1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu lựa chọn và tính toán thử nghiệm một số chỉ số phản ánh mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam

63 320 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 871,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu lựa chọn và tính toán thử nghiệm một số chỉ số phản ánh mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam. Nghiên cứu lựa chọn và tính toán thử nghiệm một số chỉ số phản ánh mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam

Trang 1

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

Đề tài NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN VÀ TÍNH TOÁN THỬ NGHIỆM MỘT SỐ CHỈ SỐ PHẢN ÁNH MỨC ĐỘ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

Đơn vị chủ trì: Viện Khoa học Thống kê Chủ nhiệm: CN Nguyễn Văn Phẩm Thư ký: CN Lê Thu Hiền

HÀ NỘI, 4 - 2010

Trang 2

DANH SÁCH NHỮNG CÁ NHÂN THỰC HIỆN CHÍNH

Nguyễn Văn Phẩm, CN Kinh tế, Vụ HTQT

Nguyễn Thị Thu Hiền, CN Môi trường, Vụ HTQT

Nguyễn Tiến Dũng, CN Quan hệ quốc tế, Vụ HTQT

Nguyễn Anh Tuấn, CN Toán, Vụ trưởng Vụ HTQT

Bùi Ngọc Tân, CN Thương mại quốc tế, Vụ HTQT

Hoàng Thị Thanh Hà, Ths Kinh tế, Vụ HTQT

Lê Thị Lan Phương, Ths Kinh tế, Vụ HTQT

Hoàng Thị Kim Chi, CN Anh ngữ, Vụ HTQT

Nguyễn Thị Tâm, CN Anh ngữ, Vụ HTQT

Trang 3

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

Phần hai: Nghiên cứu xây dựng chỉ số tổng hợp đo lường

và đánh giá mức độ HNKTQT ở Việt Nam

Trang 5

TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI

1 Sự cần thiết của đề tài:

Việt Nam đã gia nhập WTO, và đang từng bước hôị nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế Các phương tiện thông tin đại chúng, các báo cáo tổng kết phát triển từng địa phương, từng Bộ/ngành, từng lĩnh vực, hầu như thường xuyên đều đề cập đến kết quả công tác của mình trong lĩnh vực hội nhập quốc tế (HNQT) Về khía cạnh tổ chức, Nhà nước đã thành lập Uỷ ban quốc gia về Hợp tác kinh tế với nước ngoài, trong đó có Bộ phận Hội nhập kinh tế quốc tế

Tuy nhiên, chưa hẳn tất cả đều hiểu thấu đáo khái niệm HNQT, hầu như bức tranh về HNQT qua các con số thống kê vần chưa được vẽ ra và trình bày một cách đầy đủ Vẫn chưa có được một tiêu chí đo lường và đánh giá mức độ HNQT của đất nước, cơ sở để đánh giá sự tiến bộ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT)

Do vậy, cần tiến hành nghiên cứu đề tài khoa học này, với mục tiêu

mà ngay chính tên gọi đã cho thấy khá rõ nét, đó là: xây dựng một số chỉ

số tổng hợp nhằm phân tích, đánh giá mức độ HNKTQT của nước ta

2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Trong nước, để đẩy nhanh công nghiệp hoá và hiện đại hoá, đưa đất nước sớm thoát khỏi tình trạng một quốc gia chậm phát triển, một trong những giải pháp tích cực trong chính sách phát triển là đẩy mạnh quá trình HNQT Thực tế cho thấy quá trình HNQT của nước ta đang diễn ra trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Do vậy,

có thể nói khó mà kể hết các công trình đề cập tới lĩnh vực HNQT, kể từ các văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nước, của từng Bộ/ngành, cho tới từng địa phương, cơ quan, đơn vị Song các công trình đó mới chỉ đề cập tới chủ trương, đường lối, chính sách về HNQT, hoặc các hoạt động

cụ thể nhằm từng bước thực hiện việc đẩy nhanh và sâu rộng công tác HNQT, chứ hầu như chưa thấy các công trình nghiên cứu đề xuất các chỉ

số thống kê tổng hợp nhằm đo lường mức độ HNQT của nước ta

Trên thế giới, gần đây, Ban Thư ký ASEAN cũng đã bắt tay vào việc nghiên cứu một số chỉ tiêu thống kê phản ánh mức độ hội nhập của khu vực, song vẫn chưa hoàn tất và chưa có kết quả cụ thể

Trang 6

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Theo các phương pháp thống kê truyền thống, để mô tả và đánh giá hiện tượng kinh tế xã hội nào đó, người ta hay sử dụng một hệ thống các chỉ tiêu thống kê Tuy nhiên, theo các phương pháp thống kê hiện đại, người ta lại chú trọng sử dụng một chỉ số thống kê tổng hợp Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xây dựng một số chỉ số thống kê tổng hợp nhằm đánh giá mức độ HNKTQT của Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu: chỉ số thống kê tổng hợp phản ánh HNKTQT của nước ta; Phạm vi nghiên cứu: HNKTQT của quốc gia

5 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu tài liệu trong nước và ngoài nước;

- Khai thác số liệu của một số nghiệp vụ chuyên ngành liên quan;

- Sử dụng các phương pháp phân tích, đánh giá và tổng hợp;

- Hội thảo; Sử dụng phương pháp tư vấn,

6 Cấu trúc báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của đề tài:

- Tổng quan vấn đề nghiên cứu;

- Cơ sở lý luận và thực tiễn để lựa chọn và tính chỉ số tổng hợp đo lường và đánh giá mức độ HNKTQT;

- Nghiên cứu xây dựng chỉ số tổng hợp đo lường và đánh giá mức

độ HNKTQT ở Việt Nam;

- Tính toán và phân tích thử nghiệm;

Trang 7

- Kiến nghị với TCTK ứng dụng kết quả nghiên cứu đề tài

7 Triển vọng áp dụng kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu đề tài khoa học này có thể được áp dụng cho phân tích quá trình HNKTQT của nước ta, thông qua các chỉ số tổng hợp

có thể xác định được những mặt mạnh, mặt yếu, từ đó kiến nghị các giải pháp chính sách nhằm tăng cường HNKTQT, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

8 Sản phẩm nghiên cứu

(i) Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu, trong đó trình bày chỉ số tổng hợp đo lường mức độ HNKTQT của nước ta, có kết quả tính toán thử nghiệm và kiến nghị áp dụng vào thực tiễn phân tích kinh tế - xã hội;

(ii) Báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu của đề tài;

(iii) Các báo cáo chuyên đề nghiên cứu liên quan

9 Những hạn chế của công trình nghiên cứu này

HNKTQT là một trong những chủ trương và chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay Nước

ta đã tiến hành chính sách đổi mới và mở cửa hơn 20 năm, song thực ra vấn đề hội nhập mới chỉ được đẩy mạnh từ khi Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), đặc biệt là từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức và đầy đủ của WTO Do vậy, kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực này của chúng ta so với một số quốc gia khác trên thế giới chưa phải đã là vượt trội, chưa muốn nói rằng

có những vấn đề còn phải nghiên cứu sâu hơn nữa

Một trong số những vấn đề như vậy mà Thống kê phải có nghĩa vụ đóng góp, đó là xây dựng chỉ số tổng hợp mô tả và đánh giá mức độ HNKTQT của nước ta

Trang 8

Đây là công trình nghiên cứu mới, chúng tôi chưa thấy có công trình nào trên thế giới đề cập tới chỉ số tổng hợp đo lường mức độ HNKTQT của một quốc gia

Ý nghĩa của vấn đề rất lớn, công dụng của chỉ số tổng hợp rất thiết thực với các nhà hoạch định chính sách và quản lý, phân tích, đánh giá công tác HNKTQT, nhưng đề tài nghiên cứu khoa học này chỉ với quy

mô của một đề tài cấp cơ sở, do đó nguồn lực hạn chế, và chắc chắn sẽ còn những vấn đề phải được củng cố thêm theo thời gian Cụ thể, đó là:

(i) Đề tài này đã lựa chọn 3 thành phần cơ bản của HNKTQT, đó là

tự do di chuyển vốn, tự do di chuyển con người và tự do di chuyển hàng hoá và dịch vụ Tuy nhiên, cần nghiên cứu sâu hơn nữa số lượng thành phần đưa vào chỉ số tổng hợp phản ánh mức độ HNKTQT;

(ii) Xuất phát từ thưc trạng và khả năng hiện có của nguồn số liệu,

để thể hiện và mô tả chỉ số tổng hợp phản ánh HNKTQT, đề tài này đã lựa chọn 2 chỉ tiêu thống kê phản ánh vấn đề tự do di chuyển vốn (tỷ lệ luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam và tỷ lệ luồng vốn đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài so với GDP); 1 chỉ tiêu phản ánh tự do di chuyển con người (tỷ lệ số lượt khách quốc tế vào Việt Nam

so với dân số); 2 chỉ tiêu phản ánh tự do di chuyển hàng hoá và dịch vụ (tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu và tỷ lệ kim ngạch nhập khẩu so với GDP) Tuy nhiên, cần nghiên cứu sâu hơn nữa số lượng các chỉ tiêu thống kê mô

tả từng thành phần của chỉ số tổng hợp;

(iii) Xuất phát từ thực tế nước ta mới thực sự theo chính sách mở cửa chưa lâu, và cũng chỉ mới thực sự bước vào con đường HNKTQT, nên đề tài này đề xuất mức độ mong muốn đạt được trong HNKTQT là mức "bình quân châu Âu", và mức độ mong muốn đạt được trong hội nhập kinh tế khu vực (HNKTKV) là mức "bình quân ASEAN-6" Tuy nhiên, cần làm rõ hơn mức độ "tốt nhất" mong muốn đạt được của từng chỉ tiêu thành phần trong lĩnh vực HNKTQT đối với từng giai đoạn phát triển của đất nước;

(iv) Xuất phát từ thực tế chỉ số tổng hợp phản ánh mức độ HNKTQT lần đầu được nghiên cứu lựa chọn và đề xuất, do đó cần phải

có thời gian để phổ biến rộng rãi chỉ số tổng hợp này tới các nhà hoạch định chính sách HNKTQT và những người sử dụng v.v

Trang 9

Trong quá trình thẩm định kết quả nghiên cứu đề tài, có một số ý kiến góp ý Chúng tôi đã nghiên cứu, xem xét kỹ và thấy như sau:

- Lý giải tại sao lại tính toán theo công thức giản đơn mà phần lý thuyết lại nêu vấn đề quyền số Về mặt lý thuyết, khi các yếu tố đưa vào

để tính chỉ số tổng hợp bao giờ cũng có quyền số đi kèm thể hiện mức độ quan trọng của mỗi yếu tố đóng góp ý nghĩa cho chỉ số tổng hợp Tuy nhiên, cũng như rất nhiều các chỉ số thống kê hiện nay đang thịnh hành trên thế giới, ví dụ HDI, HPI, PCI, TDI, NCI v.v hầu như tất cả đều tính toán theo công thức bình quân giản đơn Việc xác định quyền số không

hề đơn giản, nhiều khi chỉ dựa theo kinh nghiệm và mang ý nghĩa cảm tính, giá như cần phải xác định quyền số cho thật chính xác và có căn cứ khoa học thì với một đề tài cấp cơ sở này không thể giải quyết một cách thấu đáo được Hơn nữa, khi tính theo công thức bình quân giản đơn không có nghĩa là không có quyền số, mà khi đó, quyền số của tất cả các yếu tố ngang nhau và đều bằng 1, nghĩa là tất cả các yếu tố đều có mức

độ quan trọng như nhau đóng góp vào chỉ số thống kê tổng hợp

- Làm rõ kết quả tính toán là do Ban Chủ nhiệm đề tài tính hay là chỉ tập hợp các số liệu: số liệu ban đầu (sơ cấp) về các chỉ tiêu thống kê như kim ngạch xuất nhập khẩu, FDI, khách nước ngoài vào của từng nước thì lấy từ các nguồn như đã chỉ rõ trong mục 2.4, còn đối với các thông tin thứ cấp thì đươc tính toán theo các công thức đã nêu

- Chuyển mục 2.4 xuống phần phụ lục Thực ra, dù để ở phần báo cáo chính hay đưa xuống phụ lục cũng đều là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của những người tham gia đề tài Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều đề tài được nghiên cứu và nghiệm thu xong nhưng khi áp dụng vào thực tiễn thì lại gặp nhiều bất cập vì lý do khó tìm ra nguồn số liệu Do vậy, chúng tôi muốn đề cao vấn đề về nguồn và cách thức tìm kiếm số liệu trong đề tài này, muốn nói rằng, số liệu đáp ứng cho việc tính toán Chỉ số HNKTQT

là hoàn toàn có thể kiếm được dễ dàng từ các nguồn thống kê chính thức, nhất là từ các trang điện tử (vì phải lấy số liệu thống kê của nước ngoài),

và chúng tôi gắn luôn địa chỉ các trang web, cách thao tác để truy cập, nhằm tạo thuận tiện cho những người ứng dụng kết quả của đề tài

- Một số góp ý khác chúng tôi thấy hợp lý và đã chỉnh sửa vào Báo cáo này

Trang 10

PHẦN MỘT

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ LỰA CHỌN VÀ TÍNH CHỈ SỐ

TỔNG HỢP ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ HNKTQT

1.1 Khái niệm về HNKTQT

Theo Từ điển tường giải kinh tế xã hội ([15], trang 251), thì:

(i) Hội nhập kinh tế được định nghĩa là sự mở cửa các nền kinh tế quốc dân cho hợp tác xuyên biên giới với các nước khác, mà chủ yếu là các nước láng giềng Sự thoả thuận của các Nhà nước thể hiện ở chỗ, đẩy mạnh thương mại giữa các quốc gia (xây dựng thương mại) và điều chỉnh việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ với các quốc gia thứ ba (những quốc gia không tham gia hội nhập) để dành ưu tiên cho trao đổi giữa các quốc gia cùng tham gia hội nhập (điều chỉnh thương mại);

(ii) Hội nhập của các nền kinh tế quốc dân cũng thể hiện rõ ở chỗ mạng lưới quan hệ qua lại trong lưu thông vốn ngắn hạn và dài hạn trở nên được sàng lọc ngặt nghèo;

(iii) Chừng nào các điều kiện thể chế và pháp luật còn tồn tại, thì

sự hội nhập còn được thể hiện bằng những khả năng chuyển động lâu dài của các lực lượng lao động và bằng sự trao đổi tri thức được bảo vệ trong thương mại và được vận dụng trong kinh tế

Theo ([16], trang 241), thì hội nhập kinh tế là tổ hợp các hoạt động kinh tế khác nhau dưới cùng một cơ chế điều khiển, kiểm soát thống nhất Hội nhập kinh tế còn có nghĩa là tổ chức các hoạt động kinh tế ở mức mà gianh giới quốc gia không còn mang nhiều ảnh hưởng Hội nhập kinh tế hoàn toàn có nghĩa là việc lưu thông và thương mại hàng hoá và dịch vụ được tự do hoàn toàn; việc huy động các nguồn vốn từ mọi nơi được hoàn toàn tự do; tự do hoàn toàn trong việc di cư tìm kiếm công ăn việc làm; tự do hoàn toàn trong việc thành lập các doanh nghiệp hay cơ sở sản xuất; luồng thông tin và tư duy hoàn toàn không bị gây cản trở HNKTQT còn có nghĩa là không còn sự khác biệt giữa các quốc gia về mặt đánh thuế, cấp vốn hoạt động cho các dịch vụ xã hội, không còn khác biệt trong chính sách quản lý cạnh tranh và độc quyền, chính sách về các vấn

đề môi trường cũng như lưu thông tiền tệ Một thế giới đại đồng như vậy còn xa mới có thể đạt tới, song trước mắt đã có một số khối quốc gia có

sự nhất thể tương đối về kinh tế, như EU, NAFTA, và một số quốc gia có những nền văn hoá tương đồng

Trang 11

Như vậy, HNKTQT là một trong những xu thế tất yếu của toàn cầu hoá Người ta tính rằng, có ba làn sóng về toàn cầu hoá kinh tế diễn ra từ năm 1870 đến nay, đó là ([17], trang 105):

(i) Làn sóng thứ nhất (1870 - 1914) với đặc trưng là sự di chuyển mạnh mẽ lao động từ châu Âu sang các miền đất chưa được khai phá ở

(iii) Làn sóng thứ ba (từ 1980 đến nay) được đặc trưng bởi sự phát triển vũ bão của công nghệ thông tin và liên lạc viễn thông Dựa trên nền tảng quan trọng này, các nền kinh tế đã kết nối tạo thành một thế giới liên thông khổng lồ, theo đó, lợi ích cũng như rủi ro luôn song hành

Những làn sóng về toàn cầu hoá này, với những đặc trưng khác nhau, đã mang đến cho nhân loại một thế giới tốt đẹp hơn, phồn vinh hơn, nhưng bên cạnh đó cũng chứa đựng không ít rủi ro, phức tạp, đa dạng và khó đoán định

HNKTQT là một góc độ của toàn cầu hoá, là hệ quả tất yếu của toàn cầu hoá trong quá trình phát triển của thế giới và của mỗi quốc gia trong giai đoạn phát triển hiện đại ngày nay

1.2 Quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề HNKTQT

Theo văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như theo thông lệ quốc tế về khái niệm HNKTQT, ngày nay người ta hiểu nôm na HNKTQT là quá trình thiết lập và tham gia trên cùng một “sân chơi”, cùng một “luật lệ” được sự thoả thuận và nhất trí của tất cả các bên tham gia trong lĩnh vực phát triển kinh tế Muốn xác định được các chỉ tiêu thống kê mô tả quá trình hội nhập quốc tế của đất nước, cũng như xây dựng được các chỉ số tổng hợp phản ánh mức độ HNKTQT, thì việc đầu tiên là phải hiểu và nắm chắc được quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề này

Đảng và Nhà nước ta đã xác định, HNKTQT là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế của đất nước vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực

Trang 12

hoặc toàn cầu; trong đó, các thành viên quan hệ với nhau theo những quy định chung có sự nhất trí của tất cả các thành viên sáng lập (tức là ra cùng một “sân chơi chung” Điều đó có nghĩa là chúng ta đứng cùng sân chơi, chơi cùng luật chơi với thế giới Trước kia, khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế được hiểu đơn thuần là những hoạt động giảm thuế, mở cửa thị trường Hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay được hiểu là việc một quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mở, tham gia các định chế kinh tế, tài chính

quốc tế, thực hiện tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại, đầu tư, đi lại

nhằm mục tiêu mở cửa thị trường cho các luồng di chuyển vốn, di chuyển con người, di chuyển hàng hoá và dịch vụ, loại bỏ các rào cản đối với trao

đổi thương mại và các luồng di chuyển khác

Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo cơ hội cho nước ta phát triển nhanh

và bền vững nhưng cũng đặt nước ta trước nhiều thách thức lớn Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đề ra là chúng ta phải “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” Tuy nhiên, Nghị quyết Đại hội X của Đảng có điểm đổi mới là đã bổ sung từ “tích cực” thành: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”

“Chủ động” là ta tự quyết định đường lối phát triển kinh tế – xã hội nói chung, chủ trương, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng; là nắm vững các quy luật, tính tất yếu của sự vận động kinh tế toàn cầu, phát huy đầy đủ năng lực nội sinh của đất nước, xác định lộ trình, nội dung, quy mô, bước đi HNKTQT; đa phương hoá, đa dạng hoá các quan

hệ kinh tế quốc tế, không chỉ tập trung vào một thị trường, một sản phẩm; chủ động thực hiện các cam kết song phương, đa phương và chủ động vận dụng các “luật chơi” của các thể chế kinh tế – thương mại quốc tế trên cơ sở đảm bảo lợi ích tối cao của đất nước vừa hợp tác vửa đấu tranh, không bị động và cũng không tự phát, nóng vội, chủ quan, duy ý chí; có sáng kiến, biết phân tích, chủ động lựa chọn đối tác và phương thức kinh doanh, dự báo được những thuận lợi và khó khăn khi HNKTQT

“Tích cực” là HNKTQT với tinh thần mạnh mẽ hơn, khẩn trương hơn, toàn diện và sâu rộng hơn so với giai đoạn trước; không chần chừ,

do dự mà đẩy mạnh đổi mới bên trong, từ phương thức lãnh đạo, quản lý đến hoạt động thực tiễn, từ Trung ương đến địa phương, doanh nghiệp; khẩn trương xây dựng và thực hiện chiến lược, lộ trình, kế hoạch

HNKTQT; tích cực tranh thủ nguồn vốn đầu tư nước ngoài đồng thời

mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài; đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế,

đổi mới cơ chế quản lý kinh tế – xã hội, hoàn chỉnh hệ thống luật pháp, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh tế; mạnh dạn mở rộng, đa dạng hoá các hoạt động kinh tế đối ngoại và tham gia các thể chế, định chế kinh tế quốc tế, thực hiện các cam kết quốc tế

Trang 13

“Tích cực” còn là không duy trì quá lâu các chính sách bảo hộ của Nhà nước, khắc phục nhanh trình trạng trì trệ và tâm lý trông chờ, ỷ lại ở sự bao cấp của Nhà nước Tích cực nhưng vững chắc, có sự chuẩn bị cần thiết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu quản lý, hệ thống luật pháp, có thông tin cập nhật và dự báo tình hình tương đối chính xác, có đội ngũ cán bộ hiểu biết về thị trường, đối tác, tinh thông nghiệp vụ kinh doanh, hội nhập kinh tế

Vai trò và nhiệm vụ của khoa học thống kê là phải mô tả, đo lường được quá trình HNKTQT này thông qua các chỉ tiêu thống kê, các con số thống kê, làm căn cứ cho Đảng, Chính phủ và Nhà nước đề ra các chính sách, điều chỉnh các chính sách cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống trong nước và trên thế giới, góp phần đẩy nhanh quá trình phát triển nâng cao mức sống của nhân dân, mau chóng thoát khỏi tình trạng nghèo đói

và lạc hậu, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Vấn đề đặt ra trong nghiên cứu này là trên cơ sở đã xác định được các lĩnh vực chủ yếu của HNKTQT, những chỉ tiêu thống kê phản ánh từng lĩnh vực chủ yếu của HNKTQT, chúng ta phải xác định rõ nguồn thông tin lấy từ đâu, lấy trên nguyên tắc nào, để xác định xác định phương pháp tính, và xây dựng quy trình tính toán một số chỉ tiêu thống

kê tổng hợp phản ánh mức độ HNKTQT của nước ta trên từng lĩnh vực

và trong tổng thể

1.3 Phương pháp luận chung về xây dựng chỉ số tổng hợp

Trong các nghiên cứu gần đây về các vấn đề kinh tế - xã hội, người

ta sử dụng ngày càng nhiều các chỉ số tổng hợp (synthetic index), chẳng hạn như các chỉ số HDI, chỉ số phát triển liên quan đến giới GDI, chỉ số vai trò phụ nữ GEM (hay còn gọi là chỉ số quyền năng của phụ nữ), chỉ

số phát triển công nghệ TAI, chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia NCI, chỉ

số hạnh phúc quốc gia GNHI, chỉ số tự do kinh tế IEF, chỉ số thịnh vượng quốc gia WNI, chỉ số thực thi công vụ, chỉ số chất lượng cuộc sống, chỉ

số thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ, v.v

Sở dĩ như vậy vì các hiện tượng kinh tế xã hội về bản chất là các hiện tượng phức tạp, nhiều chiều, để đánh giá và so sánh được các hiện tượng kinh tế xã hội theo không gian và thời gian đòi hỏi phải xem xét chúng trên nhiều phương diện (nhiều chiều) khác nhau Nhưng làm thế nào để có thể đánh giá và tổng hợp chính xác được các khía cạnh khác

Trang 14

nhau của hiện tượng nghiên cứu, lý thuyết thống kê đã cung cấp cho chúng ta nhiều phương pháp khác nhau để giải quyết vấn đề này

Về mặt lý luận khi xây dựng chỉ số tổng hợp chúng ta phải giải quyết hai vấn đề chính:

 Một là lựa chọn được các chỉ tiêu thành phần (hay tiêu thức nhân tố) phản ánh được bản chất của hiện tượng nghiên cứu;

 Hai là bằng cách nào chúng ta có thể tổng hợp (hay gộp) các chỉ tiêu thành phần này, tức là xác định được các trọng số của các chỉ tiêu thành phần trong chỉ tiêu tổng hợp

Cho đến nay các công trình nghiên cứu vẫn chưa giải quyết thoả đáng hai vấn đề cơ bản nêu trên, chính vì vậy đề tài nghiên cứu này đã tham khảo một số tài liệu ([1] Đỗ Văn Huân, "Chỉ số bình quân nhiều chiều", Thông tin khoa học Thống kê, Viện KHTK, TCTK, số 4 – 2003, trang 25; [2] Nguyễn Trọng Hậu, "Phương pháp tổng quát xây dựng các chỉ số tổng hợp", Thông tin khoa học Thống kê, Viện KHTK, TCTK, số 4 – 2006, trang 10) để khái quát thành một phương pháp đơn giản, dễ vận dụng trong thực tế xây dựng các chỉ số tổng hợp

Thông thường, để phản ánh và mô tả các hiện tượng phức tạp, người ta sử dụng các nhóm chỉ tiêu khác nhau đặc trưng cho từng khía cạnh của hiện tượng và trong mỗi nhóm lại gồm một số các chỉ tiêu cụ thể mà có khả năng thống kê được trong thực tiễn

Việc xây dựng chỉ số tổng hợp được tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Phân tích định tính tính chất của các chỉ tiêu thành phần:

chia chỉ tiêu tác động thành tích cực và tiêu cực

Về bản chất các hiện tượng phức tạp thường là các phạm trù trừu tượng không trực tiếp quan sát được và rất khó đo lường trực tiếp chúng,

để có thể đánh giá và lượng hoá được các hiện tượng chúng ta cần phải thông qua các chỉ tiêu thành phần cụ thể

Đối với một hiện tượng kinh tế xã hội phức tạp, chẳng hạn như mức sống, chất lượng sống hay khả năng cạnh tranh quốc gia thì có rất nhiều các chỉ tiêu thành phần có thể phản ánh mức độ của tiện tượng đó, chẳng hạn như để đánh giá mức sống, người ta có thể dùng các chỉ tiêu thành phần như: thu nhập bình quân đầu người, mức tiêu dùng các loại thực phẩm bình quân đầu người, số điện thoại tính trên đầu người, v.v

Trang 15

Các chỉ tiêu này về bản chất là các chỉ tiêu phản ánh hiện tượng nghiên cứu theo góc độ tích cực, tức là chúng biến động cùng chiều và đóng góp tích cực vào sự phát triển của hiện tượng Tuy nhiên lại có các chỉ tiêu thành phần khác phản ánh tiêu cực, trái chiều hiện tượng nghiên cứu, ví dụ đối với mức sống các chỉ tiêu như số trẻ em suy dinh dưỡng hay số người vô gia cư, v.v Như vậy phân tích định tính cho phép chúng ta phân các chỉ tiêu thành phần vào hai nhóm các chỉ tiêu tác động tích cực và các chỉ tiêu tác động tiêu cực, về mặt nguyên tắc chúng ta luôn có thể biến các chỉ tiêu tiêu cực thành tích cực và ngược lại bằng động tác nghịch đảo hay đảo chiều tác động Do đó, trong phần nghiên cứu dưới đây chúng ta sẽ giả thiết các chỉ tiêu đều là chỉ tiêu tích cực

Bước 2: Lựa chọn các chỉ tiêu thành phần chủ yếu phản ánh hiện

tượng nghiên cứu

Để phản ánh hiện tượng nghiên cứu có thể sử dụng rất nhiều chỉ tiêu thành phần Nếu sử dụng tất cả các chỉ tiêu này thì chúng ta sẽ gặp phải vấn đề nhiễu thông tin, hay loãng thông tin, do đó nên loại trừ những chỉ tiêu chứa đựng lượng thông tin không đáng kể về hiện tượng Nói cách khác chúng ta nên chọn ra một số lượng vừa đủ các chỉ tiêu thành phần, điều này còn làm giảm chi phí tính toán trong xử lý số liệu Từ tập hợp ban đầu các chỉ tiêu, chúng ta rút lại một nhóm nhỏ hơn gọi là các chỉ tiêu thứ cấp Có rất nhiều phương pháp khác nhau để lựa chọn các chỉ tiêu mong muốn, ví dụ có thể sử dụng phân tích tương quan Tuy nhiên, trong kinh tế - xã hội người ta lại hay sử dụng phương pháp chuyên gia dựa và kinh nghiệm và phán xét thực tiễn để chọn lựa Cuối cùng sẽ thu được một tập hợp các chỉ tiêu thành phần thứ cấp với số lượng nhỏ hơn lúc ban đầu

Bước 3: Phân tích mức độ quan trọng của từng chỉ tiêu thành phần

(hay mức độ quan trọng của thông tin)

Rõ ràng mỗi chỉ tiêu thành phần chứa đựng thông tin về hiện tượng nghiên cứu với các mức độ khác nhau, có chỉ tiêu phản ánh được nhiều,

có chỉ tiêu phản ánh được ít Tức là vai trò và tầm quan trọng của các chỉ tiêu đối với hiện tượng nghiên cứu là khác nhau Để đánh giá vấn đề này

ta phân tích hệ số biến thiên của từng chỉ tiêu thành phần được chọn

Nếu một chỉ tiêu thành phần nào đó có hệ số biến thiên nhỏ tức là mức đồng đều của chỉ tiêu này tại từng đối tượng là khá cao, thì chỉ tiêu

đó về bản chất là chỉ tiêu chứa đựng ít thông tin về hiện tượng nghiên cứu Ví dụ với chỉ tiêu tỷ lệ xã có đường ô tô đến trụ sở, có trạm y tế, hay

Trang 16

được dùng điện lưới, thì chỉ tiêu này ở hầu hết các tỉnh đều đạt hầu như 100%, cho nên nếu dùng chỉ tiêu này để đánh giá mức ảnh hưởng tới thay đổi mức sống thì chất lượng thông tin trong phân tích sẽ không cao, mặc

dù trên thực tế chúng rất có ý nghĩa Hay nói cách khác, đối với một chỉ tiêu thành phần nào đó mà càng ít đối tượng đạt được mức độ cao, độ biến thiên của nó lớn, thì chỉ tiêu đó càng có giá trị thông tin trong phân tích, ví dụ như đối với mức sống thì chỉ tiêu số lượng ô tô tính trên 1.000 dân chẳng hạn là chỉ tiêu phản ánh rõ nét mức sống cao và chỉ tiêu này khó đạt được đồng đều đối với các đối tượng nghiên cứu, hơn nữa chỉ tiêu này rõ ràng thể hiện mức sống cao hơn so với chỉ tiêu như số lượng

xe đạp hay vô tuyến tính trên 1.000 dân

Như vậy có thể kết luận là: chỉ tiêu càng quan trọng thì càng ít đối tượng đạt được giá trị (mức độ) mong muốn của nó Để đơn giản tại bước này chúng ta sẽ loại bỏ bớt các chỉ tiêu mà hệ số biến thiên nhỏ (tức là lượng thông tin về hiện tượng nghiên cứu thấp)

Bước 4: Chuẩn hoá các chỉ tiêu thành phần đã được chọn lọc

Có nhiều phương pháp chuẩn hoá nhưng thông thường người ta hay áp dụng phương pháp chuẩn hoá bằng cách tính toán mức đạt tới "giá trị tốt nhất" (hay là giá trị mong muốn):

+ "Cao nhất", ví dụ tuổi thọ; tỷ lệ đi học đúng tuổi

+ "Lý tưởng nhất", ví dụ mức sinh thay thế: nếu vượt quá thì tốc độ tăng dân số sẽ nhanh, thấp quá thì dân số sẽ suy giảm, hay như tỷ lệ giới tính khi sinh, nếu quá cao thì sẽ thừa nam thiếu nữ, thấp quá thì thừa nữ thiếu nam

+ Thấp nhất, ví dụ tỷ lệ bệnh tật 0%

Việc chuẩn hoá được thực hiện bằng cách lấy trị số của chỉ tiêu chia cho "giá trị tốt nhất" vừa tìm ra, để biết chỉ tiêu đó đã đạt tới mức nào của "giá trị tốt nhất"

Các chỉ tiêu thống kê có các đơn vị đo khác nhau Chúng ta không thể thực hiện việc tổng hợp thông qua các phép tính số học cộng trừ giữa các đơn vị đo khác nhau ấy Do vậy, phải thực hiện biện pháp chuẩn hoá

Chuẩn hoá chỉ tiêu ở đây có nghĩa là đưa các chỉ tiêu có đơn vị đo khác nhau về cùng một tham chiếu đo dưới dạng thức chỉ số để thực hiện

Trang 17

phép tính tổng hợp (ta còn gọi biện pháp chuẩn hoá này là phép chỉ số hoá chỉ tiêu)

Để thực hiện được việc chuẩn hoá này, cần phân chia các chỉ tiêu thống kê thành 3 loại:

(i) Loại yếu tố có tác động tích cực, tức là có quan hệ đồng biến, khi trị số của chỉ tiêu này tăng lên, sẽ góp phần làm tốt thêm hiện tượng cần nghiên cứu, tiến gần hơn tới "mức độ mong muốn", và ngược lại, khi trị số của chỉ tiêu này giảm đi, sẽ gây tác động làm kém đi hiện tượng cần nghiên cứu, lùi xa hơn khỏi "mức độ mong muốn", ví dụ số lượng khách quốc tế đến càng nhiều, hay đầu tư ra nước ngoài cũng như kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ càng lớn, thì mức độ HNKTQT càng

cao, những chỉ tiêu yếu tố loại này, ta đánh dấu "+";

(ii) Loại yếu tố tác động tiêu cực, tức là có quan hệ nghịch biến, khi trị số tăng lên, sẽ làm kém đi hiện tượng cần nghiên cứu, và ngược lại, khi trị số của chỉ tiêu này giảm đi, sẽ tác động làm tốt thêm hiện tượng cần nghiên cứu, tiến gần hơn tới "mức độ mong muốn", ví dụ số lượng thủ tục hay thời gian cấp phép đầu tư càng nhiều, hay thời gian thông quan càng dài, thì khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp càng thấp, khả năng HNKTQT càng kém Những chỉ tiêu loại này được gắn

dấu "-";

(iii) Loại yếu tố có tác động "hướng tâm", tức là cùng một chỉ tiêu, trường hợp này thì cả tăng lên và giảm xuống đều có ảnh hưởng tích cực tới hiện tượng nghiên cứu, và đối với một số trường hợp khác thì cả tăng lên và giảm xuống đều có ảnh hưởng tiêu cực tới hiện tượng nghiên cứu,

ví dụ chỉ số giới tính khi sinh: nếu quá nhiều nam hay quá nhiều nữ thì đều gây ảnh hưởng têu cực tới sự phát triển của xã hội Với những yếu tố

loại tác động hướng tâm này, chúng ta đánh dấu "*"

Nguyên lý chuẩn hoá là đưa các chỉ tiêu về thước đo gọi là "mức đạt được mức độ tốt nhất" của chỉ tiêu

a- Đối với các yếu tố tác động tích cực

(i) Khi chỉ tiêu yếu tố được đo bằng tỷ lệ phần trăm (%), mức độ

tốt nhất là mức cao nhất có thể đạt tới là 100% Ví dụ, tỷ lệ gia đình được công nhận là gia đình văn hoá có mức độ tốt nhất là 100% (ta gọi là mức

cực đại - max), tức là toàn bộ các gia đình đều đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá, còn mức độ thấp nhất là 0% (ta gọi là mức cực tiểu - min), tức

là không có gia đình nào đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá Tỉnh A có chỉ tiêu tỷ lệ gia đinh văn hoá 70%, nghĩa là tỉnh A đã đạt 70% mức cực đại

Trang 18

(theo thang điểm 100), hay 7 điểm (theo thang điểm 10), hay 0,7 điểm mức cực đại (tính theo thang điểm 1)

Thực chất các thang điểm 1, hay 10, hay 100 đều như nhau về bản chất Do yêu cầu mức độ chi tiết và số lẻ sau dấu phẩy trong kết quả mà người ta chọn thang điểm này hay thang điểm khác Cụ thể trong HDI người ta chọn thang điểm 1, Chỉ số môi trường đầu tư người ta chọn thang điểm 10, Chỉ số môi trường kinh doanh người ta chọn thang điểm

100 Thông thường con số 70,81 (thang điểm 100) dễ nhìn hơn là con số 0,7081 (thang điểm 1) mặc dù chúng có ý nghĩa như nhau trong các thang

đo khác nhau

(ii) Khi chỉ tiêu yếu tố được đo bằng số lượng tuyệt đối, mức tốt nhất là mức cực đại (max), và mức kém nhất là mức cực tiểu (min) đạt

được trong kỳ nghiên cứu Mức cực tiểu là mức đương nhiên đạt được

Vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước, khi nghiên cứu xây dựng HDI, xem xét thu nhập bình quân đầu người và tuổi thọ trung bình của tất

cả các quốc gia trên thế giới, số liệu khi đó cho thấy không quốc gia nào

có thu nhập bình quân đầu người vượt quá 40.000 đô la Mỹ, và không quốc gia nào có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn 100 đô la Mỹ theo sức mua tương đương, do đó UNDP đã lấy mốc 40.000 USD là mức thu nhập tối đa và 100 USD là mức thu nhập tối thiểu để tính toán Chỉ số thu nhập Đối với tuổi thọ, người ta chọn tối đa là 85 và tối thiểu là 25

Ví dụ: tỉnh A có tuổi thọ trung bình 70 (thành tích đã đạt được là 70-25=45), trong khi mức tối đa cần phấn đấu để đạt tới là (85-25 = 60), tính dưới dạng chỉ số thì thành tích đã đạt được là 45/60 = 0,750

Công thức chuẩn hoá tổng quát là:

min max

min

X X

X X

I

i

i thuc i j i

Xi min là mức độ tối thiểu đạt được của yếu tố i;

Xi thực là mức độ thực tế đạt được của yếu tố i

b- Đối với các yếu tố tác động tiêu cực

(i) Khi chỉ tiêu yếu tố được đo bằng tỷ lệ phần trăm (%), mức độ

tốt nhất là mức thấp nhất có thể đạt tới là 0% Ví dụ, tỷ lệ suy dinh dưỡng

Trang 19

của trẻ em dưới 5 tuổi có mức độ tốt nhất là 0% (ta gọi là mức cực tiểu - min), tức là toàn bộ dưới 5 tuổi đều không bị suy dinh dưỡng, còn mức

độ xấu nhất là 100% (ta gọi là mức cực đại - max), tức là toàn bộ trẻ em

dưới 5 tuổi đều bị suy dinh dưỡng Tỉnh A có chỉ tiêu tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi là 20%, nghĩa là tỉnh A trên con đường phấn đấu để giảm từ 100% xuống 0% trẻ em suy dinh dưỡng thì đã đạt được mức (100,0 - 20,0 = 80,0) % theo thang điểm 100 hay (10,0 - 2,0 = 8,0) theo thang điểm 10, hoặc (1,00 - 0,200 = 0,800) theo thang điểm 1 Ở đây, mức độ đạt được dưới dạng phần trăm và đó cũng là dạng chỉ số

Công thức chung để tính chỉ số yếu tố là:

I i j = 1 - I i thực

(2)

Với: Iij là chỉ số của yếu tố i thuộc thành tố j

Ii thực là mức độ (chỉ số) thực tế đạt được của yếu tố i

(ii) Khi chỉ tiêu yếu tố được đo bằng số lượng tuyệt đối, mức độ tốt nhất là mức cực tiểu (min), và mức độ kém nhất là mức cực đại (max) Việc xác định mức cực đại và cực tiểu cũng giống như trường hợp

các yếu tố tích cực có tác động đồng biến với chỉ số tổng hợp Nhưng ý nghĩa trái ngược hẳn Người ta phấn đấu để đạt được mức cực tiểu bởi vì các chỉ tiêu yếu tố loại này càng nhỏ thì hiện tượng nghiên cứu càng tốt lên Chuẩn hoá (chỉ số hoá) thực hiện theo công thức sau:

min max

max

i i

thuc i i

j

i

X X

X X

Xi min là mức độ tối thiểu đạt được của yếu tố i;

Xi thực là mức độ thực tế đạt được của yếu tố i

Có thể thực hiện phép biến đổi số học đơn giản:

Trang 20

Ta có:

(X i

thực

- X i min

)

I i j = 1 - - (6)

X i max - X i min

c- Đối với các yếu tố tác động hướng tâm

Trước hết cần xác định thế nào là "Tâm" "Tâm" là một trị số hay một khoảng trị số của chỉ tiêu mà được coi là tốt nhất Trị số của chỉ tiêu

mà nằm phía trên hay phía dưới "Tâm" đó đều chưa thể coi là tốt, mà phải phấn đấu để chỉ tiêu đạt được con số được gọi là "Tâm"

Nếu trị số của chỉ tiêu nằm dưới "Tâm", thì ảnh hưởng của sự thay đổi của chỉ tiêu cũng như việc tính toán chỉ số yếu tố Ii hoàn toàn giống như các chỉ tiêu có tác động tích cực, nghĩa là trị số chỉ tiêu tăng lên sẽ làm cho chỉ số tổng hợp tăng lên

Nếu trị số của chỉ tiêu nằm trên mức "Tâm", thì ảnh hưởng của sự thay đổi của chỉ tiêu cũng như việc tính toán chỉ số yếu tố Ii hoàn toàn giống như các chỉ tiêu có tác động tiêu cực, nghĩa là trị số chỉ tiêu tăng lên sẽ làm cho chỉ số tổng hợp giảm đi

Ví dụ chỉ tiêu tổng tỷ suất sinh TFR có "Tâm" bằng 2,16 (theo tính toán của các nhà chuyên môn về dân số học) Địa phương nào có TFR nhỏ hơn 2,16 sẽ có ảnh hưởng không tốt tới chất lượng dân số, vì số con sinh ra quá ít cũng sẽ làm mất tính ổn định và bền vững của dân số Hay như địa phương nào có mức sinh TFR cao hơn 2,16 cũng làm cho chất lượng kém đi, vì sinh quá nhiều con sẽ gây thêm gámh nặng cho nền kinh

tế và cho xã hội

Bước 5: Tính trọng số của các chỉ tiêu thành phần trong từng nhóm

Như đã phân tích, chỉ tiêu mang nhiều thông tin về hiện tượng nghiên cứu thường được gắn trọng số cao Tuy nhiên trên thực tế người ta thường chọn quyền số theo phương pháp chuyên gia, ví dụ đối với chỉ số giáo dục trong HDI, người ta coi trọng tỷ lệ người lớn biết chữ hơn là tỷ

lệ đi học các cấp giáo dục Do đó tỷ lệ người lớn biết chữ được gắn trọng

số 2 và tỷ lệ đi học chỉ được gắn trọng số 1

Bước 6: Gộp từng nhóm các chỉ tiêu

Trang 21

Chỉ số thành phần (hay chỉ số tổng hợp nhóm) đối với các nhóm chỉ tiêu sẽ đƣợc tính theo công thức bình quân giản đơn hay bình quân gia quyền Sau khi tính toán xong các chỉ số yếu tố Ii

j, việc tính toán chỉ số thành phần Ij

đƣợc thực hiện đơn giản theo công thức sau:

Bước 7: Gộp chung toàn bộ các nhóm chỉ tiêu

Chỉ số tổng hợp chung đối với các nhóm chỉ tiêu sẽ đƣợc tính theo công thức bình quân giản đơn hay bình quân gia quyền

Trang 22

Chỉ số tổng hợp biến động trong khoảng từ 0 đến 1 Tuỳ theo từng trường hợp mà CSTH càng gần 0, hiện tượng nghiên cứu càng yếu kém CSTH càng gần 1, chất lượng hiện tượng nghiên cứu càng cao, càng đạt tới lý tưởng

Có thể ấn định, xê dịch thang điểm để đánh giá theo các quan điểm

và ý đồ khác nhau Theo thông lệ của thang điểm 0 - 1, điểm dưới 0.5 thường coi là yếu kém, từ 0,5 – 0,7 là trung bình (trong đó 0,5 - dưới 0,6

là trung bình thấp; 0,6 - dưới 0,7 là trung bình khá), từ 0,7 - dưới 0,9 là khá và từ 0,9 – 1 là tốt Trên cơ sở chỉ số tổng hợp tính được cho mỗi đối tượng, chúng ta có thể tiến hành xếp hạng toàn bộ tổng thể nghiên cứu

Trang 23

PHẦN HAI NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHỈ SỐ TỔNG HỢP ĐO LƯỜNG VÀ

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HNKTQT Ở VIỆT NAM

2.1 Một số chỉ tiêu phản ánh HNKTQT trên thế giới

Theo Báo cáo phát triển con người (Human Development Report) hàng năm của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) thì một số chỉ tiêu sau đây được sử dụng để phản ánh lĩnh vực HNKTQT của các quốc gia:

- Tổng số ODA ròng nhận được (tỷ lệ so với GNI và mức bình quân đầu người);

- Tổng số đầu tư trực tiếp của nước ngoài (luồng đầu tư vào và luồng đầu tư ra);

- Nợ nước ngoài (tổng số nợ và tỷ lệ nợ so với GNI)

Theo Báo cáo phát triển thế giới (World Development Report) hàng năm của Ngân hàng Thế giới (WB) thì một số chỉ tiêu sau đây được

sử dụng để phản ánh lĩnh vực HNKTQT của các quốc gia:

- Kim ngạch xuất nhâp khẩu hàng hoá và dịch vụ;

- Vốn ODA (tổng số; bình quân đầu người; tỷ lệ so với GNI; tỷ lệ

so với kim ngạch nhập khẩu; tỷ lệ so với tổng chi tiêu của Chính phủ);

- Viện trợ không hoàn lại (tổng số; tỷ lệ so với ODA cam kết);

- Tỷ lệ viện trợ không hoàn lại so với tổng ODA song phương cam kết;

- Nợ nước ngoài (tổng số nợ và tỷ lệ nợ so với GNI).;

- Số người di cư ra nước ngoài;

- Số lượng điều kiện buôn bán và trao đổi hàng hoá với nước ngoài Ban Thư ký Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đang nghiên cứu sử dụng một số chỉ tiêu thống kê sau đây để mô tả và phản

Trang 24

ánh mức độ HNKTKV, đồng thời cũng yêu cầu các quốc gia báo cáo số liệu thống kê hàng năm liên quan tới HNKTKV Các chỉ tiêu phản ánh HNKTKV của ASEAN được phân thành một số lĩnh vực chủ yếu:

(1) Thương mại hàng hóa và dịch vụ, trong đó nhấn mạnh tới các Chương trình ưu tiên:

- Hàng hoá liên quan đến nông sản;

- Hàng hoá liên quan đến lâm sản;

- Hàng hoá liên quan đến Thuỷ hải sản;

- Hàng hoá liên quan đến sản phẩm cao su;

- Hàng hoá liên quan đến sản phẩm điện tử;

- Hàng hoá liên quan đến sản phẩm ô tô;

- Hàng hoá liên quan đến sản phẩm đệt may;

+ Tỷ lệ so với GDP của kim ngạch nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ nội khối và ngoại khối;

+ Thuế suất nhập khẩu bình quân hàng hoá và dịch vụ từ các nước nội khối và từ các quốc gia ngoại khối;

Trang 25

+ Số lượng dòng thuế suất thuộc danh mục các mặt hàng phi tuế quan và tỷ lệ so với tổng số dòng thuế suất;

+ Số lượng và khối lượng buôn bán các Mặt hàng loại trừ trong Danh mục hàng hoá ưu đãi có hiệu lực chung;

+ Số lượng thời gian trung bình cần thiết để giải phóng 1 công te

nơ khỏi khu vực Hải quan;

+ Số lượng thời gian trung bình cần thiết để giải quyết các khiếu nại trong lĩnh vực Hải quan;

+ Số lượt khách đến từ các quốc gia nội khối và ngoại khối;

+ Số lượt khách đi tới các quốc gia nội khối và ngoại khối;

+ Khối lượng luồng FDI của mỗi nước ra các quốc gia nội khối và

ra thế giới còn lại (phân theo từng lĩnh vực, từng ngành kinh tế);

+ Tỷ lệ luồng FDI của mỗi nước ra các quốc gia nội khối và ra thế giới còn lại so với GDP (phân theo từng lĩnh vực, từng ngành kinh tế);

+ Số lượng ngành (sản phẩm) trong Danh mục loại trừ tạm thời của mỗi quốc gia khi ký kết Hiệp định tự do đầu tư (tự do di chuyển vốn);

(3) Lao động việc làm và tự do di chuyển con người

Trong lĩnh vực này, các chỉ tiêu thống kê chủ yếu được lựa chọn cho mỗi quốc gia để phản ánh mức độ HNKTKV là:

Trang 26

+ Số lượng lao động xuất khẩu sang các quốc gia nội khối và tổng

số lao động xuất khẩu ra thế giới (phân theo từng lĩnh vực, từng ngành kinh tế);

+ Số lượng lao động nhập khẩu từ các quốc gia nội khối và tổng số lao động nhập khẩu từ thế giới (phân theo từng lĩnh vực, ngành kinh tế);

Các nhà hoạch định chính sách hội nhập ASEAN cũng đã đề xuất ý tưởng xây dựng các chỉ số tổng hợp phản ánh mức độ HNKTKV trong từng lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, và trong từng ngành kinh tế, từng Chương trình hợp tác ưu tiên trên cơ sở tính bình quân giản đơn của 3 chỉ

2.2 Thực trạng các chỉ tiêu phản ánh mức độ HNKTQT ở nước ta

Hiện nay, Thống kê nước ta chưa có chỉ số tổng hợp, kể cả các chỉ

số thành phần phản ánh mức độ HNKTQT Tuy nhiên, trong cơ sở dữ liệu cũng đã có một số chỉ tiêu cá biệt phản ánh từng khía cạnh cụ thể của lĩnh vực HNKTQT

Niên giám thống kê Việt Nam hàng năm đã công bố một số chỉ tiêu chủ yếu phản ánh HNKTQT cả trong lĩnh vực tự do di chuyển hàng hoá,

Trang 27

tự do di chuyển con người và tự do di chuyển nguồn vốn Cụ thể là các chỉ tiêu:

+ Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ, có phân theo nước nhập, nước xuất, mặt hàng và nhóm hàng chủ yếu;

+ Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cả luồng vào và luồng ra hàng năm, có phân theo địa chỉ và theo ngành hoạt động kinh tế chủ yếu;

+ Khách quốc tế đến Việt Nam, có phân theo quốc tịch và mục đích đến

Đã có những đề xuất ([3], trang 1) một số chỉ tiêu thống kê phản ánh mức độ HNKTQT Cụ thể là các chỉ tiêu thống kê như sau:

(1) Tỷ lệ % Thu nhập quốc gia so với Tổng sản phẩm trong nước;

(2) Tỷ lệ phần trăm xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ so với Tổng sản phẩm trong nước;

(3) Tỷ lệ phần trăm xuất và nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ so với tổng GDP toàn thế giới;

(4) Giá trị và tỷ lệ phần trăm đầu tư trực tiếp nước ngoài so với GDP toàn thế giới;

(5) Tỷ lệ phần trăm xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ so với tổng xuất khẩu toàn thế giới;

(6) Giá trị xuất khẩu của các chi nhánh nước ngoài đóng trên lãnh thổ quốc gia so với tổng xuất khẩu trên toàn thế giới;

(7) Doanh thu trao đổi tiền tệ hàng ngày và tỷ lệ phần trăm so với GDP toàn thế giới;

(8) Giá trị cho vay tín dụng ngân hàng đối với các thực thể kinh tế của nước ngoài, và tỷ lệ phần trăm so với GDP toàn thế giới;

Trang 28

(9) Giá trị trái quyền ngân hàng đối với các thực thể kinh tế của nước ngoài, và tỷ lệ phần trăm so với GDP toàn thế giới;

Có thể nói các chỉ tiêu trên đều phản ánh mức độ HNKTQT, song vẫn chỉ ở các khía cạnh cụ thể của quá trình hội nhập, và trong thực tiễn thống kê nước ta, một số chỉ tiêu hiện nay vẫn chưa thu thập được một cách đầy đủ và đều kỳ, ví dụ từ chỉ tiêu (6) đến chỉ tiêu (9) vừa nêu Hơn nữa, các chỉ tiêu từ (3) đến (9) đều tính toán trên cơ sở phần trăm so với GDP hoặc tổng giá trị xuất khẩu toàn thế giới sẽ làm méo mó bức tranh

về mức độ hội nhập Như mục (1.1.) đã nói về khái niệm và bản chất của HNKTQT là "chơi cùng một sân" với quốc tế Một quốc gia mà mở cửa hoàn toàn với thế giới, chấp nhận hoàn toàn các "sân chơi" của thế giới, thì dù quốc gia đó lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, đều là quốc gia có mức

độ HNKTQT cao Do vậy, nếu sử dụng các chỉ tiêu vừa nêu, thì các nước nhỏ bao giờ cũng không thể có mức hội nhập cao vì tỷ trọng trong các chỉ tiêu vừa nêu không thể cao hơn các quốc gia lớn, mặc dù các quốc gia lớn này chưa chắc đã chấp nhận "sân chơi" chung toàn cầu Ngoài ra, các chỉ tiêu trên vẫn chưa phải là những chỉ số có tính tổng hợp, đặc biệt là vẫn thiếu lĩnh vực tự do di chuyển con người và nguồn lao động

Trên cơ sở bản chất và cấu thành của hiện tượng, chúng ta phải xây dựng được hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh từng khía cạnh cụ thể, từng thành phần cụ thể

Vì đây là lĩnh vực (hiện tượng) kinh tế - xã hội phức hợp gồm nhiều thành phần, nên ngoài các chỉ tiêu thống kê phản ánh từng lĩnh vực

thành phần cụ thể, cần phải xác định một chỉ số tổng hợp (composite

index) phản ánh toàn bộ hiện tượng nghiên cứu

Trang 29

Việc xây dựng chỉ số tổng hợp phản ánh mức độ HNKTQT trong

đề tài nghiên cứu này được dựa vào lý luận chung đã nêu tại mục (1.3.)

Có nhiều lĩnh vực phản ánh HNKTQT, như hội nhập trong lĩnh vực di chuyển tự do xuyên quốc gia về con người (lao động, du lịch, hội họp); di chuyển tự do xuyên quốc gia về luồng vốn (đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, đầu tư gián tiếp nước ngoài - chứng khoán, cổ phiếu, trái phiếu, hỗ trợ phát triển ); di chuyển tự do xuyên quốc gia về luồng hàng hoá, dịch vụ (xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ, xuất nhập khẩu thương hiệu, bản quyền, ); tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế quốc tế (ký kết công ước quốc tế, hiệp định, hiệp ước, giải quyết tranh chấp về lĩnh vực kinh tế, tham gia các hiệp hội, khối, nhóm quốc gia trong lĩnh vực kinh tế thương mại ; tự do di chuyển các luồng thông tin toàn cầu (internet, điện thoại, bưu chính viến thông).v.v

Tuy nhiên, chúng tôi đề xuất chỉ chọn 3 lĩnh vực cốt lõi nhất, mà nếu các lĩnh vực khác có phát triển thì cũng thúc đẩy các lĩnh vực được chọn này (giữa chúng có những mối liên hệ qua lại lẫn nhau) để tính chỉ

Trang 30

Các chỉ tiêu trong lĩnh vực tự do di chuyển đầu tư phản ánh HNKTQT có khá nhiều Trước hết chúng phải phản ánh tình trạng nước

ta tham gia với quốc tế trên cùng một mặt bằng sân chơi, đảm bảo luồng vốn được di chuyển tự do Cụ thể, đó là các chỉ tiêu: FDI, ODA, số doanh nghiệp có FDI, đầu tư gián tiếp (theo cả hai chiều: luồng vào và luồng

ra) Tuy nhiên, để tham gia tính IEII, chúng tôi khuyến nghị chỉ chọn FDI

trong lĩnh vực này (cả luồng vào lẫn luồng ra), vì hiện nay đầu tư gián

tiếp chúng ta chưa thống kê được đầy đủ, ODA tuy có một ý nghĩa nhất định thể hiện hội nhập, nhưng không có tính lâu dài, một khi nước ta sắp thoát ra khỏi nước nghèo đang phát triển

Tuy nhiên, để chuẩn hoá chỉ tiêu này, cũng như khắc phục nhược điểm của việc tính tỷ trọng FDI so với tổng GDP toàn thế giới, tham khảo kinh nghiệm quốc tế của thế giới, cụ thể của Viện nghiên cứu các vấn đề tiền tệ (MMI) của Mỹ khi tính Chỉ số Thịnh vượng quốc gia (WNI) và của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) khi tính Chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia (NCI), họ đã sử dụng tỷ lệ FDI so với GDP quốc gia để phản ánh lĩnh vực HNKTQT, chúng tôi cũng sử dụng tỷ lệ FDI so với GDP của quốc gia

Các chỉ tiêu trong lĩnh vực tự do di chuyển con người phản ánh HNKTQT cũng có không ít, thể hiện cam kết của nước ta với quốc tế khi gia nhập WTO Cụ thể, đó là các chỉ tiêu phản ánh: (i) Luồng di dân dài hạn: theo mục đích và ý nguyện cá nhân về cư trú; theo mục đích tìm kiếm việc làm thời hạn trên 1 năm; theo mục đích học tập nghiên cứu hay trao đổi theo hiệp định trên 1 năm; theo nhiệm vụ công tác được cử đi trên 1 năm ) (ii) Luồng di cư ngắn hạn (du lịch, làm việc, công tác, học tập nghiên cứu ngắn hạn, thăm thân nhân, hội nghị, thi đấu thể thao, trao đổi văn hoá nghệ thuật ) Số chuyến bay ra/vào biên giới Luồng di chuyển nhân sự được tính theo cả hai chiều: ra và vào Tuy nhiên, để

tham gia tính IEII, chúng tôi khuyến nghị chỉ chọn số khách đến Việt

Nam từ nước ngoài (vì trong tờ khai nhập cảnh, bản thân khái niệm khách đến đã bao gồm cả dự hội nghị, thăm thân nhân, học tập, lao động, chữa bệnh, du lịch , gồm cả ngắn hạn và dài hạn) Lẽ ra, để phản ánh

HNQT, ngoài khách đến còn phải kể tới khách đi, tức là người Việt Nam

ra nước ngoài dưới tất cả các dạng: dự hội nghị, thăm thân nhân, học tập, lao động, chữa bệnh, du lịch, thi đấu thể thao, giao lưu trao đổi văn hoá nghệ thuật , gồm cả ngắn hạn và dài hạn, nhưng vì hiện nay chúng ta chưa thống kê được đầy đủ các đối tượng này, nên chúng tôi đề xuất chỉ

sử dụng chỉ tiêu "luồng vào", tức là số lượt khách đến

Trang 31

Để chuẩn hoá chỉ tiêu này, chúng tôi sử dụng tỷ trọng lượt khách đến so với dân số trung bình của mỗi quốc gia

Các chỉ tiêu trong lĩnh vực tự do di chuyển hàng hoá và dịch vụ phản ánh HNKTQT bao gồm: (1) xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ, (2) xuất nhập khẩu các loại thương hiệu, bản quyền, giấy phép, (3) các khoản chuyển nhượng cả luồng ra lẫn luồng vào Trong hoàn cảnh cụ thể của thống kê nước ta, một số chỉ tiêu như vừa nêu còn chưa thống kê

được đầy đủ, nên chỉ kim ngạch xuất nhập khẩu là đủ đại diện cho lĩnh

vực này để tham gia tính IEII

Tuy nhiên, để chuẩn hoá chỉ tiêu này, cũng như khắc phục nhược điểm của việc tính tỷ trọng kim ngạch xuất, nhập khẩu so với tổng GDP toàn thế giới, tham khảo kinh nghiệm quốc tế của thế giới, cụ thể của Viện nghiên cứu các vấn đề tiền tệ (MMI) của Mỹ khi tính Chỉ số Thịnh vượng quốc gia (WNI) và của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) khi tính Chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia (NCI), họ đã sử dụng tỷ lệ kim ngạch xuất, nhập khẩu so với GDP quốc gia để phản ánh lĩnh vực HNKTQT, chúng tôi cũng sử dụng tỷ lệ kim ngạch xuất, nhập khẩu so với GDP của quốc gia

2.3.3 Phương pháp và công thức tính

2.3.3.1 Chọn quyền số

Chọn quyền số là một vấn đề phức tạp Theo đánh giá của các nhà chuyên môn trong lĩnh vực HNKTQT, cả ba lĩnh vực trên đều có ý nghĩa như nhau thể hiện mức độ hội nhập Do vậy, chúng tôi chọn quyền số ngang nhau và bằng 1 đối với cả 3 lĩnh vực thành phần này

2.3.3.2 Chọn các trị số tới hạn

Trị số tới hạn (giá trị max và giá trị min của các chỉ tiêu tham gia

vào quá trình tính IEII) cũng không phải là đơn giản khi xác định Tất cả đều phải dựa trên những lập luận khoa học hoặc trên các giả định có lý

Trị số min của tất cả các yếu tố HNKTQT đều có thể coi bằng 0 vì khi đó mức hội nhập bằng 0, nghĩa là quốc gia không có liên hệ gì với quốc tế về mặt kinh tế, không "chơi chung sân" với bất kể nước nào

Khi HNKTQT của nước ta đạt tới mức mong muốn, thì IEI sẽ tiệm cận tới 1, hay 100%

Ngày đăng: 30/12/2014, 09:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Văn Huân, "Chỉ số bình quân nhiều chiều", Thông tin khoa học Thống kê, Viện KHTK, TCTK, số 4 – 2003, trang 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số bình quân nhiều chiều
2. Nguyễn Trọng Hậu, "Phương pháp tổng quát xây dựng các chỉ số tổng hợp", Thông tin khoa học Thống kê, Viện KHTK, TCTK, số 4 – 2006, trang 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tổng quát xây dựng các chỉ số tổng hợp
3. Nguyễn Bích Lâm, "Cơ hội và thách thức của tự do thương mại và toàn cầu hoá kinh tế quốc tế đối với hoạt động thống kê", Thông tin khoa học Thống kê, Viện KHTK, TCTK, số 4 – 2009, trang 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ hội và thách thức của tự do thương mại và toàn cầu hoá kinh tế quốc tế đối với hoạt động thống kê
5. Ngô Văn Dụ - Hồng Hà - Trần Xuân Giá (Đồng chủ biên), Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội X của Đảng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Khác
6. ASEAN Baseline Report, Measurements to Monitor Progress Towards the ASEAN Community, Volume 1: Main Report, Part 2: System of Indicators (ABR Team Members: Mario B. Lamberte; Heidi R. Arboleda;Celia M. Reyes), Jakarta: ASEAN Secretariat, 7/2006 Khác
7. ASEAN Baseline Report, Measurements to Monitor Progress Towards the ASEAN Community, Volume 1: Main Report, Part 1: Analysis (ABR Team Members: Mario B. Lamberte; Heidi R. Arboleda; Celia M.Reyes), Jakarta: ASEAN Secretariat, 7/2006 Khác
8. ASEAN Baseline Report, Measurements to Monitor Progress Towards the ASEAN Community, Volume 2: Data and Metadata (ABR Team Members: Mario B. Lamberte; Heidi R. Arboleda; Celia M. Reyes), Jakarta: ASEAN Secretariat, 7/2006 Khác
9. Chất lƣợng cuộc sống Ma-lai-xi-a 2004, Nhóm Kế hoạch kinh tế, Văn phòng Thủ tướng, Ma-lai-xi-a Khác
11. Tổng cục Thống kê, Tạp chí Con số & Sự kiện, số 10 năm 2009 Khác
12. Tổng cục Thống kê, Niên giám Thống kê Việt Nam 2008, Nhà xuất bản Thống kê 2009 Khác
13. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Niên giám Thống kê Lao động, người có công và Xã hội 2007, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, 2008 Khác
15. Cẩm nang chính sách kinh tế”, [Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, Hà Nội 2005, do Rolf H. Hass thuộc Viện Quốc tế Konrad-Adenauer biên soạn, Tiến sỹ khoa học Lương Văn Kế biên dịch Khác
16. Từ điến Oxford Dictionary of Economics, xuất bản lần thứ hai năm 2002 của John Black, Nhà xuất bản Oxford University, New York Khác
17. Tạp chí Cộng Sản, số 800, tháng 6-2009, trang 105: "Vai trò quản trị toàn cầu trước những thách thức hiện nay&#34 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm