1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

55 878 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Ngân hàng thương mại
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 405,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……… 3

PHẦN I HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN………5

1.1 Hệ thống Ngân hàng Việt Nam trước thời kỳ đổi mới………….5

1.2 Đổi mới căn bản và toàn diện hoạt động ngân hàng từ 1986 đến nay……….6

1.2.1 Cải cách hệ thống ngân hàng giai đoạn 1987 – 1990… 7

1.2.2 Đổi mới căn bản và toàn diện hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1990 – 1997……… 10

1.2.3 Hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1998 đến nay 12

PHẦN II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM………15

2.1 Hoạt động của ngân hàng trước đổi mới………15

2.1.1 Chức năng của ngân hàng……… 15

2.1.2 Phạm vi hoạt động của ngân hàng……….15

2.2 Hoạt động của ngân hàng thương mại thời kỳ đổi mới……… 17

2.2.1 Giai đoạn 1987 – 1990……… 17

2.2.2 Giai đoạn 1990 – 1999……… 18

2.2.3 Giai đoạn 2000 – 2005………21

PHẦN III ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI………40

3.1 Định hướng phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam…… 40

Trang 2

3.1.1 Mục tiêu phát triển ngân hàng nhà nước Việt Nam đếnnăm 2010 và định hướng đến năm 2020……… 40

3.1.2 Mục tiêu phát triển của các tổ chức tín dụng Việt Nam(TCTD) đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020……….41

3.1.3 Định hướng chiến lược phát triển các tổ chức tín dụngnước ngoài hoạt động tại Việt Nam……….44

3.1.4 Định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về tiền tệ vàhoạt động ngân hàng đến năm 2010………44

3.2 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thốngngân hàng Việt Nam trong thời gian tới……… 45

3.2.1 Giải pháp từ phía chính phủ và ngân hàng nhà nước 453.2.2 Giải pháp trong nội bộ các ngân hàng………47KẾT LUẬN……….54TÀI LIỆU THAM KHẢO………55

Trang 3

MỞ ĐẦU

Ở hầu hết các nước, ngành ngân hàng được coi là khu vực then chốtđảm bảo cho nền kinh tế quốc gia hoạt động một cách nhịp nhàng, vì vậykhu vực này được chính phủ các nước quan tâm đặc biệt, và là một trongnhững ngành được giám sát chặt chẽ nhất trong nền kinh tế, đặc biệt là tạicác nước đang phát triển Tuy nhiên hoạt động của các ngân hàng tại cácnước này thường bị chỉ trích mạnh mẽ đó là thiếu sức cạnh tranh và còn thụđộng trong hoạt động Ngoài ra, cơ chế và bộ máy quan liêu ở những nướcphát triển cũng làm cho hoạt động của các ngân hàng thương mại còn nhiềuhạn chế Kỹ năng quản trị ngân hàng còn nhiều yếu kém làm cho ngân hàngthương mại không đạt được hiệu quả chi phí, ví dụ các khoản vay không cókhả năng thu hồi đã làm tăng chi phí và dẫn đến mất khả năng thanh toáncủa ngân hàng

Hơn 20 năm qua, nhờ có đổi mới và hội nhập, Việt Nam đã kiểm soátđược lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo ra các điều kiện thuận lợi cho tăngtrưởng kinh tế cao và dần dần chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đạihoá và công nghiệp hoá, thu được nhiều thành tựu to lớn trong việc xoá đóigiảm nghèo, ổn định nâng cao đời sống nhân dân Cũng nhờ chính sách đổimới kinh tế trong 20 năm qua, ngành ngân hàng Việt Nam đã có những thayđổi to lớn và Việt Nam đã xây dựng được các cơ sở quan trọng về tiền tệ và

hệ thống ngân hàng phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường

Hiện nay trong quá trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, Việt Nam đãđạt được nhiều thay đổi trong hệ thống ngân hàng Tuy nhiên hoạt động củacác ngân hàng thương mại Việt Nam còn nhiều bất cập và chưa được quantâm đúng mức Để có thể xây dựng được một hệ thống ngân hàng hiện đại

có đủ năng lực cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập, chúng ta cần đánh gía lại

Trang 4

hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian qua một cáchkhách quan Qua đó giúp chúng ta nhìn thấy bức tranh toàn cảnh của hệthống ngân hàng Việt Nam điểm mạnh là gì và điểm yếu là gì? Có như vậymới giúp ta hoạch định chính sách cũng như quản trị ngân hàng thương mạitrở nên có hiệu quả hơn và nhờ đó mà nâng cao hoạt động ngân hàng, đónggóp vào tăng trưởng kinh tế.

Xuất phát từ chính những yêu cầu thực tế đó, tôi đã chọn vấn đề

nghiên cứu của chuyên đề là: “thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam” nhằm mục tiêu

đánh giá tổng quan hoạt động của các ngân hàng Việt Nam trong thời gianqua trên các khía cạnh về năng lực tài chính, khả năng cạnh tranh, tiến bộcông nghệ, cơ chế và thể chế cũng như trình độ của nguồn nhân lực… Qua

đó đưa ra một số gợi ý về mặt chính sách làm cho hệ thống ngân hàng hoạtđộng có hiệu quả hơn để góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nướctrong thời kỳ đổi mới Như vậy, để đạt được mục tiêu nghiên cứu kết cấucủa chuyên đề được chia làm ba phần:

Phần I Hệ thống ngân hàng Việt Nam

Phần II Thực trạng hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam.Phần III Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động củangân hàng Việt Nam

Trang 5

PHẦN I

HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN.

1.1 Hệ thống Ngân hàng Việt Nam trước thời kỳ đổi mới.

Ngày 6 tháng 5 năm 1951 Ngân hàng quốc gia Việt Nam được thànhlập với tư cách là ngân hàng phát hành trung ương, đồng thời kiêm nhiệmchức năng của ngân hàng thương mại Ngân hàng quốc gia Việt Nam cónhiệm vụ như sau:

 Phát hành giấy bạc và điều hoà lưu thông tiền tệ trong phạm vi cảnước

 Huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, điều hoà và mởrộng tín dụng nhằm phát triển sản xuất kinh doanh

 Quản lý ngân quỹ quốc gia

 Quản lý ngoại hối và thanh toán các khoản giao dịch với nướcngoài…

Nói chung ngân hàng quốc gia Việt Nam thực hiện những công việc

để thi hành chính sách tiền tệ, chính sách tín dụng, chính sách ngân hàng củaChính phủ Đó chính là một bước ngoặt trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng vàngân hàng ở nước ta

Tháng 1 năm 1960 Ngân hàng quốc gia Việt Nam được đổi tênthành ngân hàng nhà nước Việt Nam cho phù hợp với hiến pháp của nước ta.Thực hiện nghị định 171/CP ngày 26/10/1961 của chính phủ; chức năng;nhiệm vụ của ngân hàng nhà nước được mở rộng, hệ thống tổ chức đượchình thành từ trung ương đến các tỉnh, thành phố và quận huyện Đặc trưng

cơ bản về tổ chức và hoạt động của ngân hàng nhà nước lúc này là:

Trang 6

 Một mô hình ngân hàng duy nhất, có hệ thống tổ chức theo địa giớihành chính hoạt động theo nguyên tắc tập trung, bao cấp thống nhấttrong cả nước.

 Hệ thống ngân hàng nhà nước vừa thực hiện chức năng quản lý nhànước, vừa thực hiện chức năng quản lý tiền tệ, tín dụng và hoạt độngngân hàng

Sau khi thống nhất đất nước và hoàn thành viện quốc hữu hoá hệthống ngân hàng dưới chế độ cũ ở miền Nam, hội đồng Chính Phủ ra nghịđịnh 163/CP ngày 16 tháng 6 năm 1977 về cơ cấu tổ chức và bộ máy của hệthống Ngân hàng Việt Nam Từ đó, trên cả nước hình thành một hệ thốngngân hàng thống nhất trong cả nước

1.2 Đổi mới toàn diện hoạt động ngân hàng từ 1986 đến nay.

Trước khi đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt Nam được tổ chức như

là một hệ thống ngân hàng một cấp bao gồm Ngân hàng nhà nước Việt Nam

và hệ thống chi nhánh từ trung ương đến địa phương phân bố theo địa giớihành chính Hệ thống này vừa đảm nhận chức năng quản lý nhà nước về cácmặt hoạt động tiền tệ, ngân hàng, tín dụng và thanh toán vừa thực hiện chứcnăng kinh doanh của một ngân hàng thương mại Kiểu tổ chức hệ thống ngânhàng như thế này thích hợp với đặc thù của cơ chế quản lý kế hoạch tậptrung bao cấp lúc bấy giờ nhưng khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế nềnkinh tế kinh doanh thì nó tỏ ra kém hiệu quả và không còn phù hợp nữa.Năm 1986 trước sức ép của công cuộc đổi mới kinh tế đòi hỏi hệ thống ngânhàng Việt Nam bước vào thời kỳ chuyển đổi dần dần qua từng giai đoạn.Hình 1.1 mô tả tổ chức hệ thống ngân hàng nhà nước Việt Nam trước khi cảicách

Trang 7

Hình 1.1 Cấu trúc hệ thống ngân hàng Việy Nam trước khi cải tổ

Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Chi nhánh NH NN tỉnh, thành phố

Chi nhánh NH NN quận, huyện

Khách hàng

1.2.1 Cải cách hệ thống ngân hàng giai đoạn 1987-1990

Do hậu quả của lạm phát kéo dài, bắt nguồn từ mất cân đối nghiêmtrọng trong nền kinh tế quốc dân, thực trạng hoạt động tiền tệ tín dụng trongnhững năm 1980 là hết sức rối ren Tiền mặt phát hành trong lưu thông rấtlớn, năm sau cao hơn năm trước, với khối lượng lớn hơn nhiều lần nhưngvẫn không đáp ứng đủ cho nhu cầu sản xuất và lưu thông hàng hoá, tiền pháthành ra cơ bản không quay về qua quỹ ngân hàng Chức năng trung tâm tiềnmặt của ngân hàng bị thu hẹp Tiền mặt quay vòng nằm ngoài vùng kiểmsoát của ngân hàng với tất cả những tác động tiêu cực của nó đến đời sốngkinh tế xã hội

Trong tín dụng nhất là tín dụng ngắn hạn, dư nợ tăng rất nhanh phá

vỡ mọi chi tiêu kế hoạch quý, năm và dần dần thoát ly khỏi nguồn vốn huyđộng Tốc độ tăng tín dụng vượt xa tốc độ phát triển của sản xuất và lưuthông hàng hoá

Thanh toán không dùng tiền mặt bị đẩy lùi: thanh toán bằng hàngđổi hàng, mua bán lòng vòng bằng tiền mặt diễn ra phổ biến Chức năngquản lý nhà nước, chức năng hướng dẫn thanh toán trong nền kinh tế quốcdân của ngân hàng Nhà nước không thực hiện được Mối liên hệ hữu cơ giữa

Trang 8

tiền mặt và tiền gửi bị phá vỡ Khả năng thanh toán qua tài khoản ở Ngânhàng bị thu hẹp, thanh toán bằng tiền mặt ngày càng mở rộng.

Những yếu kém trên bắt nguồn chính từ tổ chức hoạt động của hệthống ngân hàng Từ khi ra đời, Ngân hàng nhà nước là ngân hàng pháthành, đồng thời vừa là ngân hàng trực tiếp cho vay vốn đối với nền kinh tếquốc dân, vừa là tổ chức quản lý nhà nước về tiền tệ tín dụng, thanh toán

Do vậy phương hướng hoạt động ngân hàng đã được xác định lại và

được thể hiện ở các nghị quyết của Đảng, quyết định của nhà nước: “Chuyển

mạnh hoạt động của ngân hàng sang hạch toán kinh tế và kinh doanh Xã Hội Chủ Nghĩa” 1 ; “Bên cạnh nhiệm vụ quản lý lưu thông tiền tệ của ngân

hàng nhà nước, cần xây dựng hệ thống ngân hàng chuyên nghiệp kinh doanh tín dụng và dịch vụ ngân hàng hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế ”2 ;“Kiện toàn ngân hàng nhà nước làm nhiệm vụ phát hành và quản lý

nhà nước về tiền tệ, tín dụng Phát triển các ngân hàng chuyên nghiệp là tổ chức kinh doanh tín dụng và dịch vụ ngân hàng ”3

Quán triệt phương hướng trên, ngày 26/03/1988 Hội đồng bộ trưởng

đã ban hành Nghị định số 53HĐBT với định hướng cơ bản là “Chuyển hẳn

hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh” Theo nghị quyết 53, hệthống ngân hàng Việt nam được tổ chức thành hệ thống ngân hàng 2 cấp baogồm: Ngân hàng nhà nước và ngân hàng chuyên doanh Hình 1.2 dưới đây

mô tả tổ chức hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1987-1990 theo nghịđịnh 53HĐBT

1 Nghị quyết hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 8 (khoá V)

2 Báo cáo chính trị tại đại hội Đảng lần thứ VI

3 Nghị quyết hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 2 (khoá VI)

Trang 9

Hình 1.2 Tổ chức hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1987-1990

Tổ chức hệ thống ngân hàng theo nghị định 53HĐBT có ưu điểm là

tách được chức năng kinh doanh khỏi chức năng quản lý của ngân hàng nhà

nước và trao chức năng kinh doanh cho các ngân hàng chuyên doanh Tuy

nhiên, tổ chức của hệ thống ngân hàng này còn quá nhiều khiếm khuyết như:

 Hệ thống ngân hàng vẫn còn mang tính chất độc quyền nhà nước,

chưa cho phép các thành phần kinh tế khác tham gia hoạt động ngân

hàng, trong khi chủ trương của chính phủ là phát triển nền kinh tế đa

thành phần

 Hệ thống ngân hàng theo mô hình của nghị định 53HĐBT vẫn chưa

chú trọng đến vai trò chức năng của ngân hàng nhà nước với tư cách là

một ngân hàng trung ương

 Cơ cấu tổ chức của ngân hàng còn khác lạ so với hệ thống ngân hàng

của các nước có nền kinh tế thị trường Điều này phần nào làm cản trở

Hệ thống Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam

Hệ thống Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam

Ngân hàng chuyên doanh

Ngân hàng chuyên doanh Ngân hàng Nhà nước Việt NamNgân hàng Nhà nước Việt Nam

Chi nhánh ngân hàng nhà nước Việt Nam

Chi nhánh ngân hàng nhà nước Việt Nam

Ngân hàng phát triển Nông Nghiệp Việt Nam

Ngân hàng Đô thị xây dựng Việt Nam

Ngân hàng Đô thị xây dựng Việt Nam

Ngân hàng ngoại thương Việt Nam

Ngân hàng ngoại thương Việt Nam

Chi nhánh NHPTNN

Chi nhánh NHDTXD

Chi nhánh NHDTXD Chi nhánhChi nhánhNHNTNHNT

Trang 10

quá trình hội nhập thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

1.2.2 Đổi mới căn bản và toàn diện hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1990-1997.

Xuất phát từ yêu cầu chuyển đổi từ cơ chế quản lý kinh doanh xã hộichủ nghĩa sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước cùng với chủtrương phát triển nền kinh tế đa thành phần Ngày 23/05/1990 Hội đồng nhànước ban hành pháp lệnh về ngân hàng nhà nước và pháp lệnh về các tổ chứctín dụng Hai pháp lệnh này đánh dấu thời kỳ cải cách toàn diện hệ thốngngân hàng Việt Nam lần thứ hai Với hai pháp lệnh này hệ thống ngân hàngViệt Nam được tổ chức tương tự như hệ thống ngân hàng các nước có nềnkinh tế thị trường Hình 1.3 dưới đây mô tả tổ chức hệ thống ngân hàng ViệtNam theo tinh thần pháp lệnh năm 1990

Hình 1.3 Tổ chức hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1990-1997.

Hệ thống ngân hàng Việt Nam

Hệ thống ngân hàng Việt Nam

Các tổ chức tín dụng

Các tổ chức tín dụng

Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Chi nhánh ngân hàng nhà nước Việt Nam

Chi nhánh ngân hàng nhà nước Việt Nam

Hợp tác xã tín dụng

Ngân hàng đầu tư

Ngân hàng thương mại cổ phần

Ngân hàng thương mại liên doanh

Ngân hàng thương mại liên doanh

Chi nhánh ngân hàng thương mại

Chi nhánh ngân hàng thương mại

Trang 11

Ưu điểm của hệ thống ngân hàng theo pháp lệnh năm 1990 là đã xoá

bỏ được tính chất độc quyền nhà nước trong hoạt động ngân hàng thươngmại thuộc nhiều loại hình sở hữu khác nhau Mặt khác với việc chính phủcho phép thành lập các ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nướcngoài đã góp phần hỗ trợ cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng nhưnhanh chóng chuyển giao công nghệ ngân hàng hiện đại vào Việt Nam

Hơn nữa việc cải cách hệ thống ngân hàng lần này đã chú trọng đếnvai trò ngân hàng trung ương, của ngân hàng nhà nước thể hiện thông quacác quy định về quản lý dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng thương mạinhằm bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động mộtcách lành mạnh, tránh được sự cố đổ vỡ như đã từng xảy ra trước khi cópháp lệnh

Cải cách hệ thống ngân hàng năm 1990 đã góp phần đa dạng hoá hoạtđộng ngân hàng về mặt hình thức sở hữu cũng như số lượng ngân hàng.Bảng 1.1 cho thấy sự phát triển của số lượng và hình thức sở hữu ngân hàngthương mại từ 1991 đến 1997

Bảng1.1 Phát triển ngân hàng thương mại Việt Nam từ 1991-1997

Nguồn: Báo cáo của ngân hàng nhà nước.

Mặc dù giai đoạn 1991-1997 nhờ pháp lệnh ngân hàng, hệ thống ngânhàng Việt Nam đã phát triển mạnh cả về số lượng, loại hình sở hữu cũng nhưchất lượng cung cấp dịch vụ của các ngân hàng ngày càng được cải thiện, tuy

Trang 12

nhiên để có được những bước tiến lớn hơn trong thời kỳ hội nhập, hệ thống

ngân hàng Việt Nam đòi hỏi cần có một nền tảng pháp lý vững chắc hơn đó

là luật ngân hàng

1.2.3 Hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1998 đến nay.

Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam và luật các tổ chức tín dụng được

quốc hội thông qua ngày 2/12/1997 và có hiệu lực thi hành vào ngày

1/10/1998 đã bắt đầu tạo ra một sân chơi bình đẳng và một nền tảng pháp lý

vững chắc cho hoạt động của ngân hàng Việt Nam Cơ cấu tổ chức hệ thống

ngân hàng Việt Nam ngày càng được hoàn thiện(xem hình 1.4) cụ thể như:

Hình 1.4 Tổ chức hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay

Đối với ngân hàng thương mại quốc doanh đẩy mạnh tiến trình tái cơ

cấu lại toàn diện hệ thống ngân hàng theo đề án tái cơ cấu lại ngân hàng

thương mại quốc doanh được chính phủ phê duyệt tháng 10/2001 nhằm tái

Hệ thống NHVN

Hệ thống NHVN

Các tổ chức tín dụng

Các tổ chức tín dụng

Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Chi nhánh NHNNVN

Chi nhánh NHNNVN

Hợp tác xã tín dụng

Công ty tài chính

Công ty tài chính

NHCP nông thôn

NHLD

Chi nhánh NHNN

Chi nhánh NHNN

NHCSXH

Trang 13

cơ cấu lại tổ chức bộ máy, tăng cường năng lực hoạt động, quản lý kinhdoanh, năng lực tài chính, phân biệt chức năng cho vay của ngân hàng chínhsách với chức năng kinh doanh tiền tệ của ngân hàng thương mại.

Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần củng cố và phát triển theohướng tăng cường năng lực quản lý và tài chính, đồng thời giả thế, sát nhập,hợp nhất hoặc bán lại các ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém về hiệuquả kinh doanh Bảo đảm quyền kinh doanh của các ngân hàng và tổ chức tàichính nước ngoài theo các cam kết đã ký, trước hết là hiệp định thương mạiViệt-Mỹ, hiệp định khung về thương mại dịch vụ (AFAS) của ASEAN Bảng 1.2 Phát triển ngân hàng thương mại Việt Nam từ 1999-2005

Nguồn: Báo cáo của ngân hàng nhà nước

Như vậy giai đoạn này chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ chưa từngthấy từ trước tới nay về sự thay đổi hệ thống ngân hàng Việt Nam cả về sốlượng và chất lượng Những tiền đề cơ bản ban đầu đáp ứng những cam kết

đã ký trong quá trình hội nhập của khu vực ngân hàng đã được tạo lập Tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống ngân hàng vững bước hội nhập kinh tế quốc

tế theo xu hướng của nền kinh tế hiện đại

Tuy nhiên hoạt động của hệ thống ngân hàng hiện nay vẫn còn cónhiều tồn tại và trở thành các thách thức lớn đối với ngành ngân hàng ViệtNam trong thời kỳ hội nhập Bởi vậy phần II sẽ tập đánh giá hoạt động của

4 Ngân hàng Ngoại thương, NH công thương, NH đầu tư và phát triển, NH nông nghiệp, NH nhà đồng bằng sông cửu long.

Trang 14

các ngân hàng Việt Nam một cách tổng quan dưới các góc độ về năng lực tàichính, khả năng quản lý, nguồn nhân lực và tiến bộ công nghệ.

Trang 15

PHẦN II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

VIỆT NAM.

2.1 Hoạt động của ngân hàng đổi mới.

2.1.1 Chức năng của ngân hàng.

Trước những năm 1988, Việt Nam chỉ tồn tại hệ thống ngân hàng mộtcấp, hoạt động của các ngân hàng chủ yếu là kinh doanh tín dụng, chưa xuấthiện các hoạt động dịch vụ khác NHNN vừa thực hiện chức năng quản lýnhà nước về ngân hàng, vừa thực hiện chức năng của ngân hàng kinh doanh

Hệ thống ngân hàng theo mô hình này đơn thuần chỉ là công cụ để thực hiệnchỉ thị, mệnh lệnh, các chỉ tiêu kế hoạch tiền tệ của chính phủ giao cho ngânhàng Tính chất hoạt động của ngân hàng gần giống như “cơ quan tài chínhthứ 2” bên cạnh bộ tài chính để cấp phát vốn cho nền kinh tế

2.1.2 Phạm vi hoạt động của ngân hàng.

Hoạt động của ngân hàng Việt Nam trong thời kỳ này chỉ là hoạtđộng cho vay Tín dụng được sử dụng làm công cụ thực hiện các nhiệm vụkinh tế, chính trị của đảng và nhà nước trong từng thời kỳ cách mạng Vốntín dụng ngân hàng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng,duy trì, củng cố và phát triển các tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa

Tuy nhiên cho vay của các ngân hàng dựa trên cơ sở chỉ đạo củachính phủ, chủ yếu cho vay quốc doanh, không quan tâm đến các thành phầnkhác; tín dụng mang tính bao cấp, cho vay không quan tâm đến hiệu quả, chỉthực hiện theo kế hoạch mệnh lệnh, không quan tâm đến thị trường cũng nhưcác quy luật kinh tế khách quan

Trang 16

Chưa phân biệt rõ chức năng tín dụng với chức năng tài chính- ngânhàng chính sách, NHNN vừa là người phát hành vừa là người cho vay; vừaquả lý vừa kinh doanh.

Bảng 2.1.Tỷ lệ vốn tín dụng tham gia cấu thành định mức

vốn lưu động của các doanh nghiệp

Coi nhẹ công cụ lãi xuất trong điều tiết cung cầu vốn Lãi xuất tiềngửi cao hơn lãi suất cho vay, lãi suất cho vay dài hạn thấp hơn lãi suất chovay ngắn hạn làm cho các doanh nghiệp tìm mọi biện pháp để vay vốn ngânhàng với lãi suất thấp, sử dụng tiền vay không đúng mục đích, không hiệuquả có trường hợp dùng tiền vay để gửi tiết kiệm hay cho vay lại

Tổ chức trồng chéo đội ngũ cán bộ đông về số lượng nhưng trình độkhông đồng đều, quản lý theo kiểu hành chính mệnh lệnh nên hiệu suất côngtác thấp

Nguyên nhân của tình hình trên là do trong thời gian dài không thừanhận nền kinh tế thị trường và chịu ảnh hưởng nặng nề tính bao cấp tronghoạt động tín dụng, dẫn đến không tích cực trong việc huy động vốn để chovay mà chỉ biết trông chờ, ỷ lại nhà nước, lấy nguồn vốn phát hành làmnguồn vốn chủ yếu để cho vay, không coi trọng hạch toán kinh doanh tronghoạt động tín dụng, tinh thần thái độ phục vụ phiền hà, thiếu văn minh Mặt

Trang 17

khác do lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất huy động nên các cơ sở vay sửdụng vốn lãng phí, vốn bị phân tán, thất thoát, không thu hồi được nợ, làmthiệt hại cho nhà nước Điều này đã làm cho tốc độ tăng tín dụng vượt xa tốc

độ phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá, ảnh hưởng không ít tới mọimặt đời sống kinh tế xã hội

2.2 Hoạt động của ngân hàng thương mại thời kỳ đổi mới.

2.2.1 Giai đoạn 1987-1990

Đây chính là giai đoạn thực hiện thí điểm hệ thống ngân hàng hai cấp.Trong thời kỳ này các ngân hàng bước đầu chú ý tới hiệu quả hoạt động bởivậy đã thúc đẩy tăng trưởng tín dụng đặc biệt là tín dụng ngắn hạn, trong đócho vay vốn lưu động chiếm từ 90 đến 95% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế.Tín dụng theo định mức vốn lưu động đã được xoá bỏ mà tín dụng trong thời

kỳ này chỉ nhằm bổ xung nhu cầu vốn vượt quá vốn cần thiết của doanhnghiệp Điều này đã phát huy được đòn bẩy tín dụng, chống bao cấp, thu hẹpdần phạm vi cấp phát vốn của ngân sách nhà nước thông qua tín dụng Bằngviệc cho vay trong và ngoài hạn mức tín dụng đã bước đầu gắn được hoạtđộng tín dụng của các ngân hàng với các hoạt động kinh doanh của cácdoanh nghiệp và buộc các doanh nghiệp phải sử dụng vốn hiệu quả hơn

Tuy nhiên hoạt động của các ngân hàng trong giai đoạn này cũng cònrất nhiều hạn chế và chưa có những ảnh hưởng tích cực đến hoạt động củanền kinh tế cụ thể là:

 Các ngân hàng luôn bị động trong hoạt động của mình do không nắmđược nhu cầu vốn của các đơn vị theo tỷ lệ trên cơ sở định mức Điềunày làm cho nhu cầu về vốn luôn căng thẳng, áp lực in tiền phục vụsản xuất và lưu thông cao hơn hạn mức tín dụng của nền kinh tế

Trang 18

 Tín dụng ngân sách tăng mạnh và chiếm tỷ trọng lớn, nếu năm 1986cho vay ngân sách chỉ chiếm 22% thì đến năm 1990 đã lên tới 74.4%.Điều này gắn liền với tỷ lệ lạm phát gia tăng trong thời kỳ này.

 Hoạt động tín dụng của ngân hàng không theo cơ chế hoạch toán kinh

tế thể hiện ở mức lãi suất âm(lãi suất cho vay < lãi suất huy động <tỷ

lệ lạm phát và bình quân lãi suất tiền gửi giai đoạn 1987-1990 là 72%năm, lãi suất cho vay 51,6% và tỷ lệ lạm phát là 183,8%)

Nguyên nhân chủ yếu của những yếu kém kể trên đó là các ngân hàngViệt Nam còn bị chịu ảnh hưởng nặng nề của cơ quan quản lý cũ vì đây làgiai đoạn nền kinh tế Việt Nam bắt đầu bước những bước đi đầu tiên sang cơchế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước, cơ chế quản lý mới chưahoàn chỉnh, chưa đủ mạnh để thoát ra khỏi cơ chế cũ

Mặc dù chức năng ngân hàng chuyên doanh và ngân hàng nhà nước

đã được tách ra tuy nhiên sự phân biệt vai trò, chức năng vẫn chưa rõ rànggiữa hai hệ thống này Do vậy tính pháp nhân, độc lập, và khả năng tự chịutrách nhiệm trong kinh doanh của các ngân hàng thương mại là hết sức hạnchế

Hầu hết các nguồn huy động được gồm cả vốn ngân sách sử dụng cấptín dụng theo hạn ngạch cho các doanh nghiệp thuộc các khu vực được nhànước chỉ định Chính điều này đã làm mất cân bằng cơ cấu giữa các ngành,các vùng, các thành phần kinh tế trong phạm vi toàn quốc

2.2.2 Giai đoạn 1990-1999

Giai đoạn này phản ánh nhiều chuyển biến tích cực đối với hoạt độngcủa hệ thống ngân hàng hai cấp ở Việt Nam hoạt động của các ngân hàngtừng bước đáp ứng tốt nhu cầu vốn của nền kinh tế Ngân hàng đã duy trìđược mức lãi suất dương và tiến dần đến mức lãi suất thị trường, từng bước

đa dạng hoá các hoạt động tín dụng và phát triển các dịch vụ ngân hàng mới

Trang 19

Trong hệ thống ngân hàng thương mại thời kỳ này, hệ thống ngânhàng thương mại cổ phần có sự phát triển mạnh về số lượng tuy nhiên cácngân hàng thương mại nhà nước vẫn nắm giữ một tỷ trọng thị phần chi phốitoàn hệ thống Bảng 2.2 cho biết thị phần của các ngân hàng thương mại từ

Nguồn: Hideto Saito thời báo kinh tế Việt Nam số 69, 28/8/1999

Bảng 2.3 cho thấy dư nợ tín dụng trong nền kinh tế tăng dần theo cácnăm và nó chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng dư nợ cho vay Điều nàycho thấy vai trò của hệ thống ngân hàng thương mại đã đóng vai trò tích cựchơn trong việc tạo vốn cho nền kinh tế và thông qua đó đóng góp một phầnkhông nhỏ vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong thập niên

90 của thế kỷ 20

Trang 20

Bảng 2.3 Dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại đối với

Nguồn: Niên giám thống kê, Ngân hàng nhà nước,% so với GDP tác giả dự tính

Tuy các ngân hàng Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc hoànthiện cơ chế quản lý, đa dạng hoá các loại hình cho vay và huy động vốn

nhưng hoạt động chính của các ngân hàng vẫn dựa chủ yếu vào hoạt động

cho vay chính điều này đẩy các ngân hàng thương mại phải gánh chịu nhiều

rủi ro như không thu hồi được nợ hoặc khó thu hồi nợ và đây cũng là thời kỳ

nợ xấu gia tăng mạnh tại tất cả các ngân hàng

Hình 2.1 Nợ quá hạn của hệ thống ngân hàng Việt Nam thập kỷ 90(%)

0 2 4 6 8 10 12 14

Nguồn: Thời báo kinh tế VN 2/1998, và thống kê của ngân hàng thế giới

2001.

Trang 21

Những tồn tại trên của hệ thống ngân hàng thương mại trong giaiđoạn này đó là hậu quả của cơ chế cũ để lại, hệ thống pháp luật còn nhiềuhạn chế, nền kinh tế phát triển chưa ổn định, trình độ của đội ngũ cán bộngân hàng còn nhiều bất cập.

2.2.3 Giai đoạn 2000-2005.

Trong giai đoạn này các ngân hàng Việt Nam đã tỏ rõ vai trò quantrọng đối với nền kinh tế Hiện ngân hàng là kênh huy động, cung ứng vốnchính cho nền kinh tế với 30% vốn đầu tư phát triển hàng năm và 40% tổngnhu cầu vốn của các doanh nghiệp được tài trợ bởi tín dụng ngân hàng Tuycòn thấp hơn so với một số nước khác, nhưng tổng dư nợ tín dụng qua hệthống ngân hàng đều tăng và đến cuối năm 2005 đã đạt 65.6% GDP, cao hơnmức bình quân chung của các nước có thu nhập thấp

Bảng 2.3 Dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế.

Đơn vị: Tỷ đồng

Nhà ĐBSCL

Các tổ chức tín dụng khác

Tổng cả hệ thống

% so với GDP

Nguồn: Ngân hàng nhà nước, % so với GDP tác giả dự tính.

Ngoài ra, các sản phẩm dịch vụ nhất là dịch vụ ngân hàng bán lẻ,ngày càng đa dạng và phong phú hơn Sự cạnh tranh giữa các ngân hàngngày một quyết liệt hơn, các ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng nướcngoài ngày càng lớn mạnh và đóng vai trò tích cực hơn rất nhiều Bảng 2.4cho thấy thị phần của ngân hàng thương mại nhà nước có xu hướng giảm nhẹnhưng vẫn chiếm một tỷ trọng cao đến tháng 8/2006 thị phần tiền gửi củacác ngân hàng thương mại nhà nước (gồm 5 ngân hàng thương mại và ngân

Trang 22

hàng chính sách) là 72.3% và thị phần tín dụng là 69.2% Thị phần tiền gửi

và tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần và ngân hàng thương mạinước ngoài và liên doanh ngày càng có xu hướng gia tăng tính đến tháng8/2006 thị phần của các loại hình ngân hàng này tương đương là 17.1%;19.9% và 10.5%; 10.9%

Bảng 2.4 Thị phần các ngân hàng thương mại Việt Nam đến tháng8/2006(%)

Hình 2.2 Tốc độ tăng trưởng tín dụng (CRED) và huy động vốn(DEPO)

của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 2001-2005.

Trang 23

Nguồn: tác giả dự tính dựa trên số liệu của ngân hàng nhà nước.

Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động của các ngân hàng qua cácnăm khá cao và cơ cấu huy động cũng đa dạng hơn từ các hình thức huyđộng như tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, tiền gửi thanh toán đến việc pháthành kỳ phiếu, trái phiếu

Tuy nhiên, trong báo cáo phát triển gần đây của ngân hàng thế giới,lĩnh vực cải cách chậm nhất trong nền kinh tế Việt Nam thời gian qua chính

là hoạt động của ngành ngân hàng Mặc dù, ngân hàng nhà nước chưa đồngtình với nhận định này tuy nhiên ngân hàng nhà nước cũng thừa nhận rằnghoạt động dịch vụ ngân hàng của Việt Nam xuất phát điểm còn thấp về trình

độ phát triển thị trường, tiềm lực về vốn yếu, công nghệ và tổ chức ngânhàng lạc hậu và trình độ quản lý thấp hơn so với nhiều nước trong khu vựccũng như trên thế giới

Một phần những yếu kém trên là do nền kinh tế Việt Nam có xuấtphát điểm thấp, cơ cấu kinh tế không hợp lý, thứ hạng cạnh tranh thấp- theobảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu do diễn đàn kinh tế thếgiới(World Economic Forum_WEF) tiến hành trong những năm gần đây chothấy vị trí cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam luôn bị tụt hạng: Nếu năm

2002 vị trí cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam là 65(trong đó chỉ số chiến

Trang 24

lược và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là 67, chỉ số về tham nhũng

là 71) thì sang các năm 2003, 2004,2005 vị trí cạnh tranh của nền kinh tếViệt Nam vẫn tiếp tục không được cải thiện Theo công bố mới nhất củaWEF ngày 26/09/2006 thì năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Namđứng thứ 77 tụt 3 bậc so với năm 2005, trong khối ASEAN Việt Nam chỉxếp trên Campuchia (103) Môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh nóichung của Việt Nam và nói riêng cho hoạt động của ngân hàng thương mạichưa hoàn thiện (theo công bố của WEF năm 2006 thì chỉ số về thể chế củaViệt Nam được xếp thứ 74) Bởi vậy, trong điều kiện toàn cầu hoá và nềnkinh tế thế giới có nhiều biến động như hiện nay, đã làm cho rủi ro của cácdoanh nghiệp ngày càng ra tăng và hệ thống ngân hàng thương mại ViệtNam cũng không nằm ngoài bối cảnh này Hiệu quả hoạt động ngân hàngphản ánh hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, của nền kinh tế: “sựthành đạt của khách hàng là sự thành đạt của ngân hàng” Điều này đồngnghĩa với rủi ro của ngân hàng thương mại tăng lên gấp bội do tính bất ổnđịnh, khó dự đoán của thị trường và tính lan truyền rủi ro của thời đại côngnghệ thông tin Hơn nữa sự yếu kém còn nảy sinh chính từ nội tại hệ thốngngân hàng thương mại Việt Nam như:

Trang 25

khi ngân hàng phát triển với quy mô ngày càng lớn, với số lượng chi nhánhngày càng mở rộng, khối lượng và tính chất công việc ngày càng nhiều vàphức tạp thì mô hình trên sẽ bộc lộ những điểm bất hợp lý

Năng lực quản lý, điều hành còn nhiều hạn chế so với yêu cầu của ngân hàng thương mại hiện đại.

Các công cụ và cách thức quản lý điều hành của ngân hàng thươngmại Việt Nam còn chưa theo kịp ngân hàng thương mại hiện đại Chiến lượckinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện tập trung chủ yếuđầu tư theo chiều rộng chứ không phải chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế

Hệ thống thông tin, theo dõi nợ, quản lý rủi ro không kịp thời chínhxác, đặc biệt sẽ dẫn tới sự thiếu minh bạch trong hoạt động tài chính ngânhàng Các ngân hàng thương mại Việt Nam chủ yếu vẫn coi tài sản thế chấp

là cơ sở đảm bảo tiền cho vay, kể cả đối với tín dụng ngắn hạn Các ngânhàng còn xem nhẹ bảo đảm theo dự án, trong khi việc sử lý tài sản thế chấp

để thu hồi nợ là vấn đề khó khăn do vướng mắc về mặt pháp lý, vì vậy khóthu hồi được vốn vay khả năng chi trả của các ngân hàng thương mại ViệtNam rất thấp (tỷ lệ tài sản có, có thể thanh toán và tài sản nợ phải thanh toánngay của nhiều ngân hàng thương mại Việt Nam thường nhỏ hơn 1, thấp xa

so với tỷ lệ này ở các nước trong khu vực và thế giới)

Vốn điều lệ và vốn tự có thấp

Vốn điều lệ là một chỉ tiêu phản ánh tiềm lực tài chính, đảm bảo antoàn trong hoạt động tài chính của ngân hàng thương mại và tạo lòng tin vớicông chúng Tuy nhiên, hiện nay vốn điều lệ của ngân hàng thương mại ViệtNam còn nhỏ bé, kể cả các ngân hàng thương mại quốc doanh

Bảng 2.5 Vốn tự có của các tổ chức tài chính Việt Nam

Đơn vị: Tỷ đồng

Trang 26

Năm 4 NHNN NHCS & NH nhà

ĐBSCL

Các tổ chức tín dụng khác

Tổng cả hệ thống

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Mặc dù trong quá trình thực hiện đề án cơ cấu lại các ngân hàngthương mại quốc doanh, Nhà nước đã “bơm” vốn cho các ngân hàng này tới

4 lần, nhưng tổng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại quốc doanhgồm 5 ngân hàng thương mại quốc doanh và một ngân hàng chính sách xãhội tính đến năm 2005 mới đạt khoảng 22.394 tỷ đồng, làm hạn chế khảnăng huy động và cung ứng tín dụng cho toàn nền kinh tế

Năng lực tín dụng ứng cho nền kinh tế chỉ đạt 35,3% GDP vào năm

2000 (các ngân hàng ở các nước trong khu vực 60%) mặc dù tỷ lệ này có giatăng qua các năm nhưng đến năm 2005 tỷ lệ dư nợ tín dụng cũng chỉ bằng65,6% GDP, thấp xa so với mức 80% của các nước trong khu vực Bìnhquân vốn tự có của các ngân hàng thương mại quốc doanh đến tháng 8/2006

khoảng 6.231 tỷ đồng hay xấp xỉ 390 triệu USD (trong đó hiện nay Ngân

hàng Nông nghiệp và ngân hàng Ngoại thương có mức vốn cao nhất cũng chi khoảng 9,4 nghìn tỷ hay 590 triệu USD và 8 nghìn tỷ hay 500 triệu USD), chỉ bằng ngân hàng cỡ trung bình trong khu vực; còn lại hầu hết các

ngân hàng cổ phần(tính cả ngân hàng cổ phần đô thị và nông thôn) thì mứcvốn bình quân tự có bình quân khoảng từ 500 tỷ đồng hay xấp xỉ 32 triệu

USD (trong đó có 3 ngân hàng thương mại cổ phần đô thị, hiện nay có số

vốn lớn nhất là ngân hàng Sài Gòn thương tín 2.4 nghìn tỷ hay 151 triệu USD, Ngân hàng Á Châu 1.4 nghìn tỷ hay 86 triệu USD và ngân hàng nhà

Hà Nội 1,2 nghìn tỷ hay 74 triệu USD).

Trang 27

Năng lực tài chính và quy mô hoạt động của các tổ chức tín dụngnhìn chung thấp so với ngân hàng trong khu vực và thông lệ quốc tế Do vốn

tự có thấp nên tỷ lệ an toàn vốn thấp, theo thông lệ quốc tế thì tỷ lệ vốn tự có

so với tổng tài sản có rủi ro tối thiểu là 8% tuy nhiên hiên nay các ngân hangthương mại Việt Nam mới chỉ đạt mức hơn 5% Với vốn tự có thấp, vốnđược phép huy động cũng sẽ thấp, do đó hạn chế hoạt động đầu tư, nhất làđầu tư vào các dự án lớn, nguy cơ rủi ro, nhất là đối với các tổ chức tín dụngloại nhỏ đang chiếm đa số về số lượng Mức vốn tự có nhỏ còn làm hạn chếkhả năng mở rộng cho vay bảo lãnh đối với các dự án lớn của các ngân hàngthương mại vì theo pháp luật các tổ chức tín dụng (Điều 79) quy định tổng

dư nợ cho vay đối với một khách hàng không quá 15% vốn tự có của tổ chứctín dụng

Trình độ cán bộ nhân viên ngân hàng chưa đáp ứng được yêu cầu của cơ chế thị trường

Hiện nay chất lượng và trình độ cán bộ được các ngân hàng thươngmại Việt Nam đặc biệt quan tâm và coi đó là một yếu tố quan trọng của việcnâng cao năng lực cạnh tranh Trong thời gian qua do các ngân hàng mởrộng mạng lưới hoạt động quá nhanh do vậy có nhu cầu cần tuyển dụng thêmcán bộ tăng rất mạnh tuy nhiên việc tuyển dụng đội ngũ cán bộ, nhân viênvẫn theo kiểu cũ, trình độ hạn chế về mọi mặt, làm cho chi phí hoạt độngtăng và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thươngmại Việt Nam Như có nhiều cán bộ ngân hàng không có trình độ ngoại ngữhay khả năng sử dụng công nghệ thông tin Nhiều cán bộ ngân hàng chưahình dung được những dịch vụ ngân hàng tiên tiến trên thế giới được giớithiệu qua đài, báo Tiềm ẩn rủi ro tín dụng cao là một minh chứng cho sựchưa thành thạo nghiệp vụ tín dụng Số người hiểu biết tường tận luật quốc

tế, các quy định chung của các tổ chức thế giới không nhiều

Ngày đăng: 29/03/2013, 10:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Cấu trúc hệ thống ngân hàng Việy Nam trước khi cải tổ - thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Hình 1.1. Cấu trúc hệ thống ngân hàng Việy Nam trước khi cải tổ (Trang 7)
Hình 1.2. Tổ chức hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1987-1990 - thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Hình 1.2. Tổ chức hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1987-1990 (Trang 9)
Hình 1.3. Tổ chức hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1990-1997. - thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Hình 1.3. Tổ chức hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1990-1997 (Trang 10)
Hình 1.4. Tổ chức hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay - thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Hình 1.4. Tổ chức hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay (Trang 12)
Bảng 2.1.Tỷ lệ vốn tín dụng tham gia cấu thành định mức - thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Bảng 2.1. Tỷ lệ vốn tín dụng tham gia cấu thành định mức (Trang 16)
Bảng 2.2. Thị phần các ngân hàng thương mại Việt Nam thập kỷ - thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Bảng 2.2. Thị phần các ngân hàng thương mại Việt Nam thập kỷ (Trang 19)
Hình 2.1. Nợ quá hạn của hệ thống ngân hàng Việt Nam thập kỷ 90(%) - thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Hình 2.1. Nợ quá hạn của hệ thống ngân hàng Việt Nam thập kỷ 90(%) (Trang 20)
Hình 2.3. Cho vay theo chỉ định so với tổng dư nợ cho vay nền kinh tế - thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Hình 2.3. Cho vay theo chỉ định so với tổng dư nợ cho vay nền kinh tế (Trang 33)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w