Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài gà địa phương Lạc Thủy được nghiên cứu một cách có hệ thống về đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh sản, sức đề kháng của cơ thể và phẩm chất trứn
Trang 1–––––––––––––––––––––––
ĐỖ THỊ KIM DUNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
NGOẠI HÌNH VÀ KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA
GÀ ĐỊA PHƯƠNG LẠC THỦY - HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2–––––––––––––––––––––––
ĐỖ THỊ KIM DUNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
NGOẠI HÌNH VÀ KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA
GÀ ĐỊA PHƯƠNG LẠC THỦY - HÒA BÌNH
Chuyên ngành: CHĂN NUÔI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn hoàn toàn trung thực do chúng tôi, cũng như sự hợp tác tập thể trong
và ngoài cơ quan khảo sát nghiên cứu và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những số liệu trong luận văn này
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Kim Dung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài tốt nghiệp, ngoài sự
nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ quý báu của
Nhà trường, các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn trân trọng tới PGS.TS Trần Thanh Vân, TS Vũ
Ngọc Sơn và TS Nguyễn Thị Thúy Mỵ đã động viên, hướng dẫn và chỉ bảo tận tình
cho tôi trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám đốc Trung tâm Thực nghiệm và
Bảo tồn vật nuôi - Viện Chăn nuôi đã giúp đỡ tạo mọi điều kiện về thời gian và vật
chất cho tôi học tập, triển khai đề tài và bảo vệ luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm,
các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi thú y, Phòng Quản lý đào tạo sau đại học Trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu và bảo vệ
thành công luận văn này
Nhân dịp hoàn thành luận văn, một lần nữa tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn
chân thành tới các thầy cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp cùng người thân đã động viên,
tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu thực hiện đề tài và
hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2014
Tác giả
Đỗ Thị Kim Dung
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
vii
MỞ ĐẨU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 1
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
4 Những đóng góp mới của luận văn 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
3
1.1.1 Cơ sở nghiên cứu các đặc điểm ngoại hình và kích thước các chiều đo của gia cầm 3
1.1.2 Cơ sở khoa học về sức sống và khả năng kháng bệnh 5
1.1.3 Tính trạng sản xuất của gia cầm 7
1.1.4 Cơ sở khoa học nghiên cứu về khả năng sinh sản ở gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng 10
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 23
23
phương ở Việt Nam 25
1.2.3 Tình hình nghiên cứu về gà địa phương Lạc Thủy 28
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 30
Trang 62.2.2 Thời gian nghiên cứu 30
2.3 Nội dung nghiên cứu 30
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm ngoại hình và các chiều đo của cơ thế gà địa phương Lạc Thủy 30
2.3.2 Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà địa phương Lạc Thủy 30
2.4 Phương pháp nghiên cứu 31
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 31
2.4.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu 34
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 38
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
3.1 Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của đàn gà địa phương Lạc Thủy 39
3.1.1 Đặc điểm ngoại hình 39
38 tuần tuổi 42
44
3.2.1 Tỷ lệ nuôi sống 44
3.2.2 Khối lượng cơ thể gà hậu bị qua các tuần tuổi 46
3.2.3 Tiêu tốn thức ăn của gà hậu bị qua các tuần tuổi 47
20 - 40 tuần tuổi 49
3.3.1 Tỷ lệ chết và loại thải của gà thí nghiệm giai đoạn sinh sản 20 - 40 tuần tuổi 49
inh sản 49
3.3.3 Tuổi thành thục về tính 50
3.3.4 Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và tỷ lệ trứng giống 51
3.3.5 Khối lượng trứng và chất lượng trứng 54
3.3.6 Tỷ lệ trứng có phôi và kết quả ấp nở của gà địa phương Lạc Thuỷ 57
3.3.7 Tiêu tốn thức ăn của gà thí nghiệm cho sản xuất trứng giống và gà con giống 58
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60
1 Kết luận 60
61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí nghiệm nuôi gà hậu bị 31
Bảng 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm nuôi gà sinh sản 31
u 32
Bảng 2.4 Mức thức ăn tiêu chuẩn trong giai đoạn đẻ trứng 34
Bảng 3.1 Đặc điểm ngoại hình của đàn gà địa phương Lạc Thủy 01 ngày tuổi 39
Bảng 3.2 Đặc điểm ngoại hình của đàn gà địa phương Lạc Thủylúc 38 tuần tuổi 41
Bảng 3.3 Các chiều đo của cơ thể gà Lạc Thuỷ ở 38 tuần tuổi 43
1 - 8 tuần tuổi 44
9 - 19 tuần tuổi 45
1 - 8 tuần tuổi 47
48
(20 - 40 TT) 49
Bảng 3.9 Khối lượng gà thí nghiệm giai đoạn sinh sản (20 - 40 tuần tuổi) 50
51
Bảng 3.11 Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và tỷ lệ trứng giống của gà Lạc Thuỷ 52
Bảng 3.12 Khối lượng trứng của gà thí nghiệm 55
Bảng 3.13 Chất lượng trứng của gà địa phương Lạc Thuỷ lúc 38 tuần tuổi 55
Bảng 3.14 Một số chỉ tiêu ấp nở của đàn gà thí nghiệm 57
Bảng 3.15 Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng/ 10 quả trứng giống và 1 con gà loại I 59
Trang 9DANH MỤC CÁC
Hình 3.1 Tỷ lệ đẻ của gà thí nghiệm qua các tuần đẻ 53
54 58
Trang 10MỞ ĐẨU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi gia cầm ở nước ta có truyền thống từ lâu đời, đã và đang góp phần quan trọng cải thiện sinh kế của hàng triệu nông dân Hàng năm, ngành chăn nuôi gia cầm cung cấp 18 - 20 % tổng khối lượng thịt các loại, đứng thứ hai sau thịt lợn (thịt lợn chiếm vị trí số 1 với tỷ lệ 75 - 76 %), bên cạnh đó chăn nuôi gia cầm còn cung cấp nguồn thực phẩm có dinh dưỡng khá hoàn chỉnh đó là trứng gia cầm
Vốn có nhiều truyền thống trong chăn nuôi, song hành với tiến độ hội nhập của cả nước, ngành chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng ở Việt Nam ngày càng phát triển Tuy nhiên, với tình hình chăn nuôi diễn biến phức tạp, dịch bệnh nhiều, do yếu tố thích nghi nên một số giống gà nhập ngoại thường có sức chống chịu bệnh tật kém và một số chưa phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Trong điều kiện đó một số giống gia cầm địa phương đang được chú trọng khôi phục và phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu đó
Gà địa phương Lạc Thủy là một gà mới được phát hiện ở Huyện Lạc Thủy - Tỉnh Hòa Bình, đây là một gà có chất lượng thịt khá tốt, khả năng kháng bệnh cao, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Tuy nhiên cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về đối tượng này Sau khi tiến hành
điều tra và thu thập, bước đầu đặt tên giống gà này là gà Lạc Thủy cho đúng với
nguồn gốc xuất xứ của chúng Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh sản của gà
địa phương Lạc Thủy - Hòa Bình” để bước đầu có cơ sở khoa học đánh giá về đặc
điểm loại gà địa phương này Trong khuôn khổ của đề tài này do thời gian và kinh phí còn hạn chế nên những đánh giá của chúng tôi chỉ là bước đầu, làm cơ sở cho các đề tài và nghiên cứu chuyên sâu sau về loại gà địa phương này
2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định được một số đặc điểm ngoại hình của gà địa phương Lạc Thủy
- Đánh giá được khả năng sinh sản của gà địa phương Lạc Thủy
- X
Trang 11
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
gà địa phương Lạc Thủy được nghiên cứu một cách có hệ thống về đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh sản, sức đề kháng của cơ thể và phẩm chất trứng Những kết quả của đề tài này sẽ giúp các nhà khoa học có cái nhìn đúng đắn về gà địa phương Lạc Thủy, giúp các nhà quản lý có các cơ sở khoa học để định hướng phát triển trong tương lai lâu dài về loại gà này
4 Những đóng góp mới của luận văn
- Kết quả nghiên cứu đưa ra cái nhìn tổng quan
gà địa phương Lạc Thủy để có hướng
Trang 12
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1
1.1.1 Cơ sở nghiên cứu các đặc điểm ngoại hình và kích thước các chiều đo của gia cầm
- Sự phát triển của bộ lông: Lông là dẫn xuất của da, thể hiện đặc điểm di truyền
của giống và có ý nghĩa quan trọng trong việc phân loại Gà con mới nở có bộ lông tơ che phủ, trong quá trình phát triển lông tơ sẽ dần dần được thay thế bằng bộ lông cố định
- Tốc độ mọc lông là sự biểu hiện khả năng mọc lông sớm hay muộn, có
liên quan chặt chẽ tới tốc độ sinh trưởng của gia cầm Theo Brandsch Bilchel
H (1978) [4]), những gia cầm lớn nhanh thì có tốc độ mọc lông nhanh Theo Siegel
P B và Dunington E A (1978) [78], những alen quy định tốc độ mọc lông nhanh phù hợp với khả năng tăng trọng cao Hayer J F và Cs (1970) [68], cho biết gà mái mọc lông đều hơn gà trống trong cùng một dòng và ảnh hưởng của hormone có tác dụng ngược với gen liên kết giới tính quy định tốc độ mọc lông
- Màu lông là do một số gen quy định phụ thuộc vào sắc tố chứa trong bào
tương của tế bào Đặng Hữu Lanh và Cs (1999) [25] cho biết, màu sắc lông, da là
mã hiệu của giống, đó là những tín hiệu để nhận dạng con giống Màu sắc lông da là những chỉ tiêu trong chọn lọc gia cầm Thông thường, màu sắc đồng nhất là giống thuần, trên cơ sở đồng nhất đó mà loang là không thuần, đã bị pha tạp Màu sắc do một số ít gen kiểm soát nên có thể sử dụng để phân tích di truyền, dự đoán màu lông của đời sau trong chọn lọc
Các giống gia cầm khác nhau có bộ lông khác nhau, sự khác nhau về màu sắc lông là do mức độ oxy hóa các chất tiền sắc tố melanin (Melanogene) trong các
Trang 13tế bào lông, nếu các chất sắc tố là nhóm lipocrom (Carotinoit) thì lông có màu vàng, xanh tươi hoặc màu đỏ Nếu không có chất sắc tố thì lông có màu trắng
- Đầu: Cấu tạo của xương đầu được coi như có độ tin cậy cao nhất trong
việc đánh giá đầu gia cầm Da mặt và các phần phụ của đầu cho phép rút ra kết luận
về sự phát triển của mô liên kết và mô đỡ Gà trống có ngoại hình đầu giống gà mái
sẽ có tính sinh dục kém, gà mái có ngoại hình đầu của gà trống sẽ không cho năng
suất cao, trứng thường không có phôi (Nguyễn Chí Bảo, 1978) [2]
- Mỏ và chân:
+ Mỏ là sản phẩm của da, được tạo thành từ lớp sừng (Stratumcorneum) Mỏ
phải ngắn và chắc chắn Gà có mỏ dài và mảnh thì khả năng sản xuất không cao Màu sắc của mỏ có nhiều loại: Vàng, đỏ, đen, hồng Màu của mỏ thường phù hợp với màu của chân Những giống gà da vàng thì mỏ cũng vàng, tuy nhiên ở gà mái thì màu sắc này có thể bị nhạt đi vào cuối thời kỳ đẻ trứng
+ Chân:
Những gà giống tốt phải có chân chắc chắn nhưng không được thô Chân gia cầm có 4 ngón, rất ít 5 ngón (Trần Kiên và Trần Hồng Việt, 1998) [23] Chân thường có vảy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da Gà có chân hình chữ bát, các ngón chân cong, xương khuyết tật không nên sử dụng làm giống Chân gà thường có vuốt và cựa, cựa có vai trò cạnh tranh và đấu tranh sinh tồn của loài Gà
có chân cao thường cho thịt thấp và phát dục chậm (Nguyễn Chí Bảo, 1978) [2]
- Mào và tích là đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp nên có thể phân biệt trống
mái Mào rất đa dạng về hình dạng, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho từng giống gà Mào là dẫn xuất của da Theo Phan Cự Nhân (1971) [34], khi có mặt gen
Ab gà sẽ có dạng mào hoa hồng, khi có mặt gen aB gà sẽ có dạng mào nụ và khi có mặt gen ab thì gà sẽ có dạng mào cờ Dựa vào hình dạng, người ta phân ra các loại mào: mào đơn (mào cờ), mào hạt đậu, mào hoa hồng, mào nụ (mào sít)… (Nguyễn Mạnh Hùng và Cs, 1994) [16] Ở gà trống sự phát triển mào và tích phản ánh sự thành thục sinh dục sớm hay muộn, còn ở gà mái nếu mào, tích phát triển không rõ ràng là dấu hiệu có ảnh hưởng xấu tới khả năng sinh sản
* Hình dáng và kích thước các chiều đo của cơ thể:
Tùy mục đích sử dụng, các giống gia cầm được chia làm 3 loại thể hình: Hướng trứng, hướng thịt và kiêm dụng Gà hướng thịt thường có hình dáng cân đối,
Trang 14ngực sâu, chân chắc, tiết diện hình vuông hay chữ nhật Gà hướng trứng lại có kết cấu thanh gọn, tiết diện hình tam giác
Theo tài liệu của Champer J R (1990) [65] thì kích thước các chiều đo có tương quan với sức sản xuất của gà Broiler Tác giả cũng cho biết độ lớn góc ngực, dài chân, dài đùi và đường kính ống chân có tương quan với khối lượng cơ thể
(1978) [78] cho biết tương quan giữa độ lớn góc ngực và khối lượng cơ thể từ 0,4 - 0,68 trung bình là 0,42
1.1.2 Cơ sở khoa học về sức sống và khả năng kháng bệnh
Sức sống và khả năng kháng bệnh ở gia cầm là những tính trạng di truyền đặc trưng cho từng loài, giống, dòng, cá thể và được xác định bởi khả năng chống chịu những ảnh hưởng của dịch bệnh và ngoại cảnh môi trường, nó là yếu tố quan trọng giúp chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao Trong cùng một giống, sức sống của mỗi dòng khác nhau là khác nhau, các cá thể khác nhau thì khác nhau nhưng vẫn nằm trong giới hạn của phẩm giống Theo Lê Viết Ly (1995) [29] cho biết, động vật thích nghi tốt thể hiện ở sự giảm khối lượng cơ thể thấp nhất khi bị stress, có sức sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp
Khavecman (1972) [20] cho biết, sức sống được thể hiện ở thể chất và được xác định bởi tính di truyền, có thể chống lại những ảnh hưởng bất lợi của môi trường, cũng như ảnh hưởng khác của dịch bệnh Sự giảm sức sống ở giai đoạn hậu phôi có thể do tác động của các gen nửa gây chết, nhưng chủ yếu là do tác động của môi trường (Brandsch H., Bilchel H., 1978) [4]
Sức sống của vật nuôi được xác định thông qua khả năng chống đỡ bệnh tật, khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh Trong chăn nuôi người ta thường lấy
tỷ lệ nuôi sống để đánh giá sức sống của vật nuôi trong giai đoạn khảo nghiệm, như giai đoạn nuôi từ sơ sinh đến khi giết mổ hoặc loại thải
Gavora J F (1990) [67] khi nghiên cứu về sức sống của gia cầm cho biết: sức sống được thể hện ở thể chất và được xác định trước hết bởi khả năng có tính di truyền ở cơ thể động vật chống lại những ảnh hưởng bất lợi của môi trường cũng như ảnh hưởng khác của dịch bệnh
Tỷ lệ nuôi sống phụ thuộc rất lớn vào yếu tố dinh dưỡng, giống, kỹ thuật, chăm sóc nuôi dưỡng, thời tiết khí hậu, mùa vụ,… Ngoài các yếu tố trên thì vấn đề nhiễm bệnh của gia cầm cũng là yếu tố cơ bản dẫn đến thất bại trong chăn nuôi Gia
Trang 15cầm rất mẫn cảm với dịch bệnh, khi mắc bệnh thường lây lan nhanh và dẫn đến tỷ lệ chết cao, dễ kế phát các bệnh khác, đặc biệt bệnh truyền nhiễm
Theo Hill J F và Cs (1954) [69]; Bransd H và Bilchel H (1972) [4]: Hệ
số di truyền về sức sống ở gia cầm thấp (h2 = 0,05 - 0,1) Tuy nhiên, theo Lerner
J M và Mundsen V S (1938) [74], hệ số di truyền về sức sống của gà là 0,13; còn theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [42] lại cho rằng hệ số di truyền về sức sống của gà là 0,33
Khi điều kiện sống thay đổi (thức ăn, thời tiết, khí hậu, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng…) gà lông màu có khả năng thích nghi tốt với môi trường sống (Phan Cự Nhân và Trần Đình Miên, 1998) [35] Hill J F và Cs (1954) [69] đã tính được hệ số di truyền của sức sống là 0,66 Gavora J F (1990) [67] cho rằng, hệ số di truyền của sức kháng bệnh là 0,25
Theo Trần Long và Cs (1996) [27], tỷ lệ nuôi sống của gà Ri giai đoạn gà con (0 - 6 tuần tuổi) đạt 93,3 % Nguyễn Đăng Vang và Cs (1997) [58] cho biết tỷ lệ nuôi sống của gà Ri giai đoạn gà con (0 - 9 tuần tuổi); gà hậu bị (10 - 18 tuần tuổi) và gà sinh sản (19 - 23 tuần tuổi) đạt tương ứng là 92,11 %; 96 - 97,22 % và 97,25 %
Sức đề kháng ở các loài giống, thậm chí là các cá thể khác nhau là khác nhau Theo kết quả nghiên cứu của Trần Đìn (1992) [30], Lê Thị Nga và Cs (2000) [34], ở giai đoạn 1 - 16 tuần tuổi; tỷ lệ nuôi sống của gà Ri là 96,5 - 100 %; của gà Ác là 88,28 %; của gà Mía là 92,33 - 93,9 %
Theo King D J (1996) [72] cho rằng: tỷ lệ nuôi sống và sức kháng bệnh phụ thuộc vào giống, dòng, tính biệt Con trống có sức đề kháng mạnh hơn con mái do
có sự tác động khác nhau của hormone
Nêu ra mối quan hệ giữa các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu đối với sức sống
và năng suất của gà, Ngô Giản Luyện (1994) [28] đã xác định được, ở gà Hybro nuôi tại Việt Nam thì những gà mái có số lượng bạch cầu cao ở độ tuổi 60 và 110 ngày sẽ tương ứng với sức sống và sản lượng trứng cao
Lê Xuân Đồng, Nguyễn Thượng Trữ (1988) [10] cho rằng sức sống và khả năng kháng bệnh còn phụ thuộc vào thức ăn, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng cũng như tuổi của gia cầm
Trang 16Trong chăn nuôi, để nâng cao tỷ lệ nuôi sống, sức đề kháng, giảm tổn thất do bệnh tật gây ra, bên cạnh việc cần tiến hành các biện pháp phòng bệnh thú y và chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp với từng loại vật nuôi thì một vấn đề hết sức quan trọng là cần chọn nuôi giống vật nuôi có khả năng thích nghi cao Vấn đề này chỉ có thể xác định được thông qua các thử nghiệm trong thực tế
1.1.3 Tính trạng sản xuất của gia cầm
Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [41] các tính trạng sản xuất là các tính trạng
số lượng như khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, năng suất trứng, khối lượng trứng… Hầu hết các tính trạng về năng suất của gia súc, gia cầm như sinh trưởng, sinh sản,… đều là các tính trạng số lượng Cơ sở di truyền của các tính trạng
số lượng là do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định Phần lớn các tính trạng sản xuất của vật nuôi là các tính trạng số lượng Cơ sở di truyền học của tính trạng số lượng do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định Các tính trạng số lượng
(Quantitative character) là những tính trạng mà ở đó sự sai khác nhau giữa các cá
thể là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác về chủng loại và sự khác nhau này chính là nguồn vật liệu cung cấp cho chọn lọc tự nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của gia cầm, được nuôi trong điều kiện cụ thể, thực chất là nghiên cứu các đặc điểm di truyền số lượng và ảnh hưởng của những tác động môi trường lên các tính trạng đó
Tính trạng số lượng còn được gọi là tính trạng đo lường (Metric character)
vì sự nghiên cứu của chúng phụ thuộc vào sự đo lường như mức độ tăng trọng của
gà, kích thước các chiều đo, khối lượng trứng… Tuy nhiên, có những tính trạng mà giá trị của chúng có được bằng cách đếm như: số lợn con đẻ ra/lứa, số lượng trứng
gà đẻ ra trong một năm vẫn được coi là tính trạng số lượng Đó là những tính trạng
số lượng đặc biệt
Bộ phận di truyền có liên quan đến tính trạng số lượng được coi là di truyền
học số lượng (Quantitative genetics) Di truyền học số lượng vẫn lấy các quy luật di
truyền của Mendel làm cơ sở, nhưng do đặc điểm riêng của tính trạng số lượng so
với các tính trạng chất lượng (Quantitative character) đối tượng nghiên cứu của của
di truyền học Mendel về 2 phương diện: thứ nhất là các đối tượng nghiên cứu không thể chỉ dừng lại ở mức độ cá thể mà phải được mở rộng tới mức độ quần thể bao gồm các nhóm cá thể khác nhau, thứ hai là sự sai khác giữa các cá thể không chỉ là
sự phân loại mà nó đòi hỏi phải có sự đo lường các cá thể
Trang 17Nghiên cứu đặc điểm di truyền học của các tính trạng số lượng, bên cạnh việc vận dụng các quy luật di truyền của Mendel còn phải sử dụng các các khái niệm toán thống kê xác suất để phân tích các giá trị di truyền
Giá trị đo lường được của tính trạng số lượng trên một cá thể được gọi là giá
trị kiểu hình (Phenotypic value) của cá thể đó Các giá trị có liên quan đến kiểu gen
là giá trị kiểu gen (genotypic value) và giá trị có liên hệ với môi trường là sai lệch môi trường (environmental evitation) Như vậy có nghĩa là kiểu gen quy định một
giá trị nào đó của cá thể và môi trường gây ra một sự sai lệch với giá trị kiểu gen theo hướng này hoặc hướng khác Quan hệ trên có thể biểu thị như sau:
P = G + E
Trong đó: P là giá trị kiểu hình
G là giá trị kiểu gen
E là sai lệch môi trường Nếu trung bình sai lệch môi trường của một quần thể bằng (0), thì trung bình giá trị kiểu hình bằng trung bình giá trị kiểu gen Khi đó thuật ngữ trung bình quần
thể (population mean) là trung bình giá trị kiểu hình hoặc trung bình giá trị kiểu gen
của quần thể và trung bình quần thể là tổng các tích số của từng giá trị kiểu gen với tần số của nó khi đề cập đến các thế hệ kế tiếp nhau
Giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minor
gene) cấu tạo thành, đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhò,
nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ có ảnh hưởng rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, hiện
tượng này gọi là hiên tượng đa gen (polygene) Môi trường có ảnh hưởng rất lớn
đến tính trạng số lượng, trong khi đó đối với tính trạng chất lượng là những tính trạng đơn gen thì rất ít khi bị ảnh hưởng bởi môi trường Tác động của các nhân tố ngoại cảnh như: nhiệt độ, ánh sáng, thức ăn, nước uống, không khí… lên tính trạng
số lượng rất lớn có thể làm kìm hãm hoặc phát huy và làm thay đổi các giá trị của tính trạng Giá trị kiểu gen được phân theo 3 phương thức hoạt động bao gồm: sự cộng gộp, sai lệch trội và tương tác giữa các gen
G = A + D + I
Trong đó: G là giá trị kiểu gen (geneotypic value)
A là giá trị cộng gộp (additive value)
D là sai lệch do tác động trội lặn (dominancedeviation)
I là sai lệch do tương tác giữa các gen (interaction deviation)
Trang 18* Giá trị cộng gộp hay giá trị giống
Để đo lường giá trị truyền đạt từ bố mẹ cho đời con phải có 1 giá trị đo lường mới có liên hệ với gen chứ không phải có liên hệ với kiểu gen, đó là hiệu ứng trung bình của các gen Tổng các hiệu ứng trung bình của các gen quy định tính trạng (tổng các hiệu ứng được thực hiện với từng cặp gen ở mỗi locus và trên tất cả các locus) được gọi là giá trị cộng gộp hoặc giá trị giống của cá thể.Nó là thành phần quan trọng của kiểu gen vì nó cố định và có thể di truyền cho đời sau
* Sai lệch trội lặn
Khi xem xét một locus duy nhất, sai lệch trội (D) được sinh ra từ tác động qua lại giữa các cặp alen ở trong cùng một locus (đặc biệt là các alen dị hợp tử) rất
có ý nghĩa trong lai giống
* Sai lệch tương tác giữa các gen
Là sai lệch do tương tác của các gen không cùng một locus, sai lệch này thường thấy trong di truyền học số lượng hơn là di truyền học Mendel Ngoài ra, các
tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường E (environmental) và
được chia làm hai loại là sai lệch môi trường chung Eg và sai lệch môi trường riêng Es
- Sai lệch môi trường chung E g (general environmental deviation) là sai
lệch do các yếu tố môi trường có tính thường xuyên và không cục bộ tác động lên toàn bộ các cá thể trong một nhóm vật nuôi
- Sai lệch môi trường riêng E s (special environtmental deviation) là sai lệch
do các nhân tố môi trường có tính chất không thường xuyên và cục bộ tác động riêng rẽ lên từng cá thể trong cùng một nhóm vật nuôi Tóm lại khi một kiểu hình của một cá thể được cấu tạo bởi từ hai locus trở lên thì giá trị kiểu hình của nó được biểu thị như sau:
P = A + D + I + E g + E s
Theo Dickenson (1952) (dẫn theo Nguyễn Văn Thiện, 1995) [41] thì vấn đề tương tác giữa kiểu di truyền và môi trường rất quan trọng đối với ngành chăn nuôi gia cầm Qua việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng ở trên, ta thấy rằng muốn nâng cao năng suất vật nuôi cần phải:
* Tác động về mặt di truyền (G)
- Tác động vào hiệu ứng cộng gộp (A) bằng cách chọn lọc
- Tác động vào các hiệu ứng trội (D) và át gen I bằng cách phối giống tạp giao
Trang 19* Tác động về môi trường bằng cách cải tiến điều kiện chăn nuôi như: thức
ăn, thú y, chuồng trại Trong chăn nuôi, các giống vật nuôi luôn nhận được từ bố mẹ một số gen quy định tính trạng số lượng nào đó và được xem như là được nhận từ
bố mẹ một khả năng di truyền, tuy nhiên khả năng đó có phát huy tốt hay không còn phụ thuộc rất lớn vào điều kiện của vật nuôi
1.1.4 Cơ sở khoa học nghiên cứu về khả năng sinh sản ở gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng
1.1.4.1 Sinh lý sinh sản ở gia cầm mái
Gia cầm là loài đẻ trứng
Con mái thoái hóa buồng trứng bên phải chỉ còn lại buồng trứng và ống dẫn trứng bên trái tồn tại và phát triển gắn liền với tử cung và cũng nằm trong lỗ huyệt, do đó lỗ huyệt đảm bảo ba chức năng: thải phân, thải nước tiểu
và là cơ quan sinh dục
Kích thước và hình dạng của buồng trứng phụ thuộc vào tuổi và loài gia cầm
Gà 1 ngày tuổi buồng trứng có kích thước 1 - 2 mm, khối lượng 0,03g Thời kỳ gà
đẻ trứng, buồng trứng có hình chum nhỏ, khối lượng khoảng 45 - 55g chưa rất nhiều
tế bào trứng Sự hình thành buồng trứng và tuyến sinh dục xảy ra vào thời kỳ đầu của sự phát triển phôi Sau mỗi lứa tuổi lại có những thay đổi về cấu trúc và chức năng của buồng trứng
Chức năng chủ yếu của buồng trứng là tạo trứng Quá trình phát triển của tế bào trứng trải qua ba thời kỳ: tăng sinh, sinh trưởng và chín
Trước khi bắt đầu đẻ, buồng trứng gà có khoảng 3500 - 4000 tế bào trứng, mỗi tế bào có một noãn hoàng
Tế bào trứng tăng trưởng nhanh, đặc biệt là lòng đỏ Trong 3 - 14 ngày lòng đỏ chiếm 90 - 95 % khối lượng tế bào trứng, thành phần chính gồm: protein, photpholipit, mỡ trung , các chất khoáng và vitamin Đặc biệt lòng
đỏ được tích lũy mạnh vào giai đoạn từ 9 đến 4 ngày trước khi trứng rụng Việc tăng quá trình sinh trưởng của tế bào là do foliculin được chế tiết ở buồng trứng khi gà mái thành thục sinh dục
Sự rụng trứng được tính khi tế bào trứng rời khỏi buồng trứng rơi vào loa kèn Sự rụng trứng chỉ xảy ra một lần trong ngày, nếu gà đẻ trứng vào cuối buổi chiều (16 giờ) thì sự rụng trứng thực hiện vào buổi sáng ngày hôm sau Trứng được
Trang 20giữ lại trong ống dẫn trứng làm đình trệ sự rụng trứng tiếp theo Sự rụng trứng của
gà thường xảy ra từ 2 - 14 giờ
Chu kỳ rụng trứng phụ thuộc vào các yếu tố: điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, lứa tuổi và trạng thái sinh lý của gia cầm Nếu thức ăn kém chất lượng, nhiệt độ không khí cao sẽ làm giảm sự rụng trứng và đẻ trứng
1.1.4.2 Cơ chế điều hòa quá trình phát triển và rụng trứng
Các hormone hướng sinh dục của tuyến yên là FSH và LH kích thích sự sinh trưởng và chín của trứng Nang trứng tiết Oestrogen trước khi trứng rụng vừa có tác dụng kích thích tác động của ống dẫn trứng vừa ảnh hưởng lên tuyến yên ức chế tiết FSH và LH Như vậy tế bào trứng phát triển và chín chậm lại làm ngưng rụng trứng khi tế bào còn trong ống dẫn trứng hoặc tủ cung (khi gà chưa đẻ)
Gà mái đẻ trứng hai lòng là do FSH và LH hoạt động mạnh kích thích một lúc hai tế bào trứng cùng chín và rụng LH chỉ tiết vào buổi tối, từ lúc tiết đến lúc bắt đầu rụng trứng khoảng 6 - 8 giờ Vì vậy việc chiếu sáng bổ sung vào buổi tối làm chậm tiết LH dẫn đến chậm rụng trứng từ 3 - 4 giờ Việc chiếu sáng 3 - 4 giờ buổi tối thực chất là để gà đẻ tập trung vào khoảng 8 - 11 giờ sáng Nếu không đảm bảo đủ thời gian chiếu sáng 15 - 18 giờ/ ngày thì gà có khả năng đẻ cách nhật và giảm năng suất trứng
1.1.4.3 Cơ chế điều hòa quá trình đẻ trứng
Tác nhân kích thích đầu tiên tới sự phát triển của hệ sinh dục ở gà là các hormone hướng sinh dục từ tuyến yên, tiếp theo FSH kích thích nang trứng sinh trưởng phát triển LH kích thích trứng chín và rụng Cuối cùng nang trứng tiết Oestrogen kích thích sự phát triển và hoạt động của ống dẫn trứng
Để điều hòa quá trình chín và rụng, tuyến yên tiết Oxytoxin tăng cường co bớp cơ trơn ống dẫn trứng và tử cung, tiết prolactin ức chế FSH và LH Sau khi trứng rụng, bao noãn co lại tiết progesterone duy trì hình thành trứng ở ống dẫn trứng và trạng thái hoạt động của nó Vì vậy, để điều chỉnh nhịp nhàng chức năng
bộ máy sinh sản phải nhờ mối quan hệ khăng khít giữa tuyến yên và vùng dưới đồi
Khả năng đẻ trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: giống, tuổi đẻ, trạng thái sinh
lý, đặc điểm cá thể, điều kiện nuôi dưỡng và
Trong các yếu tố môi trường thì ánh sáng ảnh hưởng nhất đến sự phát triển chức năng sinh dục của gia cầm Dùng ánh sáng nhân tạo cho gà đẻ sớm Tuy nhiên việc đẻ sớm có điều bất lợi là gà chưa đạt đủ khối lượng cơ thể, do đó
Trang 21trứng đẻ ra bé, chu kỳ sinh học ngắn, kết thúc đẻ sớm dẫn đến năng suất kém Vì vậy trong chăn nuôi gia cầm đẻ trứng phải hạn chế thức ăn và ánh sáng để kéo dài tuổi thành thục về tính và thể vóc ở mức cho phép Ví dụ đối với gà hướng trứng khi đạt khối lượng khoảng 1260g đối với gà mái và 1450g đối với gà trống ở 133 ngày tuổi Gà đẻ trứng giống thịt như ISA, AA phải nuôi hạn chế thức ăn đến 140 ngày tuổi, khối lượng sống đạt 2150g đối với gà mái và 2500g đối với gà trống, sau
đó mới cho ăn tăng để thúc đẻ
Thực hiện nghiêm ngặt chế độ dinh dưỡng của gà hậu bị sẽ nâng cao sức đẻ trứng của gà đẻ, khối lượng trứng to, thời gian đẻ kéo dài Ví dụ gà Leghorn có thể
đẻ được 270 quả/ mái/ năm, gà ISA, AA đạt 180 - 185 quả/ mái/ 10 tháng đẻ
1.1.4.4 Cơ sở của năng suất trứng
Khác với loài vật khác, các nhà phôi thai học cho rằng: trứng của gia cầm nói chung và trứng của gà nói riêng là một tế bào sinh sản khổng lồ, được bao bọc bởi lòng đỏ, lòng trắng, màng vỏ và vỏ Buồng trứng có chức năng tạo thành lòng đỏ Các bộ phận khác như lòng trắng, màng vỏ và vỏ là do ống dẫn trứng tạo thành Nhiều tài liệu nghiên cứu (Vương Đống, 1968) [9]; Card L E., Nesheim M C (1977) [64]) đều xác nhận ở gà mái, trong quá trình phát triển phôi thai hai bên trái, phải đều có buồng trứng phát triển, nhưng sau khi nở ra thì buồng trứng bên phải bị mất đi, chỉ còn lại buồng trứng bên trái Một số tác giả cho rằng trường hợp cá biệt thấy ng ở cả hai bên đều phát triển bình thường
Trong thời gian phát triển, lúc đầu các tế bào trứng được bao bọc bởi một tầng tế bào, không có liên kết gì với biểu bì phát sinh Sau đó tầng tế bào này trở thành nhiều tầng, sự tạo thành tiến tới bề mặt buồng trứng, cấu tạo này được gọi là Follicun, bên trong Follicun có một khoang hở chứa dịch, bên ngoài Follicun trông giống như một cái túi Trong thời kỳ đẻ trứng nhiều Follicun trở nên chín làm thay đổi hình dạng buồng trứng, lúc này buồng trứng giống như “chùm nho”, sau thời kỳ
đẻ trứng buồng trứng lại trở lại hình dạng ban đầu, các Follicun chín vỡ ra, quả trứng chín ra ngoài cùng với dịch của Follicun và rơi vào phễu của ống dẫn trứng
Sự rựng trứng đầu tiên báo hiệu sự thành thục sinh dục
Nhiều tác giả cho rằng, hầu hết lòng đỏ được tạo thành trước khi đẻ trứng 9 -
10 ngày, từ 1 - 3 ngày tốc độ phát triển của lòng đỏ rất chậm Khi đường kính của lòng đỏ đạt tới 6 mm thì bắt đầu sinh sản cực nhanh, và có thể tăng 4 mm trong vòng
24 giờ cho tới khi đạt 40 mm Tốc độ sinh trưởng của lòng đỏ không tương quan với
tỷ lệ đẻ trứng Quá trình hình thành trứng và rụng trứng là một quá trình sinh lý phức
Trang 22tạp do sự điều khiển của hormone Thời gian từ lúc đẻ trứng cho đến khi rụng quả trứng tiếp theo kéo dài từ 15 - 75 phút Tế bào trứng được giải phóng ra sau khi vỡ Follicun và rơi vào ống dẫn trứng Thời gian lưu lại ống dẫn trứng là 20 - 24 giờ
1.1.4.5 N sinh sản của và các yếu tố ảnh hưởng
inh sản là cho mọi năng suất ở vật nuôi, là tính trạng được các nhà chọn giống quan tâm Đối với tính trạng
được quan tâm là: Tuổi đẻ trứng đầu, tỷ lệ đẻ, sản lượng trứng, chất lượng trứng, tỷ
lệ trứng có phôi, Ở các loài gia cầm khác nhau thì những đặc điểm sinh sản cũng khác nhau rõ rệt
Đối với gia cầm, sự di truyền về sinh sản cũng phức tạp Theo các công trình nghiên cứu của nhiểu tác giả, việc sản xuất trứng gia cầm có thể do 5 yếu tố ảnh hưởng mang tính chất di truyền đó là: tuổi thành thục về sinh dục, cường độ đẻ, bản năng đòi ấp, thời gian nghỉ đẻ, thời gian kéo dài chu kỳ đẻ
- Tuổi thành thục về sinh dục: người ta cho rằng ít nhất cũng có 2 gen chính
tham gia vào yếu tố này là gen E (gen liên kết với giới tính) với gen e và cặp thứ hai
là E’ và e’ Gen trội E chịu trách nhiệm tính thành thục về sinh dục
- Cường độ đẻ trứng: Hai yếu tố này do hai cặp gen R và r; R’ và r’ phối hợp cộng lại để điều hành
- Bản năng đòi ấp do hai gen A và C điều khiển phối hợp với nhau
- Thời gian nghỉ đẻ (đặc biệt là nghỉ đẻ vào mùa đông) do các gen M và m điều khiển Gia cầm có gen mm thì mùa đông vẫn đẻ đều
- Thời gian kéo dài chu kỳ đẻ do cặp gen P và p điều hành
* Tuổi thành thục về sinh dục
Tuổi thành thục về sinh dục là tuổi bắt đầu hoạt động sinh dục và có khả năng tham gia vào quá trình sinh sản Ở gà, tuổi thành thục về tính dục được tính từ khi gà bắt đầu đẻ bói đối với từng cá thể hoặc lúc tỷ lệ đẻ đạt 5 % đối với đàn (quần thể) gà (Theo Pingel H., Jeroch H., 1980 dẫn theo Trần Thị Mai Phương, 2004 [38]).Tuy nhiên, xác định tuổi đẻ của gà dựa trên số liệu của từng cá thể trong đàn
là chính xác nhất Tuổi thành thục về tính dục chịu ảnh hưởng bởi giống và môi trường Các giống khác nhau thì tuổi thành thục về tính dục cũng khác nhau Pingel H., Jeroch H., 1980 (dẫn theo Trần Thị Mai Phương, 2004 [38]) cho rằng: tuổi thành thục về tính của gà khoảng 170 - 180 ngày, biến động trong khoảng 15 - 25
Trang 23ngày Tuổi đẻ quả trứng đầu của gà Lương Phượng Hoa trong khoảng 157 - 160 ngày (Trần Công Xuân và Cs, 2004) [62], của gà Sasso SA31L là 150 ngày (Đoàn Xuân Trúc và Cs, 2004) [55], gà Iso Color là 154 ngày (Phùng Đức Tiến và Cs, 2004) [52], gà Kabir dao động từ 179 - 187 ngày (Lê Thị Nga, 2004) [31], gà lai TP1 (trống LV3 x mái SA31) là 172 ngày (Phùng Đức Tiến và Cs, 2007) [47], tuổi
đẻ quả trứng đầu của gà Ri là 135 - 144 ngày (Nguyễn Văn Th , 1996) [42], gà Mía là 174 ngày (Nguyễn Văn Thiện và Hoàng Phanh, 1999) [43], gà Xương đen Thái Hòa Trung Quốc 141 - 144 ngày (Vũ Quang Ninh, 2002) [36] Theo Pingel H., Jeroch H (1980) dẫn theo Trần Thị Mai Phương (2004) [38] bằng phương pháp chọn lọc qua 5 thế hệ người ta đã rút ngắn được tuổi thành thục về tính của gà Rhode Island từ 356 ngày xuống còn 194 ngày Theo Brandsch H và Bilchel H (1978) [4] tuổi đẻ quả trứng đầu tiên và khối lượng cơ thể có tương quan với nhau
Tuổi đẻ sớm hay muộn liên quan chặt chẽ tới khối lượng cơ thể ở một thời điểm nhất định Những có khối lượng cơ thể nhỏ thường có tuổi thành thục sớm những có khối lượng cơ thể lớn Các yếu tố ảnh hưởng tới tuổi thành thục sinh dục sớm là: ngày, tháng nở của gà con; khoảng thời gian chiếu sáng tự nhiên hoặc nhân tạo và khối lượng cơ thể Thời gian chiếu sáng ảnh hưởng lớn tới tuổi thành thục về tính dục Thí nghiệm của Morris T R (1967) [75] trên gà Legohrn được ấp nở quanh năm cho biết, những gà được ấp nở vào th ng 12 và tháng 1 thì có tuổi thành thục về tính là 150 ngày, những gà được ấp nở từ tháng 4 đến tháng 8 thì có tuổi thành thục về tính trên 170 ngày Những gà nở sau đó có tuổi thành thục về tính sớm hơn vì thời gian sinh trưởng giai đoạn hậu bị của chúng diễn ra trong những ngày có cường độ chiếu sáng giảm dần, sau đó ánh sáng lại tăng dần lên, do đó sẽ kích thích cơ quan sinh dục phát triển và rút ngắn tuổi thành thục về tính
Sự biến động trong tuổi thành thục sinh dục còn có thể ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như tiêm phòng vaccine cho gà con sẽ làm đẩy lùi ngày đẻ quả trứng đầu tiên Khẩu phần ăn cũng có ảnh hưởng mạnh đến chỉ tiêu này (Jonhanson I., 1972) [18] Hệ số di truyền tuổi thành thục về tính dục ở gà là 0,15 - 0,42 (Pingel H., Jeroch H., 1980 (dẫn theo Trần Thị Mai Phương, 2004 [38]))
một chỉ tiêu đánh giá sự thành thục sinh dục Chỉ tiêu này cũng là một yếu tố cấu thành năng suất Tuổi đẻ quả trứng đầu được xác định bằng số ngày tuổi kể từ khi
nở đến khi đẻ quả trứng đầu tiên Trong một đàn, tuổi đẻ quả trứng đầu được xác định bằng tuổi đẻ 5 % của số cá thể trong đàn
Trang 24Lerner J M và một số tác giả khác cho rằng có các gen trên nhiễm sắc thể giới tính cùng tham gia tính trạng này (dẫn theo Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992) [30] Theo Hayer J F (dẫn theo Brandsch H và Bilchel H., 1978) [4] thì những gà có tuổi đẻ quả trứng đầu > 245 ngày sẽ cho sản lượng trứng thấp hơn những gà có tuổi đẻ quả trứng đầu < 215 ngày là 6,9 quả Tuổi đẻ quả trứng đầu phụ thuộc vào chế độ nuôi dường, các yếu tố môi trường đặc biệt là thời gian chiếu sáng Thời gian chiếu sang dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ trứng sớm (Khavecman, 1972 (dẫn theo Phạm Minh Thu, 1996 [44])
Theo Dickerson (1952); Yyob và Merat (1975) (dẫn theo Trần Long, 1994) [27] đã tính toán hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng có thể chưa trưởng thành với sản lượng trứng thường có giá trị âm (- 0,21 đến - 0,16) Theo Siegel P B
và Dunmington E A (dẫn theo Bùi Thị Oanh, 1996) [37], thì khối lương cơ thể và cấu trúc thành phần cơ thể là những nhân tố ảnh hưởng đến tính thành thục của gà mái Trước đây người ta đề cập đến chọn lọc khối lượng cơ thể lúc gà còn non để giúp cho quá trình tăng sự phát triển của nang trứng và sức đẻ trứng Nhưng thực tế,
gà nặng cân lại đẻ ít trứng Hocking và Cs dẫn theo Champer J R (1990) [65] giải thích rằng nguyên nhân gây nên hiện tượng đẻ trứng ít của gà cân nặng là do tồn tại nhiều bao noãn, chúng thường xuyên lấn át buồng trứng
Trần Công Xuân và Cs (1999) [60] xác định tuổi đẻ quả trứng đầu trên gà Tam Hoàng 882 là 143 ngày Nguyễn Đăng Vang, Trần Công Xuân và Cs (1997) [58], nghiên cứu trên gà Đông Tảo cho thấy gà mái Đông Tảo có tuổi đẻ quả trứng đầu là 157 ngày tuổi
Theo Brandsch H và Bilchel H (1978) [4]: hệ số di truyền tính trạng tuổi đẻ quả trứng đầu tiên của gà là h2
= 0,15 - 0,24 Giữa tuổi thành thục sinh dục và kích thước cơ thể có mối tương quan nghịch Chọn lọc theo hướng tăng khối lượng quả trứng sẽ dẫn đến sự tăng khối lương có thể và tăng tuổi đẻ quả trứng đầu tiên
Trong cùng một giống, cá thể nào được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, điều kiện khí hậu và chế độ chiếu sáng phù hợp sẽ có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn
* Cường độ đẻ trứng
Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng của trong một khoảng thời gian nhất định Cường độ đẻ trứng có thể tính theo độ dài trật đẻ hoặc tỷ lệ đẻ bình quân trong một giai đoạn Cường độ đẻ trứng có tương quan dương (+) và rất chặt chẽ với sản lượng trứng (Pingel H., Jeroch H (1980) dẫn theo Trần Thị Mai Phương (2004) [38] Cường độ đẻ trứng mang đặc điểm của từng giống và đặc trưng riêng
Trang 25cho từng cá thể gà mái (có những gà mái 2 ngày mới đẻ 1 trứng, có con chỉ đẻ 3, 4 hoặc 5 trứng trong một trật đẻ, cá biệt có gà mái đẻ hơn 40 quả trong một trật đẻ Cường độ đẻ trứng còn chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác như chế độ nuôi dưỡng, phương thức chăn nuôi Gà Ri nuôi bán thâm canh có tỷ lệ đẻ 39,43 % cao hơn so với gà Ri nuôi chăn thả 31,45 % (Nguyễn Văn Thạch, 1996) [39] Theo Pingel H., Jeroch H., 1980 (dẫn theo Trần Thị Mai Phương, 2004 [38]) hệ số di truyền về cường độ đẻ trứng của gà khá cao, h2 = 0,66
* Trật đẻ
Trật đẻ là khoảng thời gian mà gia cầm đẻ liên tục, giữa tuổi đẻ trứng đầu
và trật đẻ có tương quan với nhau, gà đẻ muộn thì độ dài trật đẻ ngắn Độ dài trật
đẻ phụ thuộc vào giống, thời gian chiếu sáng và thời gian đòi ấp…
* Sản lượng trứng
Sản lượng trứng là số trứng của một mái đẻ ra trong một chu kỳ đẻ hoặc trong một thời gian nhất định, có thể tính theo tháng hoặc năm Khi điều kiện môi trường thích hợp (nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng…) nhiều gen tham gia điều khiển quá trình liên quan đến sinh sản đều phát huy tác dụng, cho phép gia cầm phát huy được đầy đủ tiềm năng di truyền của chúng Hệ số di truyền về sản lượng trứng của
gà là 0,2 - 0,3 (Pingel H., Jeroch H., 1980 (dẫn theo Trần Thị Mai Phương, 2004 [38]); 0,12 - 0,3 (Nguyễn Văn Thiện, 1995) [41]
Sản lượng trứng là chỉ tiêu phản ánh chất lượng trứng giống Sản lượng trứng
là số trứng thu được trong một thời gian sinh sản của gà, nó phụ thuộc vào tuổi thành thục, tần số thể hiện bản năng đòi ấp, cường độ đẻ và thời gian đẻ Cường độ
đẻ trứng là sức đẻ trong một thời gian nhất định Cường độ này được xác định theo khoảng thời gian 30 ngày hoặc 60 ngày hoặc 100 ngày trong giai đoạn đẻ
Theo Card L E (1977) [64] thì quần thể gà mái cao sản đẻ theo quy luật, cường độ đẻ trứng cao nhất vào các tháng thứ hai, thứ ba sau đó giảm dần cho đến hết năm đẻ Khi cường độ đẻ giảm nhiều gà thường hay biểu hiện bản năng đòi ấp Bản năng này khác nhau ở các giống gà Số lượng trứng có tương quan di truyền âm với khối lượng cơ thể nhưng khối lượng trứng có tương quan dương với khối lượng
cơ thể Cho nên gà mới đẻ lần đầu thường có khối lướng trứng nhỏ, sau đó tăng dần lên cũng với sự phát triển của cơ thể gà trong thời gian đẻ
Theo Jull M A (1976) [70] và Hutt F B (1978) [17] thì hệ số tương quan giữa sản lượng trứng 3 tháng đầu với sản lượng trứng cả năm là rất chặt chẽ từ 0,7 -
Trang 260,9 Thời gian kéo dài đẻ trứng là yếu tố quyết định đến sản lượng trứng Tuy nhiên, mốc xác định thời gian đẻ để tính sản lượng trứng còn nhiều ý kiến và nó phụ thuộc vào nhiều nước khác nhau
* Khối lượng trứng
Khối lượng trứng là một tính trạng số lượng quan trọng, là thành phần thứ hai cấu thành năng suất trứng Khối lượng trứng phụ thuộc vào chiều đo của quả trứng, vào khối lượng lòng đỏ, lòng trắng và vỏ Ngoài ra, khối lượng trứng còn phụ thuộc vào giống, khối lượng cơ thể, tuổi đẻ và chế độ nuôi dưỡng Nó là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng trứng giống, tỷ lệ nở, chất lượng và sức sống của
gà con Khối lượng trứng và sản lượng trứng thường có hệ số tương quan âm Theo Bùi Quang Tiến, Nguyễn Hoài Tao (1985) [46], khi nghiên cứu trên gà RhodeRi cho thấy hệ số này là - 0,33 Nguyễn Huy Đạt (1991) [7] khi nghiên cứu tính trạng năng suất của các dòng gà Leghorn nuôi tại Việt Nam đã cho biết khối lượng trứng phụ thuộc vào yếu tố môi trường như thức ăn, nhiệt độ Theo Brandsch H và Bilchel H., 1978 [4] giá trị trung bình khối lượng quả trứng đẻ ra trong một chu kỳ
là một tính trạng do nhiều gen có tác dụng cộng gộp quy định, nhưng hiện còn chưa xác định rõ số lượng gen quy địnhtính trạng này Khi cho lai hai dòng gia cầm có khối lượng trứng lớn và bé, trứng của con lai thường có khối lượng trung gian, nghiêng về một phía (Khavecman, 1972) [20] Khối lượng trứng cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở Trong số trứng của cùng một gà mẹ đẻ ra, những trứng có khối lượng trung bình cho tỷ lệ nở cao hơn những trứng có khối lượng quá lớn hoặc quá nhỏ Khi nghiên cứu ấp trứng gà Plymouth Rock dòng TD3 đời 8 đã kết luận trứng
có khối lượng 50 - 54g nở đạt 72,6 %, còn trứng có khối lượng 56 - 60g nở đạt 57,9
%, trứng > 60g và <50g đều cho tỷ lệ nở thấp
Tác giả Bùi Quang Tiến, Nguyễn Hoài Tao (1985) [46], nghiên cứu trên giống
gà RhodeRi cho biết khối lượng trứng từ 46 - 51g cho tỷ lệ nở cao nhất là 75,5 %
Khối lượng trứng của là tính trạng do nhiều gen quy định, nhưng hiện còn chưa xác định rõ số lượng gen quy định tính trạng này Khối lượng trứng của gia cầm tăng nhanh trong giai đoạn đẻ đầu, sau đó chậm lại và ổn định khi tuổi gia cầm càng cao Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới khối lượng trứng gia cầm Trứng của gia cầm mới bắt đầu đẻ nhỏ hơn trứng gia cầm trưởng thành 20 -
30 % (Roberts J A., 1991) [76] Khối lượng gia cầm mới nở thường bằng 62 -
78 % khối lượng trứng khi ấp (Lange G D , 2000) [73]
Trang 27Theo Chen B J., Noll S L., Waiber F E (1994) [66] ngoài các yếu tố về
di truyền, khối lượng trứng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoại cảnh như chăm sóc, nuôi dưỡng, mùa vụ, tuổi gia cầm
Ảnh hưởng của dinh dưỡng đối với khối lượng trứng của gà rất rõ rệt phần ăn của gà mái đẻ thiếu lysin hoặc methionin hoặc thiếu cả 2 loại acid amin trên thì khối lượng trứng sẽ nhỏ Thiếu lysin ảnh hương đến tỷ lệ lòng đỏ, thiếu methionin ảnh hưởng chủ yếu tới tỷ lệ lòng trắng Thiếu vitamin B ảnh hưởng đến sản lượng trứng, thiếu vitamin D sẽ ảnh hưởng đến chất lượng vỏ
Khối lượng trứng có hệ số di truyền cao, do đó có thể nhanh chóng đạt được thông qua con đường chọn lọc (Kushner K F., 1973) [24] Hệ số di truyền về khối lượng trứng của gà là 0,48 - 0,8 (Brandsch H and Bilchel H., 1978) [4]; 0,4 - 0,7 (Pingel H., Jeroch H (1980) dẫn theo Trần Thị Mai Phương (2004) [38]; 0,3 - 0,8 (Trần Long, 1994) [27]; 0,6 - 0,74 (Nguyễn Văn Thiện, 1995) [42]
Theo Nguyễn Duy Hoan và Cs (1999) [14] khối lượng trứng có tương quan
âm (-) với sản lượng trứng (- 0,33 đến - 0,36), nhưng giữa khối lượng trứng và khối lượng cơ thể có tương quan dương (+) 0,31
* Hình dạng và chất lượng trứng
Trứng gà gồm có 3 phần cơ bản: vỏ, lòng đỏ và lòng trắng Theo Nguyễn Duy Hoan và Cs (1998) [15] tỷ lệ các phần so với khối lượng trứng thì vỏ chiếm 10 - 11,6 %; lòng trắng: 57 - 60 %; lỏng đỏ 30 - 32 % Thành phần hóa học của trứng không vỏ gồm có: nước: 73,5 - 74,4 %; protein: 12,5 - 13 %; mỡ: 11 - 12 % và khoáng: 0,8 - 1,0 %
Theo Brandsch H và Bilchel H (1978) [4] trứng hình ovan và được thể hiện qua tỷ số giữa chiều dài và chiều rộng của trứng hay ngược lại và chỉ số này không thay đổi theo mùa Trong chăn nuôi gia cầm sinh sản, chỉ số hình dạng của trứng là một trong những chỉ tiêu để xem xét chất lượng của trứng ấp, những quả trứng quá dài hoặc quá tròn đều có tỷ lệ nở thấp Nguyễn Quý Khiêm (1996) [21] cho biết, trứng gà Tam Hoàng có chỉ số hình dạng trung bình 1,24 - 1,39 cho tỷ
lệ nở cao hơn với nhóm trứng có chỉ số hình dạng nằm ngoài biên độ này Nếu kích thước trứng không đều thì khi đưa vào ấp, những trứng nhỏ phôi phát triển nhanh hơn, nở sớm hơn những trứng có kích thước lớn Điều kiện nuôi dưỡng có ảnh hưởng đến hình dạng quả trứng, nuôi dưỡng tốt trứng sẽ đều nhau và ngược lại
- Màu sắc vỏ trứng: màu sắc vỏ trứng không có ý nghĩa lớn trong đánh giá
chất lượng trứng nhưng có giá trị trong chọn giống và thị hiếu tiêu dùng Màu sắc
Trang 28trứng là tính trạng đa gen, hệ số di truyền biến động h2 = 0,55 - 0,75 (Nguyễn Chí Bảo, 1978) [2] Khi lai gà dòng trứng vỏ trắng với gà dòng trứng vỏ đỏ thì gà lai sẽ
có trứng vỏ màu trung gian Theo Brandsch H., Bilchel H (1978) [4] hệ số di truyền của tính trạng này là 0,55 - 0,75
- Chỉ số hình thái của trứng: Trứng thường có một đầu nhọn và một đầu tù Chỉ số hình thái trứng tính theo tỷ lệ đường kính lớn so với đường kính nhỏ Nguyễn Duy Hoan và Cs (1998) [15] cho biết, chỉ số hình thái của trứng là 1,32 biến động trong khoảng 1,13 - 1,67 Đặc biệt khi chọn trứng ấp người ta phải chú ý đến chỉ tiêu này để loại những quả trứng quá dài hoặc tròn Chỉ số này ở gà Tam Hoàng là 1,294 (Lê Thị Nga, 2005) [32], gà Lương Phượng là 1,34 - 1,39 (Hồ Xuân Tùng, 2009) [56], gà Kabir là 1,30 - 1,32 (Đoàn Xuân Trúc , 2004) [54] và gà Isa color là 1,32 (Phùng Đức Tiến và Cs, 2004) [47] Chỉ số hình thái ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở của gia cầm Những trứng quá dài hoặc quá tròn đều cho tỷ lệ nở kém Chỉ số hình thái của trứng có ý nghĩa kinh tế trong vận chuyển, đóng gói, trứng càng dài càng dễ vỡ
- Chỉ số lòng đỏ, chỉ số lòng trắng và đơn vị Haugh: Khi xem xét chất
lượng của trứng thương phẩm cũng như trứng giống, người ta đặc biệt quan tâm đến chỉ tiêu này Các chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng trứng càng tốt và tỷ lệ
nở càng cao (Tạ An Bình,1973) [3]
+ Chỉ số lòng đỏ: Là tỷ số giữa chiều cao lòng đỏ so với đường kính của nó Theo Card L E và Nesheim M C., 1970 [64], chỉ số lòng đỏ của trứng gà khoảng 0,4 - 0,42 Trứng có chỉ số lòng đỏ càng lớn thì chất lượng trứng càng tốt
+ Chỉ số lòng trắng: là chỉ tiêu đánh giá chất lượng lòng trắng, chỉ số này được tính bằng tỷ lệ giữa chiều cao lòng trắng đặc so với trung bình cộng đường kính lớn và đường kính nhỏ của nó Chỉ số này càng lớn thì chất lượng lòng trắng càng cao Chỉ số lòng trắng bị ảnh hưởng bởi giống, tuổi và chế độ nuôi dưỡng
số di truyền của khối lượng lòng trắng h2= 0,22 - 0,78 Chỉ số lòng trắng trứng gà về mùa đông cao hơn mùa xuân và mùa hè, ở giống gà nhẹ cân chỉ số này không dưới 0,09 và ở giống kiêm dụng khoảng 0,08
- Đơn vị Haugh: là một chỉ tiêu tổng hợp đánh giá chất lượng trứng.Người
ta xác định đơn vị Haugh thông qua khối lượng trứng và chiều cao lòng trắng đặc Đơn vị Haugh càng cao, chất lượng trứng càng tốt (trên 85 % là trứng rất tốt, 80 -
85 % là trứng tốt, 70 - 79 % là trứng đạt yêu cầu) Đơn vị Haugh thay đổi theo thời
Trang 29gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm mái (Gà càng già thì trứng có đơn vị Haugh càng thấp) và nhiệt độ bảo quản trứng, bệnh tật, sự thay lông (sau thay lông đơn vị Haugh cao hơn trước thay lông) Van Tijen W F (1972) [79] cho biết những trứng được bảo quản 18 ngày ở nhiệt độ 160C, đơn vị Haugh giảm từ 76 xuống còn 48; ở 9,50C đơn vị Haugh giảm từ 75 xuống còn 65 Theo Peniond Jkevich và Cs (dẫn theo Bạch Thanh Dân, 1995) [6], chất lượng trứng nếu rất tốt có đơn vị Haugh là 80
- 100, tốt là 65 - 79, trung bình là 55 - 64 và xấu là <55
- Chất lượng vỏ trứng: Thành phần vỏ trứng bao gồm: 94 % calciumcarbonat;
1 % calciumphosphate, 1 % magnesiumphosphate; 4 % hợp chất hữu cơ (một phần chất hữu cơ này là đường polisacharide); hàm lượng canxi trong mỗi vỏ trứng là khoảng 2g
Màng vỏ do các hợp chất có nguồn gốc protein tạo nên như keratin, collagen
Vỏ trứng có tác dụng bảo vệ, được chia làm hai tầng: tầng trên cùng xốp, tầng dưới cứng và có rất nhiều lỗ khí, giúp cho hoạt động hô hấp của phôi
Độ dày của vỏ có tương quan dương (+) với độ bền vỏ và có ý nghĩa quan
trọng trong quá trình ấp Nếu vỏ quá mỏng thì vừa dễ vỡ, vừa không đáp ứng đủ các chất khoáng để phôi phát triển; nếu vỏ dày quá làm cho quá trình hô hấp của phôi bị cản trở và khó nở Nói chung độ dày vỏ trứng gia cầm biến động trong khoảng 0,311 - 0,588 mm Ở gà, độ dày ở đầu nhọn là 0,294 - 0,334 mm, ở đầu
tù là 0,279 - 0,312 Độ dày lý tưởng của vỏ trứng là 0,26 - 0,34 mm (Nguyễn Duy Hoan và Cs, 1998) [15]
Độ dày vỏ trứng ảnh hưởng đến độ bền của trứng và có ý nghĩa trong việc vận chuyển, quá trình trao đổi chất và là nguồn cung cấp canxi cho phôi Độ dày vỏ trứng gà từ 0,229 - 0,373 mm Theo Jull M A (1976) [70] và một số tác giả khác cho rằng, độ dày vỏ trứng chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền, Lerner J M., Mudsen V S (1938) [74] đã tính được hệ số di truyền của độ dày vỏ trứng từ 0,15 - 0,3 Các yếu tố ảnh hưởng của môi trường như nhiệt độ chuồng cao, tuổi gà già, các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng kém và các tác nhân stress khác đều làm giảm độ dày và sức bền của vỏ trứng
Trứng gà Tam hoàng dòng Jangcun ở 38 tuần tuổi có độ dày vỏ là 0,392 mm
và độ chịu lực là 3,507 kg/cm2
(Lê Thị Nga, 2004) [33]; gà Lương Phượng Hoa độ dày vỏ là 0,35 mm và độ chịu lực là 4,46 kg/cm2 (Nguyễn Huy Đạt và Cs, 2001) [8]; độ dày vỏ trứng của gà Kabir là 0,31 - 0,34 mm và độ chịu lực là 3,57 - 3,63
Trang 30kg/cm2 (Trần Công Xuân và Cs, 2004) [62]; gà Isa color có độ dày vỏ trứng là 0,33
mm và độ chịu lực là 3,65 kg/cm2
(Phùng Đức Tiến và Cs, 2004) [52] Chất lượng
vỏ trứng là một chỉ tiêu quan trọng không chỉ trong vận chuyển, bảo quản và đóng gói mà còn ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở Chất lượng vỏ trứng chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như phương thức nuôi, chế độ dinh dưỡng
- Chất lượng lòng trắng
Lòng trắng chiếm 55 - 60 % khối lượng trứng Nếu nhìn bằng mắt thường thì những trứng tươi sẽ có lòng trắng màu hơi vàng, những trứng đã để lâu, màu của lòng trắng sẽ sáng hơn Tỷ lệ lòng trắng đặc và lòng trắng loãng ở trứng gà tươi là 2:1, tỷ lệ này giảm dần theo thời gian bảo quản, có khi xuống tới 1:1 Lòng trắng trứng cung cấp các chất dinh dưỡng cho phôi Chiều cao lòng trắng đặc là một chỉ tiêu để đánh giá chất lượng bên trọng của trứng
Lòng trắng trứng bao gồm lòng trắng loãng và lòng trắng đặc, được cấu tạo chủ yếu là albumin và một số khoáng chất Nước giúp cho cấu tạo lông da và các nội quan trong quá trình phát triển phôi Chất lượng lòng trắng trứng được xác định bằng đơn vị Haugh Hệ số di truyền của khối lượng lòng trắng từ 0,22 - 0,78 Những gà có khả năng đẻ trứng cao thường có lòng trắng cao
- Chất lượng lòng đỏ: Lòng đỏ trứng là một tế bào khổng lồ được bao bọc bởi một lớp màng Đây cũng là nguồn dinh dưỡng dự trữ của phôi
Lòng đỏ chiếm 30 - 33 % khối lượng trứng và có đường kính khoảng 30 - 35
mm Lòng đỏ trứng có lớn màng dày 6 - 11 micromet; phía trên có đĩa phôi màu trắng sáng, đường kính 3 mm; nhân tế bào trứng có hình tròn, đường kính vào khoảng 1 - 2 mm Lòng đỏ là thành phần quan trọng nhất của trứng bao gồm có nước, protit, lipit, gluxit, các axit amin không thay thế và các vitamin nhóm B và ADE làm nhiệm vụ cung cấp chất dinh dưỡng cho phôi Để đánh giá chất lượng lòng đỏ người ta dùng chỉ số lòng đỏ, được xác định bằng tỷ lệ giữa chiều cao lòng
đỏ với đường kính của lỏng đỏ Kết quả nghiên cứu trên gà Lương Phượng của Trần Công Xuân và Cs (2004) [62] cho biết chỉ số lòng đỏ là 0,44 Chỉ số lòng đỏ ở gà Kabir là 0,46 (Lê Thị Nga, 2004) [31] và ở gà Lương Phượng (LV2) được chọn tạo tại Việt Nam là 0,45 (Phùng Đức Tiến và Cs, 2007) [49]
Theo Card L E và Nesheim M C (1970) [64] của trứng tươi là 0,4 - 0,42; trứng có chỉ số lòng đỏ cao sẽ cho tỷ lệ ấp nở cao
- Thành phần hóa học của trứng
Trang 31Trứng gia cầm nói chung và trứng gà nói riêng là một loại thực phẩm giàu dinh dưỡng, thành phần dinh dưỡng của trứng các loại gia cầm khác nhau thì khác nhau Protein trong trứng là protein dễ tiêu hóa Hàm lượng mỡ trong trứng ở dạng
dễ tiêu và có hàm lượng acid béo không no rất cao, hàm lượng khoáng cao, đặc biệt
là hàm lượng sắt và phospho Trong một lòng đỏ trứng 19g chứa tới 10,5 mg natri; 17,9mg kali; 98,4 mg phostpho; 24,7 mg Clo; 2,6 mg magie; 1,5 mg sắt; 200 - 800
UI vitamin A; 20 UI vitamin D;, 84gvitamin B
2; 58g vitamin B
6; 4,5g
vitamin C; 150g vitamin E và 0,3g vitamin B
12….(Rose S P (1997) [77] Phùng Đức Tiến và Cs (2004) [53] cho biết thành phần hóa học trong lòng đỏ trứng gà Ai Cập như sau: nước 49,7 %, protein 16,9 %, lipit 31,5 %, β-caroten 33,66g/100g và carotenoit 495,08g/100g
Trong những năm gần đây, các nhà khoa học tập trung nghiên cứu các chỉ tiêu chất lượng trứng để nâng cao giá trị sinh học của trứng cũng như nâng cao khả năng ấp nở, tỷ lệ gia cầm non khỏe mạnh
* Khả năng thụ tinh và tỷ lệ ấp nở
Sự thụ tinh là một quá trình, trong đó tinh trùng và trứng hợp lại thành hợp tử (Nguyễn Văn Thiện, 1996) [42] Kết quả thụ tinh là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng sinh sản của con giống, phụ thuộc vào các yếu tố như: tuổi, tỷ lệ trống mái, mùa vụ, dinh dưỡng, chọn đôi giao phối… Tỷ lệ nở là chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của phôi, sức sống của gia cầm non Tỷ lệ thụ tinh là một chỉ tiêu đánh giá sức sinh sản của đời bố mẹ khả năng thụ tinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố Theo Pingel H., Jeroch H., 1980 (dẫn theo Trần Thị Mai Phương, 2004 [38]) thì tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc vào tỷ lệ trống mái trong đàn, chế độ dinh dưỡng và sức khỏe của đàn giống Giao phối cận huyết làm giảm tỷ lệ thụ tinh, mật độ nuôi quá đông ảnh hưởng đến hoạt động giao phối của con trống Phương thức chăn nuôi cũng có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ thụ tinh
Tỷ lệ trứng có phôi là một tính trạng quyết định số gà con nở ra của gà mái Theo Nguyễn Thị Khanh và Cs (2004) [2019] thì tỷ lệ trứng có phôi ở gà Tam Hoàng dòng 882 đạt 94,7 % và dòng Jiangcun đạt 96,3 %; tỷ lệ này ở gà Lương Phượng Hoa dòng M1 đạt 94,59 % và dòng M2 đạt 94,12 % (Trần Công Xuân và
Cs, 2004) [63]; ở gà Kabir đạt 94,62 % (Lê Thị Nga, 2005) [33]; gà Isa color đạt 94,88 % (Phùng Đức Tiến và Cs, 2004) [57]; gà Sasso ông bà nhập nội đạt 94,93 % (Phùng Đức Tiến và Cs, 2007) [46]
Trang 32Kết quả thụ tinh hay tỷ lệ phôi là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng sinh sản của gà trống và mái Tỷ lệ phôi phụ thuộc vào tuổi, tỷ lệ trống mái trong đàn, mùa vụ, chế độ nuôi dưỡng và chọn đôi giao phối Lê Thị Thúy (1996) [45] cho biết sự thích ứng cá thể trong giao phối có ý nghĩa lớn với thụ tinh, có những con đực có tỷ lệ thụ tinh cao với con mái này song không thụ tinh với con mái khác Giao phối cận huyết cũng làm giảm tỷ lệ thụ tinh
Tỷ lệ ấp nở của gà được xác định bằng tỷ lệ % số gà con nở ra so với số trứng đưa vào ấp Nó là tính trạng đầu tiên biểu hiện sức sống của phôi trong giai đoạn ấp Tỷ lệ nở cao có ý nghĩa lớn Tỷ lệ ấp nở phụ thuộc vào trứng có phôi, chất lượng trứng và chế độ ấp, nó là chỉ tiêu để đánh giá sự phát triển của phôi và sức sống của gia cầm non Hệ số di truyền của tỷ lệ ấp nở thấp Bên cạnh
đó Pingel H., Jeroch H., 1980 (dẫn theo Trần Thị Mai Phương, 2004 [38]) lại cho rằng hệ số di truyền về tỷ lệ nở là từ 0,16 đến 0,20 Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [42], hệ số di truyền của tỷ lệ trứng thụ tinh là 0,11 - 0,13; hệ số di truyền của tỷ lệ ấp nở là 0,10 - 0,14
Nguyễn Đăng Vang và Cs (1997) [58] cho biết ở gà Đông T lệ trứng có phôi đạt 89,54 % và tỷ lệ nở loại I/ trứng ấp đạt 70,08 % Theo Nguyễn Văn Thạch (1996) [39], gà Ri nuôi bán thâm canh tỷ lệ phôi đạt 93,42 % và nở/ phôi đạt 90,51 %
Khummenk T và Cs (1990) [71]; Nguyễn Quý Khiêm và Cs (1996) [21] cho biết: khối lượng trứng, sự cân bằng giữa các thành phần cấu tạo (lòng trắng, lòng đỏ) và cấu trúc vỏ trứng có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ ấp nở Thường tỷ lệ ấp nở cao ở trứng có khối lượng trung bình Trứng quá to hoặc quá nhỏ đều cho tỷ lệ ấp nở thấp Tuổi gà càng cao thì tỷ lệ chết phôi càng lớn (trứng của những gà mái đẻ các năm thứ 2, 3 đều có tỷ lệ chết phôi cao) Ngoài ra các yếu tố như vệ sinh thú y, kỹ thuật thu nh p cũng có vai trò rất quan trọng ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở của trứng gia cầm (Bạch Thanh Dân và Cs (1997) [6]
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu về bảo tồn quỹ gen trên thế giới
Theo tổ chức Nông - Lương thế giới (FAO), nguồn gen động vật bao gồm cả động vật được thuần hóa và động vật hoang dã đóng vai trò rất quan trọng đối với loài người Năm 1980, một chiến lược bảo tồn vật nuôi áp dụng trên phạm vi toàn cầu, cho khu vực và từng quốc gia đã được FAO và cơ quan Bảo vệ môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) hợp tác xây dựng (FAO, 1984) Chương trình đề ra có 4 nội dung cơ bản gồm: (1) Bảo tồn bằng cách áp dụng các biện pháp quản lý, (2) Ngân
Trang 33hàng dữ liệu nguồn gen động vật, (3) Đào tạo nâng cao năng lực cho nguồn lực con người tham gia chương trình bảo tồn, (4) Lưu giữ vật liệu di truyền
Về phương pháp bảo tồn, các nghiên cứu trên thế giới chỉ ra 2 phương thức: (1) Bảo tồn tại chỗ (in - situ conservation): Là bảo tồn một loài nào đó ngay tại môi trường sống tự nhiên của nó Để đạt được mục đích tái lập quần thể muốn bảo tồn, người ta bảo vệ khu vực sinh sống khỏi các tác động có hại từ con người hay các loài khác
(2) Bảo tồn ngoại vi (Ex - situ conservation): Là quá trình bảo tồn nguồn gen
ở bên ngoài môi trường sống tự nhiên của một loài nào đó Phương pháp này chuyển một phần quần thể từ nơi cư trú bị đe dọa đến một chỗ mới (khu sinh thái hay vườn thú, các trang trại bảo tồn…) Hình thức này cũng bao gồm cả việc duy
trì, nuôi cấy, lưu trữ gen trong phòng thí nghiệm (giữ tinh trùng, trứng hoặc phôi)
Việc bảo tồn nguồn gen quý hiếm của các giống vật nuôi đã được dư luận, các nhà khoa học nhiều quốc gia quan tâm, chú ý từ nhiều thập kỷ qua Đã có nhiều hoạt động tích cực nhằm bảo vệ các loài động vật quý hiếm khỏi sự tuyệt chủng Với sự ra đời của Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (WCU) nay gọi là Quỹ quốc
tế về thiên nhiên (WFF), tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) và chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đã chứng tỏ điều đó (Lê Viết Ly, 1995) [29] Ngoài ra, nhiều khu bảo tồn quy mô lớn đã được thiết lập ở nhiều khu vực sinh thái khác nhau, tại nhiều quốc gia trên khắp các châu lục; hiệp định về cấm buôn bán các loài thú quý hiếm đã được ký và thi hành có hiệu quả
Trong những năm 1970, Châu Âu đang đứng trước nguy cơ một số giống vật nuôi truyền thống như: bò, cừu, ngựa, lợn… bị biến mất Một số nhóm người có tâm huyết ở Anh đã thành lập tổ chức các giống vật nuôi hiếm (Rare Breerss Suvial Trust), sau đó là Hiệp hội chăn nuôi Châu Âu (EAAP) Kết quả điều tra thống kê cho thấy có 240 giống gia súc có nguy cơ biến mất Từ đó, hầu hết các nước châu
Âu đều có chương trình bảo tồn vật nuôi
Theo Nguyễn Duy Hoan và Cs (2001) [13], Công ty Kabir đã tạo ra 28 dòng
gà chuyên thịt lông trắng và lông màu, trong đó có 13 dòng nổi tiếng được rất nhiều nước ưa chuộng Nhiều dòng có lông màu đỏ nhạt hoặc vàng, chân và da màu vàng, thịt chắc, đậm thơm ngon, khả năng thích nghi cao, kháng bệnh tốt, ít bệnh tật và ít ảnh hưởng của các yếu tố stress nên tỷ lệ sống cao, khả năng cho thịt tốt, thích nghi cao phù hợp với nhiều phương thức nuôi
Trang 341.2.2 Tình hình nghiên cứu gà địa phương ở Việt Nam
93 giống vật nuôi bản địa, trong đó có đến 48 giống gia cầm (gồm có 32 giống gà, 9 giống vịt, 4 giống ngan và
Ai Cập; các giống vịt siêu thịt (Super meat), siêu trứng Sản phẩm gia cầm tăng lên
rõ rệt qua các năm Năm 2000, sản lượng thịt 286,513 nghìn tấn, sản lượng trứng 3,708 tỷ quả Năm 2003, sản lượng thịt 372,720 nghìn tấn và trứng 4,854 tỷ quả
Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta chăn nuôi gà với các giống địa phương vẫn chiếm tỷ lệ khá cao (70 %), các giống này chăn nuôi theo phương thức thả vườn cũng không ngừng phát triển và hiệu quả cũng ngày càng tăng với các giống địa phương như: Gà Ri, gà Mía, gà Tre, gà Hồ, gà Ác…
Với chương trình Quốc gia bảo tồn nguồn gen động vật nuôi Việt Nam, chúng ta đã thu thập được nhiều số liệu về giống vật nuôi truyền thống được nuôi ở các vùng miền, trong đó nhiều giống gia cầm số liệu đã được đưa vào danh sách mục các giống Quốc gia và Quốc tế cụ thể như:
Giống gà Ri: Địa bàn phân bố khắp cả nước, đặc biệt là đồng bằng Bắc bộ, miền Đông nam bộ Là giống gà có tầm vóc nhỏ, tăng khối lượng chậm Gà mái có màu vàng rơm, chân vàng, đầu nhỏ, mào đơn Gà trống có màu đỏ tía, cánh và đuôi
có lông đen, dáng chắc khỏe, mào đơn Ở tuổi trưởng thành, con trống năng từ 1,5 - 2kg, con mái nặng 1,1 - 1,6kg, sản lượng trứng từ 70 - 90 quả/mái/năm, khối lượng trứng từ 45 - 50g/quả…
Giống gà Hồ: Phân bố chủ yếu tại địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Sự hình thành và phát triển của gà Hồ gắn liền với tập quán cổ truyền, với nền văn hiến vùng Kinh bắc Gà Hồ có đặc điểm ngoại hình: Tầm vóc to lớn, con trống trưởng thành nặng từ 4,5 - 5,5kg; con mái 3,5 - 4kg Gà Hồ thành thục muộn,
8 tháng mới đẻ bói Gà mái mỗi năm đẻ 3 - 4 lứa, mỗi lứa đẻ 10 - 15 trứng, sản lượng trứng thấp, chỉ đạt 40 - 50 quả/mái/năm
Giống gà Mía: Là giống gà thịt nổi tiếng từ xưa đến nay, nó được lai tạo ra không rõ từ thời nào tại xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây cũ, nay là Hà
Trang 35Nội, nhưng nó được phát triển nhiều và còn giữ được những đặc trưng chủ yếu về giống chỉ được thấy ở thôn Mông Phu, xã Đường Lâm Gà Mía có đặc điểm ngoại hình: Thân hình to lớn, gà Trống có lông chủ yếu màu “mận chín”, còn lại là màu đen, mào đơn, chân hơi cao và nhỏ hơn gà Đông Tảo Gà mái có lông màu “lá chuối khô xám”, mắt tinh nhanh, da chân màu vàng nhạt Đặc biệt nhất, gà mái sau khi đẻ được 3 - 4 tháng, lườn chảy xuống giống “yếm bò” Đây là đặc điểm nổi bật của gà Mía khác với các giống gà khác
Gà Mèo: Là giống gà được người H’mông nuôi trên các đỉnh núi cao Gà Mèo phân bố rải rác ở các vùng núi cao miền Đông Bắc và Tây Bắc và một phần ở Nghệ An Do được người H’mông nuôi nên được gọi là gà H’mông hay gà Mèo Gà
có màu lông đa dạng như màu đen, màu trắng mơ , điều này chứng tỏ chúng không được chọn lọc và bị pha tạp Gà nhanh nhẹn hay bay lên cao, thích đánh mổ nhau Màu thịt gà có hai loại đen nhạt và trắng vàng Thịt chắc, ngon, ít mỡ cho dù được nuôi nhốt
Ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới đang có hiện tượng suy thoái
và mất dần tính đa dạng di truyền của các giống gia súc, gia cầm truyền thống Nhiều giống vật nuôi đang bị thoái hoá, lai tạp, thậm chí có một số giống bị tuyệt chủng Tổ chức FAO cho biết, đe doạ lớn nhất đối với sự đa dạng các động vật nông nghiệp hiện nay chính là việc các nước nghèo đang nhập khẩu ồ ạt các giống vật nuôi cao sản nhưng chất lượng sản phẩm và khả năng thích nghi kém Việc làm đó dẫn đến việc lai tạo hỗn loạn, không kiểm soát được, thậm chí là thay thế các giống địa phương quý hiếm Đó là một hiểm hoạ về lâu dài Cứ mỗi tuần có 2 loài bị biến mất và hiện có 1350 loài động vật nông nghiệp đang bị đe doạ tuyệt chủng (FAO, 2003) Hiện trạng ngành chăn nuôi gia cầm của nước ta cũng không tránh khỏi tình trạng trên Ở nước ta đàn gà phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở vùng núi, trung
du phía bắc (27,5 %), vùng đồng bằng sông Hồng (24,7 %), vùng đồng bằng sông Cửu Long (15,6 %) Chăn nuôi gà cho đến nay vẫn chủ yếu chăn nuôi các giống gà nội (75 - 80 %) theo phương thức chăn thả tự do, tận dụng thức ăn (Nguyễn Duy Hoan, 1999) [14] Tuy nhiên, gà nội chưa được tập trung chọn lọc, bị pha tạp, nhiều các giống, dòng chưa được xác định rõ ràng, các công trình nghiên cứu còn ít ỏi Trong mấy năm gần đây nhà nước đã có chủ trương nghiên cứu và phát triển chăn nuôi các giống gà địa phương để bảo tồn quỹ gen vật nuôi và đảm bảo tính đã dạng trên toàn cầu
Để ngành chăn nuôi gia cầm của nước ta vừa phát triển nhanh chóng vừa bền vững, bên cạnh việc nhập khẩu các giống gia cầm công nghiệp năng suất cao, chúng
ta cần chú ý thống kê, khảo sát, bảo tồn và phát triển các giống gà địa phương của chính nước mình Vì những giống gà này có chất lượng thịt và trứng rất cao, thích
Trang 36nghi với điều kiện chăn nuôi địa phương Hơn nữa, nước ta lại được các nhà khoa học trên thế giới đánh giá là một trong những quê hương của các giốn gà nhà hiện nay trên thế giới Các giống gà địa phương là nguồn gen rất quý trong việc thực hiện các công thức lai kinh tế có hiệu quả cao trong thời gian gần đây và đồng thời chuẩn bị nguyên liệu di truyền cho việc tạo ra các giống gia cầm mang thương hiệu Việt Nam trong tương lai
Việc nghiên cứu xác định khả năng sinh sản cũng như đặc điểm ngoại hình
sẽ góp phần làm cơ sở trợ giúp cho công tác chọn giống, nâng cao năng suất, chất lượng của các giống gà nội của Việt Nam nhanh chóng và hiệu quả hơn
Chính vì nhận thức sâu sắc hiểm họa đang đến đối với các giống vật nuôi bản địa, từ năm 1989 đến nay, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường đã cho thực hiện
đề án Bảo tồn nguồn gen vật nuôi với nhiệm vụ:
- Thu thập các dữ liệu đánh giá hiện trạng các giống địa phương nuôi, phát hiện và gìn giữ các đặc điểm di truyền quý giá Đưa vào mạng máy tính các số liệu
và hình ảnh của các giống địa phương
- Phân loại mức độ, nguy cơ của một số giống vật nuôi, đặc biệt chú ý các giống có nguy cơ tuyệt chủng để có hành động bảo tồn kịp thời
- Đưa vào sử dụng các gen tốt, các đặc tính tốt phục vụ cho người tiêu dùng thông qua các chương trình giống quốc gia Đề nghị với nhà nước có chính sách bảo tồn nguồn gen vật nuôi Huy động sức dân ở những vùng có con giống tham gia đóng góp cho công tác này trên ý thức chăm lo kinh tế và văn hóa của địa phương
- Xuất bản các tư liệu, sách về kết quả nghiên cứu để trao đổi trong và ngoài nước
Từ năm 1990 đến nay, dự án đã được tiến hành trên phạm vi cả nước, với sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức Kết quả là nhiều giống có đặc điểm di truyền độc đáo đã được bảo tồn
Một thực trạng bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan và chủ quan trong công tác bảo tổn giống ở nước ta nói chung (bảo tồn quỹ gen gà địa phương nói riêng) là tình trạng “Xói mòn nguồn gen” - nguồn gen địa phương không bị tuyệt chủng mà bị lai tạp Lý do của vấn đề này là do: sự thiếu quan tâm của cơ quan chức năng do kinh phí hạn hẹp, người dân thì chưa ý thức được giá trị của giống địa phương cũng như sự thờ ơ do hiệu quả kinh tế thấp mà con giống mang lại
Như vậy nhìn chung công tác bảo tồn giống vật nuôi của nước ta cho thấy: Giống địa phương quý hiếm đang trong nguy cơ bị lai tạp hoặc tuyệt chủng trong khi đó các dự án lớn của Quốc gia phục vụ công tác bảo tồn giống không nhiều và rất nhiều khó khăn nảy sinh trong công tác bảo tồn Vì vậy, mỗi địa phương cần có
Trang 37chương trình hành động góp phần thu thập, bảo tồn và phát triển giống vật nuôi địa phương nói chung và giống gà địa phương nói riêng
1.2.3 Tình hình nghiên cứu về gà địa phương Lạc Thủy
Lạc Thủy là một huyện trung du ở phía đông nam tỉnh Hòa Bình, với diện tích tự nhiên 293 km2 (chiếm 6,3 % diện tích toàn tỉnh), địa hình đồi gò, lượn sóng Với đàn gia cầm có số lượng 315.326 con
Hiện nay chăn nuôi các giống gà nội đang ngày càng được chú trọng hơn Do thị hiếu và ẩm thực của người Việt Nam thích sử dụng các sản phẩm thịt và trứng gà nội hơn so với các giống nhập nội vì các sản phẩm này thơm ngon hơn, khối lượng vừa phải, rất thích hợp cho tiêu dùng gia đình Các giống
gà nội đều có phẩm chất thịt và trứng đậm đà, thơm ngon Từ trước tới nay người dân thường chăn nuôi theo hướng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người
sử dụng dựa trên yếu tố cảm quan, chưa có nhiều minh chứng mang tính khoa học về chất lượng các loại sản phẩm này
Do đặc điểm địa hình đa dạng và cộng với nhiều yếu tố khác, ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều giống động thực vật, trong đó kể cả các giống vật nuôi còn tiềm
ẩn trong trong sản xuất và đời sống dân cư Năm 2012 trong chuyến khảo sát điều tra nguồn gen còn tiềm ẩn tại một số tỉnh miền núi phía Bắc của Viện Chăn nuôi, đoàn công tác khi đến huyện Lạc Thủy của tỉnh Hòa Bình đã quan sát và ghi nhận được tại khu vực này có nhiều cá thể gà được các hộ gia đình nuôi thành đàn nhỏ quy mô từ vài chục đến vài trăm con và chúng có đặc điểm ngoại hình bên ngoài khá Nhận thấy rằng đây chính là một nguồn gen gà quý cần phải có những nghiên cứu sâu trước khi phổ biến vào sản xuất, do vậy việc triển khai nuôi bảo tồn và tiến hành đánh giá chi tiết đặc điểm sinh học cũng như khả năng sản xuất của giống gà này là điều cần phải làm ngay, nhằ
s
ng
Gà Lạc Thủy nguồn gen của nước ta, phân bố nhiều ở huyện Mỹ Đức - Hà Nôi, Huyện Lạc Thủy - Hòa Bình Quần thể gà phát triển rất rộng với quy mô trang trại và gia trại, có hộ gia đình nuôi tới 500 con còn trung bình nuôi từ 50 - 100 con Năm 2012 khi tiến hành chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi cho nông dân ở huyện Lạc Thủy - Hòa Bình, Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi - Viện Chăn nuôi Quốc gia đã nhận thấy đây là giống gà có năng suất chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện khí hậu và chăn nuôi của hầu hết các vùng của nước ta, nguồn gen quý này đã được các nhà khoa học của trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật
Trang 38nuôi chọn lọc, lưu giữ và nhân giống những con giống đạt tiêu chuẩn cung cấp cho
bà con chăn nuôi
Căn cứ vào Hợp đồng số 18/2013/HD - KHCN ngày 8/5/2013 của Sở Khoa học công nghệ tỉnh Hòa Bình với Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi về
việc nghiên cứu khoa học công nghệ thực hiện đề tài” Nghiên cứu nhân thuần, chọn
lọc và bảo tồn nguồn gen gà Lạc Thủy” gà bản địa Lạc Thủy đã được tìm kiếm và
đưa về Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi - Viện Chăn nuôi Quốc gia nuôi bảo tồn theo phương pháp Bảo tồn ngoại vi (Ex - situ conservation) với mục đích nghiên cứu đặc điểm ngoại hình, một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà địa phương Lạc Thủy Trong quá trình nuôi tại trung tâm Thực nghiệm
và Bảo tồn vật nuôi đàn gà địa phương Lạc Thủy đã được theo dõi và chăm sóc nuôi dưỡng theo đúng quy trình của trung tâm và đã có những kết quả ban đầu
Nghiên cứu các giống gà địa phương không những bảo tồn và mở rộng được phạm vi phân bố của mỗi giống mà còn cung cấp các số liệu cơ sở để so sánh với các giống nội khác Từ đó làm nền tảng cho nhiều hướng nghiên cứu khác, nhiều mục tiêu chăn nuôi được mở ra Nghiên cứu một số giống gà địa phương còn để đáp ứng nhu cầu thị trường hiện nay về sản phẩm các giống gà nội đang ngày một tăng, đóng góp cho sự phát triển kinh tế trong chăn nuôi gia cầm ở địa phương đó
Trang 39
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Gà địa phương Lạc Thủy nuôi tại Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn giống vật nuôi - Viện Chăn nuôi quốc gia - Từ Liêm - Hà Nội
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
- Đề tài được tiến hành tại trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi - Viện Chăn nuôi quốc gia - Từ Liêm - Hà Nội
-
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 10/2013 đến tháng 09/2014
2.3 Nội dung nghiên cứu
Lạc Thủy
- Đặc điểm ngoại hình của gà địa phương Lạc Thủy (mô tả và ảnh chụp gà con, gà dò, gà trưởng thành)
- Các chiều đo của cơ thể gà địa phương Lạc Thủy lúc 38 tuần tuổi
2.3.2 Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà địa phương Lạc Thủy
2.3.2.1 Nghiên cứu về gà thí nghiệm giai đoạn hậu bị 01 - 19 tuần tuổi
- Tỷ lệ nuôi sống của gà hậu bị qua các tuần tuổi
- Khối lượng cơ thể gà hậu bị qua các tuần tuổi
- thức ăn và tiêu tốn thức ăn của gà hậu bị
2.3.2.2 Nghiên cứu về gà thí nghiệm giai đoạn sinh sản 20 - 40 tuần tuổi
- Khối lượng cơ thể gà mái sinh sản qua các tuần tuổi
- Tuổi thành thục về tính 5 %), tuổi đẻ 25 %, 50 % và đỉnh cao
- Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng của gà địa phương Lạc Thuỷ
Trang 40- Khối lượng trứng và chất lượng trứng của gà địa phương Lạc Thuỷ
- Tỷ lệ trứng giống, trứng có phôi và kết quả ấp nở của gà địa phương Lạc Thuỷ
- Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng và 10 quả trứng giống và 1 gà con loại I (tính riêng giai đoạn đẻ)
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Đàn gà địa phương Lạc Thuỷ được nuôi nhốt trong chuồng hở, trên nền đệm lót, đảm bảo chế độ dinh dưỡng, chăm sóc, quy trình thú y phòng bệnh và chế độ chiếu sáng, theo tài liệu hướng dẫn của
- ăn nuôi và các quy định hiện hành
Để đánh giá khả năng sinh sản của đàn gà địa phương Lạc Thủy, thí nghiệm được bố trí như ở bảng 2.1 và 2.2
Bảng 2.1 Sơ đ bố trí nghiệm nuôi gà hậu bị
Diễn giải Gà hậu bị
Thời gian nuôi thí nghiệm (tuần) 1 - 19
Thức ăn Gà vườn hậu bị - GUYOMARC’H - VCN
Bảng 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm nuôi gà sinh sản
Diễn giải Gà sinh sản
Số lượng gà/đàn 50 mái - 8 trống
Phương thức nuôi Nhốt chuồng hở, nền đệm lót
Mật độ nuôi (con/m2) 4
Thời gian nuôi thí nghiệm (tuần) 20 - 40
Thức ăn Gà vườn sinh sản - GUYOMARC’H - VCN