Cở sở khoa học và thực tiến của việc lựa chọn và tính toán thử nghiệm một số phản ánh mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta Nghiên cứu thực trạng các chỉ số phản ánh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay ở nước ta Đề xuất và lựa chọn một số chỉ số phản ánh mức độ hội nhập quốc tế của Việt Nam Tính toán thử nghiệm một số chỉ số phản ánh mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Trang 1TỔNG CỤC THỐNG KÊ
VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ - VIỆN KHOA HỌC THỐNG KÊ
Đề tài khoa học
Nghiên cứu lựa chọn và tính toán thử nghiệm một số chỉ số phản ánh mức độ
hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
CHUYÊN ĐỀ 3
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC LỰA CHỌN VÀ TÍNH TOÁN THỬ NGHIỆM MỘT
SỐ CHỈ SỐ PHẢN ÁNH MỨC ĐỘ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 7 - 2009
Trang 2TỔNG CỤC THỐNG KÊ
VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ - VIỆN KHOA HỌC THỐNG KÊ
Đề tài khoa học
Nghiên cứu lựa chọn và tính toán thử nghiệm một số chỉ số phản ánh mức độ
hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
CHUYÊN ĐỀ 3
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC LỰA CHỌN VÀ TÍNH TOÁN THỬ NGHIỆM MỘT
SỐ CHỈ SỐ PHẢN ÁNH MỨC ĐỘ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
Việc xây dựng, lựa chọn cũng như tính toán thử nghiệm các chỉ số, chỉ tiêu phản ánh mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam không thể không dưa trên những nền tảng của lý thuyết thống kê trong lĩnh vực này, và cũng không thể không dựa vào thực tiễn cuộc sống đòi hỏi thống kê phải can thiệp trong lĩnh vực này Có sở khoa học ở đây được hiểu là lý luận đã được người ta tổng kết về việc lựa chọn và xây dựng chỉ số, chỉ tiêu, và những điều đó đã được ứng dụng Cơ sở thực tiễn ở đây được hiểu là sự đòi hỏi của thực tế cuộc sống, cũng như một số các công trình tương tự như của thế giới được chọn lọc để áp dụng vào thực tiễn nước ta Và những cơ
sở khoa học và thực tiễn đó đều phải nhất quán với quan điểm và bước đi của Nhà nước ta trong vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế
HÀ NỘI, 7 - 2008
Trang 3MỤC LỤC
I Phần một: Cơ sở khoa học xây dựng chỉ số tổng hợp phản
ánh hội nhập quốc tế của Việt nam
7
1.2 Lý thuyết lựa chọn chỉ tiêu và xây dựng chỉ số thống kê
Trang 4GIỚI THIỆU CHUNG
Từ hai thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX đến nay, các nền kinh tế quốc gia ngày càng phụ thuộc vào nhau và hình thành hàng loạt các thể chế kinh tế khu vực và quốc tế Xu hướng vận động này tạo nên quá trình toàn cầu hoá Toàn cầu hoá là xu thế khách quan, là quá trình vận động theo hướng mở rộng các hoạt động kinh tế trong phạm vi một quốc gia sang phạm vi khu vực hoặc toàn thế giới Toàn cầu hoá trước hết là về thị trường, bắt nguồn từ toàn cầu hoá về thông tin và cuối cùng là các quá trình kinh tế Trong xu thế toàn cầu hoá, một quốc gia có chủ quyền không còn là lực lượng duy nhất đưa ra chế độ, chính sách kinh tế ngay tại nước mình mà là sự tồn tại đồng thời của bốn lực lượng là: quốc gia dân tộc có chủ quyền; các khối kinh tế khu vực; các thể chế kinh tế quốc
tế và các công ty xuyên quốc gia
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế của một nước vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực hoặc toàn cầu; trong đó, các thành viên quan hệ với nhau theo những quy định chung như: Liên minh châu Âu, AFTA, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Trước kia, khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế được hiểu đơn thuần là những hoạt động giảm thuế, mở cửa thị trường Hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay được hiểu là việc một quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mở, tham gia các định chế kinh tế, tài chính quốc tế, thực hiẹn tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại, đầu tư nhằm mục tiêu mở cửa thị trường cho hàng hoá và dịch vụ, loại bỏ các rào cản đối với trao đổi thương mại
Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo cơ hội cho nước ta phát triển nhanh
và bền vững nhưng cũng đặt nước ta trước nhiều thách thức lớn
Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đề ra: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” Nghị quyết Đại hội X của Đảng có điểm đổi mới là đã bổ sung
từ “tích cực” thành: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”
“Chủ động” là ta tự quyết định đường lối phát triển kinh tế – xã hội nói chung, chủ trương, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng; là nắm vững các quy luật, tính tất yếu của sự vận động kinh tế toàn cầu, phát huy đầy đủ năng lực nội sinh của đất nước, xác định lộ trình, nội dung, quy
mô, bước đi hội nhập kinh tế quốc tế; đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế quốc tế, không chỉ tập trung vào một thị trường, một sản phẩm; chủ động thực hiện các cam kết song phương, đa phương và chủ động vận dụng các “luật chơi” của các thể chế kinh tế – thương mại quốc
tế trên cơ sở đảm bảo lợi ích tối cao của đất nước vừa hợp tác vửa đấu tranh, không bị động và cũng không tự phát, nóng vội, chủ quan, duy ý chí; có sáng kiến, biết phân tích, chủ động lựa chọn đối tác và phương thức kinh doanh, dự báo được những thuận lợi và khó khăn khi hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 5“Tích cực” là hội nhập kinh tế quốc tế với tinh thần mạnh mẽ hơn, khẩn trương hơn, toàn diện và sâu rộng hơn so với giai đoạn trước; không chần chừ, do dự mà đẩy mạnh đổi mới bên trong, từ phương thức lãnh đạo, quản lý đến hoạt động thực tiễn, từ Trung ương đến địa phương, doanh nghiệp; khẩn trương xây dựng và thực hiện chiến lược, lộ trình, kế hoạch hội nhập kinh tế quốc tế; tích cực tranh thủ nguồn vốn đầu tư nước ngoài đồng thời mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài; đẩy nhanh chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế – xã hội, hoàn chỉnh hệ thống luật pháp, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh tế; mạnh dạn mở rộng, đa dạng hoá các hoạt động kinh tế đối ngoại và tham gia các thể chế, định chế kinh tế quốc tế, thực hiện các cam kết quốc tế “Tích cực” còn là không duy trì quá lâu các chính sách bảo
hộ của Nhà nước, khắc phục nhanh trình trạng trì trệ và tâm lý trông chờ,
ỷ lại ở sự bao cấp của Nhà nước Tích cực nhưng vững chắc, có sự chuẩn
bị cần thiết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu quản lý, hệ thống luật pháp, có thông tin cập nhật và dự báo tình hình tương đối chính xác, có đội ngũ cán bộ hiểu biết về thị trường, đối tác, tinh thông nghiệp vụ kinh doanh, hội nhập kinh tế
Vai trò và nhiệm vụ của khoa học thống kê là phải mô tả, đo lường được quá trình hội nhập quốc tế này thông qua các chỉ tiêu thống kê, các con số thống kê, làm căn cứ cho Đảng, Chính phủ và Nhà nước đề ra các chính sách, điều chỉnh các chính sách cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống trong nước và trên thế giới, góp phần đẩy nhanh quá trình phát triển nâng cao mức sống của nhân dân, mau chóng thoát khỏi tìnhg trạng nghèo đói và lạc hậu, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Muốn vậy, việc mô tả, đo lường thông qua các con số và chỉ tiêu thống kê cũng cần phải dựa trên các căn cử khoa học và thực tiễn của trình độ thống kê nước ta Mục đích của chuiyên đề khoa học này là làm sáng tỏ các căn cứ đó
I- PHẦN MỘT:
CƠ SỞ KHOA HỌC XÂY DỰNG CHỈ SỐ TỔNG HỢP PHẢN ÁNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
1.1 Lý luận chung xây dựng chỉ số tổng hợp
Ngày nay, đã có những lý thuyết về xây dựng chỉ số tổng hợp Trong các nghiên cứu gần đây về các vấn đề kinh tế - xã hội, người ta sử dụng ngày càng nhiều các chỉ số tổng hợp (synthetic index) Sở dĩ như vậy vì các hiện tượng kinh tế xã hội về bản chất là các hiện tượng phức tạp, nhiều chiều, để đánh giá và so sánh được các hiện tượng kinh tế xã hội theo không gian và thời gian đòi hỏi phải xem xét chúng trên nhiều
Trang 6phương diện khác nhau Nhưng làm thế nào để có thể đánh giá và tổng hợp chính xác được các khía cạnh khác nhau của hiện tượng nghiên cứu,
lý thuyết thống kê đã cung cấp cho chúng ta nhiều phương pháp khác nhau để giải quyết vấn đề này
Về mặt lý luận khi xây dựng chỉ số tổng hợp chúng ta phải giải quyết hai vấn đề chính:
Một là lựa chọn được các chỉ tiêu thành phần phản ánh được bản chất của hiện tượng nghiên cứu
Hai là bằng cách nào đó chúng ta có thể gộp các chỉ tiêu thành phần này, tức là xác định được các trọng số của các chỉ tiêu thành phần trong chỉ tiêu tổng hợp
Cho đến nay các công trình nghiên cứu vẫn chưa giải quyết thoả đáng hai vấn đề cơ bản nêu trên, chính vì vậy chuyên đề này trình bầy một phương pháp tổng quát và tương đối đơn giản, dễ vận dụng trong thực tế xây dựng các chỉ số tổng hợp, và đưa ra nội dung của một vài chỉ
số tổng hợp đang thịnh hành trên thực tế ở các quốc gia, như chỉ số phát triển con người, chỉ số chất lượng cuộc sống ở Ma-lai-xi-a, chỉ số năng lực cạnh tranh, chỉ số thịnh vượng quốc gia Trên cơ sở đó tiến hành lựa chọn, đề xuất một phương pháp tương đối phù hợp cho việc tính toán chỉ
số tổng hợp phản ánh hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta
Để phản ánh và mô tả các hiện tượng phức tạp, người ta sử dụng các nhóm chỉ tiêu khác nhau đặc trưng cho từng khía cạnh của hiện tượng
và trong mỗi nhóm lại gồm một số các chỉ tiêu cụ thể và thông thường tập hợp các số liệu đầu vào được trình bầy dưới dạng ma trận khối sau:
m k m mn
m m
k n k
k n
X X
X X
X X
X X
X X
X X X
1 2 1
1
1 12
11 1
1 1
12 1
Để xây dựng chỉ số tổng hợp, ta tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Phân tích định tính tính chất của các chỉ tiêu thành phần
Về bản chất các hiện tượng phức tạp thường là các phạm trù trừu tượng không trực tiếp quan sát được và rất khó đo lường trực tiếp chúng,
để có thể đánh giá và lượng hoá được các hiện tượng chúng ta cần phải thông qua các chỉ tiêu thành phần cụ thể Đối với một hiện tượng kinh tế
xã hội phức tạp, cụ thể như lĩnh vực hội nhập kinh tế quốc tế thì có rất nhiều các chỉ tiêu thành phần có thể phản ánh mức độ của tiện tượng đó, chẳng hạn như có thể dùng các chỉ tiêu thành phần: xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ; thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và mở rộng đầu tư
Trang 7trực tiếp ra nước ngoài; mở rộng xuất khẩu lao động cũng như tuyển dụng
lao động có tay nghề cao của nước ngoài vào làm việc trong nước v.v
Các chỉ tiêu này về bản chất là các chỉ tiêu phản ánh hiện tượng nghiên cứu theo góc độ tích cực, tức là chúng biến động cùng chiều và đóng góp tích cực vào sự phát triển của hiện tượng Tuy nhiên lại có các chỉ tiêu thành phần khác phản ánh tiêu cực, trái chiều hiện tượng nghiên cứu, ví dụ đối với lĩnh vực hội nhập kinh tế quốc tế thì số vụ vi phạm và mức độ vi phạm các hợp đồng kinh tế với các đối tác nước ngoài là chỉ tiêu phản ánh có tính tiêu cực, v.v Như vậy phân tích định tính cho phép chúng ta phân các chỉ tiêu thành phần vào hai nhóm các chỉ tiêu khuyến khích (ký hiệu là S) và các chỉ tiêu không khuyến khích (ký hiệu là D), về mặt nguyên tắc chúng ta luôn có thể biến các chỉ tiêu D thành chỉ tiêu S và ngược lại Do đó, trong phần nghiên cứu dưới đây chúng ta sẽ giả thiết các chỉ tiêu đều là chỉ tiêu khuyến khích (đối với các chỉ tiêu không khuyến khích ta chỉ việc thực hiện động tác đảo chiều) Bước 2: Lựa chọn các chỉ tiêu thành phần chủ yếu phản ánh hiện tượng nghiên cứu Để phản ánh hiện tượng có thể sử dụng nhiều chỉ tiêu thành phần Nếu sử dụng tất cả các chỉ tiêu này thì chúng ta sẽ gặp phải vấn đề nhiễu thông tin, hay loãng thông tin, do đó nên loại trừ những chỉ tiêu chứa đựng lượng thông tin không đáng kể về hiện tượng Nói cách khác chúng ta nên chọn ra một số lượng vừa đủ các chỉ tiêu thành phần, điều này còn làm giảm chi phí tính toán trong xử lý số liệu Từ tập hợp ban đầu các chỉ tiêu, chúng ta rút lại một nhóm nhỏ hơn gọi là các chỉ tiêu thứ cấp Có rất nhiều phương pháp khác nhau để lựa chọn các chỉ tiêu mong muốn Một trong số các phương pháp đó là sử dụng phân tích tương quan Tại bước này dùng phân tích tương quan để lựa chọn các chỉ tiêu thứ cấp, khi đó ta tính các hệ số tương quan cặp để thu được ma trận các hệ số tương quan sau đây: 1 :
: : : 1
1
2 1
1
23 21
13 12
nk nk
nk
r r
r
r r
r r R
Trong đó: r jl là hệ số tương quan giữa chỉ tiêu j và chỉ tiêu l
Từ ma trận các hệ số tương quan, ta chọn các chỉ tiêu thứ cấp:
- Nếu hệ số tương quan cặp của chỉ tiêu j0 và l0 mà thoả mãn:
l j jl
r
max
0 thì ta chọn j0 và loại bỏ l0 sở dĩ như vậy là để khắc phục, loại bỏ hiện tượng trùng lặp thông tin (vì cả hai chỉ tiêu j0,
l0 đều chứa đựng thông tin như nhau về hiện tượng nghiên cứu)
- Đối với các chỉ tiêu còn lại từ ma trận các hệ số tương quan chúng ta cũng tiến hành tương tự
Trang 8Kết thúc giai đoạn này chúng ta thu được một tập hợp các chỉ tiêu thành phần thứ cấp với số lượng nhỏ hơn lúc ban đầu Khi đó chúng ta thu được ma trận các số liệu phân tích sau:
m mp
m m
k p k
p
x x
x x
x
x x
x x
x X
1 2 1 1
1 11
1 1 1
12 1 11
(1), với p < n
Bước 3: Phân tích mức độ quan trọng của từng chỉ tiêu thành phần
Rõ ràng mỗi chỉ tiêu thành phần chứa đựng thông tin về hiện tượng nghiên cứu với các mức độ khác nhau, có chỉ tiêu phản ánh được nhiều,
có chỉ tiêu phản ánh được ít Tức là vai trò và tầm quan trọng của các chỉ tiêu đối với hiện tượng nghiên cứu là khác nhau Để đánh giá vấn đề này
ta phân tích hệ số biến thiên của từng chỉ tiêu thành phần được chọn
Nếu một chỉ tiêu thành phần nào đó có hệ số biến thiên nhỏ tức là mức đồng đều của chỉ tiêu này tại từng đối tượng là khá cao, thì chỉ tiêu
đó về bản chất là chỉ tiêu chứa đựng ít thông tin về hiện tượng nghiên cứu Ví dụ với chỉ tiêu tỷ lệ xã có đường ô tô đến trụ sở, có trạm y tế, hay được dùng điện lưới, thì chỉ tiêu này ở hầu hết các tỉnh đều đạt hầu như 100%, cho nên nếu dùng chỉ tiêu này để đánh giá mức ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống thì chất lượng thông tin trong phân tích sẽ không cao, mặc dù trên thực tế chúng rất có ý nghĩa Hay nói cách khác, đối với một chỉ tiêu thành phần nào đó mà càng ít đối tượng đạt được mức độ cao, độ biến thiên của nó lớn, thì chỉ tiêu đó càng có giá trị thông tin trong phân tích, ví dụ như đối với mức sống thì chỉ tiêu số lượng ô tô tính trên 1000 dân chẳng hạn là chỉ tiêu phản ánh rõ nét mức sống cao và chỉ tiêu này khó đạt được đồng đều đối với các đối tượng nghiên cứu, hơn nữa chỉ tiêu này rõ ràng thể hiện mức sống cao hơn so với chỉ tiêu như số lượng
xe đạp hay vô tuyến tính trên 1000 dân
Như vậy, chỉ tiêu càng quan trọng thì càng ít đối tượng đạt được giá trị cao Để đơn giản tại bước này ta sẽ loại bỏ bớt các chỉ tiêu mà hệ
số biến thiên nhỏ (tức là lượng thông tin về hiện tượng nghiên cứu thấp)
Để xác định tầm quan trọng của chỉ tiêu cũng có thể sử dụng hệ số bất đối xứng: nếu chỉ tiêu có hệ số bất đối xứng dương càng lớn (lệch phải nhiều) thì chỉ tiêu đó càng quan trọng và ngược lại
Bước 4: Chuẩn hoá các chỉ tiêu thành phần đã được chọn lọc
Có nhiều phương pháp chuẩn hoá nhưng thông thường người ta hay áp dụng phương pháp chuẩn hoá sau đây:
i
k ij
k ij k
ij
x
x y
max
Trang 9k ij i ij k
ij
x
x y
min
Bước 5: Tính trọng số của các chỉ tiêu thành phần trong từng nhóm
Như đã nêu, chỉ tiêu mang nhiều thông tin về hiện tượng nghiên cứu nếu giá trị của nó lệch nhiều trong không gian các đối tượng và số lượng các đối tượng mà tại đó giá trị của chỉ tiêu đạt cực đại là không nhiều Từ đó xác định độ nhạy cảm của chỉ tiêu bằng tham số sau đây:
m u
x x y
m
k ij k ij k
Để chuẩn hoá tham số k
j
w ta có thể viết nó dưới dạng:
) 1 )(
(
) 1 ( 1
) 1 (
) 1 (
y m
m u m
y
k ij i
k ij
Trên cơ sở các giá trị của k
j
w tính được cho từng chỉ tiêu trong nhóm k, ta sẽ gắn cho mỗi chỉ tiêu này một trọng số tương ứng với tầm quan trọng của nó Nhằm mục đích này chúng ta xắp xếp các giá trị k
j w
theo thứ tự giảm dần Cụ thể là nếu
) 1 (
Trang 10Bước 6: Gộp theo từng nhóm các chỉ tiêu: Chỉ số tổng hợp nhóm
đối với các nhóm chỉ tiêu sẽ được tính theo công thức sau:
y được xác định theo (2), (3) với chỉ số là phản chiếu chỉ số j
Bước 7: Gộp chung toàn bộ các nhóm chỉ tiêu
Đối với mỗi nhóm chỉ tiêu cụ thể chúng ta sẽ tính hệ số nhạy cảm theo công thức sau:
) 1 )(
(
) 1 (
S m
w
m
i
k i k
Với [0,1] là một số cho trước
Ta lặp lại quá trình như trong bước 5, cho mỗi nhóm k một trọng
số nhất định tương ứng với tầm quan trọng của nó Công thức tính trọng
số tương tự như (7) nhưng với = 1,2, K, bằng số lượng các nhóm chỉ tiêu nghiên cứu
Cuối cùng ta tính chỉ số tổng hợp chung theo công thức sau:
Trên cơ sở chỉ số tổng hợp tính được cho mỗi đối tượng, chúng ta
có thể tiến hành xếp hạng toàn bộ tổng thể nghiên cứu (như xếp hạng các tỉnh, các địa phương, các vùng, hoặc các quốc gia)
1.2 Lý thuyết lựa chọn chỉ tiêu và xây dựng chỉ số thống kê tổng hợp trong các lĩnh vực cụ thể
1.2.1 Chỉ số phát triển con người HDI
Có rất hiều yếu tố phản ánh phát triển con người, như các vấn đề
an sinh xã hội, an ninh con người, các vấn đề về bình đẳng giới, công bằng xã hội, các vấn đề về môi trường, và phải đảm bảo tính chất bền vững của sự phát triển (phát triển bền vững) Chỉ số phát triển con người phải là một chỉ số tổng hợp phản ánh sự phát triển trên tất cả các góc độ
Trang 11đó Nhưng theo lý thuyết xây dựng chỉ số tổng hợp đã nêu, nếu gộp nhiều yếu tố quá sẽ dẫn đến ôm đồm, khó tính toán, khó có được một cơ sở số liệu thống kê đầy đủ và đồng bộ, do vậy cũng khó khuyến khích các quốc gia tính toán chỉ số này, nhất lầ trong hoàn cảnh nếu như trình độ thống
kê chưa phát triển Do vậy, các nhà nghiên cứu chỉ khoanh giới hạn lại ở trình độ phát triển trung bình xét trên 3 phương diện: một cuộc sống trường thọ và mạnh khoẻ, có tri thức và một cuộc sống tử tế
Khi nói tới yếu tố của cuộc sống trường thọ, lại có rất nhiều yếu tố con khác ảnh hưởng, ví dụ như tỷ lệ chết của trẻ em dưới 1 tuổi, yếu tố bệnh tật, sức khoẻ, yếu tố môi trường Do vậy, người ta chỉ sử dụng chỉ tiêu tuổi hy vọng sống tại lúc sinh, hay còn gọi tắt là tuổi thọ bình quân Chỉ tiêu này được sử dụng để tính Chỉ số tuổi thọ
Khi nói tới góc độ tri thức, lại có nhiều yếu tố con phản ánh khía cạnh này, như số năm đi học trung bình của người lớn tử 15 tuổi trở lên,
tỷ lệ đi học các cấp giáo dục (mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, sau đại học
và các hình thức giáo dục khác ), tỷ lệ người lớn biết chữ Để phù hợp với điều kiện thống kê thực tế tại hầu hết các quốc gia, ban đầu người ta chọn một chỉ tiêu về số năm học bình quân làm yếu tố đại diện, nhưng sau đó chỉ tiêu này được thay thế bằng tỷ lệ đi học các cấp giáo dục, kết hợp tỷ lệ người lớn biết chữ để phản ánh khía cạnh tri thức của dân số Các chỉ tiêu này được sử dụng để tính Chỉ số giáo dục
Khi nói tới cuộc sống tử tế, cũng có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng và phản ánh vấn đề này, như thu thập bình quân đầu người, chi tiêu bình quân đầu người, GDP bình quân đầu người, thậm chí có thể sử dụng các chỉ tiêu về tài sản, của cải, tỷ lệ giàu nghèo, chỉ số bất bình đẳng trong thu nhập, trong chi tiêu v.v Song, người ta chỉ lựa chọn một chỉ tiêu để tính toán khía cạnh cuộc sống tử tế trong chỉ số phát triển con người, đó là GDP bình quân đầu người Chỉ tiêu này được sử dụng để tính toán và phân tích Chỉ số thu nhập
Cuối cùng, HDI là bình quân giản đơn của Chỉ số tuổi thọ trung bình, Chỉ số thu nhập và Chỉ số giáo dục
Phương pháp tính chỉ số giáo dục
Igiáo dục = (2/3) Ibiết chữ + (1/3) Inăm học
Trong đó: Ibiết chữ là chỉ số biết chữ của người lớn;
Inăm học là chỉ số năm học bình quân;
Xhọcthực - Xhọcmin
Inăm học = -
Xhọcmax - XhọcminVới: Xhọcmax
- thời gian học bình quân mỗi người cực đại (=15 năm);
Xhọcmin - thời gian học bình quân cực tiểu (=2,5 năm);
Xhọcthực - thời gian học thực tế bình quân mỗi người;
Phương pháp tính chỉ số thu nh ập
Trang 12max là mức tối đa của GDP bình quân đầu người;
XGDP
min là mức tối thiểu của GDP bình quân đầu người;
XGDP thực là mức độ thực tế của GDP bình quân đầu người; Log là phép toán lô-ga-rit cơ số 10
Xtuổimax - là tuổi thọ trung bình tối đa (= 85);
Xtuổimin - là tuổi thọ trung bình tối thiểu (= 25);
Phương pháp tính HDI
HDI = (I tuổi thọ + I giáo dục + I GDP ) / 3
1.2.2 Chỉ số phát triển liên quan đến giới (GDI)
GDI đo lường sự bất bình đẳng trong những thành quả đạt được giữa nam và nữ Thực chất GDI xuất phát từ HDI được điều chỉnh theo sự bất bình đẳng về giới Sự khác biệt về giới trong những lĩnh vực phát triển con người càng lớn thì GDI càng nhỏ so với HDI Ngoài ra, GDI còn sử dụng các biến: Tỷ trọng dân số nam và nữ trong tổng dân số; Tỷ trọng dân số hoạt động kinh tế của nữ và nam từ 15 tuổi trở lên; và Tỷ số tiền công tiền lương ngoài nông nghiệp của nữ so với nam
(Tính riêng cho i = Nam, Nữ; j = Giáo dục, Tuổi thọ, Thu nhập)
Bước hai, các chỉ tiêu nữ và nam trong mỗi thước đo được tổng
hợp để chỉ rõ những khác biệt trong thành tựu đạt được của nam và nữ Chỉ số hệ quả, được gọi là chỉ số phân bổ công bằng (PBCB), được tính theo công thức chung sau:
dân số nam * (chỉ số nam) 1-
]} 1/1-
là một tham số phản ánh mối liên hệ giữa sự bất bình đẳng đối với chỉ số phân phối công bằng Trong chỉ số GDI, tham số = 2 Do đó, phương trình chung biến đổi thành: