Sử dụng mô hình ARCH-GARCH để phân tích và đành giá rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Quốc tế VIB
Trang 1
LỜI NÓI ĐẦU
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nềnkinh tế, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế toàn cầu.Với hoạt động chính là huy động vốn để sử dụng nhằm thu lợi nhuận, việc
sử dụng vốn chình là quá trình tạo nên các loại tài sản khác nhau của Ngânhàng trong đó cho vay và đầu tư là hai loại tài sản lớn và quan trọng nhất
Hoạt động tín dụng (là quan hệ vay mượn gồm cho vay và đi vay) làhoạt động sinh lời lớn nhất, song đi kèm với nó là rủi ro cao nhất cho cácNHTM Đối với hệ thống Ngân hàng Việt Nam, kể từ khi chuyển sang cơchế thị trường đã không ngừng lớn mạnh và thu được những thành tựu nhấtđịnh, nhưng trong quá trình đó các Ngân hàng đã vấp phải không ít nhữngrủi ro trong hoạt động kinh doanh gây tổn thất nặng nề
Ngân hàng Quốc tế Việt Nam- VIB là một ngân hàng sau hơn 10 nămphát triển đã gặt hái được những thành công nhất định, nhưng cũng như cácngân hàng khác trong hoạt động kinh doanh của nình còn chứa đựng rấtnhiều rủi ro tiềm ẩn
Với nhận thức đó, thông qua quá trình tìm hiểu, thực tập tại Ngânhàng Quốc tế em xin đề xuất đề tài thực tập tốt nghiệp của mình là:
“Sử dụng mô hình ARCH-GARCH để phân tích và đành giá rủi ro tín dụng
tại Ngân hàng Quốc tế VIB”
Em xin chân thành cảm ơn các giảng viên Khoa Toán Kinh Tế trườngĐại học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội, và đặc biệt là sự hướng dẫn tận tìnhcủa thầy giáo TS Trần Trọng Nguyên đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đềnày Và em xin cảm ơn các anh chị Phòng Giám Sát Tín Dụng – Ngân hàng
Trang 2Quốc Tế VIBank đã giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất để em hoàn thành chuyên
đề này
Trang 3
NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1
Tổng quan về hoạt động của Ngân hàng Quốc tế
I/ GIới thiệu chung về Ngân hàng Quốc Tế.
Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (gọi tắt là Ngân hàng Quốc Tế VIB) được thành lập theo Quyết định số 22/QD/NH5 ngày 25/01/1996 củathống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
-Cổ đông sáng lập Ngân hàng Quốc Tế bao gồm các cá nhân và cácdoanh nhân hoạt động thành đạt tại Việt Nam và trên thị trường Quốc tế,Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnNông thôn Việt Nam
Từ khi bắt đầu hoạt động ngày 18/09/1996, Ngân hàng Quốc Tế đangphát triển thành một trong những tổ chức tài chính dẫn đầu thị trường ViệtNam Là một ngân hàng đa năng, Ngân hàng Quốc Tế, với nền tảng côngnghệ hiện đại, tiếp tục cung cấp một loạt các dịch vụ tài chính đa năng,trọn gói cho khách hàng với nòng cốt là những doanh nghiệp vừa và nhỏhoạt động lành mạnh và những cá nhân, gia đình có thu nhập ổn định tạicác vùng kinh tế trọng điểm trên khắp cả nước
Sau 9 năm hoạt động, đến ngày 31/12/2005, vốn điều lệ của Ngânhàng Quốc Tế đạt 510 tỷ đồng, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm
là 113% Tổng tài sản có đạt trên 8.967 tỷ đồng, tăng gấp hơn 2 lần so vớinăm 2004 và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 117% Lợi nhuậntrước thuế đạt trên 95 tỷ đồng, bằng 230% so với năm 2004 Tỷ lệ lợi nhuận
Trang 4trên vốn tự có bình quân đạt trên 20% và mức cổ tức chia cho các cổ đôngtăng đều hàng năm Tỷ lệ về khả năng chi trả luôn lớn hơn 1, tỷ lệ vốn tốithiểu luôn lớn hơn 8%.
Nguồn lực quản lý và hoạt động không ngừng được tăng cường với việc bổnhiệm nhiều chuyên gia giàu kinh nghiệm trong các lĩnh vực tài chính ngânhàng và một đội ngũ chuyên viên kinh nghiệm, giàu nhiệt huyết Hình ảnh củangân hàng Quốc Tế trong lòng công chúng và khách hàng được cải thiện đáng
kể bằng nhiều chương trình đổi mới và mở rộng năng lực phục vụ, tăng cườngquảng bá hình ảnh ngân hàng
Ngân hàng Quốc Tế được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xếp loại A theocác tiêu chí đánh giá hệ thống Ngân hàng Việt Nam do Thống đốc Ngân hàngNhà nước Việt Nam ban hành trong nhiều năm liên tiếp và lần thứ 2 được Tậpđoàn Citygroup trao tặng danh hiệu “Ngân hàng hoạt động thanh toán xuất sắc”.Cuối năm 2005, ngoài hội sở tại Hà Nội, Ngân hàng Quốc Tế có 30 chinhánh, Phòng giao dịch tại 9 tỉnh, thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Nha Trang, Đồng Nai, Bình Dương và CầnThơ Trong năm 2006, Ngân hàng Quốc Tế sẽ tiếp tục vươn tầm hoạt động đếncác trung tâm kinh tế mới và nhiều tiềm năng khác trên cả nước với tổng số đơn
vị kinh doanh dự kiến lên đến 60 Mạng lưới ngân hàng đại lý cũng khôngngừng được mở rộng với hơn 2.000 đại lý trên 65 quốc gia trên Thế giới
Với phương châm kinh doanh “Luôn gia tăng giá trị cho bạn”, cam kết của
Ngân hàng Quốc Tế trong 2006 và những năm tiếp theo là không ngừng giatăng giá trị của khách hàng, của đối tác, của cán bộ nhân viên ngân hàng và củacác cổ đông
II/ Lĩnh vực hoạt động của Ngân hàng.
Trang 5Năm 2005, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng cao,mang đến cơ hội phát triển hoạt động kinh doanh cho ngành Ngân hàng ViệtNam, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, tạo điều kiệncho các ngân hàng thương mại phát triển hoạt động kinh doanh
Cạnh tranh trong nghành ngân hàng cũng ngày càng gay gắt với việccác NHTM trong nước và các nước ngoài đẩy mạnh tiến trình cải cách, tăngnăng lực tài chính, đầu tư công nghệ, đổi mới cơ cấu tổ chức và cơ chế quản
lý, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng, phát triển các dịch vụ ngân hànghiện đại, mở rộng ưu đãi cho khách hàng
Ngân hàng Quốc Tế hoạt động trên các lĩnh vực chủ yếu sau:
Dịch vụ Ngân hàng doanh nghiệp: Ngân hàng Quốc Tế cung cấp dịch
vụ cho doanh nghiệp và những khách hàng kinh doanh khác, baogồm: dịch vụ tín dụng, các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp trong lĩnh vựcxuất nhập khẩu, dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ thanh toán, dịch vụ muabán ngoại tệ Các khoản vay được cung cấp cho nhiều mục đích khácnhau như: bổ sung vốn lưu động, mua sắm trang bị tài sản cố định,đầu tư mở rộng sản xuất,…
Dịch vụ ngân hàng cá nhân: Ngân hàng Quốc Tế cung cấp dịch vụ chocác cá nhân bao gồm: dịch vụ tiết kiệm, dịch vụ tín dụng tiêu dùng,dịch vụ thanh toán, dịch vụ xác nhận năng lực tài chính, dịch vụ thẻ,dịch vụ mua bán ngoại tệ Các khoản cho vay tiêu dùng nhằm đến cácmục đích sử dụng vốn cụ thể như: mua sắm, sửa chữa nhà đất, muasắm xe hơi, vật dụng gia đình, đi du học, đầu tư cổ phiếu,…
Dịch vụ ngân hàng định chế: Ngân hàng Quốc Tế cung cấp dịch vụcho các ngân hàng, tổ chức tài chính và tổ chức phi tài chính bao gồm:dịch vụ tiền gửi, dịch vụ quản lý tài sản, dịch vụ cho vay, dịch vụđồng tài trợ, dịch vụ mua bán ngoại tệ, dịch vụ ngân quỹ…
Trang 6III/ Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng
1/ Hoạt động huy động vốn.
Năm 2005, hoạt động nguồn vốn của Ngân hàng Quốc Tế đạt mức tăngtrưởng kỷ lục Tổng nguồn vốn tính đến 31/12/2005 đạt 8.967 tỷ đồng tăng117% so với năm trước và vượt 49,6% kế hoạch năm
Cơ cấu nguồn vốn được điều tiết hợp lý, tương thích với tỷ trọng của cơcấu đầu tư tín dụng và đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng Hoạt độngkinh doanh nguồn vốn phát triển tốt, hiệu quả, đảm bảo khả năng thanhkhoản và đủ vốn, ngoại tệ phục vụ khách hàng
Ngân hàng Quốc Tế đã chủ động trong việc điều chỉnh cơ cấu nguồnvốn nhằm mang lại lợi ích tối ưu cho các cổ đông nhưng vẫn đảm bảo nguồnvốn khi mở rộng cho vay chung và dài hạn và nhu cầu rút tiền gửi không kỳhạn Vốn chủ sở hữu đạt 529,787 tỷ đồng, tăng 104,7% so với cuối năm
2004 Vốn tiền lệ tăng lên 510 tỷ đồng không những tạo thêm nguồn vốnđáp ứng yêu cầu kinh doanh của Ngân hàng Quốc Tế, đặc biệt là nguồn vốntrung, dài hạn và đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn khi mở rộng kinh doanh, mà còntạo điều kiện để đầu tư cơ sở vật chất và công nghệ nhằm nâng cao năng lựccạnh tranh của ngân hàng Tỷ trọng vồn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốngiảm từ 7,3% trong năm 2004 xuống còn 6,9% trong năm, chứng tỏ khảnăng mở rộng quy mô các cấu thành khác, đặc biệt là tiền gửi từ các tổ chứckinh tế
Vốn huy động từ các tổ chức tài chính tại thời điểm 31/12/2005 đạt2.852,872 tỷ đồng bằng 176,6% so với đầu năm và chiếm 31,7% tổng nguồnvốn Trong đó, tiền gửi của các tổ chức tài chính đạt 2.808 tỷ đồng chiếm
Trang 798% tổng nguồn vốn huy động từ các tổ chức tài chính Việc tăng vốn điều
lệ lên 510 tỷ đồng cùng với kết quả hoạt động tăng trưởng cao và an toàn, uytín giao dịch trên thị trường và các quan hệ hợp tác được duy trì tốt đã dẫnđến việc các tổ chức tín dụng trong nước và các tổ chức tín dụng quốc tếđang hoạt động tại Việt Nam tăng hạn mức tiền gửi tại Ngân hàng Quốc tế.Tiền vay từ các tổ chức tài chính khác giảm xuống so với năm 2004 cũnggóp phần giảm chi phí vốn của ngân hàng
Vốn huy động từ các tổ chức kinh tế và dân cư đạt 5.268,617 tỷ đồng,bằng 163% so với đầu năm và chiếm 58% tổng nguồn vốn Đây là một kếtquả rất đáng ghi nhận trong điều kiện Ngân hàng Quốc tế phải đối mặt với
sự cạnh tranh ngày càng tăng từ các NHTM khác Số dư vốn huy động từcác cá nhân tại thời điểm 31/12/2005 đạt 3.302,446 tỷ đồng, đạt tốc độ tăngtrưởng 133,5% Kết quả đáng khích lệ trên có được là nhờ Ngân hàng Quốc
tế đã thực hiện chính sách lãi suất linh hoạt, mở rộng mạng lưới hoạt độngđến gần khách hàng hơn và tung ra nhiều sản phẩm huy động có sức thu hút
ra thị trường như các chương trình tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm lãi suất lũytiến, tiết kiệm tặng quà Cơ cấu vốn huy động từ các cá nhân cũng có sự thayđổi mang tính chất tích cực trong đó tỷ trọng tiền gửi có lãi suất thấp tăngmạnh Số dư tiền gửi không kỳ hạn tăng tới 186,3% so với năm 2004
Trong năm 2005, do định hướng phát triển khách hàng đã được quántriệt tới từng đơn vị trong hệ thống Ngân hàng Quốc tế, tình hình hoạt độngkhởi sắc của khối nguồn vốn và nỗ lực của cả hệ thống trong việc mở rộngđối tượng khách hàng tiền gửi, tổng huy động tiền gửi của các tổ chức kinh
tế tăng 234% so với đầu năm và đạt 1.966 tỷ đồng
2/ Hoạt động tín dụng.
Trang 8Điểm đáng chú ý là trên cơ sỏ mạng lưới hoạt động được mở rộng, cơ
sở khách hàng tăng trưởng mạnh và tốc độ huy động vốn rất tốt nên hoạtđộng tín dụng tiếp tục tăng trưởng trong năm 2005
Dư nợ tính đến thời điểm 31/12/2005 đạt 5.255 tỷ đồng, tăng 236% sovới đầu năm và vượt 24,3% so với kế hoạch năm Trong đó, tín dụng ngắnhạn đạt 3.570 tỷ đồng, chiếm 67,9% tổng dư nợ và tín dụng trung và dài hạnđạt 1.707 tỷ đồng, chiếm 32,1% tổng dư nợ
Ngân hàng Quốc tế nhìn nhận các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạtđộng trên nhiều lĩnh vực phát triến, điều này được thể hiện trong sứ mệnhcủa ngân hàng Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm số lượng lớn nhất vàgiầu tiềm năng nhất trong cộng đồng doanh nghiệp nhưng hiện nay phần lớnđều gặp nhiều khó khăn trong việc tăng cường khả năng cạnh tranh, hiện đạihoá công nghệ và tiếp cận các nguồn vốn tín dụng Chính sách của Ngânhàng Quốc Tế đã giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được nguồnvốn với chi phí hợp lý để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng năngsuất lao động và tăng sức cạnh tranh Ngoài ra trong năm 2005, Ngân hàngQuốc tế tiếp tục đẩy mạnh cho vay tài trợ hoạt động xuất khẩu hàng hoá nhưcho vay để doanh nghiệp sản xuất, thu mua hàng hoá xuất khẩu, cho vaychiết khấu bộ chứng từ hàng xuất khẩu Dư nợ tín dụng doanh nghiệp tạithời điểm 31/12/2005 là 3.904 tỷ tăng 152% so với năm và vượt 29,7% với
kế hoạch năm
Năm 2005, Ngân hàng Quốc tế tập trung đẩy mạnh cho vay tiêu dùng
cá nhân bằng việc tung ra và đổi mới một loạt các sản phẩm tín dụng cánhân, bám sát nhu cầu của khách hàng như cho vay mua, sửa chữa nhà đất,căn hộ chung cư, cho vay mua ôtô, cho vay du học, cho vay mua sắm vậtdụng gia đình Một loạt các sản phẩm tín dụng nhằm đến các nhóm khách
Trang 9hàng cụ thể cũng được đưa ra cho vay tín chấp cán bộ quản lý điều hành,cho vay đối với cán bộ nhân viên,…Dư nợ tín dụng cá nhân tại thời điểm31/12/2005 là 1.351 tỷ tăng 106% với đầu năm.
Hoạt động tín dụng được thực hiện theo phương thức phê duyệt tậptrung, chú trọng chất lượng tín dụng luôn được kiểm soát tốt do hoạt độngtín dụng được tổ chức chặt chẽ, tuân thủ đúng các quy định của pháp luật vàcác quy định, quy trình nghiệp vụ của Ngân hàng Quốc tế Tỷ lệ nợ quá hạntình đến thời điểm cuối năm chỉ chiếm 0,87% tổng dư nợ, giảm so với mức1.11% của năm 2004
3/ Hoạt động dịch vụ
Trong năm 2005, song song với việc gia tăng các hoạt động huy độngvốn và tín dụng, hoạt động dịch vụ đã dược quan tâm đặc biệt và được quántriệt từ Hội sở chính đến từng đơn vị trong hệ thống Ngân hàng Quốc tế cả
vè chất và lượng Tổng thu từ dịch vụ tăng 11,98% và gấp 4 lần so với năm
2004
Năm 2005, hoạt động thanh toán quốc tế được tăng cường theo cảchiều rộng lẫn chiều sâu thông qua việc bổ sung nhân sự cho Phòng tài trợThương mại Hội sở, cho các chi nhánh và mở các chi nhánh có khả năng thuhút khách hàng xuất khẩu Trong năm 2005,Ngân hàng Quốc tế đã mở 1.647L/C, đạt tổng giá trị 162 triệu USD, tăng 209% về mặt số lượng và 219% vềmặt giá trị so với năm 2004 Số lượng L/C xuất khẩu được thông báo cũngtăng 278% so với năm 2004 Chất lượng L/C nhập khẩu được đảm bảo tốt,các khoản tiền thanh toán đều được thực hiện đúng hạn cho các ngân hàngnước ngoài Doanh số nhờ thu từ nhập khầu, xuất khẩu cũng tăng trưởng lầnlượt là 519% và 89% về mặt số lượng, 172% và 152% về mặt giá trị so với
Trang 10năm 2004 Doanh thu dịch vụ thanh toán quốc tế toàn hệ thống tăng tới2128,5% so với năm 2004 Các đơn vị đóng góp nhiều nhất vào kết quảchung của hoạt động tài tợ thương mại trong năm qua là Hội sở, chi nhánhVIB Hồ Chí Minh, chi nhánh VIB Hải Phòng, chi nhánh VIB Hà Nội, chinhánh VIB Ba Đình Các chi nhánh mới thành lập cũng đã có bước pháttriển nhất định.
Dịch vụ chuyển tiền kiều hối đã phát triển Trong năm 2005, Ngânhàng Quốc tế hợp tác với nhiều công ty chuyển tiền như: Travelex, RIA,Anelik, Xoom để cung cấp dịch vụ chuyển tiền Quốc tế phục vụ nhữngkhách hàng là Việt kiều và những nguòi đi hợp tác ở nước ngoài
Dịch vụ phát hành và thanh toán thẻ cũng bắt đầu được đẩy mạnh quaviệc Ngân hàng Quốc tế hợp tác với Ngân hàng Ngoại thương Việt Namphát hành thẻ tín dụngQuốc tế Master Card Cội nguồn và chấp nhận thanhtoán cá loại thẻCác dịch vụ khác như dịch vụ chuyển tiền kiều hối, dịch vụphát hành và thanh toán thẻ và các dịc MasterCard, Visa, Dinner Club…Hoạt động phát hành thẻ ghi nợ nội địa values cũng được đẩy mạnh qua việcphát triển một đội ngũ đại lý đông đảo, xây dựng một mạng lưới chấp nhậnthẻ rộng rãi và một hệ tống nghành hàng ưu đãi cho chủ thể phong phú
Các dịch vụ mang laị giá trị gia tăng cho khách hàng cũng được đầu
tư phát triển Trên nền tảng công nghệ hiện đại, Ngân hàng Quốc tế bắt đầuđưa ra những tiện ích tạo sự thuận tiện cho khách hàng khi giao dịch vớingân hàng như Mobile Banking và Internet Banking
4/ Hoạt động quảng cáo, khuyếch trương và quan hệ công chúng.
Trang 11Trong năm 2005, việc đẩy mạnh quảng bá hình ảnh, thương hiệu củangân hàng đến công chúng được hoạch định từ đầu năm với các chươngtrình hành động cụ thể Các hoạt động xây dựng thương hiệu được duy trì tốttrong năm và được phân bố đều trong phạm vi toàn quốc Sự ổn định về mặt chất lượng dịch vụ và tình hình tài chính, tổ chức, hoạt động cùng khả năngphát triển bền vững là những yếu tố giúp thương hiệu Ngân hàng Quốc tếngày càng lớn mạnh Bộ nhận diện thương hiệu Ngân hàng Quốc Tế, hoànchỉnh trong năm 2004, tiếp tục được áp dụng thống nhất trên toàn hệ thống ngân hàng đã tạo ra hình ảnh mới trong mọi hoạt động và giao tiếp của ngânhàng và là một bước phát triển mang tính chuyên nghiệp trong quản lý hìnhảnh của ngân hàng.
Cũng trong năm 2005, với hàng loạt sản phẩm, dịch vụ gắn bó thiếtthục với đời sống cộng đồng được đưa ra phục vụ khách hàng, nhiều đài báotrung ương và địa phương đã tham gia viết bài và đưa tin về Ngân hàng vàcác sản phẩm của Ngân hàng như: báo Lao Động, Hà Nội mới, Thời báoKinh tế Việt Nam, Sài Gòn Giải phóng, Tuổi trẻ, Thanh niên, VietNam Net,VnExpress…Các chuyên trang, chuyên mục được các báo Đầu tư,Thời báoNgân hàng xây dựng nhằm cung cấp thông tin về tiện ích sản phẩm tài chínhngân hàng cho bạn đọc cũng liên tục viết bài về sản phẩm của Ngân hàngQuốc Tế
Với mong muốn hoà nhập vào cộng đồng xã hội, trong năm 2005,Ngân hàng Quốc tế đã tham gia nhiều chương trình văn hoá, vui chơi giải trí
bổ ích và thu hút nhiều người quan tâm như: “Hãy chọn giá đúng”, “Ở nhàchủ nhật”, “Điểm hẹn âm nhạc” phát sóng trên kênh VTV3 Đài truyền hìnhViệt Nam
Trang 12Ngoài ra, với trách nhiệm cùng xã hội, Ngân hàng Quốc tế tổ chức cácchương trình có ý nghĩa xã hội sâu sắc như “Triệu tấm lòng đồng cảm” ủng
hộ trẻ em nạn nhân chất độc màu da cam và nhiều chương trình ủng hộ từthiện khác
5/ Phát triển mạng lưới chi nhánh
Do yêu cầu phát triển và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phục vụkhách hàng, công tác phát triển mạng lưới chi nhánh được coi là một trọngđiểm trong kế hoạch phát triển của Ngân hàng Quốc tế
Năm 2005, mạng lưới hoạt động của Ngân hàng Quốc tế được mởrộng cả về quy mô và vùng địa lý Đến ngày 31/12/2005, Ngân hàng Quốc tế
đã hiện diện tại 9 tỉnh, thành phố trên khắp cả nước – đây đều là những trungtâm kinh tế năng động và có nhiều tiềm năng cho dịch vụ tài chính, ngânhàng như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Nha Trang, ĐàNẵng, Đồng Nai, Bình Dương và Cần Thơ với tổng số 31 chi nhánh Vớimạng lười chi nhánh từng bước được mở rộng, cùng với việc không ngừngnâng cao chất lượng phục vụ, Ngân hàng Quốc tế đã dần nâng cao hình ảnhthương hiệu và tích lũy được lòng tin của công chúng
Trong chiến lược phát triển của mình, Ngân hàng Quốc tế tiếp tục mởcác chi nhánh mới trong những năm tới để đến gần hơn nữa với khách hàng
và phục vụ nhu cầu của khách hàng được tốt hơn Theo kế hoạch, đến cuốinăm 2006, dự kiến Ngân hàng Quốc tế sẽ có tất cả 60 chi nhánh trên toànquốc
Tất cả các chi nhánh mới trong hệ thống Ngân hàng Quốc tế đềunhanh chóng ổn định tổ chức, phát triển cơ sở khách hàng, triển khai hoạtđộng kinh doanh an toàn, hiệu quả và toàn diện Trong năm qua, các Chi
Trang 13nhánh và Phòng Giao Dịch của Ngân hàng Quốc tế đã duy trì tốt các hoạtđộng tại các địa bàn đễ kết hợp với các hoạt động quảng bá thương hiệu, sửdụng tốt công cụ lãi suất, tạo hiệu quả huy động vốn dân cư tăng trưởng cao.
6/ Công nghệ ngân hàng và thông tin
Trong năm 2005, Ngân hàng Quốc tế bắt đầu triển khai Hệ thống ngânhàng đa năng SYMBOLS do System Access cung cấp – đây là giải phápNgân hàng đa năng trọn gói cung cấp các chức năng cho các hệ thốngnghiệp vụ ngân hàng bán lẻ, ngân hàng bán buôn, ngân hàng Internet và hệthống quản lý quan hệ khách hàng Đây là hệ thống có khả năng mở rộngcao, đáp ứng cho mô quy mô của ngân hàng
Năm 2005 cũng là thời điểm Đề án tập trung hoá dữ liệu và giao dịchtrực tuyến của Ngân hàng Quốc tế phát huy tác dụng mạnh mẽ Tính an toàn
dữ liệu và giao dịch trực tuyến cũng tăng lên đáng kể Cũng trong năm 2005,Ngân hàng Quốc tế chính thức ký hợp đồng mua Hệ thống Chuyển mạch Tàichính và Quản lý thẻ từ Công ty Card Tech Limited (CLM) – Vương quốcAnh Giải pháp công nghệ này sẽ giúp VIB đột phá trong lĩnh vực thẻ thôngqua việc cung ứng hàng loạt các sản phẩm dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu vàphù hợp với từng nhóm khách hàng
Viêc trong thời gian qua Ngân hàng Quốc tế triển khai thành cônghàng loạt cá dự án công nghệ đã tạo ra hàng loạt các sản phẩm dịch vụ thanhtoán chất lượng cao mang lại nhiều lợi ích và giá trị gia tăng cho kháchhàng
7/ Phát triển nguồn lực
Trang 14Nguồn lực quan trọng nhất của ngân hàng là nguồn lực con người vàlợi thế cạnh tranh của ngân hàng cũng là nguồn lực con người, do đó ngânhàng luôn cố gắng xây dựng một môi trường làm việc cho phép khuyếnkhích mọi cán bộ nhân viên phát huy hết khả năng của mình Ngân hàngQuốc tế xây dựng một chương trình phát triển kỹ năng toàn diện cho cán bộ,nhân viên nhằm tạo khả năng thích nghi trước những biến đổi của môitrường kinh doanh Chính sách tiền lương của Ngân hàng Quốc tế trong năm
2005 có nhiều cải thịên đáng kể theo chiều hướng kết hợp hài hoà giữa lợiích của Ngân hàng cũng như lợi ích của người lao động Chính sách thunhập của ngân hàng đã khuyến khích đội ngũ nhân viên yên tâm làm việc,đồng thời vẫn đảm bảo tính cạnh tranh và thu hút nhân tài phục vụ ngânhàng
Công tác khen thưởng cũng được Ngân hàng quan tâm đặc biệt Côngtác khe thưởng cả bằng vật chất lẫn tinh thần đã khuyến khích được tinh thầnlàm việc của cán bộ nhân viên được khen thưởng và những cán bộ nhân viênkhác.Công tác đào tạo của Ngân hàng Quốc tế bám sát yêu cầu hoàn thiệnvăn hoá làm việc, nâng cao trình độ và kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn chocán bộ nhân viên, trong đó dặc biệt chú trọng đào tạo những kiến thức vềGiao dịch khách hàng, Tín dụng, Phân tích tài chính, Maketing, Quan hệcông chúng, Thanh toán Quốc tế và pháp luật Trong năm 2005, Ngân hàngQuốc tế đã tổ chức 79 khoá học với 90% cán bộ nhân viên tham gia đã gópphần nâng cao đáng kể kiến thức và kỹ năng làm việc của nhân viên ngânhàng
Công tác tuyển dụng đáp ứng được nhu cầu bổ sung nhân sự cho hoạtđộng kinh doanh của Ngân hàng Quốc tế Số nhân sự tuyển dụng mới trong
Trang 15năm 2003 là 439 cán bộ nhân viên và tổng số cán bộ nhân viên tính đến31/12/2005 là 851 người gấp hơn 2 lần so với thời điểm đầu năm.
8/ Kết quả kinh doanh
Năm 2005, tổng thu nhập trước thuế của Ngân hàng Quốc tế là 95.264triệu đồng, bằng 231% so với năm 2004 Đến hết năm 2005, Ngân hàngQuốc tế là một trong những ngân hàng có mức tăng trưởng lợi nhuận trước thuế cao hơn rất nhiều so với mức tăng trưởng chung vào khoảng 45% của
hệ thống Ngân hàng Việt Nam
Trong năm 2005, hoạt động đầu tư sinh lợi chủ yếu của Ngân hàngQuốc tế vẫn là hoạt động tín dụng với đóng góp tới 96,56% tổng thu nhập
Thu nhập từ các hoạt động dịch vụ trong năm 2005 đạt 33.178 triệuđồng Để đạt được kết quả trên, toàn hệ thống Ngân hàng Quốc tế đã chútrọng tìm kiếm các nguồn vốn chi phí thấp, đồng thời mở rộng khách hàngtín dụng an toàn để tối ưu hoá sử dụng nguồn vốn
Trang 16
“Rủi ro là những khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến”
Bất kỳ một hoạt động, một thành phần, một hoàn cảnh nào đều có nguy
cơ gặp phải rui ro Đặc biệt là trong hoạt động kinh doanh của ngân hàngluôn luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn Ngân hàng Thương mại là loạidoanh nghiệp kinh doanh hàng hoá đặc biệt - hàng hoá tiền tệ Đa phần trong
đó là các khoản tiền gửi phải trả khi có yêu cầu Nguồn tiền cua các NHTMđang có thay đổi mạnh mẽ do có gia tăng cạnh tranh trong hệ thống ngânhàng, giữa các ngân hàng với các tổ chức tài chính dưới ảnh hưởng của côngnghệ thông tin và quá trình toàn cầu hoá Các nguồn tiền gửi của các cá nhân
và doanh nghiệp trở nên dễ dàng di chuyển hơn, nhạy cảm với lãi suất hơn.Điều này tạo thuận lợi hơn cho một ngân hàng trong việc tìm kiếm nguồntiền song lại tăng tính mỏng manh, kém ổn định của cả hệ thống Tài sản củangân hàng chủ yếu là các động sản tài chính (các khoản cho vay, chứngkhoán) với tính rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng rất cao Ngày nay, khi công
Trang 17nghệ Ngân hàng ngày càng phát triển, cùng với sự phát triển của nền kinh tế,của công nghệ thông tin đã tạo điều kiện cho ngân hàng giảm bớt rủi rothông qua việc đa dạng hoá khách hàng, đa dạng hoá sản phẩm và mở rộngthị trường, nhưng cũng lại làm tăng tính rủi ro do các biến động lớn trên thếgiới và khu vực, hay do thông tin sai lệch… Bản thân các ngân hàng cũngluôn mong muốn các rủi ro không xảy ra hoặc nếu có xảy ra thì có thể giảmthiểu thiệt hại đến mức thấp nhất Các ngân hàng không thể biết trước hoặc
dự đoán chính xác các vấn đề sẽ xảy ra, mặc dù khi lập chiến lược hoạt độngchung các ngân hàng cũng có đưa một số loại rủi ro vào nhưng cũng chỉ cótính chất đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ hết các rủi ro được
2/ Phân loại rủi ro
Có rất nhiều tiêu thức để phân loại rủi ro trong hoạt động của Ngânhàng, bản thân rủi ro trong hoạt động Ngân hàng cũng rất đa dạng và phứctạp, nhưng nhìn chung có thể phân chia theo một số dạng chủ yếu sau đây:
Rủi ro tín dụng rất khó kiểm soát hay quản lý với diễn biến phức tạp cóthể xảy ra cho các Ngân hàng bất cứ lúc nào, với bất kỳ món vay nào và nó
có thể làm ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của Ngân hàng, nặng hơn nó có
Trang 18thể khiến Ngân hàng đi đến bờ vực của sự phá sản, gây hậu quả nặng nề choNgân hàng.
2.2/ Rủi ro lãi suất.
Lãi suất là giá cả của sản phẩm Ngân hàng hay cũng chính là chi phí đểvay, là giá phải trả cho việc chuyển quyền tạm thời sử dụng vốn trong mộtthời gian nào đó
Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi lãi suấtthay đổi ngoài dự kiến
Trong quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và khách hàng tồn tại hai loạilãi suất: lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay Cả hai loại lãi suất trênđều biến động theo quy luật cung cầu của thị trường Do đó, mọi sự thay đổicủa lãi suất đều có thể tác động đến việc làm tăng giảm thu nhập, chi phí vàlợi nhuận của Ngân hàng, điều đó cũng có nghĩa là Ngân hàng cũng thườngxuyên phải đối đầu với khả năng gặp phải rủi ro lãi suất
Nguyên nhân gây ra rủi ro lãi suất là do sự không cân xứng giữa các tàisản nợ và có Nếu ngân hàng dùng các tài sản nợ ngắn hạn để đầu tư vào cáctài sản có dài hạn thì khi lãi suất ngắn hạn tăng lên, trong khi lãi suất đầu tưvẫn giữ nguyên, ngân hàng sẽ gặp rủi ro Ngược lại, nếu ngân hàng dùng tàisản nợ dài hạn để đầu tư vào tài sản có ngắn hạn thì khi lãi suất đầu tư giảmngân hàng cũng có nguy cơ gặp rủi ro
Ngoài ra rủi ro lãi suất còn có thể xảy ra do các nguyên nhân khác như:
Do bất lợi trong cạnh tranh, buộc ngân hàng phải tăng lãi suất huyđộng và hạ lãi suất cho vay để thu hút khách hàng, do đó làm tăng chiphí và làm giảm thu nhập của ngân hàng
Do cung tiền tệ nhỏ hơn cầu tiền tệ nên ngân hàng phải tăng lãi suất
Trang 19để huy động vốn, ngân hàng phải giảm lãi suất cho vay….
Do chính sách ưu đãi trong cho vay của nhà nước nên Rủi ro lãi suất
có liên quan chặt chẽ với rủi ro tín dụng
2.3/ Rủi ro thanh khoản.
Rủi ro thanh khoản là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khinhu cầu thanh toán thực tế vượt khả năng thanh toán dự kiến làm gia tăngcác chi phí để đáp ứng các nhu cầu về thanh khoản hoặc làm cho ngân hàngmất khả năng thanh toán Khi những người gửi tiền đồng thời có nhu cầu rúttiền gửi ở ngân hàng ngay lập tức sẽ phát sinh rủi ro thanh khoản đối vớingân hàng Một ngân hàng hoạt động bình thường phải đảm bảo được khảnăng thanh toán hiện tại, trong tương lai và đột xuất Trong điều kiện bìnhthường, nhu cầu rút tiền có thể được dự báo trước và được đảm bảo bằng dựtrữ tiền mặt hoặc tài sản có an toàn với tính lỏng cao Tuy nhiên, vào cácmùa lễ, kỳ nghỉ và đặc biệt là khi người gửi tiền nghi ngờ sự an toàn vàthiếu tin tưởng vào khả năng kinh doanh, thanh toán cũng như điều hành củangân hàng, công chúng có yêu cầu rút tiền ồ ạt, khi đó ngân hàng đứng trướckhả năng chịu tổn thất do nhu cầu thanh toán thục tế vượt quá khả năng dựkiến làm cho ngân hàng mất khả năng thanh khoản Ngoài ra, rủi ro thanhkhoản cũng có thể xảy ra do sai sót nghiệp vụ, hay bị lợi dụng trong thanhtoán séc, thanh toán điện tử…
Rủi ro thanh khoản là rủi ro nguy hiểm nhất đối với ngân hàng và cóliên quan đến sự sống còn của một ngân hàng
2.4/ Rủi ro hối đoái.
Trang 20Rủi ro hối đoái là khả năng xảy ra những tổn thất cho ngân hàng khi
tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá thay đổi dự tính Những rủi ro này có thểphát sinh trong tất cả các nghiệp vụ liên quan đến ngoại tệ của ngân hàngnhư: cho vay, huy động vốn bằng ngoại tệ, mua bán ngoại tệ, đầu tư chúngkhoán bằng ngoại tệ…Rủi ro hối đoái là sự lỗ tiềm tàng cho các NHTM Khi
tỷ giá ngoại tệ biến động thì giá trị tài sản có ròng bằng ngoại tệ thay đổi vàrủi ro ngoại hối xảy ra khi giá trị này âm Điều này xảy ra trong 2 trườnghợp đó là trạng thái “trường” và “đoản” về hối đoái Nếu ngân hàng ở trạngthái ngoại tệ “trường” thì khi ngoại tệ tăng giá ngân hàng sẽ có lãi, ngược lạingân hàng sẽ bị lỗ nếu ngoại tệ đó xuống giá Nếu ngân hàng đang ở trạngthái “đoản” về ngoại tệ nào đó, khi ngoại tệ lên giá ngân hàng sẽ bị lỗ vàngược lại
2.5/ Rủi ro hoạt động ngoại bảng
Hoạt động ngoại bảng là các hoạt động không thuộc bảng cân đối tàisản (nội bảng) Các hoạt động này không liên quan đến việc nắm giữ cácchứng khoán hay giấy nhận nợ sơ cấp hoặc ngân hàng phát hành các chứngkhoán hay giấy nhận nợ thứ cấp nhưng lại có thể ảnh hưởng đến trạng tháitương lai của bảng cân đối tài sản nội bảng, vì các hoạt động ngoại bảng cóthể tạo ra những tài sản có và tài sản nợ bổ sung cho bảng cân đối nội bảng.Xuất phát từ hoạt động ngoại bảng là ngân hàng thu được phí trong khikhông sử dụng đến vốn kinh doanh nên các hoạt động này ngày càng pháttriể, đi cùng với nó là những rủi ro tiềm ẩn Có trường hợp rủi ro trongtrường hợp ngoại bảng là nguyên nhân dẫn đến ngân hàng phá sản Nhưngthông thường các hoạt động ngoại bảng tham gia tích cực trong phòng ngừarủi ro tín dụng, rủi ro ngoại hối, rủi ro lãi suất…
Trang 212.6/ Rủi ro quốc gia
Rủi ro quốc gia là rủi rođầu tư nước ngoài mà khi ngân hàng gặp phảikhi đầu tư bản tệ cho cá công ty nước ngoài có trụ sở ở nước ngoài Rủi roquốc gia còn nghiêm trọng hơn cả trường hợp rủi ro tín dụng trong trườnghợp ngân hàng đầu tư cho các công ty nội địa, vì khi rủi ro xảy ra ngân hànghầu như không thể thu hồi lại một phần vốn nào
2.7/ Rủi ro công nghệ và hoạt động.
Rủi ro công nghệ phát sinh khi những khoản đầu tư cho công nghệkhông tạo ra khoản tiết liệm chi phí như dự kiến khi mở rộng quy mô hoạtđộng
Rủi ro hoạt động có liên quan chặt chẽ với rủi ro công nghệ và có thểphát sinh bất cứ khi nào khi hệ thống công nghệ bị trục trặc hoặc khi hệthống hỗ trợ bên trong ngừng hoạt động Ngoài ra còn có các rủi ro thuộc về
tự nhiên như động đất, bão lụt… hay do trộm cắp, hoả hoạn
2.8/ Rủi ro khác
Ngoài ra còn có các loại rủi ro khác như rủi ro môi trường, rủi ropháp lý, rủi ro tồn đọng vốn…
Có thể thấy rằng, đồng nghĩa với việc cố gắng loại trừ, hạn chế rủi ro
là việc hy sinh lợi nhuận và thủ tiêu các chức năng trung gian tài chính bởirủi ro luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh Do đó khi đánh giá hoạt độngkinh doanh hay khi đặt ra những kế hoạch kinh doanh cho chính mình, mọingân hàng đều chú trọng tới việc dụ báo sự biến động của thị trường, khảnăng thu hút khách hàng, thông tin từ khách hàng…để hạn chế đến mức thấpnhất những rủi ro có thể xảy ra
Trang 22II/ Lý thuyết về rủi ro tín dụng
1/ Khái quát về rủi ro tín dụng đối với hoạt động của ngân hàng.
Tín dụng là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng (cònđược gọi là tín dụng ngân hàng) Tín dụng là quan hệ vay mượn gồm cả chovay và đi vay, chính vì thế tín dụng là hoạt động sinh lời lớn nhất cho cácngân hàng thương mại đồng thời với nó cũng là hoạt động hàm chứa trongmình rủi ro lớn nhất - rủi ro tín dụng Khi thực hiện một hoạt động tài trợ cụthể, ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ antoàn cao nhất Và nhìn chung ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy antoàn Tuy nhiên, không một nhà kinh doanh ngân hàng tài ba nào có thể dựđoán một cách chính xác các vấn đề sẽ xảy ra Khả năng hoàn trả tiền vaycủa khách hàng có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân Hơn nữa, nhiềucán bộ ngân hàng không có khả năng thực hiện phân tích tín dụng thíchđáng Do vậy, trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, rủi ro là không thểtránh khỏi, là khách quan Nhiều quan điếm nhất trí rằng, rủi ro tín dụng làbạn đường trong kinh doanh, có thể đề phòng, hạn chế, chứ không thể loạitrừ Do vậy, rủi ro dự kiến luôn được xác định trước trong chiến lược hoạtđộng chung của ngân hàng
2/ Rủi ro tín dụng
2.1/ Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới rủi ro tín dụng:
Nguyên nhân bất khả kháng
Những nguyên nhân bất khả kháng tác động tới người vay, làm họmất khả năng thanh toán cho ngân hàng Ví dụ: thiên tia, chiến tranh hoặcnhững thay đổi tầm vĩ mô (thay đổi chính phủ, chính sách kinh tế, hàng ràothuế quan…) vượt quá tầm kiểm soát của người vay lẫn người cho vay
Trang 23Những thay đổi này thường xuyên xảy ra, tác động liên tục tới ngườicho vay, tạo điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn cho người cho vay Tuynhiên, khi tác động của những nguyên nhân này đến với người vay thì khảnăng trả nợ của họ đều bị suy giảm.
Nguyên nhân thuộc về chủ quan người vay
Trình độ yếu kém của người vay trong dự đoán các vấn đề kinhdoanh, yếu quản trong quản lý, chủ định lừa đảo cán bộ ngân hàng…lànguyên nhân gây rủi ro tín dụng Rất nhiều người vay mạo hiểm với kỳ vọngthu được lợi nhuận cao Để đạt được mục đích của mình, họ sẵn sàng tìmmọi thủ đoạn ứng phó với ngân hàng như cung cấp thông tin sai, muachuộc…Nhiều người vay đã không tính toán kĩ lưỡng hoặc không có khảnăng tính toán kĩ lưỡng những bất trắc có thể xảy ra, không có khả năngthích ứng và khắc phục khó khăn trong kinh doanh Có trường hợp doanhnghiệp chủ định lừa gạt, chiếm dụng vốn của ngân hàng, dùng một tài sản đểthế chấp vay nhiều nơi, không đủ năng lực pháp nhân.Trong trường hợp cònlại, người vay kinh doanh có lãi song không trả nợ cho ngân hàng đúng hạn
Họ chây ì với hy vọng có thể quỵt nợ, hoặc sử dụng vốn vay càng lâu càngtốt
Nguyên nhân thuộc về ngân hàng
Các hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn gắn liền với rủi ro, đôikhi là rủi ro không thể tránh khỏi, nhưng rủi ro thực sự xảy ra phần nhiều là
do chính các bản thân ngân hàng không tuân thủ đúng các nguyên tắc tíndụng
Có những ngân hàng không tôn trọng đầy đủ quy trình cho vay gây sự
sơ hở để khách hàng chiếm đoạt vốn của ngân hàng
Chất lượng cán bộ kém, không đủ trình độ đánh giá khách hàng hoặcđánh giá không tốt, cố tình làm sai…là một trong những nguyên nhân của
Trang 24rủi ro tín dụng Có nhiều cán bộ ngân hàng chưa thực sự gắn bó với hoạtđộng của ngân hàng, vì lòng tham, vì tư lợi mà gây tình trạng gian lận, thamnhũng, cố tình vi phạm quy định hoặc có hành vi lừa đảo gây thất thoát vốnnghiêm trọng.
2.2/ Các tiêu thức đánh giá rủi ro tín dụng.
Tín dụng là một hoạt động sinh lời lớn nhất của ngân hàng song cũng
có rủi ro lớn nhất Rủi ro này có rất nhiều nguyên nhân, đều có thể gây ra tổnthất, làm giảm thu nhập cho ngân hàng Có nhiều khoản tài trợ mà tổn thất
có thể chiếm phần lớn vốn của chủ, đẩy ngân hàng đến phá sản Do vậy, cácngân hàng phải cân nhắc kĩ lưỡng, ước lượng khả năng rủi ro và sinh lời khiquyết định tài trợ Khi hoạch định chiến lược phát triển chung, muốn dựđoán rủi ro dự kiến một cách chính xác nhất thì ngân hàng cần đo lườngđược rủi ro Đo lường rủi ro là cơ sở để ngân hàng xây dựng chính sách tíndụng hợp lý, chính sách lãi suất phù hợp cho từng thời kỳ, xây dựng hệ sốrủi ro cho từng loại sản phẩm…
Hiện nay các ngân hàng thường sử dụng một số chỉ tiêu sau để đánhgiá rủi ro tín dụng:
Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ: đây là chỉ tiêu thườngđược sử dụng nhất để đánh giá rủi ro tín dụng trong hoạt động tíndụng của ngân hàng
- Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đãđến hạn thoả thuận ghi trên hợp đồng tín dụng Đây là khoảnvay mà ngân hàng xếp vào khoản vay có vấn đề Nợ quá hạn cóhai loại: nợ quá hạn có khả năng thu hồi và nợ quá hạn không
có khả năng thu hồi
- Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ quá hạn / tổng dư nợ *100%.
Trang 25 Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ đòi trên tổng dư nợ.
Nợ có vấn đề
Tính đa dạng hoá của tài sản
Tình hình tài chính và phương án của người vay (các yếu tố của ngườivay) hoặc xếp hạng tín dụng người vay
Đảm bảo tiền vay
Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng
Môi trường hoạt động của người vay
Các chỉ tiêu khác: bên cạnh nợ quá hạn và nợ khó đòi, nhà quản lýngân hàng còn sử dụng các hình thức đo rủi ro tín khác, gắn liền vớichiến lược đa dạng hoá tài sản, lập hồ sơ khách hàng, trích lập quỹ dựphòng, đặt giá đối với các khoản cho vay…
Điểm của khách hàng: ngân hàng phân tích tình hình tài chính, năng
lực sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn…để lập hồ sơ về khách hàng,xếp loại và cho điểm Dựa vào các dấu hiệu này ngân hàng có thể thấy đượcphần nào rủi ro “tiềm ẩn” của khách hàng
Các khoản vay có vấn đề: là những khoản vay tuy chưa đến hạn, chưa
được coi là nợ quá hạn song ngân hàng nhận thấy có dấu hiệu kém lànhmạnh, có nguy cơ thành nợ quá hạn Khi đó các khoản vay này được xemxét, đành giá để có phương án xử lý cho phù hợp
Tính kém đa dạng của tín dụng: thực hiện nguyên lý đa dạng hoá là
biện pháp hạn chế rủi ro, ngân hàng sẽ tránh việc tập trung đầu tư vào mộtnhóm khách hàng, một nghành, hoặc một vùng hẹp để hạn chế rủi ro…
Mất ổn định vĩ mô: chính sách thường xuyên thay đổi, lạm phát cao,
tình hình chính trị mất ổn định, vùng hay bị thiên tai…đều tạo nên mất ổnđịnh vĩ mô, tác động xấu đến người vay Do vậy, mất ổn định vĩ mô đượcngân hàng xem là một nội dung phản ánh rủi ro tín dụng