1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phương pháp tính toán một số chỉ số phản ảnh mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

34 521 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 488,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp tính toán một số chỉ số phản ảnh mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Phương pháp tính toán một số chỉ số phản ảnh mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Phương pháp tính toán một số chỉ số phản ảnh mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Trang 1

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ - VIỆN KHOA HỌC THỐNG KÊ

Đề tài khoa học

Nghiên cứu lựa chọn và tính toán thử nghiệm một số chỉ số phản ánh mức độ

hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

CHUYÊN ĐỀ 5

PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN MỘT SỐ CHỈ SỐ PHẢN ÁNH MỨC ĐỘ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

CỦA VIỆT NAM

HÀ NỘI, 8 - 2009

Trang 2

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ - VIỆN KHOA HỌC THỐNG KÊ

Đề tài khoa học

Nghiên cứu lựa chọn và tính toán thử nghiệm một số chỉ số phản ánh mức độ

hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

CHUYÊN ĐỀ 5

PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN MỘT SỐ CHỈ SỐ PHẢN ÁNH MỨC ĐỘ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

CỦA VIỆT NAM

Để phục vụ cho việc nghiên cứu lựa chọn và tính toán thử nghiệm một số chỉ số phản ánh mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, chuyên đề khoa học này

đề cập tới phương pháp luận cơ bản tính toán các chỉ số thống kê tổng hợp; đi sâu vào một vài chỉ số thông dụng hiện nay được thế giới đang quan tâm như HDI (chỉ số phát triển con người); GDI (chỉ số phát triển liên quan đến giới); HPI (chỉ số nghèo tổng hợp); TAI (chỉ số phát triển công nghệ); GEM (chỉ số vai trò của phụ nữ) để

từ đó tìm ra một cách tiếp cận phù hợp cho việc tính chỉ

số hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là tham khảo cách xác định chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế của ASEAN để

áp dụng cho hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam Chuyên đề này cũng đề cập tới những ưu điểm và nhược điểm của chỉ số tổng hợp được đưa ra phản ánh hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, làm nền tảng mở rộng các nghiên cứu sau này nhằm cải tiến và hoàn thiện nó cho phù hợp với hoàn cảnh mới trong tiến trình phát triển của đất nước

HÀ NỘI, 8 - 2009

Trang 3

MỤC LỤC

II PHƯƠNG PHÁP CHUNG XÂY DỰNG CHỈ SỐ TỔNG HỢP 4

4.1 Nguyên tắc lựa chọn chỉ tiêu và lựa chọn công thức tính 27

Trang 4

I GIỚI THIỆU CHUNG

Trong các nghiên cứu gần đây về các vấn đề kinh tế - xã hội, người

ta sử dụng ngày càng nhiều các chỉ số tổng hợp (synthetic index), chẳng hạn như các chỉ số HDI, chỉ số phát triển liên quan đến giới GDI, chỉ số vai trò phụ nữ GEM (hay còn gọi là chỉ số quyền năng của phụ nữ), chỉ

số phát triển công nghệ TAI, chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia NCI, chỉ

số hạnh phúc quốc gia GNHI, chỉ số tự do kinh tế IEF, chỉ số thịnh vượng quốc gia WNI, chỉ số thực thi công vụ, chỉ số chất lượng cuộc sống, chỉ

số thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ, v.v

Sở dĩ như vậy vì các hiện tượng kinh tế xã hội về bản chất là các hiện tượng phức tạp, nhiều chiều, để đánh giá và so sánh được các hiện tượng kinh tế xã hội theo không gian và thời gian đòi hỏi phải xem xét chúng trên nhiều phương diện (nhiều chiều) khác nhau Nhưng làm thế nào để có thể đánh giá và tổng hợp chính xác được các khía cạnh khác nhau của hiện tượng nghiên cứu, lý thuyết thống kê đã cung cấp cho chúng ta nhiều phương pháp khác nhau để giải quyết vấn đề này

Về mặt lý luận khi xây dựng chỉ số tổng hợp chúng ta phải giải quyết hai vấn đề chính:

 Một là lựa chọn được các chỉ tiêu thành phần (hay tiêu thức nhân tố) phản ánh được bản chất của hiện tượng nghiên cứu;

 Hai là bằng cách nào chúng ta có thể tổng hợp (hay gộp) các chỉ tiêu thành phần này, tức là xác định được các trọng số của các chỉ tiêu thành phần trong chỉ tiêu tổng hợp

Cho đến nay các công trình nghiên cứu vẫn chưa giải quyết thoả đáng hai vấn đề cơ bản nêu trên, chính vì vậy chuyên đề này trình bầy một phương pháp tổng quát và tương đối đơn giản, dễ vận dụng trong thực tế để xây dựng các chỉ số tổng hợp,cũng đưa ra nội dung của một vài chỉ số tổng hợp đang thịnh hành trên thực tế ở các quốc gia

II PHƯƠNG PHÁP CHUNG XÂY DỰNG CHỈ SỐ TỔNG HỢP

Để phản ánh và mô tả các hiện tượng phức tạp, người ta sử dụng các nhóm chỉ tiêu khác nhau đặc trưng cho từng khía cạnh của hiện tượng

và trong mỗi nhóm lại gồm một số các chỉ tiêu cụ thể và thông thường tập hợp các số liệu đầu vào được trình bầy dưới dạng ma trận khối

Trang 5

Việc xây dựng chỉ số tổng hợp được tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Phân tích định tính tính chất của các chỉ tiêu thành phần:

chia chỉ tiêu tác động thành tích cực và tiêu cực

Về bản chất các hiện tượng phức tạp thường là các phạm trù trừu tượng không trực tiếp quan sát được và rất khó đo lường trực tiếp chúng,

để có thể đánh giá và lượng hoá được các hiện tượng chúng ta cần phải thông qua các chỉ tiêu thành phần cụ thể

Đối với một hiện tượng kinh tế xã hội phức tạp, chẳng hạn như mức sống, chất lượng sống hay khả năng cạnh tranh quốc gia thì có rất nhiều các chỉ tiêu thành phần có thể phản ánh mức độ của tiện tượng đó, chẳng hạn như để đánh giá mức sống, người ta có thể dùng các chỉ tiêu thành phần như: thu nhập bình quân đầu người, mức tiêu dùng các loại thực phẩm bình quân đầu người, số điện thoại tính trên đầu người, v.v

Các chỉ tiêu này về bản chất là các chỉ tiêu phản ánh hiện tượng nghiên cứu theo góc độ tích cực, tức là chúng biến động cùng chiều và đóng góp tích cực vào sự phát triển của hiện tượng Tuy nhiên lại có các chỉ tiêu thành phần khác phản ánh tiêu cực, trái chiều hiện tượng nghiên cứu, ví dụ đối với mức sống các chỉ tiêu như số trẻ em suy dinh dưỡng hay số người vô gia cư, v.v Như vậy phân tích định tính cho phép chúng ta phân các chỉ tiêu thành phần vào hai nhóm các chỉ tiêu tác động tích cực và các chỉ tiêu tác động tiêu cực, về mặt nguyên tắc chúng ta luôn có thể biến các chỉ tiêu tiêu cực thành tích cực và ngược lại bằng động tác nghịch đảo hay đảo chiều tác động Do đó, trong phần nghiên cứu dưới đây chúng ta sẽ giả thiết các chỉ tiêu đều là chỉ tiêu tích cực

Bước 2: Lựa chọn các chỉ tiêu thành phần chủ yếu phản ánh hiện

tượng nghiên cứu

Để phản ánh hiện tượng nghiên cứu có thể sử dụng rất nhiều chỉ tiêu thành phần Nếu sử dụng tất cả các chỉ tiêu này thì chúng ta sẽ gặp phải vấn đề nhiễu thông tin, hay loãng thông tin, do đó nên loại trừ những chỉ tiêu chứa đựng lượng thông tin không đáng kể về hiện tượng Nói cách khác chúng ta nên chọn ra một số lượng vừa đủ các chỉ tiêu thành phần, điều này còn làm giảm chi phí tính toán trong xử lý số liệu Từ tập hợp ban đầu các chỉ tiêu, chúng ta rút lại một nhóm nhỏ hơn gọi là các chỉ tiêu thứ cấp Có rất nhiều phương pháp khác nhau để lựa chọn các chỉ tiêu mong muốn Một trong số các phương pháp đó là sử dụng phân tích tương quan

Trang 6

Tuy nhiên, trong kinh tế - xã hội người ta lại hay sử dụng phương pháp chuyên gia dựa và kinh nghiệm và phán xét thực tiễn để chọn lựa

Kết thúc giai đoạn này sẽ thu được một tập hợp các chỉ tiêu thành phần thứ cấp với số lượng nhỏ hơn lúc ban đầu

Bước 3: Phân tích mức độ quan trọng của từng chỉ tiêu thành phần

(hay mức độ quan trọng của thông tin)

Rõ ràng mỗi chỉ tiêu thành phần chứa đựng thông tin về hiện tượng nghiên cứu với các mức độ khác nhau, có chỉ tiêu phản ánh được nhiều,

có chỉ tiêu phản ánh được ít Tức là vai trò và tầm quan trọng của các chỉ tiêu đối với hiện tượng nghiên cứu là khác nhau Để đánh giá vấn đề này

ta phân tích hệ số biến thiên của từng chỉ tiêu thành phần được chọn

Nếu một chỉ tiêu thành phần nào đó có hệ số biến thiên nhỏ tức là mức đồng đều của chỉ tiêu này tại từng đối tượng là khá cao, thì chỉ tiêu

đó về bản chất là chỉ tiêu chứa đựng ít thông tin về hiện tượng nghiên cứu Ví dụ với chỉ tiêu tỷ lệ xã có đường ô tô đến trụ sở, có trạm y tế, hay được dùng điện lưới, thì chỉ tiêu này ở hầu hết các tỉnh đều đạt hầu như 100%, cho nên nếu dùng chỉ tiêu này để đánh giá mức ảnh hưởng tới thay đổi mức sống thì chất lượng thông tin trong phân tích sẽ không cao, mặc

dù trên thực tế chúng rất có ý nghĩa Hay nói cách khác, đối với một chỉ tiêu thành phần nào đó mà càng ít đối tượng đạt được mức độ cao, độ biến thiên của nó lớn, thì chỉ tiêu đó càng có giá trị thông tin trong phân tích, ví dụ như đối với mức sống thì chỉ tiêu số lượng ô tô tính trên 1.000 dân chẳng hạn là chỉ tiêu phản ánh rõ nét mức sống cao và chỉ tiêu này khó đạt được đồng đều đối với các đối tượng nghiên cứu, hơn nữa chỉ tiêu này rõ ràng thể hiện mức sống cao hơn so với chỉ tiêu như số lượng

xe đạp hay vô tuyến tính trên 1.000 dân

Như vậy có thể kết luận là: chỉ tiêu càng quan trọng thì càng ít đối tượng đạt được giá trị (mức độ) cao của nó Để đơn giản tại bước này chúng ta sẽ loại bỏ bớt các chỉ tiêu mà hệ số biến thiên nhỏ (tức là lượng thông tin về hiện tượng nghiên cứu thấp)

Bước 4: Chuẩn hoá các chỉ tiêu thành phần đã được chọn lọc

Có nhiều phương pháp chuẩn hoá nhưng thông thường người ta hay áp dụng phương pháp chuẩn hoá bằng cách tính toán mức đạt tới "giá trị tốt nhất":

+ "Cao nhất", ví dụ tuổi thọ; tỷ lệ đi học đúng tuổi

Trang 7

+ "Lý tưởng nhất", ví dụ mức sinh thay thế: nếu vượt quá thì tốc độ tăng dân số sẽ nhanh, thấp quá thì dân số sẽ suy giảm, hay như tỷ lệ giới tính khi sinh, nếu quá cao thì sẽ thừa nam thiếu nữ, thấp quá thì thừa nữ thiếu nam

+ Thấp nhất, ví dụ tỷ lệ bệnh tật 0%

Việc chuẩn hoá được thực hiện bằng cách lấy trị số của chỉ tiêu chia cho "giá trị tốt nhất" vừa tìm ra, để biết chỉ tiêu đó đã đạt tới mức nào của "giá trị tốt nhất"

Các chỉ tiêu thống kê có các đơn vị đo khác nhau Chúng ta không thể thực hiện việc tổng hợp thông qua các phép tính số học cộng trừ giữa các đơn vị đo khác nhau ấy Do vậy, phải thực hiện biện pháp chuẩn hoá

Chuẩn hoá chỉ tiêu ở đây có nghĩa là đưa các chỉ tiêu có đơn vị đo khác nhau về cùng một tham chiếu đo dưới dạng thức chỉ số để thực hiện phép tính tổng hợp (ta còn gọi biện pháp chuẩn hoá này là phép chỉ số hoá chỉ tiêu)

Để thực hiện được việc chuẩn hoá này, cần phân chia các chỉ tiêu thống kê thành 3 loại:

(i) Loại yếu tố có tác động tích cực, tức là có quan hệ đồng biến, khi trị số của chỉ tiêu này tăng lên, sẽ góp phần nâng cao thêm CLDS, và ngược lại, khi trị số của chỉ tiêu này giảm đi, sẽ gây tác động hạ thấp CLDS, ví dụ tuổi thọ bình quân càng cao, CLDS càng cao, những chỉ tiêu

yếu tố loại này, ta đánh dấu "+";

(ii) Loại yếu tố tác động tiêu cực, tức là có quan hệ nghịch biến, khi trị số tăng lên, sẽ làm giảm CLDS, và ngược lại, khi trị số của chỉ tiêu này giảm đi, sẽ tác động nâng cao CLDS, ví dụ số người nhiễm HIV/AIDS tính trên 1 vạn dân càng cao, CLDS càng thấp Những chỉ tiêu

loại này được gắn dấu "-";

(iii) Loại yếu tố có tác động "hướng tâm", tức là cùng một chỉ tiêu, trường hợp này thì cả tăng lên và giảm xuống đều có ảnh hưởng tích cực tới CLDS, và đối với một số trường hợp khác thì cả tăng lên và giảm xuống đều có ảnh hưởng tiêu cực tới CLDS, ví dụ chỉ số thể hình BMI: đối với những trường hợp BMI thấp hơn 18,5 thì việc tăng BMI là dấu hiệu tích cực cho sức khoẻ về thể hình, còn khi BMI đã cao hơn 25,0 rồi thì việc tăng BMI lại là dấu hiệu tiêu cực, và ngược lại, khi BMI đã thấp hơn 18,5 rồi thì việc giảm BMI là dấu hiệu tiêu cực cho thể hình, còn khi

Trang 8

BMI đã cao hơn 25,0 rồi thì việc giảm BMI lại là dấu hiệu tích cực Với

những yếu tố loại tác động hướng tâm này, chúng ta đánh dấu "*"

Nguyên lý chuẩn hoá là đưa các chỉ tiêu về thước đo gọi là "mức đạt được mức độ tốt nhất" của chỉ tiêu

a- Đối với các yếu tố tác động tích cực

(i) Khi chỉ tiêu yếu tố được đo bằng tỷ lệ phần trăm (%), mức độ

tốt nhất là mức cao nhất có thể đạt tới là 100% Ví dụ, tỷ lệ gia đình được công nhận là gia đình văn hoá có mức độ tốt nhất là 100% (ta gọi là mức

cực đại - max), tức là toàn bộ các gia đình đều đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá, còn mức độ thấp nhất là 0% (ta gọi là mức cực tiểu - min), tức

là không có gia đình nào đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá Tỉnh A có chỉ tiêu tỷ lệ gia đinh văn hoá 70%, nghĩa là tỉnh A đã đạt 70% mức cực đại (theo thang điểm 100), hay 7 điểm (theo thang điểm 10), hay 0,7 điểm mức cực đại (tính theo thang điểm 1)

Thực chất các thang điểm 1, hay 10, hay 100 đều như nhau về bản chất Do yêu cầu mức độ chi tiết và số lẻ sau dấu phẩy trong kết quả mà người ta chọn thang điểm này hay thang điểm khác Cụ thể trong HDI người ta chọn thang điểm 1, Chỉ số môi trường đầu tư người ta chọn thang điểm 10, Chỉ số môi trường kinh doanh người ta chọn thang điểm

100 Thông thường con số 70,815 (thang điểm 100) dễ nhìn hơn là con số 0,70815 (thang điểm 1) mặc dù chúng có ý nghĩa như nhau trong các thang đo khác nhau

(ii) Khi chỉ tiêu yếu tố được đo bằng số lượng tuyệt đối, mức tốt nhất là mức cực đại (max), và mức kém nhất là mức cực tiểu (min) đạt

được trong kỳ nghiên cứu Mức cực tiểu là mức đương nhiên đạt được

Vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước, khi nghiên cứu xây dựng HDI, xem xét thu nhập bình quân đầu người và tuổi thọ trung bình của tất

cả các quốc gia trên thế giới, số liệu khi đó cho thấy không quốc gia nào

có thu nhập bình quân đầu người vượt quá 40.000 đô la Mỹ, và không quốc gia nào có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn 100 đô la Mỹ theo sức mua tương đương, do đó UNDP đã lấy mốc 40.000 USD là mức thu nhập tối đa và 100 USD là mức thu nhập tối thiểu để tính toán Chỉ số thu nhập Đối với tuổi thọ, người ta chọn tối đa là 85 và tối thiểu là 25

Ví dụ: tỉnh A có tuổi thọ trung bình 70 (thành tích đã đạt được là 70-25=45), trong khi mức tối đa cần phấn đấu để đạt tới là (85-25 = 60), tính dưới dạng chỉ số thì thành tích đã đạt được là 45/60 = 0,750

Trang 9

Công thức chuẩn hoá tổng quát là:

min max

min

X X

X X

I i

i thuc i j

Với: Ii

j là chỉ số của yếu tố i thuộc thành tố j

Ximax là mức độ tối đa đạt được của yếu tố i;

Ximin là mức độ tối thiểu đạt được của yếu tố i;

Xithực là mức độ thực tế đạt được của yếu tố i

b- Đối với các yếu tố tác động tiêu cực

(i) Khi chỉ tiêu yếu tố được đo bằng tỷ lệ phần trăm (%), mức độ

tốt nhất là mức thấp nhất có thể đạt tới là 0% Ví dụ, tỷ lệ suy dinh dưỡng

của trẻ em dưới 5 tuổi có mức độ tốt nhất là 0% (ta gọi là mức cực tiểu - min), tức là toàn bộ dưới 5 tuổi đều không bị suy dinh dưỡng, còn mức

độ xấu nhất là 100% (ta gọi là mức cực đại - max), tức là toàn bộ trẻ em

dưới 5 tuổi đều bị suy dinh dưỡng Tỉnh A có chỉ tiêu tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi là 20%, nghĩa là tỉnh A trên con đường phấn đấu để giảm từ 100% xuống 0% trẻ em suy dinh dưỡng thì đã đạt được mức (100,0 - 20,0 = 80,0) % theo thang điểm 100 hay (10,0 - 2,0 = 8,0) theo thang điểm 10, hoặc (1,00 - 0,200 = 0,800) theo thang điểm 1 Ở đây, mức độ đạt được dưới dạng phần trăm và đó cũng là dạng chỉ số

Công thức chung để tính chỉ số yếu tố là:

I i j = 1 - I i thực

Với: Ii

j là chỉ số của yếu tố i thuộc thành tố j

Ii thực là mức độ (chỉ số) thực tế đạt được của yếu tố i

(ii) Khi chỉ tiêu yếu tố được đo bằng số lượng tuyệt đối, mức độ tốt nhất là mức cực tiểu (min), và mức độ kém nhất là mức cực đại (max) Việc xác định mức cực đại và cực tiểu cũng giống như trường hợp

các yếu tố tích cực có tác động đồng biến với chỉ số tổng hợp Nhưng ý nghĩa trái ngược hẳn Người ta phấn đấu để đạt được mức cực tiểu bởi vì các chỉ tiêu yếu tố loại này càng nhỏ thì CLDS càng cao Chuẩn hoá (chỉ

số hoá) thwcj hiện theo công thức sau:

min max

max

i i

thuc i i

j

i

X X

X X

Trang 10

Xi max là mức độ tối đa đạt được của yếu tố i;

Xi min là mức độ tối thiểu đạt được của yếu tố i;

Xi thực là mức độ thực tế đạt được của yếu tố i

Có thể thực hiện phép biến đổi số học đơn giản:

X i max

- X i min

- X i

thực

+ X i min

I i j

= -

X i

max

- X i min

Hay:

X i max - X i min - (X i thực - X i min)

I i j

)

I i j = 1 - -

X i max

- X i min

c- Đối với các yếu tố tác động hướng tâm

Trước hết cần xác định thế nào là "Tâm" "Tâm" là một trị số hay một khoảng trị số của chỉ tiêu mà được coi là tốt nhất Trị số của chỉ tiêu

mà nằm phía trên hay phía dưới "Tâm" đó đều chưa thể coi là tốt, mà phải phấn đấu để chỉ tiêu đạt được con số được gọi là "Tâm"

Nếu trị số của chỉ tiêu nằm dưới "Tâm", thì ảnh hưởng của sự thay đổi của chỉ tiêu cũng như việc tính toán chỉ số yếu tố Ii hoàn toàn giống như các chỉ tiêu có tác động tích cực, nghĩa là trị số chỉ tiêu tăng lên sẽ làm cho chỉ số tổng hợp tăng lên

Nếu trị số của chỉ tiêu nằm trên mức "Tâm", thì ảnh hưởng của sự thay đổi của chỉ tiêu cũng như việc tính toán chỉ số yếu tố Ii hoàn toàn giống như các chỉ tiêu có tác động tiêu cực, nghĩa là trị số chỉ tiêu tăng lên sẽ làm cho chỉ tiêu tổng hợp (ở đây là CLDS) giảm đi

Ví dụ chỉ tiêu tổng tỷ suất sinh TFR có "Tâm" bằng 2,16 (theo tính toán của các nhà chuyên môn về dân số học) Địa phương nào có TFR nhỏ hơn 2,16 sẽ có ảnh hưởng không tốt tới chất lượng dân số, vì số con sinh ra quá ít cũng sẽ làm mất tính ổn định và bền vững của dân số Hay như địa phương nào có mức sinh TFR cao hơn 2,16 cũng làm cho chất lượng kém đi, vì sinh quá nhiều con sẽ gây thêm gámh nặng cho nền kinh

tế và cho xã hội Đối với chỉ tiêu chỉ số thể lực BMI, "Tâm" là một khoảng trị số từ 18,5 - 25,0 mà việc tăng giảm của chỉ tiêu này ngoài khoảng "Tâm" đã được nêu ở trên

Trang 11

Bước 5: Tính trọng số của các chỉ tiêu thành phần trong từng nhóm

Như đã phân tích, chỉ tiêu mang nhiều thông tin về hiện tượng nghiên cứu nếu giá trị của nó chênh lệch nhiều trong không gian các đối tượng và số lượng các đối tượng mà tại đó giá trị của chỉ tiêu đạt cực đại

là không nhiều

Tuy nhiên trên thực tế người ta thường chọn quyền số theo phương pháp chuyên gia, ví dụ đối với chỉ số giáo dục, người ta coi trọng tỷ lệ người lớn biết chữ hơn là tỷ lệ đi học các cấp giáo dục Do đó tỷ lệ người lớn biết chữ được gắn trọng số 2 và tỷ lệ đi học chỉ được gắn trọng số 1

Bước 6: Gộp theo từng nhóm các chỉ tiêu

Chỉ số tổng hợp thành phần (hay chỉ số tổng hợp nhóm) đối với các nhóm chỉ tiêu sẽ được tính theo công thức bình quân giản đơn hay bình quân gia quyền

Sau khi tính toán xong các chỉ số yếu tố Iij, việc tính toán chỉ số thành phần Ij được thực hiện đơn giản theo công thức sau:

I j =

n

I n

i i

Bước 7: Gộp chung toàn bộ các nhóm chỉ tiêu

Chỉ số tổng hợp chung đối với các nhóm chỉ tiêu sẽ được tính theo công thức bình quân giản đơn hay bình quân gia quyền

Công thức tính: Sau khi tính xong các chỉ số thành tố Ij, việc tính toán chỉ số tổng hợp được thực hiện theo công thức sau (ở đây quyền số của các thành tố là như nhau và bằng 1) Ngoài ra, để so sánh, tham khảo

và đối chiếu kết quả, các phương án sử dụng quyền số khác nhau cũng được lựa chọn

Trang 12

CSTH =

m

I j j

Nếu tính toán cho các địa phương, khi tính toán được Chỉ số tổng hợp của tất cả các địa phương tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, có thể xếp hạng các địa phương theo từng chỉ số thành tố và theo toàn bộ chỉ

số tổng hợp nghiên cứu, phân tích so sánh sự khác biệt về giữa các địa phương, tìm nguyên nhân để đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng hiện tượng nghiên cứu ví dụ ở đây là mức độ hội nhập kinh tế quốc tế nước nhà nói chung và từng địa phương nói riêng

Ngoài ra, có thể phân tích động thái CSTH theo thời gian nếu hàng năm hoặc 2 – 3 năm một lần, hay theo một định kỳ nào đó Có thể phân tích, đánh giá được sự tiến bộ trong sự nghiệp nâng cao CSTH của cả nước cũng như của từng địa phương, phân tích đánh giá động thái lên hạng, xuống hạng của các địa phương, để từ đó tìm ra các nguyên nhân, kiến nghị các giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao hơn nữa mức độ hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng như phát triển toàn bộ nền kinh tế - xã hội nói chung

Có thể ấn định thang điểm để đánh giá theo các quan điểm và ý đồ khác nhau Theo thông lệ thang điểm 0 - 1, <0.5 thường coi là yếu kém,

từ 0,5 – 0,7 là trung bình (trong đó 0,5 - dưới 0,6 là trung bình thấp; 0,6 - dưới 0,7 là trung bình khá), từ 0,7 - dưới 0,9 là khá và từ 0,9 – 1 là tốt

Đối với Chỉ số tổng hợp, khi tính toán được cho đầy đủ 63 tỉnh/thành phố, còn có thể phân tổ các địa phương thành các nhóm 10 (hoặc 5) địa phương dẫn đầu (có chỉ số tổng hợp cao nhất), hay 10 (hoặc 5) địa phương cuối (có chỉ số tổng hợp thấp nhất), v.v

Trang 13

Trên cơ sở chỉ số tổng hợp tính được cho mỗi đối tượng, chúng ta

có thể tiến hành xếp hạng toàn bộ tổng thể nghiên cứu (như xếp hạng các tỉnh, các địa phương, các vùng, hoặc các quốc gia)

III MỘT SỐ CHỈ SỐ TỔNG HỢP ĐANG THỊNH HÀNH 3.1 Chỉ số phát triển giáo viên (TDI)

Để đánh giá kết quả đầu ra của một hoạt động nào đó, ngày nay phương pháp dùng chỉ số được thế giới sử dụng rộng rãi Ưu điểm của phương pháp này là phản ánh được kết quả tổng hợp, mang tính chung nhất của sản phẩm đầu ra và có thể so sánh được Trên cơ sở vận dụng phương pháp luận tính toán chỉ số phát triển con người (HDI) của Liên hợp quốc, một số nhà khoa học giáo dục đã đưa ra giải pháp đánh giá trình độ phát triển của đội ngũ giáo viên bằng chỉ số phát triển giáo viên (TDI) Công trình đã được Viện nghiên cứu con người trích dẫn giới thiệu, được tặng giải thưởng sáng tạo Khoa học - Công nghệ tỉnh Thừa Thiên Huế và gửi dự hội thảo khoa học ở nước ngoài

Chỉ số TDI được hình thành từ 4 chỉ số thành phần - là những yếu

tố cơ bản, trực tiếp tác động và mang tính chi phối đến trình độ phát triển của một đội ngũ giáo viên, bao gồm: chỉ số đào tạo, chỉ số về chi tiêu tài chính, chỉ số về tuổi đời và chỉ số về chất lượng giảng dạy thực tế Sau đây là cách tính toán các chỉ số thành phần, để từ đó tính toán chỉ số TDI

(i) Chỉ số đào tạo T (Training)

- Bước1, tính 2 chỉ tiêu thành phần:

+ T1 là tỷ lệ giáo viên đạt và vượt chuẩn đào tạo

+ T2 là số năm đi học bình quân của toàn bộ đội ngũ:

Ni x Yi

T2 = - Ni

Với: Ni là số giáo viên có cùng trình độ đào tạo i, Yi là số năm đi học đến trình độ i (Yi =13,14,15,16,18,20 - theo thứ tự các trình độ sơ cấp, TCCN, CĐ, ĐH, ThS, TS; ví dụ, ta gọi N1 là số giáo viên có trình độ TCCN thì Y1 sẽ là 14) và Ni là tổng số giáo viên tất cả các trình độ

- Bước 2, tính các chỉ số thành phần I(T1), I(T2) theo công thức tính các chỉ số Ii nêu dưới đây

- Bước 3, theo mức độ quan trọng của các chỉ số, ta lấy trọng số 2/3 cho I(T1), 1/3 cho I(T2) và tính I1(T) = 2/3.I(T1) + 1/3.I(T2)

(ii) Chỉ số chi tiêu tài chính F (Finance)

Trang 14

Mức tài chính chi cho giáo dục từ tất cả các nguồn (NSNN, nhân dân đóng góp ) bình quân trên đầu giáo viên, rõ ràng có tác động đến lương, phụ cấp, chi dạy tăng giờ, chi cho đào tạo, bồi dưỡng giáo viên

Do vậy, nó cũng góp phần quan trọng vào phát triển đội ngũ giáo viên Ta gọi chỉ số đánh giá chỉ tiêu này là F (ký hiệu “lg” là lo-ga-rit thập phân):

F = lg (Mức chi tài chính/đầu giáo viên)

(iii) Chỉ số tuổi đời A (Age)

Chỉ số tuổi đời A (Age) của đội ngũ được tính tương đối theo Nj là

số giáo viên trong nhóm tuổi j, Aj là độ tuổi trung bình của nhóm j và

Nj là tổng số giáo viên ở tất cả các nhóm tuổi

Công thức tính:

Nj x Aj

A = - Nj Chỉ số tuổi đời của giáo viên nếu ở mức hợp lý, cũng là một đặc tính quan trọng của đội ngũ Ở góc độ chuyên môn, nó thể hiện sự từng trải về chuyên môn của đội ngũ; chi phí cho công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên vì thế mà có thể sẽ giảm Tuy nhiên, chỉ số này cũng chỉ dùng

để đánh giá tình trạng tại thời điểm thực hiện, nó không phản ánh được

xu thế, cũng như sẽ có sai số nhất định khi đội ngũ lớn tuổi trở nên bảo thủ, khó đổi mới

(iv) Chỉ số chất lượng giảng dạy Q (Quality)

Xếp loại giảng dạy của giáo viên gồm 4 loại: giỏi, khá, trung bình

và yếu Đánh giá chất lượng đạt yêu cầu, ta dùng công thức:

Q = 1 - {Tỷ lệ giáo viên loại yếu}

(v) Tính toán chỉ số phát triển giáo viên (TDI)

Các giá trị lớn nhất và nhỏ nhất để tính chỉ số TDI

nhất

Giá trị nhỏ nhất

Tỷ lệ giáo viên đạt và vượt chuẩn (%) 100 60

Chi tiêu tài chính/giáo viên (triệu đồng) 25 5

Tỷ lệ giáo viên giảng dạy đạt yêu cầu (%) 100 90 (Nguồn: Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thừa Thiên - Huế, Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học cấp tỉnh, Chủ nhiệm đề tài: Thân Nguyên Khánh, 5/2009)

Các giá trị tham khảo theo mức chung cả nước tại thời điểm 2003, chúng có thể và cần được điều chỉnh theo thời kỳ cho phù hợp thực tế

- Các chỉ số phát triển thành phần sẽ là:

Giá trị thực tế - Giá trị nhỏ nhất

Ii = -

Trang 15

Giá trị lớn nhất - Giá trị nhỏ nhất Riêng đối với chỉ số chi tiêu tài chính (F), các giá trị trong công thức được lấy qua lô-ga-rit thập phân (theo quy ước)

- Từ đó chỉ số TDI là:

I = (I1 + I2 + I3 + I4)/4 Trong đó: I1, I2, I3, I4 lần lượt là các chỉ số thành phần về đào tạo (T), chi tiêu tài chính (F), tuổi đời (A) và chất lượng giảng dạy (Q)

3.2 Chỉ số phát triển con người HDI

Đây là một chỉ số tổng hợp phản ánh trình độ phát triển trung bình xét trên 3 phương diện: một cuộc sống trường thọ và mạnh khoẻ, có tri thức và một cuộc sống tử tế HDI là bình quân giản đơn của Chỉ số tuổi thọ trung bình, Chỉ số thu nhập và Chỉ số giáo dục

Công thức tính chỉ số giáo dục hiện nay là:

Igiáo dục = (2/3) Ibiết chữ + (1/3) Inhập họcTrong đó: Inhập học là chỉ số nhập học tổng hợp các cấp giáo dục;

Công thức trên cho thấy trọng số của tỷ lệ người lớn biết chữ chiếm 2,

và tỷ lệ nhập học chiếm 1 trong tổng số 3 phần của chỉ số giáo dục

Xnhập họcthực - Xnhập họcmin

Xnhập họcmax - Xnhập họcmin

Với: Xnhập họcmax

là mức độ tối đa của tỷ lệ nhập học tổng hợp;

là mức độ tối đa tỷ lệ người lớn biết chữ (= 100);

X biết chữ thực

là mức độ thực tế của tỷ lệ người lớn biết chữ

Trang 16

XGDPmax là mức tối đa của GDP bình quân đầu người;

XGDPmin là mức tối thiểu của GDP bình quân đầu người;

Xtuổimax - là tuổi thọ trung bình tối đa (= 85);

Xtuổimin - là tuổi thọ trung bình tối thiểu (= 25);

Công thức tính Chỉ số tổng hợp (HDI) như sau:

HDI = (I tuổi thọ + I giáo dục + I GDP ) / 3

Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) qui định giá trị biên như sau:

Chỉ tiêu thành phần Đơn vị tính Giá trị tối đa Giá trị tối thiểu

GDP bình quân đầu người USD-PPP 40000 100

Trang 17

3.3 Chỉ số phát triển liên quan đến giới (GDI)

GDI đo lường sự bất bình đẳng trong những thành quả đạt được giữa nam và nữ Thực chất GDI xuất phát từ HDI được điều chỉnh theo sự bất bình đẳng về giới Sự khác biệt về giới trong những lĩnh vực phát triển con người càng lớn thì GDI càng nhỏ so với HDI Ngoài ra, GDI còn sử dụng các biến: Tỷ trọng dân số nam và nữ trong tổng dân số; Tỷ trọng dân số hoạt động kinh tế của nữ và nam từ 15 tuổi trở lên; và Tỷ số tiền công tiền lương ngoài nông nghiệp của nữ so với nam

(Tính riêng cho i = Nam, Nữ

j = Giáo dục, Tuổi thọ, Thu nhập)

Bước hai, các chỉ tiêu nữ và nam trong mỗi thước đo được tổng hợp để

chỉ rõ những khác biệt trong thành tựu đạt được của nam và nữ Chỉ số hệ quả, được gọi là chỉ số phân bổ công bằng (PBCB), được tính theo công thức chung sau:

Chỉ số phân bổ công bằng = {[tỷ lệ dân số nữ * (chỉ số nữ)1- ] + [tỷ lệ dân

số nam * (chỉ số nam)1- 

]}1/1-

 là tham số phản ánh mối liên hệ giữa sự bất bình đẳng đối với chỉ số phân phối công bằng Trong chỉ số GDI, tham số  = 2, để chỉ mức thiệt hại PTCN nếu có sự bất bình đẳng Do đó, phương trình chung đối với từng thành phần j (j = Giáo dục, Tuổi thọ, Thu nhập) sẽ là:

Chỉ số phân bổ công bằng = {[tỷ lệ dân số nữ * (chỉ số nữ)-1] + [tỷ lệ dân

số nam * (chỉ số nam)-1

]}-1 = A j Chỉ số này cho kết quả giá trị trung bình hài hoà giữa nữ và nam

Bước ba, chỉ số GDI được tính bằng cách tổng hợp các chỉ số PBCB

thành một giá trị bình quân phi gia quyền

Ngày đăng: 30/12/2014, 09:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạp san “Thông tin khoa học Thống kê”, Viện nghiên cứu khoa học thống kê, Tổng cục Thống kê, số 4 – 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin khoa học Thống kê
4. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 305/2005/QĐ-TTg ngày 24/11/2005 về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia Khác
5. Ngô Văn Dụ - Hồng Hà - Trần Xuân Giá (Đồng chủ biên), Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội X của Đảng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Khác
6. ASEAN Baseline Report, Measurements to Monitor Progress Towards the ASEAN Community, Volume 1: Main Report, Part 2: System of Indicators (ABR Team Members: Mario B.Lamberte; Heidi R. Arboleda; Celia M. Reyes), Jakarta:ASEAN Secretariat, 7/2006 Khác
7. ASEAN Baseline Report, Measurements to Monitor Progress Towards the ASEAN Community, Volume 1: Main Report, Part 1: Analysis (ABR Team Members: Mario B. Lamberte; Heidi R. Arboleda; Celia M. Reyes), Jakarta: ASEAN Secretariat, 7/2006 Khác
8. ASEAN Baseline Report, Measurements to Monitor Progress Towards the ASEAN Community, Volume 2: Data and Metadata (ABR Team Members: Mario B. Lamberte; Heidi R.Arboleda; Celia M. Reyes), Jakarta: ASEAN Secretariat, 7/2006 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w