Lý do chọn đề tài Lưỡng cư, bò sát là những mắt xích quan trọng trong lưới thức ăn của các quần xã, với số lượng loài rất phong phú và đa dạng, đã góp phần giữ trạng thái cân bằng sinh
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
XÁC NHẬN
CỦA KHOA CHUYÊN MÔN
XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Hoàng Văn Ngọc
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu, kết quả sử dụng trong luận văn là trung thực, do tôi thu thập và xử lí Đồng thời, luận văn này chưa từng được bảo vệ trước bất cứ một hội đồng nào trước đây
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Phạm Đình Khánh
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, ngoài nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi của các thầy cô trong khoa Sinh- Kĩ thuật nông nghiệp, Phòng Sau Đại học- Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Ban quản lí và cán
bộ của các trạm kiểm lâm trong Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa- Phượng Hoàng, Ủy ban nhân dân các xã Thượng Nung, Thần Sa, Sảng Mộc, Nghinh Tường, Vũ Chấn cũng như nhân dân địa phương trong quá trình thực địa Tôi cũng nhận được sự góp ý về chuyên môn của PGS.TS Lê Nguyên Ngật- trường ĐHSP Hà Nội Tôi vô cùng biết ơn
về sự giúp đỡ quý báu đó Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS Hoàng Văn Ngọc đã cung cấp nhiều tư liệu tham khảo giá trị và trực tiếp hướng dẫn tôi rất tận tình trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi cũng xin cảm ơn sự động viên, ủng hộ nhiệt tình của gia đình và bạn bè
Do thời gian nghiên cứu còn ngắn cũng như trình độ bản thân của tôi còn hạn chế, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo; các nhà nghiên cứu và bạn bè để đề tài hoàn chỉnh hơn!
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn Phạm Đình Khánh
Trang 6MỤC LỤC
Trang Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các kí hiệu viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình v
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục tiêu 8
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 8
4 Nội dung nghiên cứu 8
Chương 1 TỐNG QUAN TÀI LIỆU 9
1.1 Lịch sử nghiên cứu LC, BS ở vùng Đông Bắc 9
1.2 Tình hình nghiên cứu LC, BS ở khu vực nghiên cứu 16
1.3 Đặc điểm các nhóm sinh thái của LC, BS phân theo nơi ở 17
1.3.1 Đặc điểm các nhóm sinh thái của LC phân theo nơi ở 17
1.3.2 Đặc điểm các nhóm sinh thái của BS phân theo nơi ở 18
Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ- XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 20
2.1 Vị trí địa lí, giới hạn 20
2.2 Đặc điểm tự nhiên 20
2.2.1 Địa hình 20
2.2.2 Địa chất, khoáng sản 21
2.2.3 Thổ nhưỡng 23
2.2.4 Khí hậu 23
2.2.5 Thủy văn 24
2.2.6 Sinh vật 25
2.3 Đặc điểm kinh tế- xã hội 27
Trang 72.3.1 Các vấn đề xã hội 27
2.3.2 Kinh tế 28
Chương 3 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Đối tượng nghiên cứu 29
3.2 Địa điểm 29
3.3 Thời gian 29
3.4 Thiết bị nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 29
3.4.1 Thiết bị nghiên cứu 29
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu 30
3.4.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 30
3.4.2.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 33
3.4.2.3 Phương pháp kế thừa 35
3.4.2.4 Phương pháp xử lí số liệu 35
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
4.1 Thành phần loài lưỡng cư, bò sát ở khu vực nghiên cứu 36
4.2 Nhận xét về thành phần loài 39
4.2.1 Sự đa dạng về thành phần phân loại học 39
4.2.2 So sánh với vùng Đông Bắc và cả nước 41
4.2.3 So sánh với các vùng lân cận 42
4.3 Mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái của các loài LC, BS bổ sung cho KVNC 43
4.4 Sự phân bố LC, BS ở KVNC 50
4.4.1 Phân bố theo nơi ở 50
4.4.2 Phân bố theo hệ sinh thái 54
4.5 Các loài lưỡng cư, bò sát quý hiếm ở khu vực nghiên cứu 60
4.6 Các nhân tố đe dọa khu hệ LC, BS và đề xuất hướng bảo tồn 62
4.6.1 Các nhân tố đe dọa 62
4.6.2 Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn 63
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
KBTTN Khu bảo tồn thiên nhiên
NĐ32 Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 30/03/2006
về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
SĐVN Sách Đỏ Việt Nam, 2007 Phần Động vật
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Các kiểu thảm thực vật trong các phân khu của KBT 26
Bảng 2.2 Thành phần ĐV có xương sống ở KBTTN Thần Sa- Phượng Hoàng 26
Bảng 4.1 Danh sách thành phần loài LC, BS ở KVNC 36
Bảng 4.2 Đa dạng bậc phân loại lưỡng cư ở KVNC 40
Bảng 4.3 Đa dạng bậc phân loại bò sát ở KVNC 40
Bảng 4.4 So sánh số lượng của các bậc phân loại LC, BS ở KVNC với vùng Đông Bắc và cả nước 41
Bảng 4.5 So sánh thành phần loài LC, BS một số khu vực trong vùng Đông Bắc 43
Bảng 4.6 Sự phân bố các bậc phân loại của LC, BS theo nơi ở 50
Bảng 4.7 Sự phân bố các bậc phân loại của LC, BS theo HST 54
Bảng 4.8 Danh sách các loài LC, BS quý hiếm ở KVNC 61
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1 Bàn chân lưỡng cư không đuôi 33
Hình 3.2 Số đo lưỡng cư không đuôi 33
Hình 3.3 Tấm đầu của rắn 34
Hình 3.4 Các loại vảy lưng ở rắn 34
Hình 3.5 Cách đếm số hàng vảy thân 34
Hình 3.6 Vảy bụng, vảy dưới đuôi và tấm hậu môn 34
Hình 3.7 Các tấm trên đầu ở thằn lằn (Mabuya) 35
Hình 3.8 Lỗ tai thằn lằn (theo Bourret R., 1943) 35
Hình 3.9 Mắt thằn lằn (theo Bourret R., 1943) 35
Biểu đồ 4.1 Số lượng của các bậc phân loại LC, BS ở KVNC, Đông Bắc và cả nước 42
Biểu đồ 4.2 Tỉ lệ số loài lưỡng cư, bò sát phân bố ở từng nơi ở trong KVNC (%) 51
Biểu đồ 4.3 Tỉ lệ số loài lưỡng cư, bò sát phân bố ở từng HST trong KVNC (%) 55
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lưỡng cư, bò sát là những mắt xích quan trọng trong lưới thức ăn của các quần xã, với số lượng loài rất phong phú và đa dạng, đã góp phần giữ trạng thái cân bằng sinh học trong các quần xã đó Chúng còn là vật chỉ thị cho môi trường nước do giai đoạn nòng nọc của LC cũng như giai đoạn trưởng thành của nhiều loài LC, BS phát triển trong nước Những loài có đời sống chui luồn trong đất có tác dụng làm đất tơi, xốp; tiêu diệt côn trùng và chuột gây hại; trở thành những loài có ích cho nông- lâm nghiệp Mặt khác, ở một mức độ nhất định, chúng cũng là động vật gây hại: các loài rắn độc đe dọa sức khỏe, tính mạng con người và vật nuôi; có thể xâm hại ngành thủy sản do các loài cá cũng là con mồi tự nhiên của nhiều LC, BS LC, BS đều là những vật chủ trung gian của nhiều loài kí sinh Ngoài giá trị khoa học; LC, BS từ lâu đã được con người sử dụng làm thực phẩm, dược liệu, vật trang trí- động vật cảnh, trong kĩ nghệ da
LC, BS đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu ngay từ thế kỉ XVII và ngày càng có những phát hiện mới về chúng Các nghiên cứu gần đây đãmở rộng đáng kể cả
về phạm vi và nội dung, làm gia tăng những hiểu biết của con người về thế giới động vật hoang dã, đặc biệt khi nó được tiếp sức của ngành khoa học hiện đại Sinh học phân tử.Theo thống kê trong Danh lục Đỏ IUCN 2014.2 [75], trên toàn thế giới đã có 6410 loài LC và 4256 loài BS được định tên Với khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, thích hợp với LC, BS nên Việt Nam là một trong các quốc gia có đa dạng sinh học LC, BS cao nhất trên thế giới Theo Thomas Ziegler và Nguyễn Quảng Trường, tính đến tháng 7/2010, Việt Nam có 181 loài LC và 385 loài BS được mô tả [89] Trong khi nhiều loài mới vẫn tiếp tục được công bố, chúng ta cũng chứng kiến sự suy giảm cả về số lượng và diện phân bố của những loài đã biết do các hoạt động xâm hại của con người như chặt phá rừng, buôn bán động vật, thay đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp
Đặc điểm đáng chú ý của Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa- Phượng Hoàng (huyện
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên) là thảm thực vật rừng hiện còn khá phong phú, tỉ lệ đất có rừng là 97,6% diện tích; rừng tự nhiên đặc trưng & có giá trị đa dạng sinh học chiếm 34,7% diện tích KBTTN (2009) Ngoài hệ sinh thái rừng trên núi đất, giá trị bảo tồn
Trang 11chính của KVNC là SC độc đáo rừng trên núi đá vôi với đa dạng loài của nó, mà ở nhiều nơi phân bố trên các vách núi dựng đứng, khó khăn để tiếp cận ngay cả với người dân bản địa, hạn chế cho công tác khảo sát thành phần loài Tuy mật độ sông suối khá thưa, nhưng có một số khe nước, nhánh suối nhỏ có nước chảy thường xuyên trong năm, tạo điều kiện thuận lợi cho sự cư trú của LC, kéo theo phân bố của các BS săn mồi
Với ý nghĩa sinh học và sinh thái như vậy, việc bảo tồn loài trong KBTTN Thần Sa- Phượng Hoàng là hết sức cấp bách trong bối cảnh biến đổi khí hậu và suy giảm đa dạng sinh học đang diễn ra ở cấp độ toàn cầu Dù vậy, do công tác bảo vệ rừng ít nhiều còn hạn chế và do nhu cầu mưu sinh của nhân dân địa phương, trong những năm vừa qua, tình hình săn bắt động vật hoang dã vẫn diễn ra thường xuyên, tài nguyên thực vật bị xâm hại dẫn tới phá hủy SC sống của động vật Trong cả vùng lõi và vùng đệm của KBT đều có DC sinh sống phân tán nên không thể tránh khỏi tác động tiêu cực Việc sử dụng thuốc trừ sâu NN ảnh hưởng tới hệ động vật nói chung, LC, BS nói riêng DC sống rải rác tạo ra sự phân mảnh khu sinh thái của động vật Nạn khai thác vàng nhỏ lẻ trái phép từng diễn ra, nay tập trung hơn dưới hình thức khai thác cát sỏi xả thải ra môi trường nhiều hóa chất độc hại Việc khai thác khoáng sản này nếu không được chấm dứt chắc chắn làm cấu trúc ổn định của rừng trong KBT từng bước bị phá vỡ, sẽ làm suy giảm nghiêm trọng những giá trị bảo tồn của khu rừng Nguy cơ trọc hóa rừng trên núi đá khi đó là hiện hữu, trong khi việc phục hồi rất khó khăn Để có những luận điểm chắc chắn, thuyết phục nhằm kêu gọi đầu tư và đề xuất triển khai các biện pháp tích cực bảo vệ KBT, cần nhiều hơn nữa các nghiên cứu rà soát khu hệ động, thực vật trong KBT
Bên cạnh đó, các khảo sát về LC, BS ở KBTTN Thần Sa- Phượng Hoàng được đề cập tới nay vẫn còn ít, trong khi một số loài như Trăn đất đang có dấu hiệu biến mất Việc nghiên cứu SC, thành phần loài của LC, BS trong các SC và bổ sung các mô tả hình thái, sinh thái của chúng trở thành yêu cầu cấp thiết, làm cơ sở cho công tác bảo
tồn Từ đòi hỏi thực tế đó, tôi lựa chọn thực hiện đề tài: "Nghiên cứu sự phân bố về
thành phần loài của lưỡng cư, bò sát trong các môi trường sống ở Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa- Phượng Hoàng tỉnh Thái Nguyên"
Trang 122 Mục tiêu
Nghiên cứu sự phân bố về thành phần loài của LC, BS trong các môi trường sống
ở KBTTN Thần Sa- Phượng Hoàng, làm cơ sở cho công tác quản lí, bảo tồn và sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên LC, BS
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài góp phần bổ sung dẫn liệu khoa học về sự
phân bố của các loài LC, BS trong từng môi trường sống của KBTTN Thần Sa- Phượng Hoàng; những mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái của các loài bổ sung cho KVNC, cập nhật thêm khu vực phân bố cho các loài LC, BS này
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài góp phần cung cấp dữ liệu khoa học, làm
cơ sở cho việc quản lí, bảo tồn và phát triển các loài LC, BS ở KVNC; bổ sung mẫu cho phòng Bảo tàng sinh học khoa Sinh-KTNN trường ĐHSP Thái Nguyên
4 Nội dung nghiên cứu
- Xác định thành phần loài, đánh giá tính đa dạng sinh học của LC, BS ở KVNC, mô tả các loài bổ sung cho KVNC
- Nghiên cứu sự phân bố về thành phần loài LC, BS theo nơi ở và theo sinh cảnh
- Xác định các loài quý hiếm trong KVNC
- Điều tra các yếu tố đe dọa làm suy giảm đa dạng LC, BS ở KVNC
- Đề xuất các kiến nghị quản lí, bảo tồn đa dạng sinh học nói chung; LC, BS nói riêng ở KVNC
Trang 13Chương 1 TỐNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Lịch sử nghiên cứu LC, BS ở vùng Đông Bắc
Theo Nguyen Van Sang et al (2009), vùng địa lí Đông Bắc của Việt Nam gồm 11 tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh Nghiên cứu LC, BS ở các tỉnh Đông Bắc chia thành 3 hướng chính:
- Nghiên cứu về thành phần loài và phân loại Đây là hướng nghiên cứu chủ đạo
từ khi những nhà nghiên cứu nước ngoài đầu tiên tới Việt Nam khảo sát LC, BS và vẫn tiếp tục cho tới nay
Theo Hoàng Văn Ngọc (2011) [40], tác giả Bourret R từ 1933 đến 1944 đã viết 4 cuốn chuyên khảo về LC, BS Đông Dương (Việt Nam, Lào và Campuchia), gồm Les Serpents de l’Indochine (Tome I, II) (1936) có mô tá 105 loài rắn ở miền Bắc Việt Nam, Les Tortues de l’Indochine (1941) có mô tả 17 loài và phân loài rùa ở miền Bắc Việt Nam và Les Batraciens de l’Indochine (1942) có mô tả 59 loài và phân loài LC, Les Lézards de l'Indochine (được xuất bản chính thức năm 2009), gồm 177 loài và phân loài thằn lằn Đây được coi là những tài liệu đầy đủ nhất về LC, BS ở giai đoạn trước 1954 của Đông Dương Địa điểm khảo sát trong các nghiên cứu của ông tập trung
ở miền Nam, trong khi vùng Đông Bắc chủ yếu ở các khu nghỉ mát (Mẫu Sơn, Tam Đảo ), các khu đồn trú của lính Pháp (Ngân Sơn ) Các nghiên cứu LC, BS ngay sau
đó bị đình trệ khi cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra ở Việt Nam
Vào thời kì miền Bắc bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội sau 1954, một số cán bộ được Nhà nước cử đi đào tạo tại Liên Xô (cũ) trở về công tác tại các cơ quan như Đại học (ĐH) Tổng hợp Hà Nội, ĐH Sư phạm Hà Nội, Viện Điều tra quy hoạch rừng ; cùng với các cán bộ được đào tạo trong nước trở thành cán bộ chuyên sâu thực hiện thống kê tài nguyên về LC, BS của đất nước và các địa phương, phục vụ cho sản xuất
và phát triển kinh tế Theo Trần Kiên (1981), ở vùng Đông Bắc cũng có một số địa
điểm được nghiên cứu, như: Ghi nhận loài trăn đất (Python molurus) và ba ba gai (Palea steindachneri) ở Đình Cả (Võ Nhai, Thái Nguyên) của Đào Văn Tiến (1962);
thu mẫu, xác định tổng cộng 74 loài BS và 34 loài LC ở Bắc Thái cũ (nay gồm Thái
Trang 14Nguyên và Bắc Kạn) qua các đợt khảo sát của Nguyễn Văn Sáng (1967), Nguyễn Quốc Thắng (1968), Đỗ Tước (1969), Kim Ngọc Sơn (1970), và một số chuyến hướng dẫn thực địa sinh viên của trường ĐH Tổng hợp Hà Nội [22]
Nguyễn Văn Sáng và đtg công bố về thành phần loài: Rắn ở miền Bắc Việt Nam (1981); thống kê được ở vùng núi Yên Tử có 19 loài LC và 36 loài bò sát trong đó có 3 loài LC và 2 loài BS đặc hữu Việt Nam, 2 loài LC và 12 loài BS quý hiếm (2000) [54];
ở Hữu Liên (Lạng Sơn) có 20 loài LC và 28 loài BS (2000) [50]; thống kê LC, BS ở Văn Bàn- Lào Cai từ 73 loài (bao gồm 34 loài BS và 39 loài LC, trong đó có 16 loài quý
hiếm; bổ sung khu phân bố của Rắn lục mũi hếch Deinakistrodon acutus, Cóc mày phê
Brachytarsophrys feae, Ếch cây chân đỏ Rhacophorus bipunctatus, Ếch vân nam Paa yunnanensis và loài rất hiếm gặp Rắn đai má Liopeltis frenatus ở đây) vào năm 2004
[49] lên 80 loài (38 loài BS, 42 loài LC) kèm theo phân chia theo dạng SC và độ cao trong năm 2005 [53]
Lê Nguyên Ngật và đtg đã thống kê có 32 loài ếch nhái ở rừng Tam Đảo (1995) [31] Năm 2004, công bố thành phần loài ở Hồ Núi Cốc gồm 18 loài LC, 44 loài BS trong đó có 13 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam 2000, 3 loài trong Danh lục Đỏ IUCN
2000 [34], tới 2005 ghi nhận ở vùng này có 22 loài LC, 49 loài BS, xác định được 22 loài quý, hiếm; cùng nghiên cứu ở khu vực Thần Sa- Phượng Hoàng để bổ sung 16 loài cho danh sách LC, BS ở Thái Nguyên, tổng kết danh sách này có 80 loài [33] Năm
2007, thống kê ở 3 huyện Chiêm Hóa, Nà Hang, Sơn Dương của Tuyên Quang có 97 loài LC, BS (trong đó 43 loài LC thuộc 8 họ, 3 bộ và 54 loài BS thuộc 14 họ, 2 bộ) với
22 loài quý, hiếm; bổ sung 48 loài so với danh lục 2005 [36]; thống kê Hà Giang có 86 loài, gồm 49 loài LC, 37 loài BS (bổ sung 8 loài LC, 23 loài BS cho Hà Giang so với danh lục 2005) [37] Năm 2008, bổ sung Sơn Động (Bắc Giang) thuộc vùng núi Tây
Yên Tử vào khu phân bố đã biết của Thằn lằn cá sấu Shinisaurus crocodilusus là
Quảng Tây (Trung Quốc) và Quảng Ninh [38] Hoàng Văn Ngọc, Lê Nguyên Ngật và đtg (2009) đã bổ sung Na Hang (Tuyên Quang) vào khu phân bố của Thằn lằn tốt mã
bốn vạch Plestiodon quadrilineatus và Vị Xuyên (Hà Giang) vào khu phân bố của Thằn lằn tốt mã tam đảo Plestiodon tamdaoensis [42], ghi nhận vùng phân bố mới của thạch sùng đuôi dẹp Hemidactylus garnotii ở Hà Giang, Tuyên Quang và Chợ Đồn
Trang 15(Bắc Kạn) [41]
Năm 1998, Amy Lathrop và đtg mô tả loài mới phát hiện cho khoa học Lepolalax
sungi ở Tam Đảo và Leptolalax nahangensis ở Tuyên Quang [76]
Hồ Thu Cúc và đtg (2000) [8] mô tả một vài đặc điểm hình thái, tập tính và phân
bố của 10 loài Rhacophorus trong đó có các loài ở vùng Đông Bắc: Rhacophorus
calcaneus, Rhacophorus rainwardtii (được xác định lại thuộc Rhacophorus kio [83]), Rhacophorus verrucosus (tên đồng danh của Kurixalus verrucosus) Năm 2001, tái
phát hiện, bổ sung khu phân bố và mô tả một số loài của giống ếch cây sần Theloderma:
Th gordoni ở K'Bang (Gia Lai), Fansipan (Lào Cai) và núi Tam Đảo, Th asperum
(Boulenger, 1886) ở Tam Đảo và Sa Pa, Th bicolor có ở Sa Pa, đổi tên Rhacophorus
leprosus corticalis từng phát hiện ở Mẫu Sơn (Lạng Sơn) thành Th corticale
(Boulenger, 1903) phát hiện lại ở núi Tam Đảo [7] Theo Nguyen Van Sang (2009) [83], bà cũng đã bổ sung nhiều loài mới cho khoa học tại vùng Đông Bắc Việt Nam như
Leptolalax nahangensis, Leptolalax sungi, Odorrana bacboensis, Rhacophorus
hoanglienensis, Sphenomorphus cryptotis, Sphenomorphus devorator
Đặng Huy Phương và đtg, năm 2004 thống kê ở khu vực núi Tây Côn Lĩnh, Hà Giang có 18 loài BS, 33 loài LC [47], năm 2009 đã xác định ớ Hà Giang có 73 loài LC,
BS, trong đó có 41 loài LC và 32 loài BS [46]
Raoul H Bain và đtg, 2004 công bố ở Hà Giang có 36 loài LC, 16 loài BS; so với nghiên cứu năm 2004 nói trên của Đặng Huy Phương bổ sung thêm 14 loài LC, 8 loài
BS; trong đó mô tả 2 loài mới Rana iriodes và Rana tabaca, đưa ra ghi nhận vùng mới
của 8 loài và phân loài ở Hà Giang và phía đông sông Hồng [71]
Phạm Nhật và đtg (2004) thống kê được 69 loài ớ Ba Bể- Na Hang (dự án PARC) [44] Wolfgang Böhme và đtg (2005) đã mô tả một loài cá cóc mới cho khoa học
Tylototriton vietnamensis (Urodela: Salamandridae) ở vùng đất thấp Lục Nam (Bắc
Giang), Cao Bằng, Nghệ An đôi lúc xuất hiện trên thị trường buôn bán sinh vật cảnh từ miền Bắc Việt Nam nhưng chưa từng được mô tả [72]
Trần Thanh Tùng và đtg thống kê ở vùng núi Yên Tử thuộc Bắc Giang có 101 loài
LC, BS (41 loài LC, 60 loài BS) (2006) [61]; lần lượt đưa ra các danh sách loài LC, BS khác nhau ở khu vực núi Yên Tử theo các năm: 2007 với 123 loài kèm sự phân bố theo
Trang 16SC và độ cao [39]; 2008 với 133 loài, trong đó có 37 loài đặc hữu và quý hiếm [62] Nguyễn Quảng Trường và đtg đã ghi nhận 67 loài LC, BS (trong đó có 35 loài ếch nhái thuộc 7 họ, 2 bộ và 32 loài BS thuộc 10 họ, 2 bộ), bổ sung 4 loài LC, 6 loài BS so với trước đó; trong đó có 15 loài ếch nhái và bò sát quý hiếm ở Hà Giang, ghi nhận một
số loài hiếm gặp như: Paramesotriton deloustali ở Đá Đin, huyện Xí Mần, Tylototriton
asperrimus, Bombina microdeladigitora (=B maxima), Amolops chapaensis, Rhacophorus hoanglienensis và Ophisaurus harti ở Tây Côn Lĩnh (2006) [67]; ghi nhận vùng phân
bố mới cho loài Ateuchosaurus chinensis ở Vị Xuyên, Hà Giang (2008) [77], phát hiện và
mô tả loài mới cho khoa học Goniurosaurus huulienensis ở Lạng Sơn (2008) [83], mô tả
loài mới Gekko canhi ở Hữu Liên (Lạng Sơn) và Sa Pa [84], Tropidophorus boehmei ở núi Fansipan, Sa Pa và Văn Bàn (Lào Cai) (2010)[81], Oligodon nagao ở Lạng Sơn, Cao
Bằng, Nam Trung Quốc (Quảng Tây) và Trung Lào (2012)[74], 1 loài mới thuộc nhóm
Gekko japonicus ở Cao Bằng và Quảng Tây (Trung Quốc) (2013)[82]
Lê Xuân Cảnh và đtg, năm 2007 xác định có 47 loài, gồm 17 loài LC và 30 loài
BS, trong đó 1 loài LC, 14 loài BS quý hiếm và đề xuất các khu bảo vệ cấp quốc gia ở Định Hóa và Võ Nhai, Thái Nguyên [6] Năm 2013, đã thu thập cơ sở dữ liệu các loài động vật có nguy cơ bị đe dọa ở Việt Nam năm 2013, trong đó có 169 loài BS (gấp 3,84 lần so với 44 loài năm 2007) và 72 loài LC (gấp 5,54 lần so với 13 loài năm 2007), báo động về đa dạng sinh học LC, BS ở nước ta nói chung và vùng Đông Bắc nói riêng [5] Trần Minh Hợi và đtg (2008) đã đưa ra danh lục LC, BS ở VQG Xuân Sơn (Phú Thọ) gồm 27 loài LC và 44 loài BS (theo Nguyễn Lân Hùng Sơn, 2013 [55]) Trong công trình của Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Quảng Trường (2009) cập nhật VQG này có
29 loài LC (8 họ, 3 bộ) và 48 loài BS (14 họ, 2 bộ)[52] Nguyễn Lân Hùng Sơn và đtg (2013) tiếp tục thu thập mẫu của 32 loài LC, BS để cung cấp cho Bảo tàng thiên nhiên VQG Xuân Sơn , trong đó có 19 loài LC ( thuộc 5 họ, 1 bộ) và 13 loài BS (thuộc 5 họ,
1 bộ), bổ sung cho các kết quả trước đó 11 loài LC và 6 loài BS, nâng tổng số loài LC,
BS xác định được lên thành 94 loài (40 loài LC, 54 loài BS) Nghiên cứu năm 2013 này
cũng mở rộng vùng phân bố của loài cóc mày Leptolalax firthi lần đầu tiên được phát
hiện trong rừng thường xanh trên núi ở Kon Tum và Quảng Nam năm 2012 của Jodi J
L Rowley và đtg [55 ], [85]
Trang 17Vũ Tiến Thịnh (2013) xác định được 11 loài BS quý hiếm ở KBT loài và SC Nam
Xuân Lạc (Bắc Kạn) gồm: Tắc kè Gekko gecko, Kỳ đà hoa Varanus salvator, Rắn ráo thường Ptyas korros, Rắn hổ mang Naja atra, Rắn cạp nong Bungarus fasciatus, Rắn cạp nia bắc Bungarus multicinctus, Rùa đất spengle Geoemyda spengleri và đặc biệt quý hiếm là Trăn đất Python molorus, Rắn hổ mang chúa Ophiophagus hannah, Rùa đầu to Platystemon megacephalum, Rùa sa nhân Cuora mouhoti [66]
Đặng Huy Huỳnh, Nguyễn Hữu Thắng (2013) đã khảo sát và tổng hợp tài liệu, xác định ở khu vực Phia Oắc- Phia Đén (Cao Bằng) có 32 loài LC và 49 loài BS, trong
đó có 14 loài LC, BS quý hiếm [18]
Tóm lại, các tỉnh trong vùng Đông Bắc đều đã được khảo sát về thành phần loài
LC, BS với một loạt các ghi nhận mới về loài và khu phân bố loài qua các năm, tuy một
số tỉnh còn ít được điều tra như Yên Bái, Quảng Ninh Trong cuốn "Herpetofauna of Vietnam" (2009) đã thống kê ở 11 tỉnh Đông Bắc có 110 loài LC và 161 loài BS đã được mô tả (không tính 3 loài LC, 13 loài BS ở Tam Đảo nhưng không đề cập cụ thể có
ở 11 tỉnh nêu trên), trong đó Thái Nguyên có 13 loài LC và 51 loài BS Trong một bài báo bổ sung cho cuốn sách này, Thomas Ziegler và đtg (2010) đã thống kê ở vùng
Đông Bắc có thêm 2 loài LC mới cho khoa học Odorrana geminata (Bain et al., 2009),
Theloderma lateriticum (Bain et al., 2009); 4 loài BS mới Protobothrops trungkhanhensis (Orlov et al., 2009), Gekko canhi (Rösler et al., 2010), Scincella apraefrontalis
(Nguyen et al., 2010), Tropidophorus boehmei (Nguyen et al., 2010) được mô tả (trong
tổng số 566 loài của cả nước) và đề cập ghi nhận quốc gia mới của 1 loài LC
(Leptobrachium promustache), 2 loài BS (Scincella monticola và Amphiesmoides
ornaticeps) ở đây [89]
Trên cơ sở lập danh sách và bố sung loài mới ở các vùng trên toàn quốc các nghiên cứu này còn phục vụ việc xuất bản các sách phục vụ cho nghiên cứu LC, BS, góp phần xây dựng luận chứng kĩ thuật trong các hoạt động bảo tồn ở các KBTTN, VQG và đánh giá tác động môi trường trong các dự án kinh tế liên quan
- Hướng thứ hai về sinh học, sinh thái học, kí sinh trùng và chăn nuôi một số loài kinh tế Theo Nguyễn Văn Sáng và đtg (2009) [51], trong thập niên 80-90 của thế kỷ trước có các nghiên cứu về một số loài có giá trị, như: khả năng nuôi tắc kè của Nguyễn
Trang 18Văn Sáng (1988); cơ sở sinh học và sinh thái học của nghề rắn (rắn hổ mang, cạp nong, cạp nia) của Hoàng Nguyễn Bình (1991); sinh thái học của rắn hổ mang non nuôi trong lồng của Trần Kiên, Lê Nguyên Ngật (1991); đặc điểm sinh học, sinh thái của rắn ráo
Ptyas korros trưởng thành của Đinh Thị Phương Anh (1994); kĩ thuật nuôi ba ba trơn
của Hoàng Ngọc Quý (1996), một số đặc điểm sinh thái của ếch đồng trong điều kiện nuôi của Nguyễn Kim Tiến (1999) Trần Kiên, Lê Nguyên Ngật (1992) [20] công bố
nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của rắn hổ mang (Naja naja) non nuôi trong lồng
Tanya L Trépanier và đtg (1999) phân tích âm thanh tiếng kêu tán tỉnh và đánh dấu
lãnh thổ của Rhacophorus leucomystax (=Polypedates leucomystax) [86]
Sau đó, đối tượng nuôi và nghiên cứu được mở rộng hơn: Đặc điểm lột xác và
dinh dưỡng của tắc kè Gekko gecko trong điều kiện nuôi của Trần Kiên và Viêng Xay (2000) [23] Đặc điểm hình thái và sinh học của thằn lằn cá sấu (Shinisaurus crocodilusus
Ahl, 1930) tại vùng núi Yên Tử ở Bắc Giang trong điều kiện nuôi (2008)[38] của Lê Nguyên Ngật và đtg Mùa sinh sản của thạch sùng đuôi sần ở Vĩnh Phúc (2007) [26], đặc điểm dinh dưỡng của rùa núi vàng và rùa sa nhân trong điều kiện nuôi bán tự nhiên (2013) [27] của Ngô Thái Lan Sinh trưởng và phát triển của Chẫu chàng xanh đốm [25] của Lê Vũ khôi và đtg (2009) Quy trình nuôi Rồng đất của Ngô Đắc Chứng (2009) [11] Đặc điểm sinh học của thạch sùng đuôi dẹp ở vùng Đông Bắc [41]; một số
đặc điểm sinh thái, sinh học và khóa định loại 3 loài ếch Quasipaa ở Hà Giang [43] của Hoàng Văn Ngọc và đtg (2009) Hình thái và tiếng kêu của loài Cóc mắt bên Xenophrys
major (Boulenger, 1908) ở VQG Tam Đảo của Nguyễn Thị Thanh Hương và đtg
(2013) [19] Thử nghiệm nuôi, cho giao phối và sinh sản thành công ở thằn lằn cá sấu (mẫu ở KBTTN Tây Yên Tử) của Trần Đại Thắng và đtg (2013)[65]
Các đề tài về kí sinh trùng trên LC, BS cũng mới được quan tâm trong những năm gần đây là cơ sở cho công tác phòng chống, giảm thiểu bệnh tật trên LC, BS chăn nuôi
và phòng bệnh truyền nhiễm ở người: Nguyễn Thị Lê và đtg nghiên cứu định loại được
12 loài kí sinh ở thạch sùng đuôi sần, 5 loài ở thằn lằn bóng đuôi dài tại Hà Nội, Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Kạn (2005) [28]; sau đó tổng hợp tỉ lệ nhiễm và danh sách loài sán lá gồm 21 loài kí sinh (KS) trên 9 loài LC và 28 loài KS trên 15 loài BS ở các tỉnh phía bắc, trong đó vùng Đông Bắc có 15 loài KS trên LC và 27 loài KS trên BS, đồng
Trang 19thời 3 loài sán lá được mô tả là loài mới cho khoa học: Batrachotrema vietmamensis,
Pleurogenes longivitellaris Singhiatrema vietnamensis (2009) [29] Định loại được 4
loài sán dây thuộc giống Oochoristica kí sinh ở thạch sùng đuôi sần Hemidactylus
frenatus của Trần Thị Bính và đtg (2005)[4] Phát hiện tỉ lệ nhiễm giun tròn
(Nematoda) khá cao ở ở một số loài ếch nhái tại Vườn quốc gia Tam Đảo và Xuân Sơn
(VD: chẫu 85%, cóc nhà 75%, ngóe 70%) và mô tả 2 loài kí sinh mới Aplectana
asiatica, Amplicaecum brumpti cho khu hệ giun tròn Việt Nam của Nguyễn Văn Đức
và đtg (2005) [16] Lần đầu tiên phát hiện, mô tả 2 loài sán lá đơn chủ kí sinh trên ba ba
trơn và rùa núi vàng ở Việt Nam, trong đó có một loài Polystomoides nghi ngờ là loài
mới cho khoa học của Phạm Ngọc Doanh (2007) [12] Phát hiện, mô tả 3 loài giun tròn
kí sinh ở thạch sùng đuôi sần và 3 loài giun tròn ở thằn lằn bóng đuôi dài, trong đó mỗi
loài thằn lằn có 1 loài kí sinh Physaloptera nghi ngờ là loài mới của Nguyễn Thị Minh
và đtg (2007) [30] Bài báo tổng hợp xác định tỉ lệ nhiễm và danh sách 45 loài giun tròn
và 4 loài giun đầu gai kí sinh trên 16 loài bò sát phổ biến ở Việt Nam, trong đó mô tả 3
loài giun tròn mới bổ sung cho khoa học: Pharyngodon duci, Spauligodon vietnamenis
và Thelandros vietnamenis của Bùi Thị Dung và đtg (2009) [13]
Những nghiên cứu này mang tính ứng dụng, góp phần hỗ trợ công tác bảo tồn nguồn gen, bảo tồn loài theo SC, vệ sinh dịch tễ, phát triển dược phẩm và sinh kế cho người dân
- Hướng thứ ba: nghiên cứu về sinh học phân tử Đây là hướng nghiên cứu hiện đại giúp phân tích sự sai khác di truyền nhằm xác định tên loài, thay đối taxon, sự tiến hóa phân tử và mối quan hệ phát sinh chủng loại Do chủ yếu có sự phân tích di truyền giữa các quần thể có nhiều sai khác về hình thái hơn là về phân bố địa lí, các nghiên cứu theo hướng này có tính khái quát trên phạm vi cả nước: Nguyễn Văn Cường và đtg (1992) phân đoạn và xác định tính chất của các tiểu phần protein của nọc rắn hổ mang [9]; Ngô Thị Kim, Đặng Tất Thế (2004) phân tích di truyền Rắn hổ mang (HM) vàng-
HM đen- HM núi [24]; Vogel Gernot (2006) sửa đổi tên quần thể rắn Xenochrophis chỉ
có ở Campuchia, Việt Nam, Tây Malaysia thuộc tổ hợp loài Xenochrophis piscator
thành loài Xenochrophis flavipunctatus [88]; Andre Ngo et al (2006) nghiên cứu quan
hệ phát sinh loài của các loài ếch vùng thác nước ở Trung Quốc và Việt Nam thuộc chi
Trang 20Amolops dựa vào hệ gen ti thể và đề xuất đặt Amolops chapaensis và Huia nasica vào
chi Odorrana [78]; Hoàng Văn Ngọc và đtg (2009) nghiên cứu đa dạng di truyền của
thạch sùng đuôi dẹp [41]; Nguyễn Quảng Trường và đtg nghiên cứu mối quan hệ di truyền và định loại các loài thuộc Họ cá cóc (2009) [68], sau đó khảo sát và công bố
loài thằn lằn mới Hemiphyllodactylus zugi (Reptilia: Gekkonidae) ở Hạ Lang, Cao Bằng (2013) [80], Oreolalax sterlingae ở Sa Pa (2013)- đại diện đầu tiên của chi
Oreolalax ở Việt Nam [79] dựa trên kết quả phân tích phân tử và so sánh hình thái
Ngoài những hướng trên, còn có các nghiên cứu về ứng dụng LC, BS trong y học: Năm 1891, Albert Calmette nghiên cứu và chế tạo huyết thanh từ Rắn hổ mang đề phát triển vaccine thích hợp trong môi trường nhiệt đới ớ Viện Pasteur tại Sài Gòn [83], Trần Kiên, Nguyễn Quốc Thắng (1980) mô tà 31 loài rắn độc Việt Nam và hướng dẫn cách điều trị và phòng tránh rắn độc cắn [21] Nguyễn Hữu Đảng (2004) thống kê một
số loài cóc, ếch, ba ba, đồi mồi dùng làm thuốc [15]
1.2 Tình hình nghiên cứu LC, BS ở khu vực nghiên cứu
Năm 1962, Đào Văn Tiến khảo sát ở Đình Cả đã công bố 2 loài: Trăn đất (Python
molurus) và Ba ba gai (Trionyx steindachaneri)
Năm 2005, Lê Nguyên Ngật, Đoàn Văn Kiên và Hoàng Văn Ngọc nghiên cứu thành phần loài LC, BS khu vực Thần Sa- Phượng Hoàng (phạm vi 2 xã Phú Thượng và Thần Sa) lần đầu tiên đưa ra danh sách 31 loài LC, BS cho khu vực này gồm 7 loài LC
và 24 loài BS (6 loài thằn lằn, 13 loài rắn, 5 loài rùa), trong đó có 16 loài LC, BS quý hiếm [33]
Báo cáo của BQL KBTTN Thần Sa- Phượng Hoàng gứi Phòng bảo tồn thiên nhiên (Cục bảo vệ môi trường) (2008) đề cập khu hệ LC, BS ở KBTTN gồm 47 loài thuộc 13 họ, 3 bộ [1]
Đỗ Tước, Đặng Thanh Long (2009) trong dự án xác lập lại KBTTN này ghi nhận
ở Thần Sa- Phượng Hoàng có 11 loài LC, 28 loài BS, trong đó có 11 loài BS ghi trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, 6 loài BS trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP, chưa ghi nhận loài LC quý hiếm hay đặc hữu nào [10]
Như vậy đến năm 2009, qua danh sách thành phần loài của các tài liệu đã ghi nhận
được xác thực bằng công tác thực địa, phân tích mẫu vật; KVNC có 49 loài LC, BS,
Trang 21gồm 13 loài LC, 36 loài BS Những công bố trên chủ yếu là lập danh sách loài, xác định những loài quý hiếm làm cơ sở cho việc xây dựng KBTTN Những nghiên cứu về thành phần loài, hình thái, phân bố và các nhân tố đe dọa đến các loài LC và BS vẫn chưa thật đầy đủ, cần bổ sung thêm qua công tác thực địa
1.3 Đặc điểm các nhóm sinh thái của LC, BS phân theo nơi ở
1.3.1 Đặc điểm các nhóm sinh thái của LC phân theo nơi ở
Do có sự thích nghi riêng với các yếu tố của môi trường mà người ta chia LC thành 3 nhóm sinh thái Tuy vậy sự phân chia này chỉ mang tính tương đối, vì trong thực tế có nhiều loài sống được trong 2 hay cả 3 nơi ở [32]:
- Nhóm LC ở nước: chủ yếu thuộc bộ LC Có đuôi (Caudata) và một số loài LC
Không đuôi (Anura) Tuy nhiên, mức độ quan hệ với nước ở từng loài có khác nhau Thường xuyên ở nước là các loài cá cóc, chúng bơi được nhờ cử động của chiếc đuôi dài và rộng trong khi 4 chi nhỏ được ép vào dọc thân Sống ở nơi nước chảy,
chúng có đuôi lớn (Cá cóc khổng lồ- Megalobatrachus) hoặc chi có vuốt để bám vào giá thể Cá cóc có vuốt (Onichodactylus) ở suối nước chảy mạnh, nồng độ oxi cao chỉ
hô hấp bằng da do chúng không có phổi
LC Không đuôi (Anura) thường xuyên sống trong nước có thể kể đến là Cóc nước
(Occidozyga lima), Nhái bám đá (Amolop ricketti) cũng ít khi lên cạn, chân sau của
chúng thường có màng bơi rộng hoặc đầu ngón chân có đĩa bám để bám vào đáy nước
Một số loài khác ít khi đi xa khỏi khu vực nước như Ếch suối (Rana nigrovittata), Ếch xanh (Rana virida), Ếch vạch (Chaparana delacouri), Ếch nhẽo (Limnonectes kuhlii)
Đa số loài chỉ xuống nước sinh đẻ hoặc tránh kẻ thù
- Nhóm LC sống ở đất, hang hốc tự nhiên và trên mặt đất: bao gồm hầu hết các
loài LC Mối quan hệ của chúng đối với đất cũng khác nhau LC Có đuôi chủ yếu ở nước, thỉnh thoảng mới lên cạn, mặc dù có loài đi xa nguồn nước hàng trăm mét, lại có loài đến mùa khô hạn lại ở trong cỏ lá hoặc gốc cây nhiều tháng chờ mưa Đa số LC Không đuôi tạm trú trong những hang hốc có sẵn, một số loài biết đào hang như Cóc
bùn (Pelobatidae) dùng chân sau ngắn đạp và ép phần sau thân vào đất mềm LC không
chân chuyên đào hang trong đất nhờ chiếc đầu rắn chắc
- Nhóm LC ở cây: chủ yếu ở bộ LC Không đuôi Riêng họ Ếch cây (Rhacophoridae)
Trang 22và họ Nhái bén (Hylidae) có tới 90% số loài ở cây, chúng có đầu ngón chân mở rộng thành đĩa kiểu giác bám, có tuyến dính, có sụn trung gian giữa 2 đốt đầu tiên của ngón chân giúp chúng bám chặt vào cây, lá Một số loài có màng da rộng giữa các ngón chân trước và chân sau, có tác dụng như một chiếc ô đỡ khi chúng nhảy từ cành này sang cành khác hoặc từ cây xuống mặt đất
1.3.2 Đặc điểm các nhóm sinh thái của BS phân theo nơi ở
BS có thể sống ở nước, trong hang, trên mặt đất, trên cây và vùng cát, sa mạc khô nóng Tuy nhiên, ứng với mỗi loại môi trường chỉ có một số loài sinh sống Mỗi loài BS chỉ có thể tồn tại trong những điều kiện nhất định của môi trường Tùy theo nơi ở và cách di chuyển, người ta chia BS thành 4 nhóm sinh thái [32]:
- Nhóm sống trên mặt đất: phần lớn BS có những đặc điểm thích nghi với việc di
chuyển và sống trên mặt đất như thân thuôn dài, chân khỏe và cân đối, đuôi dài và nhỏ
giúp chúng chạy nhanh trên mặt đất (các nhóm thằn lằn Lacerta, Amaga, Eumeces,
Eremias, Mabuya) BS chạy nhanh trên mặt đất nhờ giảm được ma sát bằng cách thu
nhỏ diện tích cơ thể tiếp xúc với đất, điều chỉnh khối lượng cơ thể đều trên 4 chân, bàn chân hướng ra ngoài và hướng về phía trước, đầu gối ép sát thân, cơ thể dựa lên phần trong của bàn chân nhiều hơn so với phần ngoài Do vậy, một số loài có ngón ngoài tiêu giảm BS thuộc đại Trung sinh có xu hướng chạy bằng 2 chi sau thì có 2 chi trước nhỏ hoặc tiêu giảm BS thuộc bộ Có vảy sống ở vùng cây cỏ rậm rạp có chi tiêu giảm hoặc
có kích thước nhỏ bé, số ngón giảm, một số thiếu hẳn chi (như Thằn lằn rắn (Anguidae), Thằn lằn giun (Dibamidae) và rõ ràng nhất là Rắn (Serpentes), tuy một số loài rắn còn di tích của chi sau)
Các loài thằn lằn chạy nhanh như rồng đất, nhông xanh thường có chi khỏe, đuôi dài vừa phải Khi gặp nguy hiểm, rồng đất chạy bằng cách tựa 2 chi sau vào đuôi để giữ thăng bằng, 2 chi trước áp sát vào thân Một vài loài BS nhảy bằng cách duỗi đồng thời
2 chi sau hất thân lên khỏi mặt đất
Các loài rùa sống hoàn toàn trên cạn (rùa núi vàng, rùa núi viền) có mai cứng, chân hình trụ phủ vảy lớn, bàn chân chắc và khỏe, không có màng da nối các ngón
- Sống ở trên cây: Để leo nhanh lên cây, nhiều loài nhông, thằn lằn có chi khỏe,
ngón dài, có vuốt sắc giúp chúng bám chắc vào thân và cành cây Tắc kè hoa có đuôi
Trang 23dài quấn được vào cây, chi dài và mảnh, có 2 nhóm ngón đối nhau để cầm nắm Ở họ Tắc kè, mặt dưới ngón chân nở rộng, có nhiều nếp gấp da tạo thành những giác bám Nhông cánh (hay Thằn lằn bay) có màng da ở 2 bên thân, giúp chúng bay từ trên xuống trong khoảng cách xa hàng chục mét
Nhiều loài rắn ở trên cây có thân nhỏ và dài, đuôi rất dài để quấn quanh cành cây rồi quăng mình từ trên xuống, lúc đó xương sườn ở hai bên thân bạnh ra, bụng thót nhỏ lại, vảy hai bên sườn nâng lên làm tăng sức cản của không khí, rắn lướt đi trong một khoảng xa trong không khí
- Nhóm sống trong đất: Số loài có khả năng đào hang không nhiều Những loài
chuyên hóa thường có các gờ da cứng tạo thành góc cạnh, 2 mí mắt thường gắn với nhau hoặc có gai trên mí, lỗ tai nhỏ có vảy che để ngăn đất lọt vào Thằn lằn chân ngắn
có chi mảnh và ngắn Thằn lằn giun thiếu chi, hình dạng giống giun đất, đuôi có gai cứng giúp chúng tì vào giá thể để đẩy thân lên phía trước
- Nhóm sống trong nước: Khác với LC, BS không chỉ sống trong các môi trường
nước có độ muối giới hạn (sông suối, ao hồ ) mà nhiều loài còn sống trong các biển và đại dương (rùa biển, rắn biển, cá sấu nước mặn) Đây là hiện tượng thích nghi thứ sinh Tuy sống trong nước, chúng vẫn phải thở bằng phổi Lỗ mũi ở phía trước hay mặt trên của mõm nên chỉ cần nhô một chút đầu lên khỏi mặt nước là vẫn thở được bình thường (nhóm rắn bồng) Ở cá sấu, ba ba, rắn bồng, các loài rắn biển ; mắt cũng chuyển lên phía trên đầu Rắn biển, cá sấu, kì đà có thể bơi nhanh trong nước bằng cách quẫy đuôi; đuôi dẹp hai bên dạng mái chèo, mút đuôi tù; khi bơi thì chân áp sát vào thân Các loài rùa nước ngọt (ba ba) có chân dẹp, có màng bơi giữa các ngón, số vuốt chân giảm, thường là 3 Một số rùa biển như vích, đồi mồi, rùa da có chi trước dài và rộng hơn chi sau, hình mái chèo, thiếu vuốt; có loài bơi xa hàng nghìn km Tất cả các loài rùa nước đều có xương mai tiêu giảm một phần làm nhẹ cơ thể
Trang 24
Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ- XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.1 Vị trí địa lí, giới hạn
KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng được thành lập theo Quyết đinh số 3841/QĐ-UB ngày 01/12/1999 [10], được xác lập lại theo Quyết định số 1604/QĐ-UBND, ngày 8/7/2009 của UBND tỉnh Thái Nguyên [2] nhằm phù hợp với quy chế quản lí rừng KBTTN này nằm ở phía bắc của huyện Võ Nhai, cách thành phố Thái Nguyên 40 km
về phía Đông Bẳc, có toạ độ địa lý: từ 21o45'12'' đến 21o56'30'' Bắc, từ 105o51'05" đến
106o08'38" Đông Phía Tây giáp huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên Phía Đông giáp huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn Phía Bắc giáp huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn Phía Nam
giáp các xã còn lại cùa huyện Võ Nhai (Cúc Đường, La Hiên, Lâu Thượng ) [2]
KBTTN bao gồm phần diện tích rừng có giá trị bảo tồn loài và SC nằm trên địa bàn 6 xã phía Bắc và 01 thị trấn của huyện Võ Nhai, gồm hai khu: Khu I (khu Thần Sa) nằm trong địa bản 5 xã: Thần Sa, Thượng Nung, Sảng Mộc, Nghinh Tường và Vũ Chấn Khu II (khu Phượng Hoàng): nằm trong địa bàn các xã Vũ Chấn, Phú Thượng và thị trấn Đình Cả [10] Qua nhiều lần quy hoạch, xác lập, phê duyệt số liệu giao rừng; tổng diện tích tự nhiên hiện nay trong quản lí của KBTTN này là 48.913,66 ha Đất quy hoạch cho rừng đặc dụng (vùng lõi) là 17.477,37 ha (theo Quyết định 93/QĐ-UBND ngày 13/01/2011 của UBND tỉnh Thái Nguyên) Phần rừng đặc dụng này chủ yếu tập trung ở xã Thần Sa với 5.972,6ha và ít nhất là trên địa bàn xã Sảng Mộc với 1.783,2ha [2]
từ Thần Sa qua Nghinh Tường, đến Liêm Thuỷ (Na Rì, Bắc Kạn) Trong đó đỉnh núi Khao Nao ở vị trí giáp ranh giữa Sảng Mộc và Nghinh Tường có độ cao tuyệt đối
Trang 25886m Khối núi này chạy theo hướng Đông Bắc- Tây Nam, thuộc phần phía nam của cánh cung núi Ngân Sơn mà tận cùng là núi Lang Hít (Đồng Hỷ, Thái Nguyên) Dọc phía bắc của quốc lộ 1B đoạn qua các địa phương La Hiên, Lâu Thượng, Đình Cả, Phú Thượng có một dải địa hình karst với độ cao tuyệt đối phổ biến 200- 400m có liên hệ với phần núi đá vôi tuổi Carbon- Permi phía nam cánh cung Bắc Sơn, trong đó một số đỉnh núi dốc như Khao Keo (829m), Đình Cả (775m) [87] Xen kẽ có những đồi đất hình bát úp hoặc các sông, khe suối
- Vùng thấp, gồm xã Phú Thượng và thị trấn Đình Cả; với địa hình thung lũng tương đối bằng phẳng chạy dọc theo quốc lộ 1B, phía nam là một số khối karst thấp (độ cao tuyệt đối trên 400m) [87] và đồi bát úp
Như vậy, sự chênh lệch đai độ cao trong KVNC không quá lớn nên sự phân hóa động vật theo đai độ cao không rõ nét Tuy nhiên, một số núi có địa hình hiểm trở có thể trở thành địa điểm lí tưởng trong việc bảo tồn loài đặc hữu hoặc quý hiếm
2.2.2 Địa chất, khoáng sản
Địa tầng [64] cổ nhất ở khu vực là hệ tầng Thần Sa Hệ tầng này phân bố ở hai vùng, làm thành nhân của phức nếp lồi Bắc Thái- Hạ Lang Mặt cắt chuẩn (Lectotratotyp) của hệ tầng này dựa theo nhánh suối cạn phía bắc Bản Chấu (xã Sảng Mộc), vùng Thần Sa, Thái Nguyên (x = 21o49’, y= 105o57’) Hệ tầng này chủ yếu gồm trầm tích lục nguyên ít nhiều có dạng nhịp, có lẫn carbonat và xen ít lớp cát kết hạt nhỏ, đặc trưng cho khu vực Đông Bắc Việt Nam (Bắc Thái, Cao Bằng) chứa Bọ ba thùy mà Phạm Kim Ngân gọi là hệ động vật Thần Sa để phân biệt với hệ động vật Chang Pung cùng tuổi Phần lớn hoá thạch Bọ ba thùy của hệ tầng Thần Sa không thuộc nhóm bám đáy, kích thước nhỏ của bộ Miomera, điều này cùng với thành phần đá lục nguyên hạt mịn chứng tỏ hệ tầng Thần Sa thuộc tướng biển sâu hơn so với hệ tầng Chang Phung Tại Thái Nguyên và Bắc Kạn, hệ tầng này phân bố ở tây nam Na Rì (Bắc Kạn) qua suối
Mỏ Đồng, Bản Rịa, Sảng Mộc, Khuổi Mèo (xóm Khuổi Mèo, xã Sảng Mộc) thành một dải gần liên tục và ở thung lũng Thần Sa, Bồ Cu (Thái Nguyên) Tại Cao Bằng hệ tầng
lộ chủ yếu ở nếp lồi Bồng Sơn, ở Trà Lĩnh, Phục Hoà Hệ tầng có thể được chia thành 2 phần dựa trên thành phần đá và hóa thạch:
Trang 26- Phần dưới: Cát kết, bột kết dạng quarzit xen đá phiến sét philit hoá, phân lớp mỏng,
cấu tạo sọc dải, màu xám lục, khi phong hoá thường có màu đỏ tím Ranh giới giữa các lớp thể hiện rất rõ do sự thay đổi thành phần và độ hạt Trên mặt lớp thường tập trung
khá đều vảy mica, nhiều vết giun bò (hóa thạch Planolites theo Trần Văn Trị, 1964) tạo
thành những đường ống ngoằn ngoèo có khi đan chéo nhau Dày hơn 350m
- Phần trên: Đá phiến sét - sét vôi màu xám phân lớp mỏng song song, mặt lớp giàu vảy
mica, dày khoảng 200 m Tập này chứa di tích Bọ ba thùy Chuyển dần lên là đá vôi sét dạng pelit có dolomit phân lớp mỏng xen đá phiến sét vôi phân lớp sọc dải, dày khoảng 120m Trên nữa là đá phiến sét phân lớp mỏng, phiến hoá dạng tấm, có xen những lớp kẹp mỏng và thấu kính sét vôi, dày khoảng 100m Tổng bề dày phần này chừng 750 m Tổng bề dày của hệ tầng Thần Sa ở mặt cắt Bản Chấu đạt 1100 m và có thể tới 1300m, như đánh giá của Trần Văn Trị (1964, 1977) Trong số Bọ ba thùy tìm được ở
gần cửa suối Bản Chấu có Agnostus cf hedini, A sp., Lotagnostus cf asiaticus Ở vùng Bản Cái có Olenidae gen et sp indet., Hedinaspis sp
Hệ tầng Thần Sa là trầm tích cổ nhất trong khu vực phân bố của nó, do đó quan hệ của hệ tầng với các đá nằm dưới không được biết Phạm Kim Ngân định tuổi Cambri
muộn cho hệ tầng trên cơ sở tập hợp hoá thạch Bọ ba thùy Hedinaspis regalis-
Charchaquia norini và Lotagnostus asiaticus - Agnostus hedini
Trong quan hệ với các trầm tích trẻ hơn, ở mặt cắt Bản Cái (xã Nghinh Tường), phủ trên hệ tầng Thần Sa là đá vôi của hệ tầng Đá Mài (C – P2 dm) màu xám, xám sáng,
phân lớp vừa/ dày và dạng khối; ở mặt cắt Bản Chấu nằm phủ trên hệ tầng Thần Sa là trầm tích Devon Có thể coi mặt cắt tốt nhất của hệ tầng Đá Mài trong phạm vi Đông Bắc Bộ là mặt cắt đèo Na Phài- Đình Cả (Thái Nguyên) với những nét đặc trưng sau
đây: 1) Đá vôi silic, đá vôi sét tái kết tinh yếu, phân lớp dày có Parathurammina
suleimanovi, P stellata; dày 20-25m 2) Đá vôi đen tái kết tinh, phân lớp không rõ; dày
50-100m 3) Đá vôi trứng cá xám sẫm, chứa Eostaffella mosquensis, Mediocris
mediocris, Endothyranopsis sp
Khoáng sản trong KVNC gồm: chì, kẽm ở Thần Sa với quy mô, trữ lượng nhỏ, không tập trung; vàng sa khoáng ở Thần Sa, Sảng Mộc với hàm lượng thấp, quản lý
Trang 27khai thác khó khăn [70] Khai thác khoáng sản đang dấy lên quan ngại về tác động tiêu cực của nó tới môi trường và sức khỏe con người
2.2.3 Thổ nhƣỡng
Trong KVNC có các loại đất chính sau [2]:
- Đất phù sa không được bồi hàng năm: phân bố dọc các triền sông Tầng dày hơn 100
cm, đây là diện tích trồng cây lương thực và hoa màu hàng năm chủ yếu trong khu vực
- Đất phù sa ngoài suối: Phân bố ở ngoài các con suối Là những dải đất có diện tích hẹp
có thành phần cơ giới nhẹ, đất chua, hàm lượng mùn nghèo, được sử dụng để trồng lúa hai vụ và hoa màu khác
- Đất dốc tụ thung thũng: Phân bố rải rác dưới chân địa hình đồi núi, độ dốc địa hình nhỏ Đất có thành phần cơ giới nhẹ, có lẫn nhiều mảnh đá dăm Phần lớn diện tích đất này được sử dụng để canh tác chè, cây ăn quả và hoa màu
- Đất feralit: Bao gồm các loại đất feralit bị biến đổi do trồng lúa nước, đất feralit nâu
đỏ trên đá magma trung tính và bazơ, đất feralit đỏ vàng trên đá magma axit và đất feralit trên đá sét, cát kết, bột kết Các loại đất feralit có đặc tính chung là chua, phần lớn là đất lâm nghiệp
2.2.4 Khí hậu
KVNC với nhiều yếu tố tự nhiên đặc trưng cho cả huyện, nên mang nhiều đặc điểm chung của khí hậu toàn huyện Võ Nhai Võ Nhai có 2 mùa trong năm, mùa đông khô, lạnh và mùa hè nóng ẩm, nhiều mưa
- Nằm ở giữa của 2 khối núi lớn hình vòng cung với hướng mở về phía bắc, Võ Nhai liên tiếp hứng chịu những đợt gió mùa mùa đông Cộng với ảnh hưởng của độ cao, điều này đem đến cho huyện một mùa đông lạnh điển hình Nhiệt độ trung bình hằng năm 22,9oC Nhiệt độ tối đa khoảng 39,50C (tháng 6), tối thấp là 30C (tháng 1) Mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9, các tháng nóng nhất là tháng 6, 7 có nhiệt độ trung bình tháng khoảng 27,9oC Vào mùa lạnh (từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau), xuất hiện rét đậm, rét hại, nhiều khi có sương muối, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người và sự phát triển cây trồng, vật nuôi Biên độ ngày và đêm trung bình là 70C, lớn nhất vào tháng 10, khoảng 8,2oC Phía bắc huyện lạnh nhiều, phía nam ít lạnh hơn Chế độ nhiệt này khiến Võ Nhai có thể phát triển các loại cây cận nhiệt đới, nhất là các loại cây ăn quả, ngoài ra ở vùng ấm phía nam có thể trồng cây nhiệt đới
Trang 28- Lượng mưa trung bình hằng năm 1.941,5 mm và phân bố không đều trong năm Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, tổng cộng tới 1.765 mm (91% tổng lượng mưa cả năm) Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Lượng mưa lớn nhất thường diễn ra vào tháng 8, trung bình khoảng 372,2 mm [69] Trong các tháng mùa khô xảy ra tình trạng khô hạn nghiêm trọng, ảnh hưởng đến cây trồng vụ đông xuân
- Độ ẩm không khí: độ ẩm không khí trung bình năm là 82%, trung bình tháng biến thiên từ 75-86%
Do đặc điểm khí hậu KVNC, động vật nói chung; LC, BS nói riêng cũng có đời sống và tập tính biến đổi theo mùa Mùa hè nóng ẩm là mùa kiếm ăn và giao hoan, mùa đông có tập tính ngủ đông hoặc giảm hoạt động
2.2.5 Thủy văn
Mật độ sông suối ở KVNC khá thưa, lượng nước thất thường theo mùa Mô đun dòng chảy trong khu vực nghiên cứu từ 20 đến 25 L/s/km2 Lũ tập trung từ tháng 7,
tháng 8 và xuất hiện đột ngột, trung bình từ 16,1 m3/s [45]
Sông Nghinh Tường là một nhánh của sông Cầu, dài 46 km, có chiều dài dòng chảy và phần lưu vực chảy qua vùng đá vôi khá lớn (khoảng 40% chiều dài, 170 km2lưu vực), bắt nguồn từ những dãy núi của cánh cung Bắc Sơn (Lạng Sơn), chảy qua các
xã Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Thần Sa, rồi đổ ra sông Cầu Thung lũng sông thường hẹp và sâu, hai bên là vách đá dựng đứng Địa hình karst với mức độ phát triển khác nhau đã làm cho lưu vực sông không khép kín và sự trao đổi nước mặt với nước ngầm rất phức tạp [17], [69]
Sông Rong bắt nguồn từ xã Phú Thượng, chảy qua thị trấn Đình Cả và các xã Tràng Xá, Dân Tiến, Bình Long (Võ Nhai) và vào sông Trung (Hữu Lũng, Lạng Sơn) rồi đổ về sông Thương
Thống kê khái quát trên toàn huyện Võ Nhai hiện có 11 hồ chứa nước, 50 phai, đập kiên cố, 12 trạm bơm, 132 kênh mương Theo thống kê năm 2008, KBTTN có 9 hồ (25,5ha), 140 ao (5,9ha), 9110m thủy lợi kiên cố, 8500m kênh mương đất
Bên cạnh nước mặt, hoạt động thăm dò cũng cho thấy nguồn nước ngầm trên địa bàn khá phong phú đảm bảo phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất [70]
Trang 292.2.6 Sinh vật
- Hệ sinh thái: Theo kết quả báo cáo xác lập KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng
(2008) [45] của Phân viện điều tra, quy hoạch rừng Tây Bắc Bộ, KVNC được chia thành các hệ sinh thái như sau:
HST rừng nhiệt đới trên núi đá vôi (độ cao dưới 700m): là đặc trưng cơ bản và bao trùm phần lớn diện tích của KVNC Ở đây có nhiều hang động là nơi cư trú, sinh sống của các loài Thú, các loài Linh trưởng và ưu thế của các loài Nghiến, Trai, Đinh, Chò chỉ, Mạy tèo, Ô rô nổi bật là ưu hợp Nghiến + Ô rô Đặc biệt có loài Chò xanh sống thành quần thể ở độ cao 300m- 500m
HST rừng nhiệt đới núi đất (độ cao dưới 700 m): phân bố rải rác trong KVNC Thảm thực vật ở đây chủ yếu là rừng phục hồi (sau khai thác và sau nương rẫy) Đặc trưng cho hệ sinh thái này là các loài thuộc họ Na, họ Côm, họ Dẻ, họ Re
HST trảng cỏ: nằm rải rác và đan xen giữa các hệ sinh thái nêu trên Đây là nơi sinh sống của các loài côn trùng và là nơi cung cấp nguồn thức ăn quan trọng cho các loài động vật ăn cỏ
Hệ sinh thái NN và DC: phân bố rải rác diện tích đất sản xuất NN và các cụm
DC giữa các hệ sinh thái rừng Điều này đã vô tình làm thu hẹp phạm vi hoạt động và môi trường kiếm ăn của các loài động vật hoang dã, tác động không nhỏ đến sự tồn tại của chúng trong khu vực Đồng thời, sự xâm lấn môi trường sống của con người có thể
làm thay đổi tập tính sống của các loài động vật, trong đó có LC, BS
Thái Nguyên phê duyệt kết quả số liệu giao rừng KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng, tổng trữ lượng rừng trong KBT là 1.608.918,7m3, trong đó xã Thần Sa có 697.348,9m3 thì có 115.474,5m3 thuộc đối tượng rừng giàu Thần Sa là xã duy nhất còn đối tượng rừng giàu, còn lại các xã khác trong khu bảo tồn là rừng trung bình, rừng nghèo, rừng phục hồi sinh thái và rừng hỗn giao [2]
Theo quan điểm sinh thái phát sinh quần thể và hệ thống phân loại thảm thực vật Việt Nam của TS Thái Văn Trừng (1978), thảm thực vật trong KBT được thống kê ở bảng 2.1 Thành phần loài thực vật gồm: 5 ngành, 160 họ, 645 chi, 1096 loài Đặc biệt
có 44 loài quí hiếm trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, 22 loài trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP
Trang 30Bảng 2.1 Các kiểu thảm thực vật trong các phân khu của KBT [10]
Đơn vị: ha Phân khu
Kiểu thảm TV BVNN PHST DVHC Cả KBTTN
1.1 Kiểu phụ trên núi đá 5.561,93 10.268,60 68,8 15.899,33
4 Rừng kín thường xanh ẩm á nhiệt
* BVNN- Bảo vệ nghiêm ngặt, PHST- Phục hồi sinh thái, DVHC- Dịch vụ, hành chính
- Động vật: thuộc khu hệ động vật vùng Đông Bắc, đặc trưng cho hệ sinh thái
rừng trên núi đá vôi Kết quả khảo sát sơ bộ về thành phần các loài động vật để xác lập KBTTN (2009) [10] được tổng hợp ở bảng 2.2
Bảng 2.2 Thành phần ĐV có xương sống ở KBTTN Thần Sa- Phượng Hoàng
Trang 312.3 Đặc điểm kinh tế- xã hội
2.3.1 Các vấn đề xã hội
- Theo thống kê tính đến hết năm 2007 [10], dân số trong vùng là 20.411 người, sinh sống tại 4.446 hộ gia đình, trên địa bàn 6 xã và 1 thị trấn Mật độ dân số bình quân trong vùng là 42 người/km2 Phân bố DC không đều, đa số các thôn bản tập trung ở thung lũng, gần sông suối, có khả năng làm ruộng nước và dọc các trục đường giao thông
Số người trong độ tuổi lao động chiếm 44,6% dân số, trong đó chủ yếu là lao động
NN (85,7% số lao động), chất lượng lao động chưa cao, tập quán sản xuất phụ thuộc vào
tự nhiên Đây là nguyên nhân chính khiến người dân vào rừng khai thác gỗ và lâm sản Năm dân tộc có tỉ lệ đông nhất là Tày (8.720 người, chiếm 42,4%), Dao (4.816 người- 23,4%), Nùng (3.291 người-16,0%), Kinh (2.193 người- 10,7%), Mông (1.539 người- 7,5%) Ngoài ra còn một số dân tộc khác như Cao Lan, Sán Dìu
- Giao thông trong vùng chưa phát triển: Tất cả các xã, thị trấn trong vùng đều đã
có đường ô tô trải nhựa đến được trung tâm xã Tuy nhiên, phần lớn đường dân sinh trong các thôn bản có chất lượng rất xấu, nhiều nơi vẫn còn đường đất và thường xuyên
bị phá hủy do xói lở đất, mặt đường nhỏ hẹp nên việc đi lại rất khó khăn, đặc biệt là trong mùa mưa lũ Một số thôn xóm đưa vào sử dụng cầu treo dân sinh từ lâu, mặt cầu làm từ ván gỗ nên rất nguy hiểm Đang có dự án xây dựng cầu Nước Hai thuộc xã Cúc Đường bắc qua sông Thần Sa, nối liền 2 xã Cúc Đường và Thần Sa, là tuyến đường đến di tích lịch sử, văn hoá Mái Đá Ngườm xã Thần Sa
- Y tế: trạm y tế đã có mặt ở trung tâm các xã Cán bộ chuyên môn và cơ sở vật chất còn thiếu về số lượng và chất lượng, nên công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân cũng như công tác tuyên truyền phòng chống dịch bệnh trong vùng còn hạn chế
- Giáo dục: Toàn bộ khu vực có 27 trường, 275 lớp với 4 cấp học từ mầm non tới phổ thông trung học Các trường ở thị trấn và ở trung tâm các xã được xây dựng khá khang trang Một số điểm trường ở các thôn bản, nhất là các lớp tiểu học chưa được xây dựng kiên cố, cơ sở vật chất rất thiếu thốn
-Thông tin, liên lạc: trong KBTTN có 583 máy điện thoại cố định, 770 người có điện thoại di động (2008) Chất lượng sóng di động tốt ở khu vực hành chính các xã và rất kém ở các thôn bản xa trung tâm
Trang 32- Danh thắng, di tích: Xã Thần Sa có di chỉ khảo cổ thuộc trung kì Đồ đá cũ (100-
300 nghìn năm tuổi) Phú Thượng có thắng cảnh hang Phượng Hoàng, di tích lịch sử hang- suối Mỏ Gà (từng là nơi hoạt động bí mật của các lãnh đạo cách mạng trung ương trong kháng chiến chống Pháp)
2.3.2 Kinh tế
Theo kết quả điều tra dân sinh kinh tế xã hội [10], chất lượng cuộc sống của nhân dân trong khu vực còn ở mức thấp Sản lượng lương thực bình quân năm đạt: 9.208,8 tấn Trung bình đạt 451 kg/người/năm 39% tổng số hộ là hộ nghèo DC chủ yếu lao động NN (85,7% số lao động), nhưng người dân lại rất thiếu đất sản xuất do đất NN chỉ chiếm 5,07% tổng diện tích đất tự nhiên Do cuộc sống khó khăn, người dân thường xuyên vào rừng kiếm củi, khai thác gỗ để kiếm sống đã tác động xấu đến rừng Đây
là một trong những nguyên nhân chính làm suy giảm giá trị của rừng cả về diện tích và chất lượng
Trang 33Chương 3 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là sự phân bố của thành phần loài LC, BS trong từng môi trường sống ở KBTTN Thần Sa- Phượng Hoàng
3.2 Địa điểm
Do hạn chế về thời gian, kinh phí và điều kiện đi lại khó khăn trong KVNC, chúng tôi chỉ có thể khảo sát tại 5 xã Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Vũ Chấn, Thần Sa Ngoài các HST thuộc khu vực rừng đặc dụng trong quy hoạch bảo tồn của KBT, chúng tôi cũng thu thập mẫu vật ở các HST chịu tác động nhiều của con người (nhà ở, đồng ruộng ) nhưng nằm xen kẽ với các HST thuộc rừng đặc dụng trên vì các HST trên luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Các tuyến khảo sát được liệt kê ở phụ lục 1
3.3 Thời gian
Chúng tôi tiến hành khảo sát thực địa theo 4 đợt: đợt I: 30/08/2013- 04/09/2013, đợt II: 01/11/2013-02/11/2013, đợt III: 15/04/2014-17/04/2014 và đợt IV: 08/07/2014- 25/07/2014 Ngoài ra, chúng tôi cũng đặt bình đựng formol bảo quản mẫu ở 5 xã để nhờ
người dân thu mẫu
3.4 Thiết bị nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Thiết bị nghiên cứu
Dụng cụ ngoài thực địa: Gậy bắt rắn Hộp nhựa, giấy thấm nước tốt để giữ dung dịch hóa chất khi cố định mẫu Túi vải đựng mẫu tươi Bình nhựa tròn loại 10 lít để đựng hóa chất và đặt tại nhà dân nhờ bắt giúp Khay men dùng cố định mẫu vật Bộ đồ
mổ (tiểu phẫu).Panh Hoá chất: cồn 90o, formol Đèn pin cầm tay và đèn pin đeo đầu Máy xác định vị Garmin GPS V và Garmin GPSMAP 62s
Dụng cụ đo nhiệt độ, độ ẩm: nhiệt kế điện tử dạng que có độ chính xác ±10C; nhiệt- ẩm kế Beurer HM16 (Đức) dùng cho không khí với độ chính xác ±0,10C, ngưỡng đo độ ẩm 20-95%
Dụng cụ ở phòng thí nghiệm: Thước dây, thước kẹp Nhãn tiêu bản Dụng cụ
Trang 34bảo hộ lao động: giày, găng tay cao su, kính bảo hộ lao động Phiếu định loại mẫu, nhãn bôcan, giấy bút ghi chép, giấy can
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu
3.4.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
- Lựa chọn thời điểm và địa điểm khảo sát:
Thời điểm khảo sát, thu mẫu: Chúng tôi khảo sát chủ yếu vào thời điểm tháng 7, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều
Thời gian thu mẫu: Khảo sát LC chủ yếu vào chiều- tối, từ 16 giờ đến 23 giờ đêm; khảo sát BS tiến hành cả vào ban ngày (10h- 14 h, khi BS thường phơi mình tắm nắng)
và chiều tối (khi BS đi ngày lên cây ngủ và BS đi đêm hoạt động)
Địa điểm khảo sát LC: Ban ngày, chọn những nơi ẩm ướt, nơi chúng thích sinh sống như ruộng, ao, hồ, vũng nước, khe suối, hang ẩm,trên các cành cây thấp ven sông suối, trong bụi cây không quá rậm, đám thực vật thủy sinh và phía dưới đá, các vật đổ nát trên mặt đất (lá mục, cây đổ ), đất ẩm, trong gốc cây mục, những chỗ quang đãng
có nắng ở các khu rừng nghiên cứu Ban đêm, dùng đèn pin soi mọi địa hình và SC, đặc biệt là những nơi ẩm ướt nói trên để phát hiện mẫu Các điểm để khảo sát BS cũng
là mọi SC bắt gặp trong KVNC
- Lập tuyến khảo sát: Căn cứ vào thảm thực vật và các yếu tố tự nhiên khác, chia khu
vực khảo sát thành 4 nơi ở (nước, hang hốc- khe đất đá, trên mặt đất, trên cây), 4 HST theo mức độ tác động của con người, cảnh quan và trạng thái rừng (Khu DC- đất NN, Trảng cỏ- cây bụi, Rừng thứ sinh đang phục hồi, Rừng kín thường xanh) Các tuyến khảo sát được lập để thu mẫu và quan sát đều đi qua các HST và nơi ở trên
- Ghi chép và thu thập dữ liệu: Thực hiện ghi chép ngay tại vị trí khảo sát gồm:
Ngày, giờ, địa danh (tên khe, suối và tên thôn, xóm, xã), độ cao tuyệt đối, tọa độ điểm khảo sát (có thể lưu số liệu vào máy định vị)
Điều kiện thời tiết: độ ẩm và nhiệt độ không khí tại thời điểm, vị trí thu mẫu (đặt nhiệt- ẩm kế cách mặt đất 0,5m), nhiệt độ nước (nhúng trực tiếp đầu nhiệt kế vào nước trong vài phút đến khi chỉ số trên thân nhiệt kế không thay đổi); trời mưa, râm hay nắng
Mô tả môi trường sống: vật thể nơi tìm thấy mẫu (dưới thân cây gỗ, tán lá, bãi cỏ,
Trang 35trong hang đất, khe đá ), đặc điểm thực vật, chất nền như đá/ đám lá rụng quanh
Đi dọc suối, ven ao, hồ, ruộng nước : quan sát bụi cây, cành cây vươn ra gần
mặt nước, thảm lá mục, những hòn đá và tảng đá nhô lên trong lòng suối hoặc hai bên
bờ suối, thân cây to trên tuyến đi
Đi theo đường mòn trong rừng: Di chuyển chậm, nhẹ nhàng trên tuyến, hạn chế
nói chuyện Nghe và quan sát trên cành, lá, hốc cây, bụi cỏ để phát hiện mẫu qua tiếng
kêu, tiếng động khi chúng di chuyển (như Cóc núi Ophryophryne pachyproctus)
Dùng gậy khua động nhẹ hoặc vạch tìm dưới lá cây, khe đá, vỏ cây và thân cây mục
nằm dưới đất
Ban đêm, dùng đèn pin để soi, phát hiện mắt LC (Ếch đồng Hoplobatrachus
rugulosus, Cóc mắt bên Xenophrys major )
+ Thu mẫu: Với LC, chủ yếu bắt bằng tay, đặt mẫu vào túi vải thoáng khí hoặc túi
nilon thổi căng có vật tạo ẩm (giấy, thực vật- rong rêu ẩm ướt) Ếch cây màu xanh có khả năng tiết dịch có mùi hôi làm chết các ếch nhái khác nên đặt trong túi riêng Với rùa, chỉ cần bắt bằng tay
Nhóm rắn, dùng gậy bắt Thằn lằn có thể được bắt bằng tay vào ban ngày và nhất
là buổi tối Rắn, thằn lằn được đặt riêng trong các túi vải sâu
Những mẫu quan sát hoặc thu được chụp ảnh, ghi chép đặc điểm màu sắc tự nhiên, tóm tắt hình thái, trạng thái khi bị bắt của chúng và xác định thời gian, độ cao, tọa độ điểm khảo sát (lưu số liệu vào máy) Bảo quản túi đựng LC, BS trong bóng râm, nơi mát mẻ, tránh ánh sáng chiếu trực tiếp
+ Xử lí mẫu vật:
Gây mê bằng cách cho vào lọ đựng cồn, sau đó mang ra chụp ảnh để ghi lại màu
sắc tự nhiên và hình dạng khi còn sống Sau đó thả lại vào lọ để làm chết
Đeo nhãn thực địa: Mỗi mẫu có 1 nhãn thực địa, trên đó ghi thông tin về số hiệu
Trang 36mẫu, thời gian (ngày) và địa điểm thu mẫu Nhãn được ghi bằng bút chì hoặc bút bi mực dạng gel màu đen không bị mờ trong dung dịch định hình và bảo quản Nhãn được đeo vào chân sau của LC, thằn lằn, rùa; vào cổ hoặc đút vào miệng với rắn
Định hình mẫu: Dùng dung dịch formol 10% tiêm cho tiêu bản Xếp tiêu bản ở trạng thái tự nhiên Để mẫu vào hộp nhựa, tưới cồn 900 hoặc dung dịch formol 10% vào lớp giấy thấm lót ở dưới hộp và giấy thấm phủ phía trên đến ngập giấy phủ chừng vài milimet, đậy kín nắp Sau vài tiếng (tiêu bản nhỏ) hoặc 1 ngày (tiêu bản lớn) để làm cứng, tiếp tục ngâm mẫu trong dung dịch formol 10% trong 10-12 ngày, vớt mẫu ra rửa sạch, chuyển sang bảo quản lâu dài trong dung dịch cồn 70% hoặc formol 4-5%
- Phương pháp phỏng vấn:
+ Phỏng vấn để lựa chọn địa điểm khảo sát: phỏng vấn cán bộ của các cơ quan quản lí và chính quyền (Ban quản lí KBT, trạm kiểm lâm, UBND xã) để nắm bắt được điều kiện tự nhiên cụ thể từng phần trong KVNC, trạng thái rừng, tác động của con người đến rừng, sông suối và LC, BS)
+ Đối tượng phỏng vấn chủ yếu là những người dân trong vùng, trực tiếp đi bắt ếch nhái, bò sát và tiếp xúc nhiều với rừng
Nội dung nói chuyện quanh các vấn đề: những loài ếch nhái thường gặp trong vùng, những loài được dùng làm thực phẩm, để bán cùng giá trị kinh tế, di vật (sọ, mai rùa; rắn, tắc kè ngâm rượu ), mùa xuất hiện, nơi sống, địa điểm gặp mẫu trong vùng, thời gian hoạt động, mùa sinh sản- tập tính sinh sản, thức ăn, nơi ở, phương tiện- cách bắt mẫu, hoàn cảnh bị cắn và độc tính các loài rắn mà người dân trong vùng ghi nhận Trong quá trình phỏng vấn có đưa ra bộ ảnh mầu chuẩn của loài để xác định được tên một số loài qua sự nhận biết đặc điểm bên ngoài Sau đó, ghi chọn lọc những gì đã nghe được Việc này được lặp đi lặp lại nhiều lần ở nhiều người Tuy nhiên, do nhiều người dân vẫn có sự nhầm lẫn nên phương pháp này chủ yếu để nắm bắt thông tin những loài thường được săn bắt cho mục đích thương mại, làm thức ăn hoặc những loài đã được phát hiện khi cùng đi điều tra thực địa
Với những người chuyên đi rừng săn bắt, mời họ dẫn đường, trên đường đi hỏi họ
về những mẫu họ thu được, bán được bao nhiêu tiền, ở đâu, chỉ lại những địa điểm họ
Trang 37đã bắt mẫu trên đường đi khảo sát
3.4.2.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
- Định loại mẫu vật: Trên cơ sở dữ liệu thu thập được trên thực địa và dữ liệu thu thập
khi phân tích mẫu vật trong phòng thí nghiệm, định loại mẫu theo các tài liệu của René Bourret (1942 [90], 2009 [73]), Đào Văn Tiến (1977, 1978, 1979, 1981) [56], [57], [58], [59], [60], Nguyễn Văn Sáng (2007) [48]
- Phương pháp phân tích mẫu vật: Phân tích các đặc điểm hình thái của mẫu Các hình
3.1-32.9 minh họa cho một số đặc điểm hình thái và cách đo đếm mẫu LC, BS
Hình 3.1 Bàn chân lưỡng cư không đuôi
a Mặt trên; b Mặt dưới
Hình 3.2 Số đo lưỡng cư không đuôi
1.Lỗ mũi; 2.Mắt; 3.Màng nhĩ; 4.Gờ sau mũi; 5.Mí mắt trên; 6.Rộng mí mắt trên; 7.Gian mi mắt; 8.Gian mũi; 9 Khoảng cách trước mắt; 10 Khoảng cách mút mõm- mũi; 11 Khoảng cách mút mõm- mắt; 13.Dài màng nhĩ; 14.Dài thân; 15.Rộng đầu; 16.Lỗ huyệt; 17.Dài đùi; 18.Dài ống chân; 19.Đùi; 20.Ống chân; 21.Cổ chân; 22.Dài củ bàn trong; 23.Dài bàn chân;
24.Đường kính đầu ngón chân IV
Trang 38Hình 3.3 Tấm đầu của rắn
A Nhìn trên; B Nhìn bên; C Nhìn dưới
F Tấm trán; G Vảy họng; In Tấm gian mũi; T Vảy thái dương; L Tấm má; SL Tấm mép
trên; IL Tấm mép dưới; V Vảy bụng; M Tấm cằm; MA Tấm sau cằm trước; MP Tấm sau cằm sau; Pf Tấm trước trán; R Tấm mõm; N Tấm mũi; P Tấm đỉnh; Pro Tấm trước
mắt; Pto Tấm sau mắt; Subo Tấm dưới mắt
(Theo Manthey U & Grossmann W., 1997)
SC: Vảy dưới đuôi;
A : Tấm hậu môn
Trang 39Hình 3.7 Các tấm trên đầu ở thằn lằn (Mabuya)
(theo Manthey U & Grossmann W., 1997)
1 Trán; 2 Trước trán; 3 Trán - mũi; 4 Mũi; 5 Trên mũi; 6 Mõm; 7 Má; 8 Sau mũi; 9 Trên ổ mắt; 10 Trán đỉnh; 11 Gian đỉnh; 12 Đỉnh; 13 Gáy; 14 Trước ổ mắt; 15 Trên mi; 16 Mép trên; 17 Cằm; 18 Sau cằm; 19 Mép dưới;
20 Thái dương; 21 Họng; 22 Màng nhĩ
Hình 3.8 Lỗ tai thằn lằn (theo Bourret R., 1943)
a Gekko gecko (lỗ tai dài và sâu); b Mabuya longicaudata (lỗ tai tròn và sâu);
c Tropidophorus bermorei (màng nhĩ nông); d Lygosoma quadrupes (lỗ tai rất nhỏ);
e Dibamus bourreti (tai và mắt ẩn dưới vảy).
Hình 3.9 Mắt thằn lằn (theo Bourret R., 1943)
a Gekko gecko (không có mí động); b Lygosoma quadrupes (mí dưới có vảy);
c Mabuya longicaudata (mí dưới có vảy lớn, trong suốt); d Emoia laobaoensis (mí
dưới có 1 đĩa lớn trong suốt)
Trang 40Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thành phần loài lưỡng cư, bò sát ở khu vực nghiên cứu
Chúng tôi đã xác định được ở KVNC có 72 loài LC, BS, trong đó có 20 loài LC thuộc13 giống, 7 họ, 1 bộ và 52 loài BS thuộc 41 giống, 12 họ, 2 bộ Có 59 loài là kết quả phân tích mẫu LC, BS thu được ở KVNC, 1 loài quan sát và chụp ảnh ở KVNC, còn lại 12 loài theo tài liệu của Đỗ Tước và đtg [63] Tên latinh của loài và thứ tự sắp xếp các bậc phân loại theo Nguyen Van Sang và đtg (2009) Danh sách thành phần loài
ở bảng 4.1
Bảng 4.1 Danh sách thành phần loài LC, BS ở KVNC
5 Dicroglossidae 5 Họ Dicroglossidae
1834)