thành thủ tướng Nhật Bản, ông Shinto Abe đã có bài phát biểu tại phiên khai mạc thường niên đã đăng bài phát biểu của ông Abe trong tài liệu tham khảo đặc biệt ra ngày 3/3/2007 với tiêu
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quan hệ quốc tế vào cuối những năm 1990 của thế kỷ 20 và những năm 1990 của thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21 có những diễn biến bất ngờ Việc xác lập vị thế chính trị bằng chiến tranh truyền thống đã không được ưu tiên sử dụng như trước Các chủ thể tham gia quan hệ quốc tế trong thời gian này không đơn thuần tìm kiếm vị thế bá chủ thế giới bằng con đường quân sự mà có sự kết hợp với các sức mạnh khác Nhật Bản vốn là một cường quốc quân sự theo ý mình mà phải trong khuôn khổ pháp lý quốc giá và qte
Sau ctr, Nhật Bản là nước bại trận, kte bị kiệt quệ, vị thế cht bị suy giảm Cảm nhận thấm thía được những mất mát, do chiến tranh mang lại, kể từ sau đại chiến thế giới hai, Nhật Bản đã chọn con đường phát triển đất nước theo đường lối hoà bình Nước Nhật cam kết từbỏ chiến tranh, không duy trì quân đội, mà chỉ duy trì lực lượng phòng vệ Theo đường hướng này, những thập kỷ sau Nhật Bản đã vươn lên trở thành một cường quốc kinh tế, trở thành một trong ba trung tâm - tài chính lớn nhất thế giới cùng với Mỹ và liên minh châu
Âu (EU) Tuy nhiên Nhật Bản lại không có được vị thế chiến tranh tương xứng với tiềm lực kinh tế hùng mạnh của mình Vì vậy, trong thời gian gần đây, Nhật Bản đã và đang nỗ lực đê trở thành “quốc gia bình thường” như các quốc gia khác trên thế giới
Xuất phát từ thực tế đó, với mong muốn tìm hiểu tại sao khi Nhật Bản đã là một “chàng khổng lồ” về kinh tế mà về phương diện chính trị lại là “chú lùn”? Và để khắc phục được tình trạng này, Nhật
Trang 2Bản đã và đang có chiến lược gì? Tại sao Nhật Bản phải tìm kiếm vị thế chính trị mới? Để tìm kiếm vị thế đó, Nhật Bản đã sử dụng các phương thức nào?
Trong bối cảnh quốc tế hoà bình, hợp tác, các quốc gia không ngừng tập trung phát triển kinh tế Việc Nhật Bản tìm kiếm vị thế chính trị mới có tác động như thế nào tới quan hệ quốc tế và đặc biệt tới sự phát triển của Việt Nam? Đó là những vấn đề lớn đang đặt ra
dv các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính trị và những người làm công tác đối ngoại đòi hỏi cần có sự giải quyết thoả đáng Trên thực tế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, cũng như các chính sách và phương thức Nhật Bản đang áp dụng như:P Trên báo Sài Gòn Giải phóng số ra ngày 23/11/2000 có đăng bài “Nhật Bản trở thành
uỷ viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc” của tác giả Mai Ngọc Bài báo đã đề cập thời điểm Nhật Bản thể hiện rõ mong muốn nâng cao vai trò của mình và phương thức hành động, cũng như thái độ của một số nước và tổ chức trước nỗ lực của Nhật Bản trong việc trở thành uỷ viên thường vụ của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc Hay như trên báo tin tức, trong mục Thếgiới sự kiện vớitiêu đề “Nhật Bản tìm kiếm vị thế cường quốc trong thế kỷ 21” với ba số liền ra các ngày 19, 21, 22/1/2002 đã nêu lên khái quát các phương thức Nhật Bản đã và đang tiến hành để tìm kiếm vị thế cường quốc trong thế kỷ mới Đặc biệt sau sự kiện khủng bố tấn công vào nước Mỹ có rất nhiều bài viết, bài nghiên cứu về chính sách đối ngoại và mục tiêu của Nhật Bản trong thế kỷ mới Điển hình là cuốn
“Trật tự thế giới sau 11-9” của Nhà xuất bản Thông tấn, Hà Nội, năm
2002 cũng đã phân tích việc “Nhật Bản tìm kiếm vị thế cường quốc trong môi trường an ninh quốc tế mới” Tiếp đến là Bài viết của TS
Trang 3Ngô Xuân Bình - Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản với tiêu đề “Điều chỉnh chính sách đối ngoại của Nhật Bản và tác động tới quan hệ Việt Nam - Nhật Bản” đăng trên tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 4, năm 2003 Bài viết đã đề cập tới phạm vi điều chỉnh của chính sách đối ngoại của Nhật Bản và tác động của nó.
Ngoài ra còn có nhiều bài nghiên cứu khác như: “Xu hướng phát triển chiến lược ngoại giao Nhật Bản trong thế kỷ mới” của Thông tấn xã Việt Nam, trong tài liệu tham khảo đặc biệt số ra tháng 2/2005 Bài viết đã phân tích một cách chi tiết bối cảnh, cũng như các hành động cụ thể của Nhật Bản như: “Vì sao Nhật Bản tăng cường mở rộng trang bị quân sự?” Tài liệu tham khảo đặc biệt ra ngày 16-9-2005 của Thông tấn xã Việt Nam Trong tài liệu tham khảo đặc biệt ra ngày 27/10/2005 của Thông tấn xã Việt Nam có bài
“Nhật Bản với chiến lược “nước bình thường”, nhấn mạnh đến mục tiêu của Nhật Bản trong thế kỷ mới
Bên cạnh đó trong Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và và Đông Bắc Á, số 1 (55) 2-2005 có đăng bài nghiên cứu của TS Trần Anh Phương dưới tiêu đề “Tìm hiểu chính sách của Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay Với phương thức lịch sử, TS Trần Anh Phương đã thể hiện rõ chính sách đối ngoại của Nhật Bản sau đại chiến thế giới hai đến nay Hay như bài dịch của Thanh Hà - Học viên Khoa học quân sự đã đặt ra một vấn đề rằng: “Trong tương lai Nhật Bản có thể trở thành một cường quốc quân sự - chính trị được không? (Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 7, tháng 9/2006 Cũng trong tạp chí này tháng 12/2006 lại có tiếp bài viết của PGS.TS Nguyễn Duy Dũng về việc “Điều chỉnh chiến lược đối ngoại của Nhật Bản trong bối cảnh Quốc tế mới Đặc biệt ngay sau khi trở
Trang 4thành thủ tướng Nhật Bản, ông Shinto Abe đã có bài phát biểu tại phiên khai mạc thường niên đã đăng bài phát biểu của ông Abe trong tài liệu tham khảo đặc biệt ra ngày 3/3/2007 với tiêu đề “Nhật Bản với chính sách ngoại giao tích cực… và còn rất nhiều bài viết khác như “Nhật Bản trên con đường trở thành quốc gia bình thường” của tác giả Khổng Thị Bình đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 66… đề cập tới quân đội của cựu Tổng thống thư ký Liên Hợp Quốc - ông Ozawa về “Nước Nhật bình thường” là thế nào?…
Có thể nói những bài viết và các công trình trên đá lý giải một cách khá thuyết phục rõ về việc xây dựng chiến lược phát triển nói chung, cũng như chính sách đối ngoại nói riêng của Nhật Bản Đặc biệt các công trình đã chỉ ra phương thức mà Nhật Bản đang tiến hành để đạt được mục tiêu chiến lược trong thế kỷ mới Tuy nhiên vẫn chưa có bài viết nào cập nhật và làm rõ chiến lược điều chỉnh của Nhật Bản nhằm nâng cao vị thế chính trị trong bối cảnh mới Đồng thời với mong muốn cố gắng tìm hiểu thực sự vị trí chính trị của Nhật Bản hiện nay là thế nào… Nên tôi đã lựa chọn đề tài này, với mong muốn cá nhân tôi có thể góp phần làm rõ hơn cách thức Nhật Bản tìm kiếm vị thế mới và có thể dự báo vị trí chính trị của Nhật trong tương lai
2 Đối ưtợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là chính sách đối ngoại
và phong cách tiến hành tìm kiếm vị thế chính trị mới của Nhật Bản
Trang 5Phạm vi và thờigian nghiên cứu của đề tài từ sau khi kết thúc chiến tranh lạnh đến nay.
3 Nguồn tài liệu
Đề tài này được hoàn thành trên cơ sở tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau
-Sách của một số nhà xuất bản (Nxb) khác nhau như: Nxb Thông tấn, Nxb Khoa học xã hội, Nxb Thống kê Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội …
-Các tạp chí: Tạp chí nghiên cứu Quốc tế, tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, tạp chí Kinh tế thế giới…
-Tài liệu tham khảo đặc biệt
-Tin tham khảo thế giới
-Và một số trang wed điện tử
4 Cấu trúc khoá luận
Khoá luận được cơ cấu làm ba phần chính: mở đầu, nội dung và kết luận
Phần mở đầu nêu khái quát về nguyên nhân Nhật Bản tìm kiếm
vị thế chính trị mới, cũng như mục đích đề tài hướng tới, nó là cơ sở
để nghiên cứu Đồng thời phần mở đầu cũng cho thấy đối tượng phạm vi nghiên cứu đề tài, cấu trúc khoá luận và nguồn tài liệu làm
cơ sở nghiên cứu
Trang 6Phần nội dung gồm có 3 chương: Chương 1: Đề cập khái quát
về chl tìm kiếm vị thế chính trị mới của Nhật Bản trong bối cảnh mới bao gồm có nguyên nhân tìm kiếm vị thế chính trị mới và chl của ng; chương 2 trình bày phương thức hành động tìm kiếm vị thế chính trị mới của Nhật Bản được thể hiện qua các phương diện khác nhau; Chương 3 là một số dự báo về vị thế chính trị của Nhật Bản trong thế
kỷ 21, cũng như những tác động của vị thế ấy khi Nhật Bản đạt được
Phần kết quận nêu lên những nét khái quát trên con đường Nhật Bản tìm kiếm vị thế chính trị nới và vận dụng vào quá trình hội nhập của Việt Nam
Để khoá luận được hoàn thành không chỉ có riêng bản thân tôi
mà còn nhiều cá nhân và cơ quan khác Vậy nên, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo và ban chủ nhiệm khoa Quốc tế học, cùng toàn thể các bạn trong và ngoài lớp K48 Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình, nhiệt tâm của thầy Nguyễn Duy Dũng, người đã giúp đỡ tôi trong suốt một hành trình hoàn chỉnh khoá luận này
Trang 7CHƯƠNG 1: CHIẾN LƯỢC TÌM KIẾM VỊ THẾ CHÍNH TRỊ
MỚI CỦA NHẬT BẢN.
1.1 NGUYÊN NHÂN CHỦ YẾU THÚC ĐẨY NHẬT BẢN TÌM KIẾM VỊ TRÍ CHÍNH TRỊ MỚI
1.1.1 Nguyên nhân bên ngoài.
Chiến tranh lạnh kết thúc làm cho tính chất của quan hệ quốc tế thay đổi Thế giới chưyềnt xu thế đối đầu sang xu thế hợp tác, cạnh tranh phát triển Kéo theo đó xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá diễn
ra ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc, đặc biệt là toàn cầu hoá về kinh tế Toàn cầu hoá đã tạo cơ hội thuận lợi cho nhiều quốc gia phát triển, như cựu tổng thư ký Liên Hợp Quốc đã nói: “Các nước nghèo vẫn nghèo không phải bởi họ có quá nhiều toàn cầu hoá mà bởi vì họ có quá ít toàn cầu hoá” Là quốc gia bại trận trong chiến tranh thế giới hai, bị thiệt hại nặng nề, những được sự giúp đỡ của Mỹ, Nhật Bản đã sớm tham gia toàn cầu hoá và đã trở thành một trong ba trung tâm kinh tế, tài chính lớn trên thế giới Nhật Bản được mệnh danh là một
“chàng khổng lồ” về kinh tế Không những vậy, những năm sau đó Nhật Bản không ngừng tập trung vào phát triển kinh tế, đưa đối ngoại phát triển theo con đường hoà bình… Đây là cơ hội để Nhật Bản tăng cường vai trò, ảnh hưởng chính trị trên trường quốc tế Đặc biệt sau chiến tranh lạnh, kinh tế càng có vai trò quan trọng, là tiêu chuẩn đánh giá sự thịnh suy của mỗi quốc gia Với ưu thế vượt trội ấy, Nhật Bản nỗ lực đóng góp cho cộng đồng quốc tế, tất yêu sẽ đem lại vị thế chính trị xứng đáng cho Nhật Bản
Trang 8Môi trường quốc tế những năm 1990, đã đem lại cho Nhật Bản không ít những thuận lợi, với ưu thế vượt trộ về kinh tế, Nhật Bản đã thông qua thực lực kinh tế và sức mạnh phát triển khoa học và kỹ thuật để thâm nhập và mở rộng ảnh hưởng của mình Toàn cầu hoá về kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nước tăng cường hợp tác với nhau Vốn là quốc gia nghèo tài nguyên, nhưng lại có trình độ công nghệ cao, Nhật Bản đã tận dụng lợi thế đó của mình để tìm kiếm các hình thức hợp tác điển hình là hợp tác kinh tế Nhờ những ảnh hưởng về kinh tế mà Nhật Bản dần mở rộng được quan hệ trên mọi mặt, nhất là về phương diện chính trị.
Chiến tranh lạnh kết thúc làm cho tương quan lực lượng trên thế giới thay đổi Lx tan rã, Mỹ trở thành siêu cường duy nhất trên thế giới Song với sự biến đổi mạnh mẽ của tình hình thế giới Sự vượt trội của xu thế hoà bình, hợp tác và toàn cầu hoá, nhiều quốc gia
đã vươn lên trở thành đối thủ cạnh tranh với Mỹ trên nhiều lĩnh vực Thậm chí việc công nghệ cao, chẳng hạn như sản xuất rôbót của Nhật Bản đã vượt Mỹ… Vìthế, khả năng duy trì vai trò lãnh đạo tuyệ đối của Mỹ như trước kia chắc chắn không dễ dàng Cùng với đó xu thế
đa cực hoá trong nền chương trình thế giới càng được biểu hiện rõ, là tiền để quan trọng để các nước, trong đó có Nhật Bản độc lập hơn trong hành động Nhất là trong hoạt động đối ngoại và chính trị, Nhật Bản dần dần thoát khỏi ảnh hưởng của Mỹ, từ đó nâng cao dần sức mạnh chính trị của mình trong các quan hệ quốc tế
Mặc dù sau chiến tranh lạnh, xu thế hoà bình hợp tác là chủ yếu, nguy cơ chiến tranh thế giới nhìn chung bị đẩy lùi Song ở nhiều nơi trên thế giới những cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo vẫn diễn ra Đặc biệt, trong những năm đầu thế kỷ 21, nhân loại đã chứng kiến
Trang 9nhiều sự kiện gây chấn động lớn, có tác động và ảnh hưởng mạnh tới quan hệ quốc tế Điển hình là sự kiện những kẻ khủng bố tấn công vào nước Mỹ 11-9-1001.
Ngày sau đó, một loạt các vụ khủng bố đã diễn ra ở nhiều nơik gây bất ổn tại hhiều quốc gia và khu vực tiêu biểu là vụ khủng bố ở đảo Bali (Inđônêsia), vụ thảm sát tại Beslam Caga); vụ khủng bố tấn công vào ga tầu điện ngầm ở Thủ đô London (Anh)… khủng bố đã gây nên những thiẹt hại nghiêm trong về người và của, đặc biệt ảnh hưởng lớn tới đời sống sh thường nhật của những thường dân vô tội
và gây mất ổn định ở nhiều nơi… Vì vậy, ngay sau vụ khủng bố
11-9, Mỹ đã phát động một cuộc chiến chống khủng bố trên quy mô toàn thế giới và đã được nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, khu vực ủng
hộ Bởi nguy cơ khủng bố đe doạ không loại trừ quốc gia nào, vì thế, trong cuộc chién này Nhật Bản đã nhanh chóng ủng hộ Mỹ Ngay sau khi Mỹ phát động cuộc chiến chống khủng bố, đến ngày 29/10/2001 quốc gia Nhật Bản đã thông qua đạo luật đặc biệt chống khủng bố theo đạo luật này Nhật Bản có thể hỗ trợ hậu cần cho quân Mỹ…
Tuy nhiên, mặc dù ủng hộ Mỹ, song do bị hạn chế trong khuôn khổ Hiến pháp hoà bình năm 1946, Nhật Bản cam kết từ bỏ chiến tranh, không duy trì lực lượng quân sự, mà chỉ cho phép đội phòng
vệ làm nhiện vụ an ninh Do vậy, Nhật Bản không trực tiếp tham chiến và chỉ hỗ trợ về tài chính, hậu cần, khả năng tác chiến của họ bị hạn chế Vì vậy việc chưa được phép đưa quân đội ra nước ngoài là hạn chế mà Nhật Bản đang tìm cách khắc phục để có vị thế bình thường như các quốc gia khác trong việc bảo vệ hình ảnh của mình
và tham gia các nghĩa vụ quốc tế Bên cạnh chủ nghĩa khủng bố,
Trang 10xung đột sắc tộc, tôn giáo đang diễn ra khá phổ biến và ngày càng trầm trọng hơn Sau một thập kỷ phát triển, nhiều vấn đề toàn cầu được đặt ra: ô nhiễm môi trường, bệnh tật hiểm nghèo, phổ biến vũ khí hạt nhân huỷ diệt, khoảng cách phát triển, cạn kiệt tài nguyên… đang trở thành mối quan tâm của toàn nhân loại Để giải quyết những vấn đề này cần có sự hợp tác của nhiều quốc gia, nhất là của các nước phát triển, trong đó có Nhật Bản Đây là một điều kiện thuận lợi
để Nhật Bản có thể tham gia sâu rộng hơn vào việc giải quyết các vấn
đề quốc tế với tư cách là một cường quốc kinh tế Từ đó Nhật Bản phát huy được vai trò chiến tranh của mình qua những đóng góp vào việc giải quyết các vấn đề toàn cầu trên
Hơn nữa với sự ra đời của nhiềutổ chức khu vực và toàn cầu: ASEM, APEC, ARF, ASEAN + 1, ASEAN + 3, NDB, WTO… Nhật Bản có cơ hội đểthể hiện vai trò của mình thông qua những đóng góp tài chính, và các sáng kiến… Đặc biệt, trong những năm đầuthế kỷ
21, lần đầutiên các nước Đông á đã có một hội nghị chung với tên gọi
là Hội nghị thượng đỉnh Đông Á, Lần đầu được tổ chức vào tháng
12-2005 tại Kualalumpua (Malaysia)… nhằm hướng tới sự hợp tác toàn diện như kiểu liên minh châu âu (EU) Hội nghị này, cùng các thể chế đa phương kể trên đã tạo cơ hội cho Nhật Bản hoà nhập hơn nữa với khu vực và thông qua những đóng góp cho thể chế này để phát huy vai trò chính trị của mình
Sau một loạt các sự kiện diễn ra vào đầu thế kỷ 21, chúng đe doạ tới an ninh, ổn định và phát triển của toàn thế giới… Cộng đồng quốc tế càng nhắc nhiều tới vấn đề cải tổ Liên Hợp Quốc, nhất là cải
tổ Hội đồng Bảo an Nhật Bản được coi là ứng cử viên có khả năng trở thành uỷ viên thường trực Bởi vì một trong các nguyên tắc của
Trang 11chương trình cải tổ được ông Kofi ânnn - Cựu thư ký Liên Hợp Quốc đưa ra năm 1997, nước muốn trở thành uỷ viên thường trực phải có đong sgóp nhiều cho Liên Hợp Quốc vềtài chính, quân sự, ngoại giao Đây là điều kiện thuận lợi đối với Nhật Bản Vì Nhật Bản hiện đang là quốc gia có đóng góp lớn thứ hai, sau Mỹ (25%) Hiện nay Tổng mức đóng góp tài chính của Nhật Bản cho Liên Hợp Quốc chiếm hơn 20% ngân sách của Liên Hợp Quốc Mức đóng góp ấy của nước Nhật lớn hơn cả mức đóng góp tài chính của Anh (5,1%), Nga (1,1%), Pháp (6,5%)1 nhận được sự ủng hộ của 4 nước thuộc uỷ viên thường trực có quyền phủ quyết là anh, Mỹ, Pháp, Nga (trừ Trung Quốc chưa có thái độ rõ rang) Đây thực sự là một cơ hội thuận lợi để Nhật Bản nâng cao và khẳng định vị trí chính trị của mình.
Sau chiến tranh lạnh, quan hệ Nhật - Mỹ có bước chuyển biến mới phù hợp với sự vận động của quan hệ quốc tế Vẫn với phương châm đối ngoại lấy quan hệ với Mỹ làm hòn đá tảng Song hiện nay, Nhật Bản ngày càng có bước đi độc lập hơn với Mỹ trong các vấn đề toàn cầu và chủ động tích cựctham gia các sứ mệnh quốc tế Trên lĩnh vực chính trị, tuy có sự ràng buộc bởi hiệp ước an ninh Nhật -
Mỹ được ký kết năm 1951, nhưng Nhật Bản dần thể hiện được sự độc lập tự chủ trong hành động, việc Nhật Bản nối lại viện trợ cho Việt Nam vào tháng 11-1992, mặc dù tới tháng 2- 1994 Mỹ mới tuyên bố huỷ bỏ cấm vận cho Việt Nam là một ví dụ về sự độc lập trong hành động đối ngoại với Mhx Mộ sự kiện khác cũng chứng tỏ ngày càng
có bước đi độc lập trong quan hệ với Mỹ Năm 2002, Nhật Bản đã thể hiện sự độc lập và chủ động trong việc giải quyết vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, với chuyến thăm Bình Nhưỡng của Thủ
1 ASSESjments for the Regular budget Finamced by najor contrisutor (2000) trên trang Web: http://www.mofa.go.Jp/policy/q-a/fa95.html.
Trang 12tướng Nhật Bản khi đó là Ko-Zu-Mi, hai nước đã tuyên bố chung Nhật - Triều (17-9-2002) về việc bình thường hoá quan hệ hai nước Hành động này của Nhật Bản khiến Mỹ không hài lòng Dư luận Mỹ coi đó là tín hiệu Nhật Bản muốn “độc lập” với Mỹ về đối ngoại và
an ninh
Trên lĩnh vực an ninh: Nhật Bản cho rằng họ là đối tác an ninh chiến lược không tách rời của Mỹ ở Đông Á Hai nước nhận thấy rằng, tỏng bối cảnh quốc tế mới cầnthiết phải cùng phối hợp hành động Đặc biệt Mỹ ủng hộ Nhật Bản phát triển hơn nữa lực lượng phòng vệ của mình, mở rộng khả năng tác chiến để cùng Mỹ chia sẻ trn quốc tế Trong thế kỷ 21, những mối đe doạ mới lại xuất hiện như chủ nghĩa khủng bố quốc tế, phổ biến vũ khí hạt nhân huỷ diệt, xung đột sắc tộc, tôngiáo… Thêm vào đó là sự trỗi dậy cả về kinh tế và quân sự của Trung Quốc trong những năm gần đây khiến cả Mỹ và Nhật đều lo ngại… Vì vậy, hai nước đã có sự hợp tác ngày càng chặt chẽ hơn Trong cuộc họp “2 + 2” giữa Ngoại trưởng và Bộ trưởng quốc phòng Mỹ với Ngoại trưởng và Cục trưởng Cục phòng vệ Nhật Bản diễn ra ngày 23-11-2005, hai nước đã ra thông cáo chung “đồng minh Nhật - Mỹ: vì cải cách và tổ chức lại trong tương lai” Thông cáo khẳng định trn cùng chia sẻ phòng vệ và tác chiến của hai bên khi chiến sự xảy ra… Theo đó Nhật Bản sẽ cùng Mỹ phối hợp hành động vì lợi ích hai nước và thế giới Đây là cơ sở pháp lý thuận lợi để Nhật Bản có thể cùng Mỹ can dự hơn nữa vào công việc an ninh quốc tế
Như vậy trong quan hệ với Mỹ, Nhật Bản vừa có bước đi chủ động, độc lập, đồng thời vừa có hợp tác chặt chẽ với Mỹ trên lĩnh vực an ninh… Trên con đường tìm kiếm địa vị chính trị mới, nước
Trang 13Nhật đã dành được sự ủng hộ của Mỹ về việc sửa đổi hiến pháp, nhất
là sự ủng hộ và phát triển lực lượng phòng vệ lên tầm cao mới, để cóthể trở thành quân phòng vệ, để có thể phối hợp với Mỹ một cách
dễ dàng trong trường hợp khẩn cấp
Không những vậy, Nhật Bản còn dành được sự ủng hộ củ các nước ASEAN, Ấn Độ, và một số nước Trung Á, Trung Đông và cả ở Châu Phi… Do những đóng góp và hỗ trợ lớn của Nhật Bản về Mặt tài chính và hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đem lại Một sự đóng góp đáng chú ý gần đây cảu Nhật Bản là việc giải quyết những khủng hoảng hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên Nhằm tháo gỡ sự bế tắc trong các cuộc đàm phán đa phương, Nhật Bản đã chủ động tiến hành các cuộc đmà phán song phương với CHĐCN Triều Tiên về việc bình thường hoá quan hệ Nhật - Triều Trong các cuộc đàm phán này, Nhật Bản luôn nêu điều kiện CHĐCN Triều Tiên phải từ bỏ chương trình phát triển vũ khí hạt nhân và giải quyết vấn đề các con tin Nhật Bản bị bắt cóc, thì mới bình thường hoá Chính áp lực này từ phía Nhật Bản buộc CHĐCN Triều Tiên phải xem xét lại thái độ của mình Và việc các bên ngồi lại để thảo luận đưa các cách giải quyết chung phù hợp với quy tắc quốc tế cho thấy vài trò tích cực của Nhật Bản trong việc giải quyết các vấn đề khu vực nói chung và cuộc khủng hoảng hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên nói riêng
Như vậy bối cảnh quốc tế và khu vực sau chiến tranh lạnh đã tạo điều kiện cho Nhật Bản có thể tham gia mở rộng hơn nữa trông việc giải quyết các vấn đề chung Qua đó Nhật Bản có thể phát huy được những lợi thế của mình Đẩy mạnh việc xác lập vị trí chính trị mới Nhật Bản sớm tìm được cho mình tiếng nói trong các quan hệ quốc tế lớn
Trang 141.1.2 Nguyên nhân bên trong.
Mặc dù sau chiến tranh lạnh kinh tế Nhật Bản bước vào thời kỳ suy thoái, nạn thất nghiệp gia tăng, sự đổ vỡ của nền kinh tế “bong bóng”, tình trạng thiếu ổn định của đồng Yên… Song Nhật Bản vẫn được coi là một trong ba trung tâm tài chính lớn của thế giới Trong những năm đầu thế kỷ 21, kinh tế Nhật Bản có mức tăng trưởng âm, nếu năm 2001 GDP của Nhật Bản là (-2,4%), năm 2002 có tăng nhưng vẫn ở chỉ số âm (-0,8%)…Nhưng dưới sự dẫn dắt cảu Thủ tướng Lozumi, với các chính sách mới về cải cách cơ cấu kinh tế - tài chính, cải cách hành chính và cải cách cơ cấu xã hội… Điển hình là cải cách ngành Bưu chính - Viễn thông, kinh tế Nhật Bản đã có bước phục hồi Điều đó chứng tỏ sức mạnh kinh tế lớn của Nhật Bản Sự thịnh vượng và ổn định của Nhật Bản không bị đe doạ, mà trái lại đang dần được hồi sinh và phát triển Để cải cách kinh tế là việc làm cần thiết để đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng suy thoái Qua đó, Nhật Bản có thể giữ vững vị trí cường quốc kinh tế, tiếp tục có đóng góp hơn nữa vào các công việc quốc tế, dần khẳng định được địa vị chính trị của mình
Từ sau chiến tranh lạnh đến những năm đầu thế kỷ 21, Nhật Bản đã trở thành nước cung cấp ODA lớn nhất thế giới Năm 1998 tổng kim ngạch viện trợ ODA đã thực thi của Nhật Bản là 10,68 tỷ USD, đứng đầu thế giới 8 năm liền [ 64, tr.6] Với sức mạnh kinh tế, Nhật Bản ngày càng có nhiều đóng góp cho cộng đồng quốc tế Như cựu thủ tướng Keiifu đã khẳng định Nhật Bản “dùng các nguồn kỹ thuật, công nghệ, kinh tế và vốn kinh nghiệm của nước mình làm cơ
sở đóng góp một vai trò tích cực trong các cố gắng quốc tế nhằm tạo nên một trật tự mới [ 7, tr.30] như vậy, kinh tế là cơ sở vật chất vững
Trang 15chắc để Nhật Bản tăng cường ảnh hưởng, mở rộng phạm vi hoạt động quốc tế.
Bên cạnh tiến trình kinh tế, kỹ thuật, trong việc tìm kiếm vị thế chính trị mới Nhật Bản còn có cơ sở tinh thần, xã hội Đó chính là sự thay đổi trong nhận thức của người dân vàgiới lãnh đạo Nhật Bản
Dư luận dân chúng ủng hộ việc Nhật Bản phải có địa vị chiến tranh tương xứng với tiềm lực kinh tế Trước thế kỷ mới, với nhiều biến đổi của tình hình thế giới tác động nhiều chiều tới quốc gia “mặt trời mọc” Dân chúng Nhật Bản cho rằng: nước Nhật cần tham gia nhiều hơn vào các công việc quốc tế “Họ (Nhật Bản) không chỉ đóng góp về mặt tài chính rồi nói đã làm được nhiều việc cho hào bình thế giới [1, tr31] Theo điều tra số người ủng hộ Nhật Bản tham gia vào các công việc quốc tế ngày càng nhiều Để tham gia đóng góp hơn nữa cho hoà bình thế giới thì việc làm quan trọng hàng đầu của Nhật Bản là sửa đổi hiến pháp Nếu trước đây vấn đề này đều bị phản đối mạnh mẽ, nay dư luận có thiên hướng ủng hộ nhiều hơn Ví dụ việc tán thành dự luật mới cho phép lực lượng phòng vệ của Nhật Bản tăng cường sức mạnh, tham gia nhiều hơn nữ trong việc đảm bảo an ninh quốc tế và khu vực, theo điều tra của báo Yoniuri thực hiện năm
2002 cho thấy: có tới 48% dân Nhật ủng hộ Dự luật này, vf chỉ có 21% phản đối2
Không những dư luận dân chúng Nhật Bản có sự thay đổi, mà ngay trong gới lãnh đạo cũng có tham vọng nâng cao khả năng chương trình của đất nước mình Đa số các nhà lãnh đạo Nhật Bản hiện nay là những người sinh ra chiến tranh, hoặc ít có dính líu tới
2 Nhật Bản sau sự kiện 11-9 ở Mỹ trên trang web http://www.ncnb.org/vn
Trang 16chiến tranh Thêm nữa họ lại có tình thần dân tộc chủ nghĩa Một nhân vật tiêu biểu là ông Ichiro Ozawa, từng là Bộ trưởng phụ trách các vấn đề trong nước dưới thời Thủ tướng Nakasone (1985), đồng thời là tổng thư ký đảng Dân chủ tự do - LDP (1989) Với tác phẩm
“Đường hướng về một nước Nhật Bản mới” ông đã kêu gọi Nhật Bản thức tỉnh trước những thay đổi của thế giới, tiến hành cải tôt chính trị, pháp lý quân sự, tiến tới trở thành “quốc gia bình thường” Để trở thành quốc gia bình thường theo ông Ozawa, Nhật Bản phải ở thế chủ động, nghĩa là tham gia tích cực hơn vào các công việc quốc tế Nhật Bản không chỉ dừng lại ở việc viện trợ kinh tế, mà còn phải đóng góp đảm bảo an ninh của thế giới
Đồng thời để tăng cường tham gia các công việc quốc tế thì Nhật Bản cần phải sửa đổi Hiến pháp Mong muốn này thực sự được bắt đầu triển khai dưới nhiệm kỳ của thủ tướng Kozumi Nội các Lozumi đã đưa ra các dự luật sửa đổi Hiến pháp, thắt chặt liên minh mới Mỹ, và xây dựng lực lượng phòng vệ mạnh Sự nghiệp này lại được người kế nhiệm ông - tân Thủ tướng Shinzo Abe tiếp tục thực hiện, khi ông Abe lên cầm quyền vào năm 2006 Ông Abe đã tuyên
bố một trong những vấn đề trọng tâm của ông là xem xét lại bản Hiến pháp Ông nói rằng: “Điều 9 cần được xem xét lại trên quan điểm bảo
vệ Nhật Bản và nhằm đáp ứng sự mong đợi của cộng đồng quốc tế muốn Nhật Bản - nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, có nhứng đóng góp lớn hơn cho an ninh quốc tế [ 31, tr.6] Tất cả những quan điểm trên cho thấy các nhà lãnh đạo Nhật Bản có tham vọng đưa nước mình trở thành quốc gia có ảnh hưởng lớn trong các vấn đề toàn cầu
Mặt khác, sau nhiều lần phản đối, đến nay Đảng Dân chủ Nhật Bản (DPJ), một đảng đối lập cũng tán thành việc sửa đổi Hiến pháp,
Trang 17làm cho tiến trình trở thành “quốc gia bình thường” của Nhật Bản được thuận lợi hơn Vấn đề sửa đổi Hiến pháp tăng cường sức mạnh hoạt động của lực lượng phòng vệ Nhật Bản được coi trọng hơn Như vậy, trở lực trên con đường tìm kiếm vị thế chính trị mới trong thế kỷ
21 của Nhật Bản đã giảm đi phần nào
Mặc dù còn có một số khó khăn, song sau chiến tranh lạnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều thuận lợi cho Nhật Bản Để phát huy được những thuận lợi, tăng cường sức mạnh nội lực, tích cực đóng góp cho cộng đồng quốc tế đòi hỏi Nhật Bản phải có những chiến lược và phương thức hành động phù hợp Nó là vấn đề quan trọng để nước Nhật có thể tăng cường hơn nữa hình ảnh của mình trong lòng cộng đồng quốc tế và làm cho tiếng nói của Nhật ngày càng có trọng lượng lớn hơn trong việc giải quyết các vấn đề chung
1.2 CHIẾN LƯỢC TÌM KIẾM VỊ THẾ CHÍNH TRỊ MỚI CỦA NHẬT BẢN
Tài liệu tham khảo đặc biệt ra ngày 08-12-2005 của Thông tấn
xã Việt Nam, có đăng bài “Xung quanh kế haọch cơ cấu lại chiến lược của Nhật Bản”, trong đó có đoạn viết: “Với mục đích, động lực
và chủ nghĩa tượng trưng không thể sai lầm, các nhà lập chính sách của Nhật Bản đã bắt tay vào những biện pháp chủ chốt mới trong tiến trình đánh giá lại chiến lược của mình Những biện pháp chắc chắn đang đưa Nhật Bản nổi lên như một cường quốc bình thường” Tương
tự như vậy, nhà chính trị gia Ozawa đã xác định: Nhật Bản đã trở thành nước lớn kinh tế, vì vậy cần trở thành nước quốc tế với tiền đề trước tiên phải trở thành “nước bình thường” Như vạy, theo hai quan điểm này có thể nhận thấy, chiến lược quốc gia của đưa đất nước
Trang 18phát triển thành “nước bình thường” như các quốc gia độc lập khác Vậy thế nào là “nước bình thường” Theo hình dung cua Ozawa, nước Nhật “bình thường” phải là quốc gia có tinh thần tự chủ, độc lập hơn trong chính sách an ninh đối ngoại Mà biểu hiện cụ thể chính là sự tham gia tích cực hơn của Nhật Bản trong các công việc quốc tế, không chỉ dừng lại ở viện trợ kinh tế, ngành còn đóng góp cho an ninh thế giới , độc lập trong hành động.
Nhưng tại sao chiến lược của Nhật Bản lại là “nước bình thường”? vì nước Nhật sau chiến tranh thế giới thứ hai với thất bại nặng nề, họ đã lựa chọn cho mình phát triển đối ngoại theo con đường hoà bình Nhật Bản đã cam kết từ bỏ chiến tranh, không duy trì hải, lực, không quân… mà việc đảm bảo an ninh quốc gia Nhật Bản do quân đội Mỹ đảm nhiệm Không những vậy, cam kết này còn được ghi trong Hiến pháp ra đời năm 1946 và cho tới nay nó vẫn nguyên giá trị
Ngày nay, với cục diện thế giới thay đổi, thì những ràng buộc trên đã cản trở con đường trở thanh nước lớn chính trị của của Nhật Bản Vì vậy, Nhật Bản muốn thay đổi nó cho phù hợp với tình hình mới Đặc biệt, khi vị thế kinh tế Nhật Bản được khẳng định, Nhật Bản tất yếu có nhu cầu bảo vệ mình hơn và tăng cường sức mạnh chính trị của mình hơn nữa Vì vậy sửa đổi Hiến pháp, Nhật Bản muốn triển khai quân khi cần thiết để bảo vệ mình và đóng góp cho cộng đồng quốc tế
Như vậy, mục tiêu chung nhất của đối ngoại “Mặt trời mọc” này là trở thành “nước bình thường” Là một chủ thể độc lập trong quan hệ quốc tế Nhật Bản cũng mong muốn có quyền được hành
Trang 19động bình thường như các chủ thể khác Mặt khác với vai trò là nước lớn kinh tế, Nhật Bản tất yếu mong muốn một vị thế chiến tranh xứng đáng Một khi Nhật Bản đạt được mong muốn là “quốc gia bình thường” thì vị thế chiến tranh mới của Nhật Bản trong thế kỷ tới sẽ được định hình rõ hơn.
Tuy nhiên nói đến chất lượng quốc gia ngoài mục tiêu chiến lược, còn có các biện pháp chiến lược Để thực hiện được mục tiêu chiến lược, Nhật Bản sẽ có những biện pháp chiến lược nào? Hiện nay Nhật Bản đã và đang tiến hành nhiều biện pháp để đưa đối ngoại thành một “quốc gia bình thường” hay “nước lớn quân sựnb đã thực hiện chính sách ngoại giao tích cực: tăng cường quan hệ với các nước trên thế giới Hiện nay, Nhật Bản đã thực hiện chính sách quay trở lại châu Á, cải thiện quan hệ với các nước láng giềng Thực hiện ngoại giao tích cực nhằm đóng góp thực sự cho hoà bình ở châu Á và thế giới Cốt lõi của ngoại giao Nhật Bản là “Liên minh Nhật - Mỹ vì thế giới và châu Á” [32, tr.2]
Để đạt được mục đích trở thành “quốc gia bình thường”, mục tiêu trước mắt của Nhật Bản là trở thành Uỷ viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, và phải độc lập về chính trị, đối ngoại Đây thực sự là chiến lược đầy tham vọng của Nhật Bản Và để cải thiện được vị thế chính trị hiện thời, biến mục đích chiến lược ấy thành hiện thực, Nhật Bản sẽ có nhiều phương thức hành động
Trang 20CHƯƠNG 2 PHƯƠNG THỨC HÀNH ĐỘNG NHẰM TÌM KIẾM
VỊ THẾ CHÍNH TRỊ MỚI CỦA NHẬT BẢN.
2.1 NÂNG CAO SỨC MẠNH KINH TẾ, QUÂN SỰ, VĂN HOÁ NGOẠI GIAO
2.1.1 Tăng cường sức mạnh kinh tế.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, với những điều kiện thuận lợi, cùng việc thực hiện chính sách từ bỏ chiến tranh, đưa đối ngoại phát triển theo con đường hoà bình, kinh tế Nhật Bản đã phát triển vượt bậc Đặc biệt là trong hai thập kỷ 1970 và 1980, là thời kỳ kinh tế Nhật Bản “cất cánh” mạnh mẽ trở thành hiện tượng “thần kỳ” của nền kinh tế thế giới với mức tăng trưởng GDP đạt 10,8%, [9, tr.296] Nhật Bản được xếp vào hàng thứ hai nước lớn về kinh tế Kinh tế lớn mạnh đương nhiên thúc đẩy Nhật Bản tìm kiếm vị thế chiến tranh, thực hiện mục tiêu trở thành “quốc gia bình thường” Tuy nhiên bước vào thập kỷ 1990, kinh tế Nhật Bản rơi vào tình trạng đình trệ tới hơn
10 năm, mà lịch sử gọi là “10 năm mất trắng” Cùng với sự tồn tại những vấn đề mang tính lịch sử giữa Nhật Bản với các quốc gia châu
Á chưa được giải quyết thoả đáng Nên nỗ lực trở thành “nước lớn chính trị” của Nhật Bản vẫn chưa thành hiện thực
Bước sang thế kỷ 21, Nhật Bản vẫn theo đuổi mục tiêu trở thành “nước lớn chính trị” Để tìm kiếm vị thế chính trị mới, phương thức đầu tiên Nhật Bản tiến hành là phải chấn hưng kinh tế Trong những năm 1990 nền kinh tế bong bóng của Nhật Bản đổ vỡ và đình trệ Đầu tư tư nhân giảm sút, nợ xấu khó đòi cao năm 1998, khoản nợ
Trang 21xấu lên tới 10% GDP3, tác động tới tăng trưởng kinh tế GDP của Nhật Bản năm 1990 là dương 3%, đến những năm cuối thập kỷ giảm xuống tới mức âm 2% GDP năm 1997 là -0,7%, năm 1998 là - 1,8%[
53, tr.44] Tỷ lệ thất nghiệp khá cao, nhất là ở giới trẻ, năm 1991 là 2,1%4 Cho đến năm 1999 kinh tế Nhật Bản có bước phục hồi Song,
sự phục nồi này của nền kinh tế kéo dài không lâu Đến tháng
10-2000, nền kinh tế Nhật Bản chấm dứt sự phục hồi Đây đưcợ coi là giai đoạn phục hồi ngắn nhất trong lịch sử kinh tế Nhật Bản (kéo dài
từ tháng 4/1990 đến tháng 10/2000) Sau đó, kinh tế Nhật Bản lại bước vào giai đoạn khó khăn, ảm đạm
Trước thực trạng trên của nền kinh tế, vấn đề đặt ra dv Nhật Bản là phải cải cách lại cơ cấu kinh tế Với thể chế và cơ cấu kinh tế theo mô hình “đuổi và vượt” được hình thành từ sau chiến tranh thế giới mô hình này còn kìm hãm sự phát triển kinh tế của Nhật Bản trong thế kỷ 21 Vì thế ngay sau khi lên cầm quyền, Thủ tướng Kozumi đã nhấn mạnh tới cải cách kinh tế Với khẩu hiêj “không có tăng trưởng, nếu không có cải cách”, chính quyền Kozumi đã tiến hành cải cách cơ cấu kinh tế toàn diện và sâu rộng nhằm tạo ra những thay đổi cơ bản cho nền kinh tế Thủ tướng Kozumi đã tiến hành cải cách hệ thống thuế, cải cách dv ngành sản xuất nông nghiệp,… Đáng chú ý nhất trong một loạt các cải cách của ông Kozumi là việc cải cách ngành bưu chính Cải cách này được coi là khâu then chốt, một đòn bẩy để mở đường cho nền kinh tế Nhật Bản đi lên
Ngành Bưu chính ở Nhật Bản có một đặc điểm đặc biệt, đây là nơi thực hiện các dịch vụ bưu chính, đồng thời còn kiêm cả dịch vụ 3,4 Ngoai thương số 25, ng y 1-10/9/2005, tr30 à
4
Trang 22ngân hàng tiếp nhận tiền gửi và thực hiện dịch vụ bảo hiểm của dân chúng Ngành này có số nhân viên làm việc tới hơn 100.000 người và
có doanh thu tới 3000 tỉ USD mỗi năm5 không những thế, đây là ngành mà từ lâu đã thuộc độc quyền kinh doanh của Nhà nước Vì vậy, tình trạng trì trệ của ngành này là khó tránh khỏi Nên ông Kozumi đã tiến hành cải tổ ngành bưu chính theo hướng tư nhân hoá Mặc dù, ban đầu gặp phải sự phản đối từ nhiều phía, song cuộc cải cách thành công đã mang lại hiệu quả tích cực cho nền kinh tế
Với những cải cách đúng hướng, ông Kozumi đã đem lại sinh lực mới cho nền kinh tế Nhật Bản Tính đến tháng 7-2005 tỷ lệ thất nghiệp của Nhật Bản giảm xuống còn 4,2% đây là mức thấp nhất trong vòng 7 năm qua
Trước đó, phải kể đến việc cải cách hệ thống tiền tệ dưới thời thủ tướng Hashimoto Như chúng ta đã biết, lưu thông tiền tệ ở Nhật Bản theo lối gián tiếp Nghĩa là các ngân hàng nhận tiền gửi từ các cá nhân, rồi từ đó cho các xí nghiệp vay… chính phủ khuyến khích các
cá nhân gửi tiền vào các ngân hàng với lãi suất khá hấp dẫn Trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới hai mô hình này rất có hiệu quả Vì
nó đem lại nguồn vốn cần thiết để phát triển kinh tế Tuy nhiên từ cuối thập kỷ 1980, với việc sử dụng khoản tiền dư thừa ở ngân hàng
để đầu tư vào ngành nhà đất, trong khi trình độ và kỹ năng quản lý ngành này còn thiếu đã gây nên sự tăng trưởng không bền vững cho nền kinh tế Vì vậy cải cách tài chính - tiền tệ được coi là quan trọng
và cần thiết
5 Thông tấn xã Việt Nam (2005), “Xu hướng phát triển của Nhật Bản sau bầu cử, t i li à ệu tham khảo đặc biệt, ng y 19-9-2005, tr.12 à
Trang 23Tháng 11 năm 1996, nội các Hashimoto đưa ra kế hoạch “Đại bùng nổ tiền tệ” thông qua các biện pháp nới lỏng quản lý Đồng thời Nhật Bản đã tiến hành tổ chức lại hệ thống tiền tệ Nhưng do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á vào cuối thập kỷ 1990, khiến cho nỗ lực cải cách của Nhật Bản gặp nhiều khó khăn.
Hơn nữa, cũng vào thời điểm đó, các xí nghiệp ở Nhật Bản rơi vào tình trạng sản xuất thừa, trong khi nhu cầu tiêu dùng xã hội giảm
Vì vậy, một trong các biện pháp để nâng cao sức mạnh kinh tế, Nhật Bản phải cải cách các xí nghiệp Việc cải cách các xí nghiệp được thực hiện theo hướng điều chỉnh cơ cấu và nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngành Các nhà hoạch định chl kinh tế của Nhật Bản đã chỉ ra rằng một trong những nguyên nhân làm cho kinh tế Nhật Bản đình trệ trong thập niên 1990 là sự yếu kém trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mà quan trọng nhất là kỹ thuật tin học, không theo kịp tốc
độ phát triển của thế giới
Nhận thức được tầm quan trọng của kỹ thuật tin học, Nhật Bản
đã chủ trương tạo điều kiện thúc đẩy phát triển ngành này và các ngành liên quan để đưa kinh tế phát triển và vượt được qua thời kỳ suy thoái Trong diễn văn nhậm chức của cựu Thủ tướng Nori (2000)
đã coi kỹ thuật tin học là trụ cột quan trọng nhất để đưa đối ngoại hồi sinh Đồng thời nội các Nhật Bản còn thông qua “Luật cơ bản thúc đẩy hình thành xã hội tin học - Thông tin “cao tốc”, và thành lập “Uỷ ban chiến lược thúc đẩy hình thành xã hội thông tin cao tốc để phát triển ngành tin học
Để khắc phục tình trạng yếu kém về kinh tế, việc dậy nền kinh
tế, ngay khi trở thành Thủ tướng, ông Kozumi đã đưa ra chính sách
Trang 24đối nội, trong đó ông chủ trương dành ưu tiên số một cho việc phục hồi kinh tế Trước tiên là thực hiện tiếp các đối sách kinh tế mà cựu Thủ tướng Nori đưa ra.
Với mục tiêu, lấy sức mạnh kinh tế để khôi phục địa vị chính trị, nội các Kozumi đã đưa ra ba cuộc cải cách: một là cải cách cơ câus kinh tế tài chính Trong đó ông chú trọng tới việc loại bỏ các khoản nợ xấu, khó đòi; Thứ hai là xây dựng hệ thống kinh tế có sức cạnh tranh trong thế kỷ 21 Để thực hiện chủ trương này, Nhật Bản sẽ xúc tiến tạo ra các ngành công nghệ mới, tạo thêm cơ hội việc làm cho người lao động; Ba là tiếp tục chính sách coi phát triển tin học là trụ cột trong sự vực dậy nền kinh tế do cựu Thủ tướng Mori đưa ra như đã trình bày ở trên, Nhật Bản đặt mục tiêu trong 5 năm đưa nước này thành nước hàng đầu về công nghệ thông tin Hiện nay, Nhật Bản
là nước đứng đầu thế giới về mạng internet không dây
Để giải quyết tình trạng thất nghiệp, Nhật Bản đã ban hành luật thuê công nhân mới, có nhiều điểm thay đổi so với trước kia Nước Nhật thời xưa được biết đến như là quốc gia của “việc làm suốt đời” Bên cạnh những ưu điểm, tạo lòng trung thành, hình thành xã hội tương đối bình đẳng, nó cũng tạo ra sự thiếu năng động, chi phí doanh nghiệp lớn ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp Bởi vậy kể từ năm 2003, luật pháp Nhật Bản đã cho phép thực hiện các hợp đồng tạm thời, theo đó các doanh nghiệp được quyền thuê lao động theo giờ Biện pháp này đã tăng khoản lợi nhuận cho các công ty, trong khi chi phí cho lao động giảm bớt Nếu năm 1998, khoản tiền mà các doanh nghiệp trả lương cho công nhân chiếm khoảng 73% thu nhập cùa doanh nghiệp, thì đến năm 2004 khoản tiền này giảm xuống còn 64 % thu nhập của doanh nghiệp Đồng thời, với
Trang 25luật mới này giúp cho thanh toán các khoản nợ với ngân hàng Nếu năm 2001, khoản nợ của các doanh nghiệp với ngân hàng lên tới
43000 tỉ, thì đến nay các khoản nợ ấy giảm xuống còn 20000 tỉ Yên (năm 2004 là năm 23000 tỷ Yên) [ 27, tr.17] Chính biện pháp cải cách này là một điểm sáng thúc đẩy kinh tế Nhật Bản vững bước
Bằng những biện pháp cải cách kịp thời, những năm đầu thế kỷ
21, thế giới lại chứng kiến sự vực dậy của kinh tế Nhật Bản Thời điểm đánh dấu kinh tế Nhật Bản tiếp tục cất cánh là vào năm 2004, tới mức tăng trưởng GDP là 2,7%, năm 2005 đạt 2,6%, với tổng sp GDP đạt 4,9 nghìn tỉ USD; tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống còn hơn 4% Trong hoạt động ngoại thương Nhật Bản đã đạt thặng dư Thương mại năm 2004 cao nhát trong 5 năm qua Trong đó kim ngạch xuất khẩu năm 2004 là 61.180 tỷ Yên, kim ngạch nhập khẩu đạt 49.170 tỷ Yên Thặng dư thương mại năm 2004 là 11.010 tỷ Yên6 Thặng dư thương mại của Nhật Bản với các đối tác thương mại lớn năm 2004 là: trong hoạt động ngoại thương với liên minh châu Âu (EU) đạt 344,9 tỉ Yên; với Mỹ là 663,8 tỉ Yên Hiện nay Nhật Bản là nước có mức dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới với 826,6 tỉ USD Ngoài ra, Nhật Bản còn phấn đấu nâng mức tự túc lương thực từ 40% hiện nya lên mức 45% tỏng những năm tới7
Đặc biệt trong những năm gần đây, nhận thấy vai trò quan trọng của các hiệp định thương mại tự do song phương (FTA), Nhật Bản đã chú trọng mở rộng FTA với nhiều nước Hiệp định FTA đầu tiên mà Nhật Bản ký kết là hiệp định giữa Nhật Bản và Singapore vì một đối tác kinh tế trong thời đại mới, gọi tắt là Hiệp định đối tác
6 http://vi.wikipedia.org/wiki/kinh-t% E1%BA%BF=Nh%E%BA% ADT-B%E1%BA%A3n.
7 Tạp chí Kinh tế thg, số 59, ng y 24/3/2005, Tr.14 à
Trang 26kinh tế Nhật Bản và Singapore (JSEPA) Đây là hiệp định hợp tác kinh tế toàn diện, nó không chỉ phá bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, mà còn là sự hợp tác kinh tế và công nghệ, tự do hoá đầu tư trực tiếp nước ngoài… Tiếp sau FTA với Singapỏe, Nhật Bản xem xét mở rộng FTA với nhiều qgi khác ở Đông Á, Mỹ La tinh… Nhật Bản rất coi trọng FTA với Đông Á, mặc dù vai trò kinh tế của Nhật Bản đối với khu vực này không còn lớn như trước Song Nhật Bản vẫn tranh thủ mọi thời cơ thuận lợi để phát huy vai trò chủ đạo trong hợp tác phát triển kinh tế trong nước và khu vực Vì sự tăng trưởng ở Đông Á sẽ góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản, cũng như sự ổn định chính trị, xã hội Đông Á Hiện nay, tân Thủ tướng Bhinzo Abe đã tiến hành nhiều biện pháp cải cách, tiếp tục đường lối của người tiên nhiệm nhằm đưa kinh tế Nhật Bản phát triển với tốc
độ cao và ổn định trong nền kinh tế thế giới
Nhật Bản đang tích cực tham gia xây dựng trật tự kinh tế quốc
tế mới Phát huy vai trò quan trọng của mình trong các tổ chức quốc
tế và khu vực như trong WTO, IMF, Hội nghị các nước công nghiệp phát triển (G7), ADB… Nhật Bản không ngừng gia tăng ảnh hưởng với vai trò nước lớn về kinh tế Nhật Bản tăng cường thúc đẩy hơn nữa tỉ lệ sử dụng đồng Yên trên thế giới Như việc 10 nước ASEAN
đã gắn dự trữ ngoại tệ của họ với Nhật Bản, như một phần của khuôn khổ trao đổi tiền tệ theo sáng kiến Chiềng Mai (5/2000)
Một công cụ quan trọng trong việc phát huy ảnh hưởng chính trị của mình, Nhật Bản đã sử dụng chính sách viện trợ phát triển chính thức (ODA) Hiện nay Nhật Bản là nước cung cấp ODA lớn nhất thế giới, 8 năm liền đứng đầu thế giới ODA là biện pháp quan trọng để Nhật Bản đóng góp cho cộng đồng quốc tế Vì trong các
Trang 27khoản ODA có khoản viện trợ không hoàn lại, nhằm giúp các nước tái thiết đối ngoại, vượt qua được những khó khăn Hiện nay, Nhật Bản dùng viện trợ kinh tế phục vụ mục đích đối ngoại Thông qua chính sách này, hình ảnh nước Nhật được tăng cường hơn, là công cụ gây ảnh hưởng đối với thế giới và nâng cao vai trò của Nhật Bản trong các quan hệ quốc tế.
Trong thế kỷ mới, Nhật Bản đang tiến hành nhiều biện pháp cải cách để vực dậy nền kinh tế tỏng nước vượt qua được thời kỳ suy thoái Hiện nay, những biện pháp tăng cường sức mạnh kinh tế của Nhật Bản đang mang lại hiệu quả tích cực Vị thế kinh tế hàng đầu của Nhật Bản tiếp tục được giữ vững Đây là cách thức quan trọng thúc đẩy Nhật Bản có thể thực hiện mục tiêu nâng cao vị thế chính trị trong khu vực và trên trường quốc tế
2.1.2 Nhật Bản tăng cường sức mạnh quân sự, sửa đổi Hiến pháp, thoát khỏi sự ràng buộc sau chiến tranh.
Năm 1954, lực lượng phòng vệ Nhật Bản được thành lập Kể từ
đó đến nay đội phòng vệ ấy được tiến hành hiện đại hoá đảm bảo tác chiến trong điều kiện chiến tranh hiện đại Tuy nhiên do “Hiến pháp hoà bình” năm 1946 của Nhật Bản, trong khoản 2 điều 9 quy định:
“1- Khao khát hào bình thế giới dựa trên trật tự và công bằng người Nhật Bản sẽ mãi mãi từ bỏ chiến tranh như một quyền tối cao của quốc gia và từ bỏ việc sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực làm phương tiện đẻ giải quyết các tranh chấp quốc tế; 2 - Để đạt được mục đích ở khoản 1 thì việc duy trì các lực lượng lục quân, hải quân, không quqqn cũng như các tiềm năng chiến tranh khác sẽ không được phép Quyền tham chiến của giải quyết không được thừa
Trang 28nhận” Với quy định này của Hiến pháp không chỉ ngăn cản Nhật Bản
sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế mà còn ngăn cấm Nhật Bản duy trì lực lượng quân sự hải, lục, không quân
Sự ràng buộc trên của Hiến pháp có ảnh hưởng tới sự phát triển của nước Nhật Ảnh hưởng tích cực của điều 9 Hiến pháp, Nhật Bản không phải tập trung vào phát triển quân sự, chi phí quốc phòng giảm Nhờ đó Nhật Bản có điều kiện tập trung phát triển kinh tế Chính đây là cơ hội đưa Nhật Bản từ nước bị kiệt quệ sau chiến tranh, trở thành quốc gia hùng mạnh về kinh tế, với tốc độ tăng trưởng “thần kỳ” Tuy nhiên bên cạnh đó, điều 9 này cũng có những ảnh hưởng tiêu cực, là một trở lực, cản trở Nhật Bản trở thành một
“quốc gia bình thường” và làm cho Nhật Bản thiếu tính độc lập trong hành động Đó cũng là lý do vì sao Nhật Bản muốn sửa đổi Hiến pháp để trở thành “một nước lớn bình thường” Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý cho việc Nhật Bản trong việc thành lập quân đội, độc lập, chủ động trong vấn đề đảm bảo an ninh quốc gia và đóng góp cho các hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên Hợp Quốc
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình thế giới có thay đổi lớn, đồng thời sức mạnh kinh tế của Nhật Bản được tăng cường, ý thức trở thành “nước lớn chính trị” và cường quốc quân sự cũng theo
đó tăng lên Sự kiện khủng bố xảy ra ở Mỹ đã trực tiếp trở thành mối
đe doạ đối với an ninh của Nhật Bản Mỹ - nhà bảo trợ an ninh của Nhật Bản đã bị tấn công, khiến cho ý thức phát triển hơn nữa lực lượng quân sự của Nhật Bản Đây cũng là một trong những lý do khiến các nhà lãnh đạo Nhật Bản xem xét lại sức mạnh phòng vệ của mình, và cũng là lý do để Nhật Bản có thêm cơ sở để tiến hành sửa đổi Hiến pháp, trước tiên là sửa đổi điều 9
Trang 29Như vậy trên con đường tìm kiếm vị thế chính trị mới, việc đầu tiên Nhật Bản phải làm là sửa đổi Hiến pháp Vấn đề sửa đổi Hiến pháp ngày càng được đặt ra đối với các nhà lãnh đạo Nhật Bản, nếu như trước đây, người Nhật Bản rất dè dặt trong vấn đề sửa đổi Hiến pháp và bất cứ chính trị gia nào đề cập tới vấn đề sửa đổi Hiến pháp thì coi như chấm dứt sự nghiệp chính trị của mình Ví dụ: năm 1978, chủ tịch Hội đồng liên quân Hiromi Kurisu đã bị cách chức vì cho rằng lực lượng phòng vệ Nhật Bản có thể áp dụng những biện pháp
“ngoài Hiến pháp” nếu đối ngoại bị tấn công bất ngờ Điều này, ý muốn nói có những ngoại lệ ngoài Hiến pháp, phải sửa đổi nó hay là
sự vận dụng Hiến pháp một cách linh hoạt cho phù hợp với điều kiện quốc tế mới Thì ngày nay, đặc biệt dưới sự điều hành đối ngoại của Thủ tướng Kozumi, vấn đề sửa đổi Hiến pháp lại được thúc đẩy mạnh
mẽ Công việc này được người kế nhiệm ông Kozumi, tân Thủ tướng Shinzo Abe tiếp tục thực hiêj ÔNg Abe tuyên bố, một trong những vấn đề trọng tâm của ông là xem xét lại bản Hiến pháp, trong đo trọng tâm của việc sửa đổi này là điều 9
Do bị hạn chế bởi Hiến pháp, nên quyền tự vệ tập thể của Nhật Bản bị hạn chế, vì vậy để đảm bảo được an ninh trong bối cảnh mới Nhật Bản phải đảm bảo 3 yếu tố “1- Sửa đổi Hiến pháp, ghi rõ Nhật Bản có thể sử dụng quyền tự vệ tập thể và tham gia hoạt động hợp tác
an ninh Liên Hợp Quốc, chủ yếu phải sửa đổi hoặc xoá bỏ mục 2, điều 9 trong Hiến pháp hiện hành
2-Định ra đạo luật cơ bản về đảm bảo an ninh Thông qua luập pháp giải thích lại Hiến pháp, nêu rõ có thể thực hiện quyền tự vệ tham gia hợp tác Liên Hợp Quốc trong khuôn khổ Hiến pháp hiện hành… Chủ trương sử dụng quyền tự vệ tập thể có giới hạn
Trang 303-Thế hệ người Nhật Bản ra đời sau chiến tranh thế giới thứ hai
là chủ xã hội, là những người có tinh thần dân tộc, ngày càng có nhiều người ủng hộ việc sửa đổi Hiến pháp Theo điều tra của Nhật báo Mikkei, (8-1995) thì 50% người được hỏi ý kiến yêu cầu sửa đổi Hiến pháp, đến tháng 4 năm 2000 con số này đã lên tới 60,5% số người ủng hộ sửa đổi [6, tr.34]
Như vậy việc sửa đổi Hiến pháp sẽ được thực hiện theo hướng tăng cường khả năng hoạt động của lực lượng phòng vệ, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi để lực lượng này có đóng góp nhiều hơn nữa cho các hoạt động quốc tế trong khuôn khổ hoạt động hợp tác an ninh của Liên Hợp Quốc
Lợi dụng những điều kiện thuận lợi trong nước và q te, ngay từ những năm đầu thập kỷ 1990, Nhật Bản đã tạo cơ sở pháp lý cho đội phòng vệ của minh ra nước ngoài Năm 1992, Nhật Bản đã thông qua
“luật phối hợp hành động gìn giữ hoà bình với Liên Hợp Quốc” (PKO) để hợp thức hoá việc đưa quân ra nước ngoài Đặc biệt đầu năm 2000, Quốc hội Nhật Bản đã thành lập Uỷ ban điều tra Hiến pháp, bắt đầu thảo luận công khai về Hiến pháp Hạt nhân của cuộc thảo luận là điều 9 Theo các chuyên gia phân tích các vấn đề quốc
tế, điều 9 dù có sửa đổi hay không, thì Nhật Bản vẫn tiếp tục mở rộng vai trò trong lĩnh vực an ninh khu vực và quốc tế Điều này phản ánh
rõ ràng kế hoạch chấn chỉnh lực lượng phòng vệ Trung hạn giai đoạn
2001 - 2005 được thông qua vào tháng 12-2000 Kế hoạch nêu ra khả năng phòng không và đảm bảo an toàn giao thông trên biển, nâng cao
độ tin cậy của thể chế an ninh Nhật - Mỹ, nghiên cứu kế hoạch xây dựng hợp tác khi sự cố tại các vùng quanh Nhật Bản
Trang 31Tiếp đó Nhật Bản có một loạt hành động tạo cơ sở pháp lý hơn nữa để đưa quân ra nước ngoài Năm 2001, Nhật Bản thông qua “luật Hiến pháp đặc biệt chống khủng bố Năm 2003, Nhật Bản thông qua một loạt sắc luật như” Luật tình huống tấn công vũ lực, “luật biện pháp đặc biệt chi viện tái thiết Iraq”, “Luật sửa đổi Hiến pháp đặc biệt chống khủng bố”… tạo điều kiện xây dựng lực lượng quân đội, hoàn thiện về mặt pháp lý để Nhật Bản tham gia hoạt động quân sự ở nước ngoài… Bước tiến quan trọng trong tiến trình sửa đổi Hiến pháp là việc ngày 22-11-2005, đảng dân chủ tự do (LDP) của Nhật Bản đã thông qua “luật xây dựng đội quốc phòng” Trong đó đáng lưu ý, là việc đổi tên “Đội phòng vệ” thành “Quân phòng vệ” Việc làm này đã được cuộc tranh luận bước sang giai đoạn tiến hành thực hiện sửa đổi Hiến pháp hoà bình.
Bên cạnh việc tăng cường sửa đổi Hiến pháp, liên tục có bước phá vỡ sự ràng buộc pháp lý về quân sự Trong thời gian gần đây, Nhật Bản không ngừng tăng cường mở rộng trang bị về quân sự Nguyên nhân của tình trạng này, theo các nhân vật phái hữu Nhật Bản là xuất phát từ mới được đe doạ từ phía Trung Quốc Trong những năm đầu thế kỷ 21, sau những nỗ lực cải cách, Trung Quốc đang vươn lên mạnh mẽ về mọi mặt, trở thành thách thức lớn dịch vụ nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực, trong đó có Nhật Bản Bởi hiện nay, trong quan hệ hai nước còn có nhiều vấn đề bất đồng như việc Thủ tướng Kozumi thường xuyên tới viếng thăm đồn Yasukumi
- một ngôi đền thờ các binh sĩ chế trong chiến tranh thế giới, theo quan điểm của một số quốc gia láng giềng của Nhật Bản đó là ngôi đền thờ các “tội phạm chiến tranh”…, hay giữa hai nước còn tồn tại vấn đề tranh chấp lãnh thổ… Một hành động khác của Nhật Bản cũng
Trang 32khiến Trung Quốc và Hàn Quốc e ngại đó là việc gần đây Thủ tướng đương nhiệm gửi cây tới trổng ở đền Yasukuni… Thêm nữa, là vấn
đề khủng hoảng hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, điển hình là việc năm 1998, CHDCND Triểu Tiên đã bắn thử tên lửa qua lãnh thổ Nhật Bản đe doạ an ninh của nước Nhật Trước các mối đe doạ này, Nhật Bản phải tăng cường mở rộng trang bị quân sự
Cùng với sự ra đời của “kế hoạch phát triển lực lượng phòng vệ trung và dài hạn” giai đoạn 2005-2009, Nhật Bản còn tăng cường năng lực tác chiến tổng hợp cho lực lượng quân sự trên 5 phương điện: Kế hoạch trang bị máy bay chiến đấu thông qua việc cải tạo và nâng cấp máy bay loại F-155; triển khai kế hoạch đóng tầu mới; cải tạo hệ thống ra đa cảnh báo cũ và bố trí hệ thống ra đa mới; tăng cường hệ thống phòng thủ tên lửa dự toán kinh phí lên tới 144,2 tỷ Yên và cuối cùng là triển khai cuộc tập trận chung Nhật - Mỹ
Kế đó, Nhật Bản còn thúc đẩy nghiên cứu hệ thống phòng thủ tên lửa Theo cụ trưởng phòng vệ Nhật Bản Yoshinorri ôn việc “Nhật Bản tăng cường hệ thống phòng thủ tên lửa có thể đánh chặn được một số tên lửa tấn công vào lãnh thổ Nhật Bản từ bên ngoài” [24,tr.16] Đồng thời, từ năm 2006 Nhật Bản đã triển khai hợp tác với
Mỹ để phát triển tên lửa đánh chặn mới được phóng từ tầu Aegis
Cùng với việc tăng cường trang thiết bị hiện đại hoá lực lượng quân sự, ngân sách chi phí cho quân sự của Nhật Bản từ năm 2002 đữ vượt quá 1% GDP, tương đương trên 50 tỉ USD [68] Với mức chi phí này, Nhật Bản đã trở thành nước đầu tư cho quân sự lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ
Trang 33Tiến thêm một bước nữa trong việc nỗ lực trở thành cường quốc quân sự, tháng 1 năm 2007, Quốc hội Nhật Bản đã thông qua quyết định thành lập “Bộ quốc phòng” dựa trên cơ sở “Cục phòng vệ” trước đây Sự kiện này được đánh giá là bước tiến mới tỏng việc giải thích lại Hiến pháp và cho phép Nhật Bản phòng thủ tập thể và đưa quân ra nước ngoài, phát huy vai trò quốc tế của mình.
Trên thực tế, Nhật Bản đã từng bước đưa lực lượng quân sự tham gia các hoạt động quốc tế Khi cuộc chiến tranh vùng vịnh xảy
ra năm 1991, lần đầu tiên đội Phòng vệ Nhật Bản tham gia gìn thế giữ hoà bình ngoài lãnh thổ của mình Tiếp đến cuộc chiến tranh Afghanixtan xảy ra, Nhật Bản cũng đưa quân ra nước ngoài, làm công tác hậu cần hỗ trợ cho quân Mỹ Gần đây nhất vào năm 2003 trong cuộc chiến tranh Iraq, Nhật Bản cũgn đưa quân tới giúp duy trì hoà bình và tái thiết Iraq trong khuôn khổ hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên Hợp Quốc
Với những nỗ lực trên và một số hành động cụ thể của Nhật Bản trong việc gìn giữ hoà bình được quốc tế ghi nhận - Nhật Bản hy vọng sớm trở thành quốc gia quân sự bình thường, có thể đóng góp nhiều hơn nữa cho an ninh khu vực và thế giới Vượt qua những rào cản pháp lý để Nhật Bản chủ động trong hành động của mình trước những biến đổi của tình hình quốc tế, cùng với sức mạnh kinh tế, tiềm lực quân sự được tăng cường, vị trí chiến tranh của Nhật Bản sẽ được cải thiện trong tương lao
2.1.3 Tăng cường hoạt động đối ngoại, mở rộng ảnh hưởng của Nhật Bản thông qua ngoại giao văn hoá.
Trang 34Ngày nay với xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá diễn ra mạnh
mẽ trên thế giới Xu thế ấy phát triển trên nhiều lĩnh vực, nhiều phương diện điển hình là toàn cầu hoá nền kinh tế Cùng với sự mở rộng, hợp tác kinh tế thì hoạt động giao lưu trao đổi văn hoá ngày càng rộng mở và phát triển Và nhiều quốc gia đã coi việc mở rộng, tăng cường đẩy mạnh ảnh hưởng văn hoá của mình là biện pháp quan trọng để nâng cao địa vị của mình, Nhật Bản là một minh chứng
Ngày từ thập kỷ 80, Nhật Bản đã coi trọng tới sự mở rộng ảnh hưởng văn hoá của mình Cùng với hợp tác kinh tế và đảm bảo an ninh, hoạt động văn hoá quốc tế đã trở thanh một trong ba trụ cột đối ngoại của Nhật Bản
Nhật Bản đã sử dụng các hoạt động giao lưu văn hoá song phương và đa phương: tuần văn hoá hữu nghị các nước; thông qua hoạt động văn hoá thể thao - vòng chung kết thể thao thế giới, Worldcup 2002 do Nhật Bản và Hàn Quốc là đồng chủ nhà Ngoài ra Nhật Bản còn nâng cao hình ảnh đối ngoại qua các cuộc họp, hội nghị diễn ra tại Nhật Bản như hội nghị về môi trường, hội nghị các nước công nghiệp phát triển… để giới thiệu những đóng góp và trách nhiệm của Nhật Bản với cộng đồng quốc tế
Từ thập niên 90 đến nay, giao lưu văn hoá được đẩy lên một bước nhằm thực hiện quốc tế hoá, khẳng định vị thế và đảm bảo ảnh hưởng của Nhật Bản trong cộng đồng quốc tế Sang thế kỉ XXI, thế giới đang phải đối mặt với nhiều vấn đề mang tính toàn cầu: Bệnh tật hiểm nghèo, ô nhiễm môi trường, xung đột sắc tộc, tôn giáo, khan hiếm nguồn tài nguyên, thiên tai… Để giải quyết vấn đề này, không chỉ đơn thuần dựa vào kinh tế, quân sự, chính trị… mà nó cần cả
Trang 35những yếu tố thuộc về văn hoá Bởi chỉ thông qua văn hoá người ta
sẽ hiểu nhau hơn Qua văn hoá, đặc biệt là văn hoá thông tin mới có thể tuyên truyền, mở rộng, làm cho nhiều vấn đề trở nên toàn cầu hoá
Tham gia hoạt động đối ngoại không chỉ đơn thuần giữa các Chính phủ với nhau, mà còn giữa nhân dân với nhân dân, giữa các doanh nghiệp với nhau… Qua các kênh hoạt động đối ngoại này mà hình ảnh đất nước được tăng cường và củng cố Nhận thức được điều này, Nhật Bản đã thông qua chính sách kinh tế, đầu tư, viện trợ… để khẳng định bản sắc văn hoá của mình Chẳng những vậy, nó đã hình thành nên văn hoá kinh doanh đặc trưng của Nhật Bản
Để văn hoá thực sự trở thành một trong ba trụ cột đối ngoại, trong báo cáo cuộc toạ đàm “những ý tưởng của Nhật Bản trong thế
kỉ XXI” đã đưa ra những kiến nghị để thúc đẩy hoạt động văn hoá đối ngoại:
“1 Nâng cao năng lực và công khai thông tin, làm cho mọi người dân quan tâm tới chính sách đối ngoại quốc gia và có đóng góp
ý kiến để đưa ra chiến lược đối ngoại
2 Bồi dưỡng nhân tài tìm hiểu tình hình thế giới, trong đó chú trọng tới việc thành lập các viện nghiên cứu khu vực và quốc tế, thúc đẩy quốc tế hoá, coi trọng vai trò của các tổ chức phi Chính phủ, đẩy mạnh ngoại giao nhân dân
3 Phổ cập tiếng Anh, sử dụng tiếng Anh song song với tiếng Nhật trong cuộc sống hàng ngày [10; tr302] Điều cốt lõi của kiến nghị này là phát huy vai trò của “chính trị ngôn lực” – tức là năng lực thông tin, đề xuất phương án và ra quyết định… Nếu thực hiện được
Trang 36những kiến nghị trên, Nhật Bản sẽ làm chủ được dư luận quốc tế Hay nói cách khác, bằng ảnh hưởng của văn hoá, Nhật Bản làm cho tiếng nói của mình có trọng lượng hơn trong việc ra quyết định mang tính toàn cầu Từ đó, Nhật Bản dễ dàng nâng cao được vị thế chính trị của mình trong các vấn đề quốc tế”.
Bên cạnh chiến lược ngoại giao văn hoá, trong chiến lược ngoại giao chung, Nhật Bản không ngừng tăng cường năng lực ngoại giao Ngay sau khi cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 kết thúc, Nhật Bản đã xem xét lại “chính sách ngoại giao tài trợ” và bắt đầu chú ý đến ảnh hưởng của sự thay đổi tình hình quốc tế với chính sách ngoại giao Song, do trong thập kỷ 1990, kinh tế Nhật rơi vào tình trạng trì trệ, cùng với thuyết về “mối đe doạ từ Trung Quốc”… Ngoại giao của Nhật Bản được đánh giá là kém hiệu quả nếu ngoại giao ấy chưa
đủ sức nâng cao vị thế chính trị của đất nước “mặt trời mọc” này
Ngoại giao trở thành một công cụ quan trọng trong việc tạo dựng hình ảnh đất nước Nhật Bản trong thế kỉ XXI có những nhà lãnh đạo cách mạng sớm nhận thức được vai trò quan trọng này của đối ngoại Điển hình là Thủ tướng Kozumi, ông đã có bước đi và biện pháp thích hợp nhằm tạo ra một chiến lược ngoại giao hiệu quả Việc làm đầu tiên là ông thay đổi nhân sự trong Bộ ngoại giao Tiếp đó vào tháng 9-2004 ông cho thành lập “Tổ điều tra nghiên cứu quan hệ đối ngoại” làm cơ quan tư vấn cho Thủ tướng và thảo ra khung chiến lược ngoại giao cho Nhật Bản Vào ngày 28-11-2004, tổ điều tra này
đã cho ra đời báo cáo “Chiến lược ngoại giao cơ bản của Nhật Bản trong thế kỉ XXI” Đây là báo cáo trình bày toàn diện chiến lược ngoại giao trung và dài hạn của Nhật Bản trong thế kỉ mới Chiến lược ngoại giao được đưa ra trong báo cáo dựa trên sự phân tích môi
Trang 37trường quốc tế, tình hình đối nội và đối ngoại của Nhật Bản và dựa trên tư duy mới Nội dung của bản báo cáo chỉ ra chiến lược đối ngoại của Nhật Bản gồm những vấn đề sau:
- Bảo vệ hoà bình và an ninh Nhật Bản;
- Ủng hộ tự do, dân chủ, nhân quyền;
- Bảo vệ cơ chế mậu dịch tự do;
- Tích cực thúc đẩy giao lưu trong lĩnh vực học thuật, văn hoá, giáo dục giữa Nhật Bản và các nước [15; tr4]
Chiến lược ngoại giao này được Thủ tướng đương nhiệm Shinzo Abe khẳng định và bổ sung, phát triển Trong phiên khai mạc
kỳ họp thường niên 150 ngày của Quốc hội Nhật Bản vào cuối tháng 1-2007, ngoài các vấn đề đối ngoại trên, ông Abe còn chú trọng vào việc “tạo dựng một châu Á cởi mở và có nhiều đổi mới” Bằng các nỗ lực này Nhật Bản không những cải thiện được quan hệ với các nước láng giềng, mà còn tạo dựng được một hình ảnh ngày càng lớn trong quan niệm của cộng đồng quốc tế
2.2 NHẬT BẢN TĂNG CƯỜNG TÍNH CHỦ ĐỘNG VÀ ĐỘC LẬP TRONG QUAN HỆ NGOẠI GIAO, TÍCH CỰC THAM GIA CÁC HOẠT ĐỘNG QUỐC TẾ
Được sự đảo bảo an ninh của Mỹ, từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản có điều kiện tập trung vào phát triển kinh tế Trên bình diện quốc tế, các nhà lãnh đạo Nhật Bản chủ trương không can
dự vào các tranh chấp quốc tế mà phó mặc gánh nặng này cho Mỹ và đồng minh Như cựu Thủ tướng Phucuđa đã phát biểu tại Hội nghị ngoại trưởng các nước ASEAN tại Manila (Philippin) vào ngày 18-8-
1997 rằng: “Nhật Bản là một dân tộc muốn duy trì hoà bình, phản đối
Trang 38vai trò của lực lượng quân sự và trên cơ sở đó, Nhật Bản chủ trương đóng góp sức lực vì hoà bình và thịnh vượng Đông Nam Á, cũng như cộng đồng thế giới” [9; tr435] Với chủ trương này Nhật Bản đã xác định con đường đi của mình theo đường lối hoà bình, từ bỏ chiến tranh Chính việc làm này đã khiến cho Nhật Bản phụ thuộc chặt chẽ vào Mỹ và đồng nghĩa với việc không có vị trí chính trị cao trong cộng đồng quốc tế.
Chỉ cho tới khi ông Yasuhiro Nakasone lên làm Thủ tướng (nhiệm kỳ 1982-1987), ông mới quan tâm tới vị thế chính trị của Nhật Bản Ông đã có chủ trương đưa Nhật Bản hướng tới một “quốc gia bình thường”, tuy nhiên vẫn phụ thuộc chặt chẽ vào quan hệ Nhật – Mỹ Nhưng kể từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, khi kinh tế có
vị thế lớn, Nhật Bản bắt đầu có sự điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng tăng cường tính độc lập, tự chủ, nhằm vươn lên trở thành một quốc gia chính trị Để đạt được điều này, nước Nhật phải thay đổi hình ảnh một quốc gia “chạy theo Mỹ” trên nhiều phương diện
Nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy Nhật Bản từng bước tăng cường tính độc lập, chủ động trong hoạt động ngoại giao, trong khi vẫn tiếp tục tuân theo khuôn khổ hợp tác với Mỹ, lấy quan hệ Nhật – Mỹ làm trụ cột là vì:
Thứ nhất, do tình hình quốc tế thay đổi, xu thế toàn cầu hoá
đang chiếm ưu thế, các quốc gia không ngừng phụ thuộc lẫn nhau Vì vậy Nhật Bản và Mỹ đều có lợi ích khác nhau Đối với Nhật Bản, coi
Mỹ là đồng minh duy nhất Nhưng đối với Mỹ, Nhật Bản chỉ là một trong hơn 40 đồng minh của Mỹ mà thôi Điều này cho thấy rõ hai nước có lợi ích quốc gia khác nhau Hơn nữa, thế giới đang phát triển theo hướng đa dạng hoá, đa phương hoá, ngoài quan hệ với Mỹ, Nhật
Trang 39Bản còn nhiều lĩnh vực phải quan tâm khác Đặc biệt trong việc xử lý các vấn đề ở châu Á, Trung Đông, ô nhiễm môi trường… hai nước có những quan điểm và động thái khác nhau, không đồng nhất như trong việc giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường toàn cầu, Nhật Bản là một trong những nước đi đầu ký vào Nghị định thư Kyoto về việc cắt giảm lượng khí thải gây ô nhiễm môi trường Chính Thủ tướng Kozumi đã khẳng định lập trường của Nhật Bản rằng: “Nhật Bản quyết tâm cùng các quốc gia ký hiệp định thúc đẩy thực hiện hiệp định này một cách toàn diện và trên quy mô toàn cầu” [35; tr45] Trong khi đó Mỹ, một nước công nghiệp lớn lại bỏ qua nghị định thư này Sự khác nhau này là động lực tiềm tàng để Nhật Bản tăng tính độc lập hơn với Mỹ.
Thứ hai là, trong xu thế toàn cầu hoá, các nước tăng cường hợp
tác với nhau để phát huy lợi thế so sánh, đồng thời tìm kiếm sự hỗ trợ của nhau Vì vậy, nhiều quốc gia đã vươn lên trở thành đối thủ của
Mỹ trong nhiều lĩnh vực Mỹ không thể giữ vững vị trí siêu cường duy nhất Ngày nay, thế giới đang chứng kiến các hành động đơn phương của Mỹ trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế Mỹ đơn phương hành động trong vấn đề Iraq, từ chối ký vào nghị định thư Tyoto,… Đặc biệt, Mỹ đã phủ định ý tưởng về một quỹ tiền tệ châu Á (AMF) do Nhật Bản đề xuất… Trong cuộc chiến tranh Iraq của Mỹ, mặc dù Chính phủ Nhật Bản đã sớm ủng hộ Mỹ, nhưng nhân dân Nhật không đồng tình Theo điều tra của tờ Mainichi, có tới 65% dân Nhật Bản phản đối Mỹ sử dụng vũ lực… Cho tới nay, nhân dân Nhật Bản có lẽ vẫn chưa thể quên được vụ hai quả bom nguyên tử mà Mỹ
đã ném xuống đất Nhật Bởi vậy, nó đã khiến Nhật Bản xác định lại
Trang 40quan hệ với Mỹ, trong đó có sự điều chỉnh Hiệp ước phối hợp toàn diện với Mỹ, để có sự độc lập trong chính trị, ngoại giao.
Nhật Bản xác định tăng cường tự chủ trong quan hệ với Mỹ là
xu hướng ổn định lâu dài trong chiến lược ngoại giao của Nhật Bản Địa bàn tốt nhất để triển khai chiến lược này chính là châu Á Vì châu Á là nơi tập trung một loạt các nước lớn, chứa đựng nhiều mâu thuẫn phức tạp Tại đó quan hệ giữa Nhật Bản với nhiều nước chưa thực sự suôn sẻ… là nơi Nhật Bản mong muốn cải thiện môi trường quanh mình, gây dựng lòng tin và dành sự ủng hộ của nhiều nước
Do nhiều năm núp dưới ô bảo trợ an ninh của Mỹ, Nhật Bản ít
có trách nhiệm đối với các vấn đề an ninh quốc tế và khả năng tự quyết định trong hoạt động đối ngoại bị hạn chế do quá lệ thuộc vào
Mỹ Vì vậy, bước sang thế kỉ XXI, Nhật Bản đang tìm kiếm vị thế chính trị mới, cần phải phát huy vai trò quốc tế một cách độc lập, không thể mãi nhờ vào ô đảm bảo an ninh của Mỹ Như một quan chức Bộ ngoại giao Nhật Bản, ông Sato từng nói: “là nước đồng minh
và là đối tác tin cậy nhất dễ nói chuyện nhất của người Mỹ ở châu Á
- Thái Bình Dương, Nhật Bản cần áp dụng hành động thích hợp, không phải chỉ theo đuôi Mỹ Vì đồng minh không phải là khối cộng đồng chung vận mệnh, mà về cơ bản là công cụ để thực hiện lợi ích lớn nhất của mình” [25; tr9] Theo quan điểm này, Nhật Bản phải đạt được mục tiêu của mình Để thực hiện được ý đồ của mình thì Nhật Bản phải có hành động chủ động, nhạy bén trước diễn biến của quan
hệ quốc tế, nhưng vẫn tiếp tục trong khuôn khổ hợp tác Nhật – Mỹ
Minh chứng cho sự tự chủ của Nhật Bản, đó chính là việc giải quyết cuộc khủng hoảng hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên Một vấn
đề gây sự chú ý của dư luận toàn thế giới Trong vấn đề này, Nhật