009
đã giao cho Cục Thống kê chủ trì phối hợp với Sở văn hoá thể thao và du lịch, Công an tỉnh xây dựng phương án điều tra cơ bản và thống kê du lịch theo yêu cầu của tỉnh, phù hợp với Luật Du lịch và Luật Thống kê, công tác này được xác định làm thường xuyên hàng năm
UBND tỉnh Ninh Bình nêu rõ công tác thống kê du lịch trên địa bàn tỉnh đã
cơ bản đáp ứng được các yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra,tuy nhiên còn một số chỉ tiêu chưa được đề cập đến trong báo cáo thống kê định kỳ, do đó chưa đánh giá hết được sự nỗ lực và ảnh hưởng tích cực của hoạt động du lịch trong sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Giao Cục Thống kê Ninh Bình chủ trì, phối hợp với các
cơ quan liên quan bổ sung các chỉ tiêu trong báo cáo thống kê du lịch hàng năm bắt đầu từ năm 2008 gồm: Số lượng khách quốc tế lưu trú tại Ninh Bình (Nêu rõ
15 quốc gia và vùng lãnh thổ có nhiều khách du lịch); Số ngày lưu trú bình quân của khách quốc tế; Số lượng khách nội địa tại Ninh Bình; Số ngày lưu trú bình quân của khách nội địa Đồng thời hàng năm tiến hành điều tra chi tiêu của khách du lịch quốc tế bình quân 1 ngày khách theo khoản chi, phương tiện, mục đích chuyến đi, ngoài ra đối với khách quốc tế du lịch chia theo nghề nghiệp và
Trang 2929
độ tuổi Như vậy Thống kê du lịch là công cụ kinh tế quan trọng để đánh giá thực trạng của hoạt động du lịch, sử dụng thông tin về hoạt động du lịch là nhu cầu cần thiết của các cấp, các ngành trong tỉnh
Để đánh giá đúng nhu cầu sử dụng thông tin về hoạt động du lịch, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát tại 48 cơ quan, đơn vị thường xuyên sử dụng
và có liên quan đến hoạt động du lịch của tỉnh bao gồm: Văn phòng tỉnh uỷ, HĐND, UBND, Ban Tuyên giáo Tỉnh, Ban dân vận Tỉnh uỷ, Các sở như: Sở Văn hoá,thể thao và du lịch; Kế hoạch - đầu tư; Tài chính; Khoa học và công nghệ; Sở Tài nguyên- môi trường; Sở Y tế, Sở Xây dựng; Sở giao thông vận tải; Công an tỉnh; huyện uỷ, UBND các huyện, thị, thành phố của tỉnh; UBND các
xã có các khu điểm du lịch; Các trường: Đại học Hoa Lư, chính trị Tỉnh, Kinh tế tại chức, trung cấp Đa ngành (Dân lập); Các ban quản lý các khu du lịch Tam Cốc- Bích Động, di tích cố đô Hoa Lư, vườn Quốc gia Cúc Phương; một số khách sạn, nhà hàng, công ty taxi …
Nội dung khảo sát tập trung vào một số nội dung quan trọng như: Nhu cầu
sử dụng thông tin, mức độ quan tâm tới các chỉ tiêu thống kê du lịch, nguồn thu nhận thông tin từ các cơ quan cung cấp, trong đó nguồn số liệu từ cơ quan thống
kê, cuối cùng là đánh giá chất lượng thông tin thống kê du lịch do ngành Thống
kê cung cấp Kết quả khảo sát đã phản ánh cơ bản trung thực thực trạng nhu cầu
sử dụng thông tin cho các đối tượng dùng tin
Qua khảo sát 100% các đối tượng đều có nhu cầu sử dụng thông tin thống
kê du lịch, mặc dù thời kỳ sử dụng khác nhau Có 83,3% có nhu cầu sử dụng
hàng tháng; 12,5% có nhu cầu sử dụng hàng quí, còn lại là nhu cầu sử dụng 6 tháng và cả năm đều bằng nhau là 0,4% đó là Sở Khoa học và công nghệ; Sở Xây dựng Trong số các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin hàng tháng 100% là các Ban quản lý du lịch, các khu du lịch, các doanh nghiệp có hoạt động
Trang 3030
phục vụ du lịch; xếp theo các cơ quan Đảng chiếm gần 82%, các cơ quan quản lý
Nhà nước chiếm 81%, các cơ quan nghiên cứu khoa học và đào tạo chiếm 75%
Biểu 06 : Nhu cầu sử dụng thông tin du lịch của các cơ quan tỉnh Ninh Bình
Đơn vị tính: Cơ sở
Không
có nhu cầu
Về mức độ quan tâm đối với một số nhóm chỉ tiêu cơ bản của hoạt động
du lịch (gồm 9 nhóm chỉ tiêu cơ bản nhất) như được chia thành 3 cấp độ: rất
quan tâm, quan tâm, không quan tâm Chỉ có 2 nhóm chỉ tiêu là chi tiêu của
khách du lịch (có 4,1%) và kết quả hoạt động của ngành du lịch (có 6,3%) là
không quan tâm, còn các nhóm chỉ tiêu còn lại đều đạt mức độ quan tâm hoặc rất
quan tâm Trong các nhóm chỉ tiêu thì nhóm chỉ tiêu môi trường du lịch (sự tín
nhiệm của khách) có gần 90% đối tượng sử dụng rất quan tâm; tiếp đến nhóm
chỉ tiêu số lượt khách, ngày khách và sản phẩm du lịch có 77% đối tượng rất
quan tâm; kế đến là nhóm chỉ tiêu hạ tầng cơ sở du lịch (72,9%); còn các nhóm
Trang 3131
chỉ tiêu khác như kết quả hoạt động du lịch, nguồn lao động du lịch, nguồn lực đầu tư và chi tiêu khách du lịch (có từ 60 đến 68,7% đối tượng rất quan tâm) Cụ thể xem ở biểu sau:
Biểu 07: Mức độ quan tâm đến các chỉ tiêu thống kê du lịch
Quan tâm
Không quan tâm
3- Kết quả hoạt động của ngành du
lịch (Doanh thu, chi phí, lợi nhuận,
Về nguồn thu nhận thông tin hoạt động du lịch đối với các đối tượng sử dụng, tập trung chủ yếu 4 nguồn là: Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, cơ
quan truyền thông; cơ quan thống kê, các cơ quan khác Đối tượng có thể đồng
Trang 3232
thời thu nhận từ nhiều cơ quan khác, nhưng qua đánh giá thì thông tin hoạt động
du lịch chủ yếu các đối tượng thu nhận từ cơ quan thống kê cung cấp, có tới 44/48 đơn vị (chiếm 91,6%), chỉ có 4 đối tượng không thu nhận thông tin từ ngành Thống kê (chiếm 8,4 %) đó là: Sở Giao thông vận tải, UBND xã Gia Sinh (Địa phương có khu du lịch Bái Đính) và 2 doanh nghiệp kinh doanh du lịch; Nguồn thu nhận thông tin thứ hai, mà các đối tượng nhận được là từ các cơ quan truyền thông như báo chí, đài truyền hình, phát thanh, internet … có 81,2% số đối tượng ghi nhận thông tin, tiếp theo là nguồn thông tin từ cơ quan quản lý về
du lịch có 4,1% số đối tượng; còn lại là từ các cơ quan khác chỉ chiếm 12,5% Điều đáng nói chỉ có 100% các cơ quan Đảng, nghiên cứu khoa học và ban quản
lý các khu du lịch là đều nhận thông tin từ 3 cơ quan chính là: Quản lý nhà nước
về du lịch, truyền thông và Thống kê; Cụ thể như sau:
Biểu 08: Nguồn thu nhận thông tin hoạt động du lịch
Đơn vị tính: Cơ sở
Tổng số
Trong tổng số
Cơ quan QLNN
về du lịch
Cơ quan truyền thông
Cơ quan Thống
kê
Khác
Trang 3333
nguồn số liệu chủ yếu mà các đối tượng sử dụng để hoạch định, quản lý, điều hành hoạt động ngành du lịch; báo cáo kinh tế - xã hội và niên giám thống kê là nguồn số liệu được nhiều đối tượng sử dụng (tới 70,8%), tiếp theo là niên giám thống kê có 66,6% đối tượng sử dụng, còn lại chỉ có 20,8% là sử dụng nguồn số liệu từ các báo cáo chuyên đề của cơ quan Thống kê
Biểu 09 : Sử dụng các sản phẩm số liệu từ cơ quan Thống kê
Tổng số
Trong tổng số
Báo cáo KT-XH
Báo cáo chuyên đề
Niên giám Thống kê
Ghi chú : Có 4 đơn vị không sử dụng thông tin từ ngành Thống kê
Với tư cách là người sử dụng thường xuyên các thông tin thống kê, các
đối tượng được khảo sát cũng đã đánh giá chất lượng, tính kịp thời và chính xác của thông tin du lịch do ngành Thống kê cung cấp, phục vụ quá trình hoạch
định, nghiên cứu, điều hành, quản lý hoạt động du lịch Mức độ đánh giá được chia thành 4 mức: tốt, trung bình, cần bổ sung, chưa đáp ứng và không sử dụng Qua khảo sát có 23/48 đối tượng (chiếm gần 48%) đánh giá các thông tin đáp ứng chất lượng tốt, có tới 41,6% đánh giá trung bình cần bổ sung, còn lại thì có
Trang 34bổ sung
Chưa đáp ứng
Tóm lại, qua khảo sát thực trạng nhu cầu sử dụng thông tin, nhu cầu sử
dụng thông tin về hoạt động du lịch từ cơ quan Thống kê là rất lớn, nhưng nguồn
số liệu từ cơ quan Thống kê cung cấp chưa đáp ứng đầy đủ và chất lượng theo yêu cầu hiện tại, cần có sự chuẩn hoá và hoàn thiện thành 1 hệ thống chỉ tiêu thống nhất về phạm vi, phương pháp tính, nguồn số liệu
Trang 35+ Hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh hoạt động du lịch ở cấp tỉnh phục
vụ địa phương hàng tháng, quí, 6 tháng và cả năm bao gồm các chỉ tiêu sau(có
Báo cáo tháng, quí, 6 tháng :
1- Hoạt động khách sạn: Doanh thu, lượt khách phục vụ và ngày khách phục vụ
2- Hoạt động nhà hàng: Doanh thu
3- Hoạt động du lịch lữ hành: Doanh thu, lượt khách, du lịch theo tour, ngày khách du lịch theo tour
Báo cáo năm :
4- Kết quả kinh doanh khách sạn, nhà hàng và du lịch lữ hành
5- Nhân lực và kết quả hoạt động của các cơ sở lưu trú du lịch
Trang 3636
6- Khách du lịch do cơ sở lưu trú, cơ sở du lịch lữ hành phục vụ
7- Danh mục khách sạn, điểm cắm trại và các dịch vụ nghỉ trọ ngắn ngày
8- Chi tiêu khách du lịch trong nước và nước ngoài
2.2.1.2.Phân công thu thập số liệu:
Đối với hoạt động khách sạn, du lịch lữ hành hiện nay, tổng số cơ sở điều tra hàng tháng đang thu thập 9 doanh nghiệp và 13 cơ sở cá thể, nhằm phục vụ cho việc tổng hợp kết quả chỉ tiêu tổng mức bán lẻ hàng hoá, dịch vụ của Tổng cục Thống kê Công tác thu thập này được phân công cho các chi cục Thống kê thực hiện đối với các cơ sở là doanh nghiệp ngoài nhà nước và cơ sở cá thể
Riêng đối với các ban quản lý khu du lịch, do phòng thống kê Thương mại trực tiếp thực hiện Ngoài ra để phục vụ số liệu cho tỉnh, phòng Thống kê Thương mại chủ trì điều tra, thu thập số liệu về lượt khách du lịch theo mùa du lịch (cao điểm, trung bình và thấp điểm) và điều tra chi tiêu đối với các khách du lịch tập trung ở một số điểm du lịch tâm linh không bán vé tham quan và 1 số điểm khu du lịch có số lượng khách lớn như Bái Đính, Trang An, Tam Cốc- Bích Động, Đinh Lê, nhà thờ đá Phát Diệm
2.2.1.3.Xử lý và tổng hợp số liệu
Sau khi có số liệu ban đầu thông qua thu thập phiếu điều tra được chuyển
về phòng thống kê Thương mại tiến hành xử lý và tổng hợp Phiếu điều tra các
cơ sở kinh doanh du lịch được xử lý, nhập tin báo cáo cho Tổng Cục Thống kê theo kế hoạch thông tin gồm số lượt khách và ngày khách tại các cơ sở lưu trú, doanh thu của các cơ sở lưu trú
Báo cáo thu thập thông tin từ các điểm du lịch có bán vé, phiếu điều tra số lượng khách đến các điểm du lịch (điều tra theo mùa vụ du lịch) được xử lý, tổng hợp để phục vụ nhu cầu thông tin về hoạt động du lịch của tỉnh, kết quả xử lý
Trang 3737
tổng hợp về số lượt khách đến các điểm du lịch của tỉnh, số ngày khách lưu trú
và doanh thu hoạt động du lịch
2.2.1.4.Công bố thông tin:
Cục Thống kê báo cáo kết quả tổng hợp cho Tổng Cục Thống kê và đồng thời cung cấp cho các cơ quan quản lý Nhà nước địa phương
2.2.2 Kết quả sử dụng hệ thống chỉ tiêu thống kê hoạt động du lịch tại Ninh Bình
2.2.2.1 Những kết quả đạt được
Như vậy hệ thống chỉ tiêu thống kê hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình hàng tháng phải đáp ứng yêu cầu thông tin theo 2 chiều khác nhau; Thứ nhất cung cấp thông tin cho Tổng Cục Thống kê và thứ hai cung cấp thông tin cho các cấp, các ngành ở địa phương Qua một thời gian sử dụng hệ thống chỉ tiêu trên đã đạt được một số kết quả như sau:
Thứ nhất: Cơ bản các chỉ tiêu quan trọng hàng tháng như lượt khách,
ngày khách, doanh thu hoạt động du lịch, chi tiêu của khách du lịch, cơ sở vật chất của ngành du lịch đã cơ bản đáp ứng yêu cầu của Tổng Cục Thống kê và các cơ quan sử dụng thông tin, chất lượng số liệu bước đầu được đánh giá đảm bảo, phạm vi thu thập cơ bản đầy đủ
Thứ hai: Hệ thống chỉ tiêu thống kê hàng năm được công bố tại niên
giám và các báo cáo chuyên đề là căn cứ quan trọng để thu hút các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đầu tư các dự án về điểm và khu du lịch Đồng thời quảng bá tiềm năng môi trường du lịch, sản phẩm du lịch để thu hút du khách trong và ngoài nước bằng hệ thống số liệu
Thứ ba: Hệ thống chỉ tiêu thống kê là công cụ giám sát quan trọng nhất
để giúp cho các cơ quan quản lý qui hoạch hoạch định điều hành hoạt động du
Trang 3838
lịch, cơ bản đã khắc phục được lỗ hổng, thiếu thông tin trong công tác thống kê
và điều tra cơ bản về du lịch
2.2.2.2 Một số tồn tại và hạn chế
Thứ nhất: Thông tin chưa đầy đủ nếu chỉ sử dụng hệ thống chỉ tiêu thống
kê cấp tỉnh: Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh có 3 chỉ tiêu doanh thu dịch vụ
du lịch (mã số T1607); số lượt khách du lịch (mã số T1608); năng lực hiện có và năng lực mới tăng của các cơ sở lưu trú (mã số T1609) Như vậy một số chỉ tiêu quan trọng được nhiều đối tượng sử dụng thông tin có nhu cầu sử dụng mà chưa
có như: 1-sản phẩm du lịch, 2-tài nguyên du lịch, 3-môi trường du lịch (sự tín nhiệm của khách đối với tiềm năng, sản phẩm du lịch),4-chi tiêu của khách du lịch, 5-ngày khách lưu trú
Thứ hai: Do mục đích và nhu cầu sử dụng thông tin của địa phương và q
của Tổng cục Thống kê nên dẫn đến yêu cầu phạm vi tính toán và khái niệm hoạt động du lịch khác nhau.Do vậy có khác nhau giữa số liệu thống kê du lịch do ngành thống kê công bố và số liệu tính toán theo yêu cầu cuả địa phương.Trong trường hợp này nếu không có sự giải thích cụ thể kèm theo số liệu công bố thì người sử dụng số liệu sẽ bị hiểu lầm cósự chênh lệch
Số lượt khách du lịch: Theo qui định của Luật Du lịch khách du lịch bao
gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế.Mặt khác trong giải thích của
hệ thống chỉ tiêu tỉnh,huyên,xã thì khái niệm số lượt khách du lịch bao gồm : khách quốc tế đến Việt nam và khách du lịch nội địa là công dân Việt nam,thường trú tại Việt nam đi du lịch đến tỉnh
Nhưng hiện nay theo qui định của ngành Thống kê thì số lượt khách được
thống kê ở các cơ sở lưu trú và lượt khách phục vụ của các công ty lữ hành
Như vậy sẽ thiếu số lượt khách chỉ đến các điểm,khu du lịch trong ngày mà
không nghỉ tại các cơ sở lưu trú Do vậy nếu so sánh thống kê số lượt khách đến
Trang 3939
các điểm,khu du lịch và thống kế số lượt khách đến các cơ sở lưu trú thì có sự chênh lệch lớn,ví dụ năm 2008 chênh lệch giữa lượt khách đến du lịch với số lượt khách tại các cơ sở lưu trú và lượt khách phục vụ của các công ty lữ hành là 14,8 lần, năm 2009 là 15,7 lần, năm 2010 là 18,3 lần
Doanh thu dịch vụ du lịch: Theo khái niệm của Tổng cục Thống kê thì
chỉ tiêu này là toàn bộ doanh thu thuần du lịch lữ hành, bao gồm: doanh thu do bán, tổ chức, thực hiện các chương trình du lịch; doanh thu thuần hoạt động đại
lý lữ hành; doanh thu từ các dịch vụ khác giúp đỡ khách du lịch; hay nói cách khác là phản ánh kết quả kinh doanh của các cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch từ các hoạt động hỗ trợ du lịch trên địa bàn, phạm vi tính toán ngành dịch vụ du lịch ở đây là theo phân ngành kinh tế quốc dân
Nhưng với yêu cầu phải tính toán doanh thu từ các hoạt động phục vụ du lịch trên địa bàn gồm: Ăn nghỉ, vận chuyển, mua sắm, vui chơi, giải trí của khách, như vậy phạm vi tính toán ngành du lịch là tính theo phạm vi quản lý Nhà nước về hoạt động du lịch
Nên đã tạo ra sự chệnh lệch rất lớn giữa khái niệm và cách tính, chỉ tính riêng 7 tháng năm 2011, doanh thu dịch vụ du lịch theo báo cáo tổng mức bán lẻ là: 1,57 tỷ đồng, còn theo cách tính doanh thu từ hoạt động du lịch trên địa bàn
đó 486,4 tỷ đồng chênh lệch 310 lần
Thứ ba: Có sự khác biệt về khái niệm, định nghĩa hoạt động du lịch và
phương pháp tiếp cận thu thập số liệu
Do có nhu cầu sử dụng số liệu sự khác nhau như vậy, đòi hỏi Cục Thống
kê tỉnh phải tiến hành thu thập số liệu, nguồn thu thập số liệu, phạm vi thu thập
số liệu cũng khác nhau, từ đó hình thành 2 dãy số liệu khác nhau, gây khó khăn cho người sử dụng tin nếu không được giải thích rõ ràng Vì có sự chênh lệch khá lớn mà nguyên nhân chính đầu tiên đó là khái niệm về ngành kinh tế du lịch
Trang 4040
giữa ngành thống kê và các cơ quan quản lý Nhà nước cũng khác nhau Ngành Thống kê nghiên cứu xuất phát từ phân ngành kinh tế quốc dân (VISIC 2007) đảm bảo tính so sánh quốc tế, nên không có ngành kinh tế cấp 1 về hoạt động du lịch, nhưng các cơ quan quản lý Nhà nước lại xuất phát khái niệm hoạt động kinh tế du lịch được qui định theo Luật Du lịch, do xuất phát từ khái niệm, định nghĩa khác nhau như vậy nên phương pháp thu thập số liệu đến tính toán các chỉ tiêu cũng khác nhau
Thứ tư: Đối với điều tra định kỳ số lượng mẫu điều tra hàng tháng quá nhỏ, độ tin cậy không cao.Độ chính xác của thông tin do các cơ sở lưu trú cung cấp không cao
Tổng số mẫu điều tra hàng tháng được TCTK qua thực hiện phần du lịch
là 9 doanh nghiệp và 12 cơ sở cá thể, chỉ chiếm gần 4% trong tổng số mẫu được giao phần thương mại và chiếm tỷ trọng 0,4% trong tổng số đơn vị có hoạt động kinh doanh du lịch
Đối tượng cung cấp thông tin là các cơ sở lưu trú nên chất lượng thông tin không đảm bảo tính chính xác do các cơ sở thường không thống kê đầy đủ số lượt khách , ngày khách, doanh thu Đồng thời khi thống kê các cơ sở lưu trú thường thống kê bị trùng lặp về số lượt khách do thống kê toàn bộ khách lưu trú,kể cả không phải khách du lịch ,doanh thu khách sạn thống kê cả doanh thu nhà hàng …
Thứ năm: Hệ thống chỉ tiêu thống kê hoạt động du lịch hàng tháng hiện
chỉ phục vụ được cho toàn tỉnh, chưa tổng hợp, xử lý chia theo huyện, thị xã, thành phố
Do vậy hiện nay chỉ có 2/8 chi cục Thống kê huyện là Gia Viễn và Nho Quan là có cung cấp số liệu du lịch cho Huyện ủy và UBND các huyện, nhưng là lồng ghép vào báo cáo kinh tế- xã hội 6 tháng, 9 tháng và cả năm