1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và hiệu quả can thiệp dự phòng bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học người mông tỉnh yên bái

174 850 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 3,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này phù hợp với báo cáo chung hàng năm về nha học đường của các tỉnh những năm về trước, còn vài năm lại đây ý thức vệ sinh răng miệng của các em HS đã có nhiều cải thiện góp phần l

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

NGUYỄN NGỌC NGHĨA

THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP

DỰ PHÒNG BỆNH RĂNG MIỆNG Ở HỌC SINH TIỂU HỌC

NGƯỜI MÔNG TỈNH YÊN BÁI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

THÁI NGUYÊN, 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

NGUYỄN NGỌC NGHĨA

THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP

DỰ PHÕNG BỆNH RĂNG MIỆNG Ở HỌC SINH TIỂU HỌC

NGƯỜI MÔNG TỈNH YÊN BÁI

CHUYÊN NGÀNH: VỆ SINH XÃ HỘI HỌC VÀ TỔ CHỨC Y TẾ

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Trang 4

ii

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Quản lý đào tạo Sau Đại học trường Đại học Y Dược Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận án

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trịnh Đình Hải, cố PGS.TS Nguyễn Văn Tư, những người Thầy đã dành nhiều thời gian hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và định hướng cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu để hoàn thành Luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo, giảng viên, nhân viên khoa Y

tế Công cộng, bộ môn Dịch tễ học trường Đại học Y Dược đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc, các phòng chuyên môn của Sở

Y tế tỉnh Yên Bái, Ban lãnh đạo phòng Giáo dục và Đào tạo, trung tâm y tế huyện Trạm Tấu và Mù Cang Chải Ban Giám hiệu, giáo viên, nhân viên các trường tiểu học và trung học cơ sở Bản Công, Xà Hồ, Púng Luông, Nậm Có đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, những người bạn thân thiết đã luôn giúp đỡ, động viên, khích lệ, chia sẻ khó khăn trong thời gian tôi học tập và hoàn thành khóa học

Xin trân trọng cảm ơn !

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2014

Nguyễn Ngọc Nghĩa

Trang 5

KAP - Kiến thức, thái độ, thực hành

Trang 6

iv

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Một số khái niệm cơ bản về bệnh răng miệng 3

1.1.1 Khái niệm về bệnh răng miệng 3

1.1.2 Khái niệm về bệnh sâu răng 3

1.1.3 Khái niệm về bệnh viêm lợi 3

1.1.4 Bệnh căn, bệnh sinh của sâu răng 4

1.1.5 Đặc điểm răng ở trẻ em 7

1.1.6 Đặc điểm sâu răng ở trẻ em 8

1.2 Thực trạng bệnh răng miệng trên thế giới và Việt Nam 8

1.2.1 Nghiên cứu bệnh sâu răng trên thế giới 8

1.2.2 Nghiên cứu bệnh sâu răng ở Việt Nam 10

1.2.3 Nghiên cứu bệnh viêm lợi trên thế giới 13

1.2.4 Nghiên cứu bệnh viêm lợi ở Việt Nam 14

1.3 Thực trạng bệnh răng miệng của học sinh tiểu học ở Miền núi phía Bắc và tỉnh Yên Bái 16

1.3.1 Đối với bệnh sâu răng 16

1.3.2 Đối với bệnh viêm lợi 18

1.4 Một số yếu tố liên quan đến bệnh răng miệng ở học sinh 19

1.4.1 Không được chăm sóc y tế thường xuyên 19

1.4.2 Kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh của HS còn 20

1.4.3 Công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe chưa 21

1.4.4 Phong tục, tập quán về chăm sóc răng miệng của 22

1.5 Một số hoạt động can thiệp dự phòng nâng cao sức khỏe răng miệng cho học sinh tiểu học hiện nay 24

1.5.1 Giáo dục sức khoẻ răng miệng tại trường 24

1.5.2 Kết hợp chải răng với xúc miệng Fluor hàng tuần 25

1.5.3 Khám định kỳ phát hiện sớm bệnh răng miệng 27

Trang 7

v

1.5.4 Điều trị sớm bệnh răng miệng 28

1.5.5 Tăng cường truyền thông và hướng dẫn kiến thức phòng bệnh răng miệng cho học sinh và cộng đồng 30

1.6 Tóm tắt một số mô hình can thiệp phòng chống bệnh 32

1.6.1 Trên thế giới 32

1.6.2 Ở Việt Nam 33

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

2.1 Đối tượng nghiên cứu 38

2.1.1 Trong nghiên cứu định lượng 38

2.1.2 Trong nghiên cứu định tính 38

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ 38

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 38

2.2.1.Địa điểm nghiên cứu 38

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 38

2.3 Phương pháp nghiên cứu 38

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 39

2.3.2 Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu 40

2.3.2.2 Kỹ thuật chọn mẫu 41

2.4 Nội dung nghiên cứu 44

2.4.1 Đối với nghiên cứu mô tả 44

2.4.2 Đối với nghiên cứu can thiệp 44

2.5 Xây dựng mô hình can thiệp và các hoạt động triển khai 48

2.6 Các chỉ số nghiên cứu: 50

2.6.1 Các chỉ số cho mục tiêu 1 50

2.6.1.1 Nhóm chỉ số về các thông tin chung về đối tượng 50

2.6.1.2 Nhóm chỉ số về thực trạng bệnh răng miệng 50

2.6.2 Các chỉ số cho mục tiêu 2 50

2.6.3 Các chỉ số cho mục tiêu 3 51

2.7 Các tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá, xác định 52

Trang 8

vi

2.7.3 Cách đánh giá phân mức độ kiến thức, thái độ, thực hành trong chăm sóc

sức khỏe răng miệng học sinh 54

2.8 Đánh giá hiệu quả can thiệp 55

2.9 Đánh giá sự chấp nhận của cộng đồng đối với giải pháp can thiệp 55

2.10 Phương pháp khống chế sai số 57

2.11 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 57

2.12 Phương pháp xử lý số liệu: Xử lý số liệu bằng phương pháp 58

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 59

3.1 Thực trạng bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học người Mông 59

3.1.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 59

3.1.2 Thực trạng bệnh răng miệng của học sinh 61

3.2 Một số yếu tố liên quan đến bệnh răng miệng của HS tiểu học 73

3.2.1 Một số yếu tố liên quan đến BRM trong nghiên cứu 73

3.2.2 Một số yếu tố liên quan đến BRM trong nghiên cứu định tính 77

3.3 Hiệu quả can thiệp dự phòng BRM ở học sinh tiểu học 78

3.3.1 Kết quả thực hiện các hoạt động trong mô hình can thiệp 78

3.3.2 Hiệu quả của hoạt động can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe phòng bệnh răng miệng cho học sinh trong nghiên cứu định lượng 82

3.3.3 Hiệu quả của hoạt động can thiệp bằng truyền thông giáo dục 87

3.3.4 Kết quả của phương pháp tư vấn điều trị 88

3.3.5 Kết quả của phương pháp nâng cao năng lực quản lý trong chăm sóc 88

3.3.6 Hiệu quả phối hợp các biện pháp can thiệp đối với BRM của học sinh tiểu học trong nghiên cứu định lượng 89

3.3.7 Hiệu quả phối hợp các hoạt động can thiệp đối với BRM của học sinh tiểu học người Mông trong nghiên cứu định tính 96

Chương 4 BÀN LUẬN 98

4.1 Thực trạng về bệnh răng miệng của học sinh tiểu học người Mông 98

4.1.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 98

4.1.2 Thực trạng bệnh răng miệng của học sinh tiểu học 99

Trang 9

vii

4.2 Một số yếu tố liên quan đến bệnh răng miệng 108

4.2.1 Liên quan giữa KAP vệ sinh răng miệng của học sinh 108

4.3 Hiệu quả của hoạt động can thiệp dự phòng bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học người Mông tại hai huyện tỉnh Yên Bái 113

4.3.1 Hiệu quả của mô hình can thiệp 113

4.3.2 Hiệu quả của biện pháp truyền thông nâng cao KAP cho học sinh, 115

4.3.3 Hiệu quả phối hợp các biện pháp can thiệp đối với BRM 118

4.5 Một số hạn chế của quá trình can thiệp 124

KẾT LUẬN 126

1 Thực trạng bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học người Mông 126

2 Các yếu tố liên quan đến bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học 126

3 Hiệu quả của một số biện pháp can thiệp dự phòng bệnh răng miệng 126

3.1 Hiệu quả của mô hình huy động cộng đồng vào chăm sóc sức khỏe 126

3.2 Hiệu quả của truyền thông thay đổi KAP phòng bệnh răng miệng 127

3.3 Hiệu quả đối với bệnh sâu răng và bệnh quanh răng 127

3.3.1 Đối với bệnh sâu răng 127

3.3.2 Đối với bệnh quanh răng 127

KHUYẾN NGHỊ 128

CÁC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 129

TÀI LIỆU THAM KHẢO 130

Trang 10

viii

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Chỉ số SMTR của một số nước phát triển trên thế giới 9

Bảng 2.1 Phân loại BRM theo tổ chức Y tế thế giới -1998 53

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trường, tuổi 59

Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo lớp, giới 59

Bảng 3.3 Phân bố theo trình độ học vấn hiện tại của mẹ 60

Bảng 3.4 Tỷ lệ bệnh răng miệng theo trường 61

Bảng 3.5 Phân bố tỷ lệ bệnh răng miệng theo độ tuổi 62

Bảng 3.6 Phân bố tỷ lệ bệnh răng miệng theo giới 63

Bảng 3.7 Tỷ lệ bệnh sâu răng sữa theo trường 63

Bảng 3.8 Tỷ lệ bệnh sâu răng vĩnh viễn theo trường 64

Bảng 3.9 Chỉ số sâu, mất, trám và cơ cấu sâu, mất, trám răng sữa và răng vĩnh viễn của học sinh 64

Bảng 3.10 Cơ cấu sâu, mất, trám răng sữa và răng vĩnh viễn theo trường 65

Bảng 3.11 Chỉ số sâu mất trám răng sữa và răng vĩnh viễn theo trường 65

Bảng 3.12 Tình trạng sâu răng và chỉ số sâu- mất - trám/ người theo tuổi 66 Bảng 3.13 Sâu răng và chỉ số sâu- mất - trám/ người theo trường 66

Bảng 3.14 Các hình thái tổn thương ở răng 67

Bảng 3.15 Phân tích các biểu hiện quanh răng của học sinh theo tuổi 68

Bảng 3.16 Phân tích các biểu hiện quanh răng của học sinh theo trường 68

Bảng 3.17 Liên quan giữa kiến thức về bệnh răng miệng của học sinh với bệnh răng miệng 73

Bảng 3.18 Liên quan giữa thái độ của học sinh với bệnh răng miệng 73

Bảng 3.19 Liên quan giữa thực hành chải răng hàng ngày của học sinh 74

Bảng 3.20 Liên quan giữa chăm sóc y tế với BRM 74

Bảng 3.21 Liên quan giữa kiến thức của Phụ huynh học sinh 75

Bảng 3.22 Liên quan giữa thái độ của Phụ huynh học sinh với BRM 75

Bảng 3.23 Liên quan giữa hướng dẫn VSRM trên lớp với BRM 76

Trang 11

ix

Bảng 3.24 Liên quan giữa cao răng (mảng bám) với BRM 76

Bảng 3.25 Liên quan đến kinh tế gia đình của học sinh với BRM 77

Bảng 3.26 Đánh giá kết quả tập huấn cho cán bộ nhóm nòng cốt 79

Bảng 3.27 Kết quả hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe 81

Bảng 3.28 Kiến thức phòng BRM của học sinh trước và sau CT 82

Bảng 3.29 Thái độ phòng BRM của học sinh ở thời điểm trước và 83

Bảng 3.30 Thực hành phòng BRM của học sinh trước và sau can thiệp 84

Bảng 3.31 Thay đổi KAP trong phòng BRM của giáo viên trước và sau khi thực hiện các hoạt động can thiệp 85

Bảng 3.32 Hiệu quả can thiệp KAP phòng BRM đối với giáo viên 85

Bảng 3.33 Thay đổi KAP trong phòng BRM của phụ huynh học sinh trước và sau khi thực hiện các hoạt động can thiệp 86

Bảng 3.34 Hiệu quả can thiệp KAP phòng BRM đối với phụ huynh 87

Bảng 3.35 Tỷ lệ sâu răng sữa, răng vĩnh viễn trước- sau can thiêp 89

Bảng 3.36 CSHQ và HQCT đối với sâu răng sữa và răng vĩnh viễn 90

Bảng 3.37 Chỉ số sâu-mất-trám răng sữa trước- sau can thiệp giữa nhóm nghiên cứu và nhóm chứng theo trường 90

Bảng 3.38 Chỉ số sâu-mất-trám răng vĩnh viễn trước- sau can thiệp giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng theo trường 91

Bảng 3.39 CSHQ và HQCT đối với chỉ số sâu - mất - trám răng sữa 92

Bảng 3.40 So sánh tỷ lệ bệnh quanh răng giữa 2 nhóm trước can thiệp 92

Bảng 3.41: So sánh tỷ lệ bệnh quanh răng giữa hai nhóm sau can thiệp 93

Bảng 3.42: So sánh tỷ lệ bệnh quanh răng giữa hai nhóm 93

Bảng 3.43 CSHQ và hiệu quả can thiệp đối với bệnh quanh răng 94

Bảng 3.44 So sánh tỷ lệ viêm lợi giữa hai nhóm trước can thiệp 94

Bảng 3.45 So sánh tỷ lệ viêm lợi giữa hai nhóm sau can thiệp 95

Bảng 3.46 So sánh tỷ lệ viêm lợi giữa hai nhóm trước và sau can thiệp 95

Bảng 3.47 CSHQ và hiệu quả can thiệp phòng bệnh viêm lợi 96

Bảng 4.1 So sánh hiệu quả can thiệp bệnh quanh răng với 121

Trang 12

x

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Phân bố theo nghề nghiệp hiện tại của mẹ học sinh 60

Biểu đồ 3.2 Phân loại thành phần kinh tế của các hgia đình 61

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ bệnh sâu răng, viêm lợi theo trường 62

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ bệnh quanh răng của học sinh theo địa điểm 67

Trang 13

xi

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ can thiệp so sánh trước sau có đối chứng 39

Sơ đồ 2.2 Sơ đồ mô hình huy động nguồn lực cộng đồng tham gia vào hoạt động can thiệp dự phòng bệnh răng miệng cho học sinh 48

Trang 14

xii

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ Keyes 4

Hình 1.2 Sơ đồ White 5

Hình 1.3 Sơ đồ nguyên nhân và các yếu tố liên quan đến sâu răng 6

Hình 1.4 Sơ đồ cấu tạo răng 7

Hình 1.5 Bản đồ hành chính tỉnh Yên Bái 37

Trang 15

xiii

DANH MỤC HỘP KẾT QUẢ ĐỊNH TÍNH

Hộp 3.1 Ý kiến về tình hình mắc BRM ở học sinh 69

Hộp 3.2 Ý kiến đại diện của giáo viên nhà trường 70

Hộp 3.3 Ý kiến đại diện của lãnh đạo UBND xã 70

Hộp 3.4 Ý kiến đại diện cán bộ y tế xã 71

Hộp 3.5 Ý kiến đại diện phụ huynh học sinh 71

Hộp 3.6 Ý kiến về công tác tổ chức của mô hình can thiệp 96

Hộp 3.7 Ý kiến về thực hiện hoạt động chuyên môn 97

Hộp 3.8 Ý kiến của trung tâm Y tế 97

Hộp 3.9 Ý kiến về sự phối hợp thực hiện mô hình 97

Trang 16

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh răng miệng (BRM) là bệnh phổ biến, gặp khoảng 80 % dân số trên thế giới, ở mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp xã hội BRM hay gặp nhất là bệnh sâu răng và viêm lợi, bệnh mắc rất sớm, ngay từ khi trẻ bắt đầu mọc răng, nếu không được khám phát hiện và điều trị kịp thời bệnh sẽ tiến triển gây biến chứng tại chỗ và toàn thân, ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực, sức khoẻ và thẩm mỹ của trẻ sau này [2], [13], [43] Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) hiện nay có khoảng 5 tỷ người trên thế giới mắc bệnh răng miệng, tập trung chủ yếu tại các nước Châu Á và Châu Mỹ La Tinh, ở các nước phát triển cũng không thua kém với 60-90 % trẻ em trong độ tuổi đi học mắc bệnh [56] Bệnh sâu răng đang là vấn đề được Chính phủ các nước trên thế giới quan tâm đưa ra nhiều biện pháp để giải quyết [28], [31], [45] BRM là nguyên nhân gây mất răng, giảm hoặc mất sức nhai ở người trưởng thành cũng như trẻ em, gây ra những khó chịu đến ăn uống, nói, và nhiều biến chứng ảnh hưởng đến sức khỏe học sinh

Ở Việt Nam, tình trạng sâu răng và viêm lợi còn ở mức cao trên 70 % dân số và có chiều hướng gia tăng vào những năm gần đây, nhất là ở những nơi chưa thực hiện tốt chương trình Nha học đường như ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người [24], [25], [26], [28]

Theo điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc năm 2000 thì tỷ lệ sâu răng sữa là 84,9 %, tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở trẻ từ 6-8 tuổi là 25,4 %, tỷ lệ này gia tăng theo tuổi và lên tới 69 % ở lứa tuổi 15-17 Tỉ lệ bệnh viêm lợi là

45 % và thấy rằng nhu cầu điều trị BRM lớn và cấp bách [49], [51]

Phòng bệnh răng miệng bằng các biện pháp dự phòng là quá trình tương đối đơn giản, không phức tạp, chi phí thấp, dễ thực hiện tại cộng đồng, đặc biệt tại các trường học đã đem lại hiệu quả cao Do đó phòng bệnh răng miệng sớm ngay ở lứa tuổi học sinh khi mới cắp sách đến trường là chiến lược khả thi nhất đã được WHO khuyến cáo triển khai nhằm nâng cao sức khỏe học đường [48], [55], [56]

Các nghiên cứu can thiệp đều cho thấy nếu làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe thì tỷ lệ bệnh răng miệng sẽ giảm Việc đẩy mạnh các hoạt

Trang 17

và huyện Trạm Tấu Tại hai huyện này, tỷ lệ người dân tộc Mông tập trung sinh sống trên 95 %, chiếm khoảng 80 % người Mông trong toàn tỉnh [40] Nơi đây còn tồn tại nhiều phong tục tập quán lạc hậu cũng như sự hiểu biết của người Mông về sức khoẻ còn thấp đặc biệt là công tác chăm sóc sức khoẻ răng miệng cho học sinh chưa được triển khai đến các trường học, cộng động

và người dân Tỷ lệ bệnh răng miệng của học sinh tiểu học người Mông cao trên 70 % [28] Trong những năm qua, Yên Bái chưa có giải pháp, mô hình cụ thể nào để làm giảm tỷ lệ bệnh răng miệng này xuống một cách bền vững Câu hỏi nghiên cứu ở đây là thực trạng BRM hiện nay và những biện pháp can thiệp nào để tăng cường sức khỏe răng miệng cho học sinh tiểu học người Mông tại tỉnh Yên Bái

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Thực trạng và hiệu quả can thiệp

dự phòng bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học người Mông tỉnh Yên Bái", với

Trang 18

3

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Một số khái niệm cơ bản về bệnh răng miệng

1.1.1 Khái niệm về bệnh răng miệng

Bệnh răng miệng là bệnh tổn thương cả phần tổ chức cứng của răng (sâu răng) và các tổ chức quanh răng như viêm lợi, chảy máu lợi Bệnh răng miệng mắc rất sớm từ khi trẻ sinh ra nếu không được vệ sinh sạch sẽ bệnh có thể tiến triển nặng hơn và gây ra các biến chứng ảnh hưởng đến sức khỏe, thẩm mỹ và học tập của trẻ sau này

1.1.2 Khái niệm về bệnh sâu răng

Sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn tổ chức canxi hoá được đặc trưng bởi sự huỷ khoáng của thành phần vô cơ và sự phá huỷ thành phần hữu cơ của

mô cứng Tổn thương là quá trình phức tạp bao gồm các phản ứng hoá lý liên quan đến sự di chuyển các Ion bề mặt giữa răng và môi trường miệng và là quá trình sinh học giữa các vi khuẩn mảng bám với cơ chế bảo vệ của vật chủ

Sâu răng làm tổn thương, tiêu huỷ tổ chức cứng của răng (bao gồm men răng và ngà răng là tổ chức không có tế bào), tạo nên lỗ hổng trên thân răng Sâu răng có thể ở bề mặt thân răng hoặc cổ răng, tổn thương sâu trên thân răng bắt đầu từ men răng, còn tổn thương trên cổ răng bắt đầu từ men răng hoặc ngà cổ răng Bệnh không tự khỏi Sâu răng là bệnh rất phổ biến, có thể gặp ở mọi lứa tuổi [18], [30]

1.1.3 Khái niệm về bệnh viêm lợi

- Viêm lợi là tổn thương các tổ chức phần mền xung quanh răng Viêm

lợi xuất hiện sớm hơn sâu răng, chỉ sau 7 ngày có mảng bám vi khuẩn mà không được lấy đi và chỉ tổn thương duy nhất ở tổ chức lợi Ở thời kỳ này, bệnh vẫn còn có thể phục hồi, nhưng nếu không điều trị sẽ dẫn đến tình trạng nặng hơn Sự kích thích vi khuẩn ở mảng bám răng là nguyên nhân gây ra viêm lợi Khi lợi viêm, sẽ có biến đổi giải phẫu như bờ viền lợi tròn, tấy đỏ và phù nề, mềm Nhóm vi khuẩn thường kết hợp với viêm lợi là xoắn khuẩn Actinomyces (Gram dương, hình sợi) và Eikenella (Gram âm, hình que) [6]

Trang 19

4

- Viêm lợi hoại tử loét cấp tính đặc trưng bởi sự hoại tử của gai lợi, chảy máu tự phát, có mùi hôi Người ta cho rằng đây là bệnh có liên quan đến stress Bệnh này thường có tỷ lệ thấp ở các nước phát triển và cao hơn ở các nước chậm phát triển và trẻ em đói, nghèo

- Viêm quanh răng là thời kỳ tiến triển nặng hơn của bệnh quanh răng: viêm lợi, viêm xương và các tổ chức khác giữ răng sẽ bị phá huỷ Răng có thể

bị rụng hoặc lung lay hoặc thay đổi vị trí hoặc răng có thể bị mất do sâu Ở thời kỳ này đòi hỏi những sự điều trị kết hợp với giữ cho khỏi mất răng [6]

1.1.4 Bệnh căn, bệnh sinh của sâu răng

Sâu răng được coi là một tổn thương không thể hồi phục, và khi giải thích bệnh căn của sâu răng người ta dùng sơ đồ Keys, chú ý nhiều tới chất đường và vi khuẩn Streptococcus mutans, nên việc phòng bệnh sâu răng tập trung chủ yếu vào chế độ ăn hạn chế đường, vệ sinh răng miệng kỹ nhưng hiệu quả phòng sâu răng vẫn hạn chế

Hình 1.1 Sơ đồ Keyes [6], [30]

- Sau năm 1975: Sâu răng được coi là một bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra, có thể chia làm 2 nhóm: nhóm chính và nhóm phụ

Nhóm chính: có 3 yếu tố phải đồng thời cùng xảy ra

* Vi khuẩn: thường xuyên có trong miệng, trong đó Streptococcus mutans là thủ phạm chính

Răng

Sâu răng

Trang 20

5

* Chất bột và đường dính vào răng sau ăn sẽ lên men và biến thành acide do tác động của vi khuẩn

* Răng có khả năng bị sâu nằm trong môi trường miệng

Ở đây người ta thấy men răng giữ một vai trò quan trọng để chống lại các yếu tố gây sâu răng

Nhóm phụ: vai trò của nước bọt, di truyền, đặc tính sinh hoá của

răng…Nhóm này tác động làm tăng hay giảm nguy cơ sâu răng

* Vai trò của vi khuẩn và mảng bám răng (cao răng):

Cũng từ sau năm 1975, White đã thay thế vòng tròn chất đường của sơ

đồ Keyes bằng vòng tròn chất nền, nhấn mạnh vai trò của nước bọt, pH của dòng chảy môi trường quanh răng và vai trò của Fluor

Hình 1.2 Sơ đồ White [6], [18]

Mảng bám răng là một màng mỏng bám trên bề mặt răng có chứa nhiều

vi khuẩn nằm trên khung vô định hình từ mucoid nước bọt và polysaccharide (glucan) của vi khuẩn ngoài bào Các chất đường từ thức ăn sẽ nhanh chóng khuyếch tán vào mảng bám, được vi khuẩn chuyển hoá thành acid (chủ yếu là acid lactic, ngoài ra còn có acid acetic và acid propionic) Các acid sinh ra từ các chất có trên mảng bám răng có vai trò quan trọng trong việc gây bệnh sâu răng Bệnh sâu răng chỉ diễn ra khi cả 3 yếu tố trên cùng tồn tại (Vi khuẩn,

Trang 21

Nguyên nhân và các yếu tố liên quan đến sâu răng được giải thích theo

Trang 22

7

xuất hiện của đường, pH ở mảng bám răng, thói quen nhai kẹo cao su, sử dụng các biện pháp bổ sung Fluor, trám bít hố rãnh phòng ngừa sâu răng, kháng khuẩn Một số yếu tố về nhân chủng cũng ảnh hưởng đến sâu răng như nhân chủng – xã hội học, thu nhập, bảo hiểm nha khoa, kiến thức, thái độ, hiểu biết về sức khỏe răng miệng, các hành vi liên quan đến sức khỏe răng miệng, trình độ học vấn và địa vị xã hội

1.1.5 Đặc điểm răng ở trẻ em

Việc chưa hoàn thiện cấu trúc răng ở trẻ em đã tác động không nhỏ tới

sự phát triển bệnh sâu răng và làm tăng các biến chứng của nó Các răng vĩnh viễn thường phải sau 2 năm mới ngấm vôi xong hoàn toàn Vì thế, tổn thương sâu răng ở trẻ thường tiến triển nhanh hơn so với người trưởng thành Chân răng chưa hình thành và vùng cuống chưa được đóng kín tạo điều kiện cho vi khuẩn dễ thâm nhập sâu hơn vào tổ chức quanh răng, gây ra những biến chứng ảnh hưởng tại chỗ cũng như toàn thân ở trẻ: viêm lợi, viêm tủy, viêm quanh cuống, viêm mô tế bào,… khiến cho trẻ đau đớn, khó chịu, khó tập trung vào học tập [6], [14]

Hình 1.4 Sơ đồ cấu tạo răng [6]

Trang 23

8

1.1.6 Đặc điểm sâu răng ở trẻ em

Sâu răng là một bệnh phổ biến và thường mắc từ giai đoạn đầu sau khi răng mọc ở trẻ em Tổ chức cứng của răng bị phá hủy tạo thành lỗ sâu trên răng Sâu răng ở trẻ em được chia ra thành 2 dạng, đó là sâu răng sữa và sâu răng vĩnh viễn Sâu răng là bệnh tổn thương không hồi phục do đó nếu sâu răng mà không được chữa trị triệt để và dự phòng kịp thời, đúng cách thì tỷ lệ răng sâu sẽ lũy tích ngày càng cao, sự hủy khoáng ngày càng nhiều, răng nhanh chóng bị phá hủy từ lớp men răng đến tủy răng [6], [8], [16]

Việc chữa răng sâu là khá tốn kém nhưng cũng không thể nào phục hồi được như trước đối với tổ chức cứng của răng Sâu răng nếu không chữa trị kịp thời sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và có thể còn gây ra những biến chứng nguy hiểm như viêm tủy răng, viêm quanh cuống, nhiễm trùng máu, mất răng

Nhìn chung về tình hình sâu răng trong giai đoạn những năm 1960 đến

1970 ở tất cả các nước trên thế giới đều khá nghiêm trọng Hầu hết các nước

có chỉ số sâu mất trám răng sữa (smtr) ở mức cao, từ 7,4 đến 12,0 Đến những năm 1980, thì chỉ số smtr này ở đa số các nước trên thế giới đã giảm xuống đáng kể Theo số liệu điều tra của Tổ chức Y tế thế giới năm 2005, chỉ số SMTR răng vĩnh viễn của trẻ 10-12 tuổi trung bình là 3,4 [13], [16], [48]

1.2 Thực trạng bệnh răng miệng trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Nghiên cứu bệnh sâu răng trên thế giới

Ở các nước có nền kinh tế phát triển như Anh, Pháp, các nước Bắc Âu… bệnh sâu răng giảm đi rõ rệt do các nước này đã triển khai rộng rãi các chương trình can thiệp với các biện pháp phòng bệnh hữu hiệu tại các trường học và cộng đồng Trong đó việc sử dụng hiệu quả Fluor đóng vai trò quan trọng vào thành công này, đồng thời phát triển mạnh hệ thống dịch vụ chăm sóc răng miệng, dịch vụ nha khoa, các phòng khám răng, điều trị từ thành thị đến vùng nông thôn bên cạnh đó là hệ thống truyền thông, tư vấn thường xuyên đến cộng đồng do đó đã tác động mạnh đến nhận thức của người dân

Trang 24

9

trong việc phòng bệnh răng miệng cho trẻ em [65], [66], [68] Tại Thụy Sỹ tỷ

lệ sâu răng ở học sinh 7-9 tuổi chiếm 27,5 % (2004), chỉ số sâu mất trám răng vĩnh viễn chiếm 0,86 % Tại Phần Lan (2003) tỷ lệ sâu răng ở trẻ em cấp tiểu học là 36,2 %, chỉ số SMTR là 1,0 [110], [111] Chỉ số SMTR đối với răng vĩnh viễn ở trẻ 10-12 tuổi tại một số nước phát triển cụ thể như trong bảng sau:

Bảng 1.1 Chỉ số SMTR của một số nước phát triển trên thế giới [96],

Trang 25

10

Tình trạng sâu răng và chỉ số SMTR ở trẻ em còn khá cao và có chiều hướng gia tăng ở hầu hết các nước có nền kinh tế đang phát triển trên toàn thế giới Theo kết quả nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới tại các nước trong khu vực Đông Nam Á: tại Thái Lan, trẻ em 6-7 tuổi có tỷ lệ sâu răng vào khoảng 96,3 %, smtr răng sữa trung bình là 8,1; còn với những trẻ 10-12 tuổi, tỷ lệ sâu răng vào khoảng 70 % và SMTR răng vĩnh viễn trung bình là 2,3 [103], [110]

Tại Phillipin (2008), tỷ lệ sâu răng của trẻ 6-8 tuổi là 72,0 % và smtr răng sữa trung bình là 7,1 Tỷ lệ này tương đối cao do Chính quyền địa phương cũng như ngành y tế chưa quan tâm, hệ thống chăm sóc sức khỏe răng miệng chưa được đầu tư và phát triển

Tỷ lệ sâu răng ở các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản đang có xu hướng giảm dần do công tác dự phòng các bệnh răng miệng đang được triển khai rộng rãi và hiệu quả Đặc biệt là có sự đầu tư của nhà nước để xây dựng các chương trình, dự án hỗ trợ và chăm sóc răng miệng tại cộng đồng, nhất là các trường học từ tiểu học trở lên Theo thống kê năm 2010 về tỷ lệ mắc bệnh sâu răng ở hai nước này tương đối thấp ở trẻ 7-9 tuổi chiếm 37,1 %, chỉ số SMTR

là 1,2 [104] Trái lại, ở Trung Quốc tình trạng sâu răng trẻ em lại có xu hướng gia tăng do chế độ ăn uống có tỷ lệ đường cao tuy nhiên tỷ lệ sâu răng vẫn ở mức thấp 65 % [100], [101], [104], [112]

1.2.2 Nghiên cứu bệnh sâu răng ở Việt Nam

Năm 2001, Trần Văn Trường và Trịnh Đình Hải thông báo tình trạng sâu răng trẻ em theo kết quả cuộc điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc được thực hiện từ năm 1999-2001: tỷ lệ sâu răng ở trẻ 9-11 tuổi là 56,3 % (với răng sữa), 54,6 % (với răng vĩnh viễn) và chỉ số SMTR là 1,96 (với răng sữa), 1,19 (với răng vĩnh viễn) [49] Tỷ lệ sâu răng ở trẻ 6-8 tuổi là khá cao,

cụ thể như sau: tỷ lệ sâu răng là 84,9 % (với răng sữa), 56,3 % (với răng vĩnh viễn) và chỉ số SMTR răng vĩnh viễn là 5,4; smtr răng sữa là 12,9 Kết quả cho thấy, tình trạng sâu răng vĩnh viễn ở trẻ em Việt Nam có xu hướng gia

Trang 26

Theo nghiên cứu của Viện Răng Hàm mặt năm 2000, tại Hà Nội tỷ lệ sâu răng của trẻ em lứa tuổi 6-12 tuổi là 57,02 % Trẻ 6 tuổi có tỷ lệ sâu răng

là 64,95 % (với răng sữa); chỉ số SMTR răng vĩnh viễn là 5,4 [12], [16]

Năm 2000, Viện RHM Hà Nội và Viện RHM Thành phố Hồ Chí Minh

đã tiến hành điều tra sức khỏe răng miệng ở Việt Nam và thấy tỷ lệ sâu răng ở lứa tuổi 10-12 là 55,69 %, tuổi 15 là 60,33 %, tỉ lệ bệnh viêm quanh răng còn cao hơn và thấy rằng nhu cầu điều trị bệnh răng miệng rất lớn và cấp bách đặc biệt đối với học sinh ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa [17], [28]

Năm 2001, Viện Răng hàm mặt Hà Nội phối hợp với trường đại học Nha khoa Adelaide (Australia) tổ chức điều tra sức khoẻ răng miệng qui mô toàn quốc và cho kết quá 84,9 % trẻ em 6-8 tuổi sâu răng sữa, chỉ số smtr răng sữa là 4,6, 64,1 % trẻ em 12- 14 tuổi sâu răng vĩnh viễn và 78,55 % có cao răng, SMTR răng vĩnh viễn là 3,2 [16], [17]

Năm 2007, Đào Thị Dung đã thực hiện một nghiên cứu tại các trường tiểu học của quận Đống Đa, Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ sâu răng sữa là khá cao (63,19 %), chỉ số SMTR là 3,75 Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn

là 20,3 %, chỉ số SMTR là 0,42 Điều này cho thấy, tỷ lệ sâu răng của học sinh không có chiều hướng giảm [13] Qua các nghiên cứu cho chúng ta biết nhu cầu điều trị cho các em học sinh về bệnh răng miệng rất lớn để đảm bảo học tập cũng như sức khoẻ của học sinh Chỉ số SMTR răng vĩnh viễn trong

Trang 27

12

các nghiên cứu này tương đối cao trên 3,0, vì bản thân các em học sinh ở các khu vực chưa có ý thức giữ gìn và vệ sinh răng miệng tốt nên chỉ số răng sâu, mất, trám đối với răng vĩnh viễn cao, tương đương với điều tra bệnh răng miệng toàn quốc năm 2001, chỉ số SMTR răng vĩnh viễn là 2,9 Chỉ số điều trị (hàn răng sâu) thấp 0,02 Nghiên cứu của Ngô Đồng Khanh, Vũ Thị Kiều Diễm và cộng sự điều tra kiến thức, thái độ, thực hành của người dân tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2000 cho biết có 70,8 % người chưa bao giờ đi đến phòng răng, dù có bệnh về răng Nông thôn 72 % người dân không biết dùng bàn chải đánh răng [27] Điều này phù hợp với báo cáo chung hàng năm

về nha học đường của các tỉnh những năm về trước, còn vài năm lại đây ý thức vệ sinh răng miệng của các em HS đã có nhiều cải thiện góp phần làm giảm tỷ lệ mắc bệnh sâu răng xuống, xong ở vùng cao, vùng dân tộc ít người vẫn còn rất hạn chế Theo Đào Thị Ngọc nghiên cứu về bệnh răng miệng của học sinh các dân tộc tỉnh Yên Bái năm 2002 thì tỷ lệ bệnh sâu răng và viêm lợi ở học sinh người dân tộc thiểu số như người Mông, Dao, chiếm tỷ lệ cao 75-80 % đối với bệnh sâu răng, 61,5 % đối với bệnh viêm lợi [28]

Việt Nam là 1 trong 20 quốc gia có tỷ lệ mảng bám răng cao nhất thế giới Theo nghiên cứu của Nguyễn Cẩn, Ngô Đồng Khanh cho rằng 78 % - 96

% người có độ tuổi 11 - 15 có mảng bám răng [27] Tỷ lệ bệnh nha chu ở Việt Nam cao, Tỷ lệ bệnh sâu răng và số trung bình răng sâu mất trám (SMTR) gia tăng theo tuổi SMTR ở trẻ 11-12 tuổi là 1,2 ở các tỉnh thành phía Bắc và 2,9

ở các tỉnh thành phía Nam Mức độ trầm trọng sâu răng ở miền Nam cao gấp

2 lần miền Bắc ở các nhóm tuổi Tỷ lệ hiện mắc và mức độ trầm trọng bệnh sâu răng gia tăng ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa Theo báo cáo của Ngô Đồng Khanh, Nguyễn Hồng Lợi, Nguyễn Văn Minh tại Hội nghị Nha học đường châu Á năm 2011 thì thực trạng bệnh răng miệng của học sinh tại các trường phổ thông từ năm 2000 đến nay Việt Nam đã triển khai nhiều hoạt động và đưa các nội dung của chương trình Nha học đường vào chăm sóc sức khỏe răng miệng cho trẻ em và thực trạng đã được cải thiện, chỉ số sâu mất trám răng vĩnh viễn của trẻ em từ 8-12 tuổi giảm từ 2,8 (2000) xuống dưới 2 (2011) [81], [82] Theo Trần Văn Trường (2004), tại hội nghị tổng kết Răng hàm mặt năm 2004 cho biết trẻ em 6-8 tuổi có 5,4 cái răng bị sâu, tuổi

Trang 28

13

càng thì tỷ lệ sâu răng càng tăng lên Tỷ lệ sâu mất trám răng sữa và răng vĩnh viễn ở các tỉnh còn ở mức trung bình và cao [47] So với các nước trong khu vực như Trung Quốc chỉ số SMTR lứa tuổi 10-12 ở mức trung bình từ 0,7 đến 5,5, ở Thái Lan là 2,4, ở Campuchia là 4,9, ở Philippin là 5,5, Việt Nam là 0,8 [47], [70]

1.2.3 Nghiên cứu bệnh viêm lợi trên thế giới

Theo nghiên cứu của các tác giả ở các nước thuộc châu Âu, châu Mỹ, châu Á đều cho thấy tỷ lệ trẻ em bị bệnh sâu răng và viêm quanh răng cao ở mức trên 90 % Trẻ em bệnh quanh răng có tỷ lệ mắc cao, có nhiều nơi trên

90 % trẻ em mắc bệnh này Tuy nhiên bệnh quanh răng ở trẻ em thường được biểu hiện là viêm lợi, tỷ lệ viêm lợi khác nhau theo tuổi [86],[87], [102]

Theo WHO, năm 1978 bình quân trên thế giới có 80 % trẻ em dưới 12 tuổi và 100 % trẻ em 14 tuổi bị viêm lợi mãn Từ năm 1981-1983 chỉ số CPITN

ở tuổi 15 dao động từ 3,0 - 4,0 Một số nghiên cứu trẻ em 10-12 tuổi ở Anh thấy

có mối liên hệ rõ rệt giữa chỉ số mảng bám với chỉ số viêm lợi, đồng thời thấy toàn bộ số trẻ em được khám có viêm lợi và một vài chỗ chảy máu lợi khi thăm khám Ở Đức năm 1992 tỷ lệ viêm lợi ở lứa tuổi 11 là 88,3 % [110], [111]

Tại các nước tiên tiến thì tỷ lệ mắc bệnh viêm lợi ở trẻ em rất cao: Năm

1991 tại Phần Lan viêm lợi ở trẻ em là: Trẻ em 7 tuổi: 85 %, trẻ em 12 tuổi:

77 % Năm 2007 trẻ em bị viêm lợi ở Ấn Độ là 65 %, Nigeria: 55 %, Mỹ: 51

%, Phần Lan: 56 %, Thụy Sỹ: 61 % [25], [83], [84]

Theo WHO năm 1997, các nước trong khu vực có trên 80 % dân số

bị sâu răng và viêm lợi Theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả nước ngoài, tỷ lệ trẻ em bị viêm lợi ở hầu hết các nước trên thế giới đều cao, có những quốc gia tỷ lệ này lên tới trên 90,0 % [16]

Kết quả một số nghiên cứu của Mỹ và Anh cho thấy trẻ em dưới 5 tuổi không có viêm lợi Năm 1978, Tổ chức Y tế thế giới thông báo có 80,0 % số trẻ em dưới 12 tuổi và 100 % trẻ 14 tuổi có viêm lợi mạn tính Sau 14 tuổi mức độ viêm giảm dần và có sự khác nhau giữa nam và nữ [26], [34]

Trang 29

14

Năm 1983, Spencer nghiên cứu 128 trẻ 5-6 tuổi tại Australia thấy lợi quanh răng sữa chỉ có viêm nhẹ, ít có viêm nặng và ít có mối liên quan giữa tình trạng vệ sinh răng miệng với mức độ nặng của viêm lợi [88]

Song song với bệnh sâu răng thì tỷ lệ viêm lợi cũng chiếm tỷ lệ cao trong lứa tuổi học đường Tại Thái Lan tỷ lệ viêm lợi ở trẻ em từ 6-10 tuổi chiếm 39,4 % (2011) Những em học sinh mắc bệnh sâu răng đều kéo theo có viêm lợi hoặc những em có nhiều mảng bám răng thì cũng là nguyên nhân gây viêm lợi thậm chí có chảy máu lợi [90], [92] Ở Srilanka tỷ lệ viêm lợi ở học sinh tiểu học chiếm khá cao 56,8 % (2011) [115] Tại Hàn Quốc, tỷ lệ viêm lợi ở học sinh tương đối thấp 27,5 %, do hệ thống dịch vụ chăm sóc răng cho cộng đồng tốt, người dân có khả năng tự phòng bệnh và hỗ trợ vệ sinh răng miệng cho trẻ em tại nhà Hệ thống chăm sóc răng miệng được phát triển ngay tại các trường học đồng thời nhà trường phối hợp với các bệnh viện để

tổ chức tốt các đợt khám và điều trị răng miệng cho học sinh [98]

1.2.4 Nghiên cứu bệnh viêm lợi ở Việt Nam

Theo kết quả điều tra của viện Răng Hàm Mặt Hà Nội phối hợp với trường đại học Nha khoa Adelaide (Australia) năm 2006 [63] cho thấy: Tỷ lệ bệnh viêm lợi theo lứa tuổi, cụ thể như sau: Trẻ 6-8 tuổi: 50,5 %, Trẻ 9-11 tuổi: 81,7 %, trẻ 12-14 tuổi: 90,9 % Tỷ lệ chảy máu lợi theo lứa tuổi, cụ thể như sau: Trẻ 6-8 tuổi: 42,7 %, trẻ 9-11 tuổi: 69,2 %, trẻ 12-14 tuổi: 72,4 % [21]

Bệnh viêm lợi do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra; cụ thể như thiếu sinh tố, sang chấn khớp cắn, vi khuẩn và vệ sinh răng miệng kém Trong

đó, nguyên nhân chính là do vi khuẩn và vệ sinh răng miệng kém Những yếu

tố này sẽ tạo nên mảng bám và là nguyên nhân chính gây ra viêm lợi

Mảng bám được hình thành do các chất từ thức ăn, các men của vi khuẩn như Carbohydraze, Neuraminidaze tác động lên acid Syalic của Mucin nước bọt lắng đọng hình thành mảng kết tủa bám vào răng Lúc đầu những mảng bám là vô khuẩn vì chưa có vi khuẩn Khi đã hình thành trên mặt răng, mảng này tạo thành chất tựa hữu cơ cho vi khuẩn thâm nhập Các vi khuẩn sẽ định cư và phát triển hình thành mảng bám răng hay mảng vi khuẩn Mảng bám răng hình thành và phát triển đòi hỏi một môi trường sinh lý thích hợp,

Trang 30

Mảng bám bám chắc vào răng, không bị bong ra do xúc miệng hoặc chải răng qua loa Có thể loại trừ mảng bám bằng việc chải răng đúng kĩ thuật, hạn chế ăn đường và vệ sinh răng miệng sau khi ăn hoặc dùng biện pháp hóa học

Các yếu tố nguy cơ gây viêm lợi bao gồm: các yếu tố tại chỗ và toàn thân ảnh hưởng đến việc tích tụ mảng bám răng hoặc làm biến đổi phản ứng đáp ứng của tổ chức quanh răng đối với mảng bám răng [6]

Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước còn cho thấy các yếu tố có thể làm tăng khả năng viêm lợi sau đây: di truyền, những người mẫn cảm với bệnh thường có cơ địa di truyền, nghĩa là trong gia đình có bố hay mẹ bị viêm lợi thì các con của họ cũng dễ bị viêm lợi Theo Trịnh Đình Hải báo cáo tại Hội nghị Nha khoa Châu Á Thái Bình Dương năm 2011 thì tỷ lệ viêm lợi chung ở Việt Nam là 30 %, qua thực hiện các nội dung của chương trình Nha học đường thì tỷ lệ viêm lợi đã có nhiều thay đổi, giảm tỷ lệ viêm lợi từ 60 % (2000) xuống còn 30 % (2011) Tuy nhiên cũng có những địa bàn mà tỷ lệ viêm lợi thấp hơn như ở Hải Dương là 19,28 % Theo báo cáo công tác y tế trường học tại tỉnh Yên Bái năm 2011 là 57,4 % Công tác truyền thông còn hạn chế, đặc biệt ở các xã vùng cao, vùng sâu vùng xa thì công tác này còn là điều rất mới Hầu như các hoạt động chăm sóc răng miệng mới chỉ được triển khai ở khu vực thành thị, nơi có nền kinh tế phát triển còn ở các địa phương, các tỉnh miền núi chưa được triển khai cụ thể [31], [45] Chương trình Nha học đường tuy đã được triển khai nhưng chưa được bao phủ toàn diện cũng chỉ chủ yếu tập trung ở thành thị, các hoạt động còn nghèo nàn chưa tập trung hướng về cộng đồng do đó tỷ lệ bệnh sâu răng, viêm lợi còn cao

Trang 31

16

1.3 Thực trạng bệnh răng miệng của học sinh tiểu học ở Miền núi phía Bắc và tỉnh Yên Bái

1.3.1 Đối với bệnh sâu răng

Theo nghiên cứu của Đào Thị Ngọc Lan (2002) [28], về bệnh sâu răng của học sinh tiểu học và trung học cơ sở các dân tộc tại tỉnh Yên Bái cho thấy

tỷ lệ mắc bệnh sâu răng của học sinh tiểu học người Mông là 80 % cao hơn so với các nghiên cứu khác Theo báo cáo của Sở Y tế Yên Bái năm 2012 [45],

tỷ lệ sâu răng trung bình là 65,3 %, trong đó răng vĩnh viễn là 38,5 %, răng sữa là 61,7 % và tỷ lệ sâu răng tăng theo độ tuổi kể cả răng vĩnh viễn và răng sữa, ở vùng thấp, thành phố, thị xã thì tỷ lệ sâu răng chiếm tỷ lệ cao hơn Tỷ

lệ sâu răng ở nghiên cứu này cao hơn so với kết quả điều tra của viện RHM năm 2001 HS lứa tuổi 6-12 có tỷ lệ sâu răng là 57,02 % [32], [45]

Qua tìm hiểu về tỷ lệ sâu răng tăng theo tuổi vì người Mông cũng như các dân tộc khác đều chưa quan tâm đến sức khỏe răng miệng, coi nhẹ các bệnh răng miệng, cho rằng bệnh này chưa ảnh hưởng ngay đến sức khỏe nên việc vệ sinh cá nhân và vệ sinh răng miệng không phải là vấn đề quan tâm từ

đó tỷ lệ sâu răng, BRM tăng cao ở lứa tuổi trẻ em cắp sách đến trường Đi học bán trú tại trường lại không được sự quan tâm của giáo viên, không hướng dẫn vệ sinh răng miệng trên lớp, bản thân học sinh cũng không chải răng hàng ngày Khi răng sữa bị tổn thương thì cũng là nguyên nhân làm ảnh hưởng đến mầm răng của răng vĩnh viễn dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh SR ở răng vĩnh viễn tại các huyện tăng cao hơn so với tỷ lệ chung của tỉnh (65,3 %)

Theo Báo cáo thống kê của Sở Y tế Yên Bái, hàng năm tiến hành đánh giá về thực trạng và kiến thức - thái độ - thực hành phòng chống bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học ở một số huyện như huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái cho thấy: tỷ lệ học sinh sâu răng là 67,5 %, sâu răng sữa và 43,6 % học sinh sâu răng vĩnh viễn [45] Nghiên cứu của Đào Thị Ngọc Lan (2002) thì tỷ lệ sâu răng sữa chung cho các dân tộc ở Yên Bái là 64,95 %, răng vĩnh viễn là 41,04 %, đối với người Mông có tỷ lệ sâu răng sữa cao nhất (80 %), tiếp đến

là người Tày (72,84 %) và người Dao (70,69 %), sự khác biệt giữa các dân tộc không có ý nghĩa thống kê ( p< 0,05) [28]

Trang 32

17

So với các nghiên cứu khác thì tỷ lệ sâu răng thường thấp hơn như Đào Thị Dung (2007) nghiên cứu về bệnh răng miệng ở một số trường tiểu học ở quận Đống Đa, thành phố Hà Nội cho thấy tỷ lệ sâu răng sữa chiếm 63,19 %, sâu răng vĩnh viễn là 20,21 % [13] Báo cáo của Sở y tế tỉnh Tuyên Quang (2012) cũng cho thấy tỷ lệ sâu răng và viêm lợi ở học sinh tiểu học còn phổ biến, sâu răng là 59,6 %, viêm lợi là 41 % [46] Là một tỉnh miền núi, điều kiện chăm sóc sức khỏe còn nhiều hạn chế nhất là chăm sóc sức khỏe răng miệng cho học sinh chưa được quan tâm thường xuyên đến các xã vùng cao, vùng dân tộc thiểu số, các phong tục tập quán lạc hậu về khám chữa bệnh còn tồn tại do đó tỷ lệ học sinh mắc bệnh răng miệng cao hơn so với các nghiên cứu và các địa bàn khác là điều tất yếu

Chỉ số sâu, mất, trám đối với răng sữa ở học sinh người Mông là 4,8, đối với răng vĩnh viễn là 1,55-2,0 Học sinh người Mông có tỷ lệ sâu răng cao do đó trung bình mỗi em bị sâu 3,3 cái răng sữa, 1,55-2,0 răng vĩnh viễn

4,07-Số răng sữa mất do sâu trung bình mỗi em là 0,71 cái, răng vĩnh viễn là 0,33 Tuy nhiên số lượng răng sâu nhiều nhưng chỉ số răng được hàn lại thấp đối với răng sữa là 0,03, răng vĩnh viễn là 0,03 [31], [32] Theo phong tục của người Mông là không đi khám chữa bệnh khi có bệnh mà trước tiên phải mời thầy cúng đến nhà cúng khi không khỏi, bệnh nặng thì mới đưa đi đến các cơ

sở y tế khám và chữa bệnh, do vậy tỷ lệ học sinh được khám và chữa răng còn thấp hầu như không có So sánh với các nghiên cứu khác thì tỷ lệ này thấp hơn nghiên cứu của Phạm Văn Liệu (2011), trường Đại học Y Hải Phòng thì chỉ số sâu, mất, trám răng vĩnh viễn trung bình ở học sinh tuổi 6-11 tuổi là 0,8 [29]

Tỷ lệ sâu răng ở học sinh tiểu học tại Yên Bái cao hơn so với Tuyên Quang, theo báo cáo y tế trường học của Sở Y tế tỉnh Tuyên Quang (2012) thì tỷ lệ sâu răng của học sinh tiểu học là 59,6 %, chỉ số SMTR 1,45 và smtr là 3,4 [46]

Nghiên cứu của Đào Thị Ngọc Lan (2002), khẳng định chỉ số sâu mất trám răng sữa ở học sinh 6 tuổi 3,58, sâu, mất, trám răng vĩnh viễn là 1,18 Đối với học sinh người Mông thì chỉ số sâu, mất, trám răng sữa là 3,68, răng vĩnh viễn là 1,19, chỉ số này cao hơn so với các dân tộc khác như dân tộc Dao

là 1,02, người Tày là 0,99, Nùng là 0,58, tuy nhiên người Kinh vẫn có chỉ số cao nhất đối với răng sữa là 3,9 và răng vĩnh viễn là 1,31 [28] Khi nghiên cứu

Trang 33

18

về học sinh người Mông và quan sát tại trường thì thực tế các em không có bàn chải và kem đánh răng, sau khi ăn các em không được chải răng cả 4 trường thì có hơn 50 % học sinh ở nội trú tại trường còn lại là bán trú đối với những học sinh nhà gần trường Do đó các em ở nội trú trong trường hầu như không được chải răng, vệ sinh răng miệng hàng ngày, đây cũng là nguyên nhân làm gia tăng sâu răng ở học sinh tại các trường này

1.3.2 Đối với bệnh viêm lợi

Theo nghiên cứu của các tác giả ở Yên Bái về bệnh răng miệng của học sinh tiểu học tại các huyện vùng cao Yên Bái thì tỷ lệ viêm lợi ở học sinh người Mông cao (54,7 %), chủ yếu viêm lợi độ 1-2, do đó khi khám thấy lợi

bị tổn thương nhiều như phù nề, xung huyết hoặc chảy máu… lý do này có thể gây nên các biến chứng nặng như gây viêm hệ thống mũi họng, nhiễm trùng huyết do không được vệ sinh răng miệng sạch sẽ hoặc gây viêm chân răng, sau đó lợi bị tụt và gây ra sức chịu đựng của răng sẽ yếu đi và là điều kiện thuận lợi gây sâu răng, tổn thương răng và mất răng [32], bên cạnh tình trạng viêm lợi, chảy máu lợi thì các em học sinh có cao răng trên răng chiếm tỷ lệ cao là 65,12 % Tại Bắc Cạn theo nghiên cứu của Nguyễn Thái Hồng (2012), tỷ lệ viêm lợi là 46,5 % [25], nghiên cứu của Đào thị Ngọc Lan (57,88 %) [28]

Các yếu tố nguy cơ gây viêm lợi là các yếu tố tại chỗ và toàn thân ảnh hưởng đến việc tích tụ mảng bám răng hoặc làm biến đổi phản ứng đáp ứng của tổ chức quanh răng đối với mảng bám răng Viêm lợi xuất hiện rất sớm, khi mảng bám răng hình thành được 7 ngày Vi khuẩn ở mảng bám răng kích thích gây viêm lợi, chảy máu lợi và tổn thương men răng Theo nghiên cứu của Vũ Mạnh Tuấn và cộng sự (2008) về điều tra tình trạng sâu răng của học sinh 6 - 12 tuổi tại thị xã Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình thì tỷ lệ học sinh bị viêm lợi là 30 %, chảy máu lợi và cao răng tăng theo tuổi Tỷ lệ chảy máu lợi/cao răng ở học sinh 7 tuổi là 11,91 %/49,46 %, 8 tuổi là 12,37 %/51,59 %, 9 tuổi

là 13,45 %/53,4 %, 11 tuổi là 14,13 %/54,28 % [51] Hiện tại, tình trạng bệnh răng miệng chưa được cải thiện và chưa có sự tác động sâu đến học sinh, cộng đồng vì ở khu vực vùng núi phía Bắc nói chung và ở tỉnh Yên Bái nói riêng chưa triển khai các hoạt động đồng bộ phòng bệnh răng miệng cho học sinh một cách thường xuyên, chưa có biện pháp can thiệp cụ thể nào để tác động

Trang 34

19

đến kiến thức, hành vi của học sinh và phụ huynh học sinh nhằm thay đổi và làm giảm bệnh răng miệng Hầu hết các nhà trường chưa quan tâm và sát sao đối với học sinh trong lĩnh vực phát hiện bệnh và tuyên truyền phòng bệnh cho học sinh Theo báo cáo của Sở Y tế Yên Bái năm 2012 thì tỷ lệ viêm lợi ở học sinh tiểu học là 53,9 % trong đó viêm lợi ở người Mông toàn tỉnh là 55,0

% [28], [45], tuy nhiên chưa có biện pháp can thiệp hiệu quả nào

Theo Habibah Y và cộng sự khi nghiên cứu về thực trạng sức khỏe răng miệng của học sinh 10-16 tuổi tại Malaysia cho thấy tỷ lệ viêm lợi là 13,3%, sâu răng ở vùng thành thị là 59,6% và ở vùng nông thôn, miền núi là 69,0%, ở học sinh nữ chiếm 62,9% [64]

1.4 Một số yếu tố liên quan đến bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học

1.4.1 Không được chăm sóc y tế thường xuyên

Chăm sóc sức khoẻ răng miệng cho học sinh được thực hiện bởi cán bộ

y tế, giáo viên nhà trường và gia đình, tuy nhiên trong những năm gần đây các hoạt động đã được thực hiện xong chưa có hiệu quả mà tỷ lệ bệnh răng miệng vẫn tăng lên Nguyên nhân chủ yếu là do hệ thống y tế tại cơ sở chưa đảm bảo được các nguồn lực hỗ trợ để chăm sóc sức khỏe răng miệng cho các em học sinh Việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch chưa được cán

bộ y tế quan tâm, hơn nữa trình độ chuyên môn của cán bộ bộ còn thấp, chưa

có chuyên khoa răng hàm mặt Các nghiên cứu tại tỉnh cũng như ngoài tỉnh đã cho thấy mối liên quan giữa chăm sóc sức khoẻ răng miệng với bệnh răng miệng Những em HS không được sự chăm sóc tốt sẽ có nguy cơ mắc bệnh răng miệng tăng cao hơn so với những HS được sự chăm sóc về răng miệng tốt Số

HS không được chăm sóc về y tế tốt mà bị mắc bệnh chiếm 45,5-50 %, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05 [32]

Không được chăm sóc răng miệng ở đây có nghĩa là bản thân các em và cha mẹ, thầy cô đều không quan tâm đến tình trạng răng miệng của các em, không được khám bệnh định kỳ, những trường hợp bị sâu răng không được điều trị sớm Theo nghiên cứu của Lương Ngọc Châm (2003) tại huyện Võ

Nhai tỉnh Thái Nguyên cho rằng “chăm sóc y tế là yếu tố quan trọng để có thể

làm giảm tỷ lệ bệnh răng miệng ở cộng đồng” [9] Thực tế khi khám thấy các

Trang 35

20

em đến trường trong tình trạng vệ sinh răng miệng rất kém, hơi thở hôi, răng lợi bẩn, nhiều cao răng… nhiều em có các răng sữa lung lay đến tuổi thay nhưng không được nhổ, răng vĩnh viễn mọc chồi lên, lệch ra ngoài cung hàm, các răng sâu không được hàn gây biến chứng viêm tuỷ, mất răng Có những

em có tới 10 răng sữa sâu mà không được xử trí, răng số 6 vừa mọc lên đã sâu cũng không được ai quan tâm hướng dẫn điều trị Trên 50 % học sinh người Mông có cao răng, đây là một trong những yếu tố gây tổn thương răng và sâu răng rất nhanh nhất là đối với răng sữa Theo nghiên cứu của Đào Thị Ngọc Lan (2002) [28], cho thấy nếu trẻ em không được khám răng khi có dấu hiệu đau răng, ê, buốt thì sẽ có biểu hiện sâu răng, biến chứng quanh răng, gây viêm lợi và chảy máu lợi Do hầu hết các địa phương chưa có đủ nguồn lực đặc biệt thiếu sự đầu tư trang thiết bị, nhân lực phục vụ cho hoạt động này Hầu hết các xã, huyện vùng cao, vùng sâu, vùng xa chưa được quan tâm thường xuyên, công tác tổ chức triển khai các hoạt động khám sức khỏe học sinh chưa tốt, quản lý, theo dõi, giám sát chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành Y tế và Giáo dục, không tổ chức các buổi khám sức khỏe răng miệng định kỳ cho học sinh, chưa tăng cường các hoạt động truyền thông và giáo dục sức khỏe cho học sinh tại trường Do đó bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học còn cao [35], [37]

1.4.2 Kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh của HS còn hạn chế

Qua một số nghiên cứu cho thấy: kiến thức phòng bệnh răng miệng của học sinh còn rất thấp, nghiên cứu của Đào thị Ngọc Lan, tỷ lệ về kiến thức của học sinh người Mông đạt 37,8 % [28], Nguyễn Ngọc Nghĩa (2009) khi nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành phòng bệnh của học sinh tiểu học đạt ở mức thấp: kiến thức tốt đạt 31,5 %, thái độ tốt đạt 43,7 %, thực hành tốt đạt 29,8 % [32] Như vậy, học sinh chưa đủ kiến thức cũng như kỹ năng để

có thể tự phòng bệnh Bên cạnh đó do nhận thức của cha mẹ, thầy cô về bệnh răng miệng còn rất hạn chế, bận công việc, thiếu thời gian, thiếu kinh phí, thiếu thầy thuốc chuyên khoa răng và cơ sở phục vụ Tất cả những điều này dẫn đến tình trạng trẻ em mắc bệnh răng miệng Các nghiên cứu đều cho thấy kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh có liên quan chặt chẽ với bệnh răng miệng, những học sinh có kiến thức, thái độ và thực hành phòng bệnh không

Trang 36

21

đạt thì tỷ lệ mắc bệnh răng miệng tăng cao hơn [32] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hương (2003), nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc sức khỏe răng miệng của học sinh tiểu học một số trường tại thành phố Thái Nguyên cho thấy còn rất thấp, như kiến thức tốt 42,5 %, thái độ tốt trong chăm sóc răng miệng đạt 48,4 %, thực hành vệ sinh răng miệng tốt chiếm 39,7 % [26] Theo Nguyễn Thái Hồng (2012) thì tỷ lệ kiến thức tốt của học sinh tiểu học Bắc Cạn chiếm 36,9 %, thái độ tốt 45,2 %, thực hành tốt đạt 41,0 % [25] Nhìn chung kiến thức, thái độ và thực hành của học sinh còn thấp, các em học sinh chưa có thói quen vệ sinh răng miệng hàng ngày, trên lớp chưa được giáo viên hướng dẫn vệ sinh và phòng bệnh răng miệng thường xuyên và chưa được đưa vào chương trình giảng dạy cho học sinh, đây là một trong những yếu tố làm tăng tỷ lệ bệnh răng miệng ở học sinh

1.4.3 Công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe chưa thường xuyên

Tỷ lệ bệnh răng miệng có liên quan mật thiết với các hoạt động truyền thông, giáo dục sức khỏe về vệ sinh phòng bệnh chưa được triển khai thường xuyên tại cộng đồng, đặc biệt là giáo dục sức khỏe răng miệng cho học sinh tại trường, lớp không được tổ chức và thực hiện Sự phối hợp giữa ngành giáo dục và y tế chưa tốt nên các hoạt động truyền thông, khám bệnh và hướng dẫn

vệ sinh răng miệng cho học sinh không được đặt ra hàng năm, vì thế chưa có

sự tác động mạnh mẽ đến học sinh để thay đổi hành vi ở học sinh Theo nghiên cứu của Đào Thị Ngọc Lan (2002) sau can thiệp bằng truyền thông và giáo dục sức khỏe nha khoa tại trường thì tỷ lệ sâu răng sữa của nhóm nghiên cứu giảm 19,4 % (trong khi nhóm chứng tăng 7,32 %), tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn giảm 16,06 % (trong khi nhóm chứng tăng 7,62 %), chỉ số smtr giảm 0,75 (nhóm chứng tăng 0,76), SMTR giảm 0,02 (nhóm chứng tăng 0,37), Hiệu quả can thiệp răng sữa = 28,72 % (p < 0,01) Hiệu quả can thiệp răng vĩnh viễn = 25,68 % (p < 0,01) [28], [32] Tại Yên Bái, so với các trường ở

vùng thấp thì tỷ lệ mắc bệnh răng miệng thấp hơn ở học sinh vùng cao

Theo báo cáo của Sở Y tế Yên Bái năm 2012, trên 80 % người Mông ở vùng cao, vùng xa, vùng sâu không được truyền thông về chăm sóc sức khỏe,

Trang 37

22

trong đó có truyền thông về phòng bệnh răng miệng Phụ huynh học sinh là đối tượng quan trọng để hướng dẫn, nhắc nhở học sinh thực hiện tốt vệ sinh răng miệng khi ở nhà do đó phụ huynh cũng cần phải có kiến thức tốt về công tác phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe trẻ em, vì thế truyền thông giáo dục sức khỏe có vai trò quan trọng trong việc tăng cường sự hiểu biết của nhân dân về chăm sóc sức khỏe Nguồn lực ở cộng đồng rất tốt như có lực lượng nhân viên y tế thôn bản, hệ thống loa truyền thanh ở thôn tương đối đầy đủ do đó

có thể triển khai các hình thức truyền thông tại thôn bản cho nhân dân, phụ huynh học sinh để nâng cao sự hiểu biết, kỹ năng thực hành vệ sinh răng miệng cho học sinh [45], [26]

Chương trình Nha học đường được triển khai từ những năm 90 của thế

kỷ XX, trong đó có nội dung truyền thông, giáo dục sức khỏe và hướng dẫn chăm sóc sức khỏe răng miệng tuy nhiên hoạt động của chương trình không được bao phủ rộng, chỉ tổ chức ở thành phố, thị xã, không thường xuyên, thiếu kinh phí, nguồn nhân lực…do đó chương trình Nha học đường chưa đạt được hiệu quả mong muốn Chưa có sự quan tâm sát sao của các tổ chức Đảng, chính quyền địa phương đến vấn đề này

1.4.4 Phong tục, tập quán về chăm sóc răng miệng cho học sinh của người Mông còn nhiều hạn chế

Người mông rất ít khi chải răng, buổi tối ăn cơm xong thì người lớn và trẻ em lên giường đi ngủ Nguồn nước sinh hoạt thì rất ít nên người Mông không mấy khi tắm giặt, vệ sinh cá nhân của người Mông còn kém “Hầu hết

ở các gia đình không có bàn chải đánh răng, người Mông có thể mua được rượu được thịt về ăn nhưng không bao giờ mua khăn mặt hoặc bàn chải răng cho trẻ em và người lớn” Công tác truyền thông và hướng dẫn người dân vệ sinh răng miệng và phòng bệnh răng miệng không được triển khai thường xuyên Hơn nữa người Mông rất ít khi đi đến trạm y tế khám chữa bệnh Thường phải mời thầy cúng về cúng ma sau đó không khỏi thì mới đưa đến trạm y tế Việc khám bệnh răng miệng định kỳ cho học sinh ở trường cũng không được thực hiện, giáo viên ở trường hầu như không giảng dạy kiến thức cho học sinh biết cách vệ sinh răng miệng [23], [24]

Trang 38

23

Người Mông thường làm nương, rẫy ở ngang lưng chừng đồi, núi cao

để trồng lúa nương, ngô, sắn họ phải đi làm nương cả ngày từ sáng đến tối mới về nhà thậm chí đi cả tuần mới về nhà chính vì vậy mà họ ít quan tâm đến sức khỏe của trẻ em, đặc biệt là kiến thức và thực hành về chăm sóc sức khỏe trẻ em rất thấp (30 %), hơn nữa trình độ học vấn của người Mông còn hạn chế, chỉ hơn 40 % ở mức phổ cập tiểu học, 33 % ở mức trung học cơ sở Hầu hết các em học sinh không sử dụng bàn chải đánh răng, kể cả ở nhà Hàng ngày học sinh ăn trưa tại trường và buổi tối thì về nhà, tuy nhiên sau các bữa ăn các em thường không chải răng Người Mông có tập quán ít sử dụng nước sạch hơn các dân tộc khác, người Mông thường làm nhà ở các sườn núi cao nên rất hạn chế các nguồn nước nhất là về mùa khô nên việc vệ sinh cá nhân, vệ sinh răng miệng hàng ngày được người Mông cho là không quan trọng [22], [23]

Ở khu vực sinh sống của người Mông, mỗi hộ gia đình cách nhau nửa quả đồi, đi lại khó khăn nên việc tuyên truyền và giáo dục sức khỏe răng miệng cho các em học sinh và phụ huynh học sinh không được thực hiện hoặc không thường xuyên nên sự thay đổi hành vi của người dân trong phòng bệnh nâng cao sức khỏe còn chậm

Theo Đàm Khải Hoàn (2001), nghiên cứu một số phong tục tập quán có ảnh hưởng đến sức khoẻ ở 2 cộng đồng Thái và Mông thuộc miền núi tỉnh Nghệ An, cho thấy 70 % thức ăn của người Mông thường được chế biến từ ngô do đó có độ cứng hơn so với ăn cơm nên thường ảnh hưởng tới răng trẻ

em, đặc biệt là răng sữa hoặc tổn thương lợi gây nên viêm lợi rất sớm ở trẻ em người Mông [23] Theo Lường Văn Hom (2011), nghiên cứu về phong tục tập quán người Mông tỉnh Yên Bái trong chăm sóc sức khỏe cho thấy 80 % học sinh người Mông ăn măng ớt, ở trường mỗi em có một lọ măng ớt và thường xuyên phải ăn cơm với măng ớt nên đây cũng là nguyên nhân gây ảnh hưởng đến răng vì trong măng ớt ngâm có nhiều chất axít acetic là yếu tố làm tổn thương răng, viêm lợi và làm hạn chế hấp thu can xi ở đường tiêu hóa, người Mông thường thấp còi hơn người dân tộc khác [23] Đối với người Mông theo các nghiên cứu cho biết 58 % trẻ em người mông bị suy dinh dưỡng cân nặng,

Trang 39

24

36,5 % suy dinh dưỡng thể thấp còi do đó đây cũng là một trong những yếu tố liên quan đến bệnh răng miệng, ở những em bị suy dinh dưỡng thì tỷ lệ mắc

bệnh sâu răng tăng cao hơn [11]

Thông qua các nghiên cứu này, chúng ta có thể đưa ra một số biện pháp can thiệp nhằm loại bỏ những yếu tố nguy cơ góp phần làm giảm tỷ lệ bệnh răng miệng cho các em Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với tình hình thực

tế về công tác phòng bệnh răng miệng cho học sinh tiểu học người Mông tại Yên Bái Nghiên cứu này tập trung chủ yếu các hoạt động can thiệp tại trường

để tác động trực tiếp vào giáo viên và học sinh, tại cộng đồng là phụ huynh học sinh để cuối cùng tăng cường sức khỏe răng miệng cho học sinh Tác động của biện pháp can thiệp là kiến thức, thực hành VSRM của học sinh được tăng lên, tỷ lệ bệnh răng miệng được khống chế và giảm xuống

1.5 Một số hoạt động can thiệp dự phòng nâng cao sức khỏe răng miệng cho học sinh tiểu học hiện nay

1.5.1 Giáo dục sức khoẻ răng miệng tại trường

Giáo dục chăm sóc sức khoẻ răng miệng là cung cấp một số kiến thức

cơ bản về phòng bệnh RM cho HS được coi như sự đầu tư có hiệu quả lâu dài nhất để giảm tỷ lệ bệnh răng miệng Đây là nội dung dễ thực hiện và có tính khả thi nhất Theo Trịnh Đình Hải (2004) “Cần phải giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho trẻ em ngay từ khi bước vào cổng nhà trường và trong quá trình học tập cần phải phối hợp tốt giữa nhà trường và gia đình để giáo dục trẻ em tạo thói quen vệ sinh răng miệng” [18], [19]

Trường học là nơi cung cấp cho HS những kiến thức phổ thông và những kiến thức cần thiết trong việc phòng ngừa và bảo vệ sức khoẻ của chính mình Muốn đạt được mục tiêu này, y tế học đường nói chung, NHĐ nói riêng phải phát huy hết trách nhiệm và nhiệm vụ của mình, không nên chỉ dừng lại ở cấp độ điều trị sơ khởi hay giải quyết những vấn đề khẩn cấp mà cần phải kết hợp với giáo viên tạo cho các em một số thói quen và hành vi tự chăm sóc sức khoẻ, tự tạo cho mình một thể chất lành mạnh, trong đó bao gồm một tình trạng răng miệng tốt [2], [11]

Trang 40

25

Tại các nước đang phát triển như Đức, Pháp, Anh, Thụy Điển thì công tác y tế trường học rất được quan tâm, chủ yếu tập trung vào dự phòng tại trường học, 95 % các trường tiểu học và trung học các em học sinh được giáo dục và chăm sóc sức khỏe Các em được hướng dẫn sử dụng bàn chải răng và chải răng ngay từ năm học đầu tiên Giáo dục cho các em học sinh có thói quen chăm sóc răng miệng hàng ngày kể cả khi ở nhà cũng như khi đến trường [61]

Tại Hàn Quốc, các em học sinh được giáo dục ngay ở tại cộng đồng, ngoài các buổi học ở trường thì các em còn được tham gia các buổi giáo dục, tuyên truyền về bệnh răng miệng ngay tại nơi cư trú do cán bộ y tế phụ trách sức khỏe địa phương đảm nhiệm [66]

Tại Việt Nam giáo dục và chăm sóc sức khoẻ răng miệng đã và đang được triển khai với các nội dung và hình thức phù hợp với từng nhóm tuổi Nội dung giáo dục CSRM xoay quanh các vấn đề nâng cao nhận thức cho HS: Tại sao phải đánh răng? Đánh răng khi nào và đánh răng như thế nào? tại sao răng quan trọng? thức ăn nào có đủ vitamin, khoáng chất tốt cho răng, thức ăn ngọt và thức ăn có hại cho răng? Làm thế nào để có hàm răng đẹp? Phương pháp chải răng, cách lựa chọn bàn chải; nguyên nhân và diễn tiến của bệnh sâu răng, viêm lợi [74]

Giáo dục dự phòng răng mọc lệch, lạc chỗ: Bỏ các thói quen xấu mút tay, cắn môi, chống cằm khi ngồi học, mút một bên má, cắn bút, cắn gấu áo , tránh nhổ răng sữa sớm quá hoặc muộn quá

1.5.2 Kết hợp chải răng với xúc miệng Fluor hàng tuần

Tại Australia, 50 % thời gian của bác sỹ nha khoa là làm công tác phòng bệnh [4] Kem đánh răng có fluor là biện pháp cá nhân hàng đầu, fluor hoá nước sinh hoạt là biện pháp sử dụng cho cộng đồng tốt nhất, có tác dụng ở mọi giai đoạn của sâu răng Cả hai biện pháp trên là nguyên nhân chính làm giảm tỷ lệ sâu răng ở Australia [63]

Vì thế, những biện pháp dự phòng mang tính thực hành như chải răng và súc miệng với dung dịch NaF 0,2 % hàng tuần tại trường rất thiết thực Những chương trình này không những tạo cho trẻ một hàng rào phòng bệnh RM chắc

Ngày đăng: 29/12/2014, 12:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị - Ban chấp hành Trung ương Đảng (2005), Nghị quyết về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 2 năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới
Tác giả: Bộ Chính trị - Ban chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2005
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Y tế (2000), Hướng dẫn thực hiện công tác y tế trường học, Thông tư Liên tịch số 03/2000/TTLT-BGD&amp;ĐT-BYT ngày 1 tháng 3 năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện công tác y tế trường học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Y tế
Năm: 2000
3. Bộ Y tế (2004), Đánh giá thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu và nâng cao sức khỏe ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu và nâng cao sức khỏe ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2004
6. Bộ Y tế (2010), Phôi học, mô học răng và nha chu, ứng dụng lâm sàng, Giáo trình đào tạo Bác sỹ đa khoa, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phôi học, mô học răng và nha chu, ứng dụng lâm sàng
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2010
7. Lý Văn Cảnh (2006), Huy động cộng đồng truyền thông giáo dục sức khoẻ một số nội dung CSSKBĐ cho người dân xã Tân Long -Đồng Hỷ, Thái nguyên, Luận văn thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, tr 45-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động cộng đồng truyền thông giáo dục sức khoẻ một số nội dung CSSKBĐ cho người dân xã Tân Long -Đồng Hỷ, Thái nguyên
Tác giả: Lý Văn Cảnh
Năm: 2006
8. Nguyễn Cẩn, Ngô Đồng Khanh (2007), "Phân tích dịch tễ bệnh sâu răng và nha chu ở Việt Nam", Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007, tập 11- số 3, tr. 15-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dịch tễ bệnh sâu răng và nha chu ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Cẩn, Ngô Đồng Khanh
Năm: 2007
9. Lương Ngọc Châm (2003), Nghiên cứu thực trạng bệnh răng miệng của học sinh vùng cao huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ y học, trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, tr. 55-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng bệnh răng miệng của học sinh vùng cao huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Lương Ngọc Châm
Năm: 2003
11. Đàm Viết Cương (2005), "Vấn đề khám chữa bệnh cho người nghèo là người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc", Tạp chí Y học Thực hành, số 1/2005, Hà Nội, tr. 4-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề khám chữa bệnh cho người nghèo là người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Tác giả: Đàm Viết Cương
Năm: 2005
12. Đào Thị Dung (2000), Hoạt động và ảnh hưởng của nha học đường tới tình trạng bệnh răng miệng của học sinh tiểu học quận Đống Đa Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y tế công cộng, tr.54-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động và ảnh hưởng của nha học đường tới tình trạng bệnh răng miệng của học sinh tiểu học quận Đống Đa Hà Nội
Tác giả: Đào Thị Dung
Năm: 2000
13. Đào Thị Dung (2007), Đánh giá hiệu quả can thiệp chương trình Nha học đường tại một số trường tiểu học quận Đống Đa Hà Nội, Luận án tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội, tr. 95-105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả can thiệp chương trình Nha học đường tại một số trường tiểu học quận Đống Đa Hà Nội
Tác giả: Đào Thị Dung
Năm: 2007
14. Trương Mạnh Dũng, Lương Thị Kim Liên (2008), “Một số yếu tố liên quan giữa tình trạng sâu răng và viêm quang răng của người dân nhóm tuổi 18-45 tại xã Vân Hội - Đông Anh - Hà Nội, năm 2007”, Tạp chí Y học Thực hành, năm 2008, số 10, tập 625 + 626, tr. 33-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố liên quan giữa tình trạng sâu răng và viêm quang răng của người dân nhóm tuổi 18-45 tại xã Vân Hội - Đông Anh - Hà Nội, năm 2007”", Tạp chí Y học Thực hành
Tác giả: Trương Mạnh Dũng, Lương Thị Kim Liên
Năm: 2008
15. Tạ Quốc Đại, Phạm Lê Tuấn (2007), “Thực trạng bệnh sâu răng, viêm lợi và một số yếu tố liên quan ở học sinh 6 tuổi, 12 tuổi, tại huyện Thanh Trì, và quận Đống Đa, thành phố Hà Nội (2005)”, Tạp chí Y học Thực hành, số 3, tập 566+567, tr. 22-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng bệnh sâu răng, viêm lợi và một số yếu tố liên quan ở học sinh 6 tuổi, 12 tuổi, tại huyện Thanh Trì, và quận Đống Đa, thành phố Hà Nội (2005)”, "Tạp chí Y học Thực hành
Tác giả: Tạ Quốc Đại, Phạm Lê Tuấn
Năm: 2007
16. Trịnh Đình Hải (2000), Hiệu quả chăm sóc răng miệng trẻ em học đường trong sâu răng và bệnh quanh răng tại Hải Dương, Luận án tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà nội, tr. 56 - 78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả chăm sóc răng miệng trẻ em học đường trong sâu răng và bệnh quanh răng tại Hải Dương
Tác giả: Trịnh Đình Hải
Năm: 2000
17. Trịnh Đình Hải (2000), “Hiệu quả chăm sóc răng miệng trẻ em học đường trong dự phòng viêm lợi”, Tạp chí Y học Thực hành, số 6, tập 383, tr. 2-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả chăm sóc răng miệng trẻ em học đường trong dự phòng viêm lợi”, "Tạp chí Y học Thực hành
Tác giả: Trịnh Đình Hải
Năm: 2000
19. Trịnh Đình Hải (2005), “Đánh giá bệnh viêm lợi và viêm quanh răng ở cộng đồng dân cư vùng núi và vùng trung du Bắc bộ”, Tạp chí Y Dược Quân sự, số 1, tập 30, tr. 139-142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá bệnh viêm lợi và viêm quanh răng ở cộng đồng dân cư vùng núi và vùng trung du Bắc bộ”, "Tạp chí Y Dược Quân sự
Tác giả: Trịnh Đình Hải
Năm: 2005
20. Trịnh Đình Hải, Đào Ngọc Phong, Đào Thị Minh An (2008), Phương pháp nghiên cứu Y học và những ứng dụng trong nghiên cứu bệnh răng miệng, Nhà xuất bản Y học, tr. 38- 42, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu Y học và những ứng dụng trong nghiên cứu bệnh răng miệng
Tác giả: Trịnh Đình Hải, Đào Ngọc Phong, Đào Thị Minh An
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2008
21. Trần Thị Mỹ Hạnh (2006), Nhận xét tình hình sâu răng và viêm lợi ở học sinh lứa tuổi 7-11 tại trường tiểu học Thanh Liệt, Luận văn thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội, tr. 34-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét tình hình sâu răng và viêm lợi ở học sinh lứa tuổi 7-11 tại trường tiểu học Thanh Liệt
Tác giả: Trần Thị Mỹ Hạnh
Năm: 2006
22. Đàm Khải Hoàn, Nguyễn Thành Trung (2001), "Thực trạng chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở miền núi phía Bắc", Kỷ yếu hội thảo Nâng cao năng lực chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào các dân tộc những vùng khó khăn ở khu vực miền núi phía Bắc, Thái Nguyên 12/2001, tr. 205 - 212 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở miền núi phía Bắc
Tác giả: Đàm Khải Hoàn, Nguyễn Thành Trung
Năm: 2001
23. Đàm Khải Hoàn (2001), “Nghiên cứu một số phong tục tập quán có ảnh hưởng đến sức khoẻ ở 2 cộng đồng Thái và Mông thuộc miền núi tỉnh Nghệ An”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Thái Nguyên, tập 34, số 05, tr. 85-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số phong tục tập quán có ảnh hưởng đến sức khoẻ ở 2 cộng đồng Thái và Mông thuộc miền núi tỉnh Nghệ An”, "Tạp chí Khoa học và Công nghệ
Tác giả: Đàm Khải Hoàn
Năm: 2001
25. Nguyễn Thái Hồng (2012), Nghiên cứu thực trạng và áp dụng biện pháp can thiệp phòng chống bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học tỉnh Bắc Cạn. Báo cáo nghiệm thu đề tài khoa học cấp tỉnh năm 2012, tr.87-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng và áp dụng biện pháp can thiệp phòng chống bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học tỉnh Bắc Cạn
Tác giả: Nguyễn Thái Hồng
Năm: 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Sơ đồ Keyes [6], [30]. - Thực trạng và hiệu quả can thiệp dự phòng bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học người mông tỉnh yên bái
Hình 1.1. Sơ đồ Keyes [6], [30] (Trang 19)
Hình 1.2. Sơ đồ White [6], [18] - Thực trạng và hiệu quả can thiệp dự phòng bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học người mông tỉnh yên bái
Hình 1.2. Sơ đồ White [6], [18] (Trang 20)
Hình 1.3. Sơ đồ nguyên nhân và các yếu tố liên quan đến sâu  răng   ( theo Fejerkor 2004) - Thực trạng và hiệu quả can thiệp dự phòng bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học người mông tỉnh yên bái
Hình 1.3. Sơ đồ nguyên nhân và các yếu tố liên quan đến sâu răng ( theo Fejerkor 2004) (Trang 21)
Hình 1.4. Sơ đồ cấu tạo răng [6] - Thực trạng và hiệu quả can thiệp dự phòng bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học người mông tỉnh yên bái
Hình 1.4. Sơ đồ cấu tạo răng [6] (Trang 22)
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ can thiệp so sánh trước sau có đối chứng - Thực trạng và hiệu quả can thiệp dự phòng bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học người mông tỉnh yên bái
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ can thiệp so sánh trước sau có đối chứng (Trang 54)
Sơ đồ 2.2. Sơ đồ mô hình huy động nguồn lực cộng đồng tham gia  vào hoạt động can thiệp dự phòng bệnh răng miệng cho học sinh - Thực trạng và hiệu quả can thiệp dự phòng bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học người mông tỉnh yên bái
Sơ đồ 2.2. Sơ đồ mô hình huy động nguồn lực cộng đồng tham gia vào hoạt động can thiệp dự phòng bệnh răng miệng cho học sinh (Trang 63)
Bảng 2.1. Phân loại BRM theo tổ chức Y tế thế giới -1998 [42]. - Thực trạng và hiệu quả can thiệp dự phòng bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học người mông tỉnh yên bái
Bảng 2.1. Phân loại BRM theo tổ chức Y tế thế giới -1998 [42] (Trang 68)
Bảng 3.3. Phân bố theo trình độ học vấn hiện tại của mẹ học sinh - Thực trạng và hiệu quả can thiệp dự phòng bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học người mông tỉnh yên bái
Bảng 3.3. Phân bố theo trình độ học vấn hiện tại của mẹ học sinh (Trang 75)
Bảng 3.4 Tỷ lệ bệnh răng miệng theo trường (n=1370)  Bệnh - Thực trạng và hiệu quả can thiệp dự phòng bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học người mông tỉnh yên bái
Bảng 3.4 Tỷ lệ bệnh răng miệng theo trường (n=1370) Bệnh (Trang 76)
Bảng 3.5.  Phân bố tỷ lệ bệnh răng miệng theo độ tuổi ( n=1370)  Bệnh - Thực trạng và hiệu quả can thiệp dự phòng bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học người mông tỉnh yên bái
Bảng 3.5. Phân bố tỷ lệ bệnh răng miệng theo độ tuổi ( n=1370) Bệnh (Trang 77)
Bảng 3.6. Phân bố tỷ lệ bệnh răng miệng  theo giới (n=1370)     Bệnh - Thực trạng và hiệu quả can thiệp dự phòng bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học người mông tỉnh yên bái
Bảng 3.6. Phân bố tỷ lệ bệnh răng miệng theo giới (n=1370) Bệnh (Trang 78)
Bảng 3.7. Tỷ lệ bệnh sâu răng sữa theo trường     Bệnh - Thực trạng và hiệu quả can thiệp dự phòng bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học người mông tỉnh yên bái
Bảng 3.7. Tỷ lệ bệnh sâu răng sữa theo trường Bệnh (Trang 78)
Bảng 3.8. Tỷ lệ bệnh sâu răng vĩnh viễn theo trường     Bệnh - Thực trạng và hiệu quả can thiệp dự phòng bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học người mông tỉnh yên bái
Bảng 3.8. Tỷ lệ bệnh sâu răng vĩnh viễn theo trường Bệnh (Trang 79)
Bảng 3.9. Chỉ số sâu, mất, trám và cơ cấu sâu, mất, trám răng sữa và   răng vĩnh viễn của học sinh - Thực trạng và hiệu quả can thiệp dự phòng bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học người mông tỉnh yên bái
Bảng 3.9. Chỉ số sâu, mất, trám và cơ cấu sâu, mất, trám răng sữa và răng vĩnh viễn của học sinh (Trang 79)
Bảng 3.17. Liên quan giữa kiến thức về bệnh răng miệng của học sinh với  bệnh răng miệng (n=1370) - Thực trạng và hiệu quả can thiệp dự phòng bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học người mông tỉnh yên bái
Bảng 3.17. Liên quan giữa kiến thức về bệnh răng miệng của học sinh với bệnh răng miệng (n=1370) (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w