64 Chương 3: ĐỀ XUẤT CẤU TRÚC CỦA MỘT CÔNG TRÌNH BÁCH KHOA VỀ VĂN HÓA CỔ TRUYỀN CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM ..... Việc biên soạn các công trình bách khoa về văn hóa cổ truyền càng cấp thiết và
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––
NÔNG THỊ HỒNG NHUNG
CẤU TRÚC MỘT CÔNG TRÌNH BÁCH KHOA
VỀ VĂN HÓA CỔ TRUYỀN CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––
NÔNG THỊ HỒNG NHUNG
CẤU TRÚC MỘT CÔNG TRÌNH BÁCH KHOA
VỀ VĂN HÓA CỔ TRUYỀN CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TẠ VĂN THÔNG
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chƣa từng đƣợc
ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trang 4Sau cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, đồng nghiệp và các học viên Cao học Ngôn ngữ K20 đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm luận văn
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Nông Thị Hồng Nhung
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
PHỤ LỤC vi
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng nghiên cứu 7
5 Phạm vi nghiên cứu 8
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Đóng góp của luận văn 9
8 Bố cục của luận văn 9
Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 11
1.1 Lý thuyết về Từ điển học và Công trình bách khoa học 11
1.1.1 Từ điển 11
1.1.1.1 Định nghĩa 11
1.1.1.2 Phân loại từ điển 12
1.1.2 Các công trình bách khoa 15
1.1.2.1 Khái niệm “công trình bách khoa” (“bách khoa toàn thư”) 15
1.1.2.2 Phân loại công trình bách khoa 17
1.1.3 Cấu trúc vĩ mô và vi mô trong một công trình bách khoa 18
1.1.3.1 Cấu trúc vĩ mô (cấu trúc bảng đầu mục) 18
1.1.3.2 Cấu trúc vi mô 21
1.2 Lý thuyết về văn hóa học 23
1.2.1 Khái niệm về văn hóa - văn hóa cổ truyền 23
1.2.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 25
Trang 61.2.2.1 Ngôn ngữ là thành tố của văn hóa 25
1.2.2.2 Quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá 25
1.2.2.3 Các lớp từ ngữ văn hóa trong ngôn ngữ 26
1.3 Tiểu kết 27
Chương 2: CẤU TRÚC CỦA MỘT SỐ CÔNG TRÌNH BÁCH KHOA VỀ VĂN HÓA CỔ TRUYỀN Ở VIỆT NAM 28
2.1 Cấu trúc trong cuốn Từ điển văn hóa cổ truyền dân tộc Tày của Triều Ân, Hoàng Quyết, Hoàng Đức Toàn 28
2.1.1 Cấu trúc vĩ mô 28
2.1.1.1 Kết cấu chung của công trình 28
2.1.1.2 Các loại mục trong cấu trúc vĩ mô 29
2.1.1.3 Cơ sở thiết lập và đặc điểm các đơn vị mục 31
2.1.1.4 Cách sắp xếp các mục trong từ điển 32
2.1.2 Cấu trúc vi mô 33
2.1.2.1 Các tri thức trong kết cấu vi mô của mỗi loại mục 33
2.1.2.2 Hình thức thể hiện các loại tri thức trong kết cấu vi mô trong mục 40
2.1.2.3 Cách thức tổ chức các yếu tố trong cấu trúc vi mô 41
2.2 Cấu trúc cuốn Từ điển văn hóa phong tục, cổ truyền Việt Nam của Nguyễn Như Ý và Chu Như 44
2.2.1 Cấu trúc vĩ mô 44
2.2.1.1 Kết cấu chung của công trình 44
2.2.1.2 Các loại mục trong cấu trúc vĩ mô 44
2.2.1.3 Cơ sở thiết lập và đặc điểm các mục 47
2.2.1.4 Cách thức sắp xếp các mục trong từ điển 48
2.2.2 Cấu trúc vi mô 48
2.2.2.1 Các tri thức trong kết cấu vi mô của mỗi loại mục 48
2.2.2.2 Hình thức thể hiện các loại tri thức trong cấu trúc vi mô của mục 61
2.2.2.3 Cách thức tổ chức các yếu tố trong cấu trúc vi mô 61
2.3 Tiểu kết 64
Chương 3: ĐỀ XUẤT CẤU TRÚC CỦA MỘT CÔNG TRÌNH BÁCH KHOA VỀ VĂN HÓA CỔ TRUYỀN CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM 66
Trang 73.1 Bước đầu đánh giá các công trình bách khoa về văn hóa cổ truyền ở Việt Nam 66
3.1.1 Về cuốn Từ điển văn hóa cổ truyền dân tộc Tày của Triền Ân, Hoàng Quyết, Hoàng Đức Toàn 66
3.1.2 Về cuốn Từ điển văn hóa, phong tục cổ truyền Việt Nam của Nguyễn Như Ý, Chu Huy 69
3.2 Khái quát về văn hóa các dân tộc Việt Nam 72
3.2.1 Một số đặc trưng cơ bản của văn hóa cổ truyền của các dân tộc Việt Nam 72
3.2.2 Các vùng văn hóa Việt Nam 73
3.2.2.1 Vùng văn hóa Tây Bắc 73
3.2.2.2 Vùng văn hóa Việt Bắc 74
3.2.2.3 Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ 74
3.2.2.4 Vùng văn hóa Trung Bộ 75
3.2.2.5 Vùng văn hóa Tây Nguyên 75
3.2.2.6 Vùng văn hóa Nam Bộ 75
3.2.3 Các thành tố cơ bản của văn hóa cổ truyền các dân tộc Việt Nam 76
3.2.3.1 Ngôn ngữ 76
3.2.3.2 Tôn giáo 77
3.2.3.3 Tín ngưỡng 77
3.2.3.4 Lễ hội 78
3.2.3.5 Phong tục tập quán 78
3.2.3.6 Nghề thủ công 79
3.2.3.7 Các loại hình nghệ thuật truyền thống 79
3.2.3.8 Ẩm thực 79
3.2.3.9 Công trình kiến trúc 80
3.2.3.10 Trang phục 80
3.2.3.11 Văn học 80
3.3 Đề xuất cấu trúc của công trình bách khoa về văn hóa cổ truyền các dân tộc Việt Nam 81
3.3.1 Nguyên tắc biên soạn, các loại công trình bách khoa văn hóa cổ truyền, kết cấu công trình 81
3.3.1.1 Nguyên tắc 81
Trang 83.3.1.2 Các loại công trình bách khoa văn hóa cổ truyền của các dân tộc thiểu số 82
3.3.1.3 Kết cấu công trình 82
3.3.2 Đặc tính của mục trong công trình bách khoa văn hóa cổ truyền của các dân tộc thiểu số 83
3.3.3 Cấu trúc vĩ mô 83
3.3.3.1 Cơ sở để thiết lập bảng đầu mục 83
3.3.3.2 Bảng phân loại mục trong công trình bách khoa văn hóa cổ truyền của các dân tộc thiểu số 84
3.3.4 Cấu trúc vi mô 85
3.3.4.1 Các yếu tố trong một mục 85
3.3.4.2 Đề cương chính của một số loại mục 85
3.4 Tiểu kết 92
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Các loại mục trong cấu trúc vĩ mô 29 Bảng 2.2 Sự có mặt của các yếu tố trong cấu trúc vi mô của mỗi mục 40 Bảng 2.3 Quy tắc chính tả, hình thức thể hiện các yếu tố trong cấu trúc vi mô của
mỗi mục 41 Bảng 2.4 Các loại mục trong cấu trúc vĩ mô 44
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Hiện nay, các công trình tra cứu mang tính bách khoa ngày càng nhiều,
được mở rộng về kích cỡ, được hoàn thiện về nội dung tri thức Điều này xuất phát từ vai trò và khả năng phục vụ đắc lực cho nhu cầu hiểu biết, đào tạo nâng cao vốn tri thức của đông đảo mọi tầng lớp nhân dân Nhưng điều đáng lưu tâm là hiện nay ở Việt Nam, các công trình tra cứu mang tính bách khoa về văn hóa nói chung và đặc biệt là về văn hóa cổ truyền của các dân tộc còn rất ít ỏi Các công trình này (nếu có) lại thường chưa phản ánh được bức tranh muôn màu đặc sắc, bề dày truyền thống văn hóa của các dân tộc
1.2 Việc biên soạn các công trình bách khoa về văn hóa cổ truyền càng cấp
thiết và có ý nghĩa hơn trong thời kì hội nhập kinh tế thế giới và xu hướng toàn cầu hóa, khi nhu cầu giới thiệu và quảng bá về hình ảnh của đất nước Việt Nam trong mắt bạn bè thế giới, trong đó có những nét đặc sắc trong văn hóa cổ truyền của các dân tộc, đã trở thành một yêu cầu quan trọng Đặc biệt trong giao đoạn giao lưu và tiếp biến văn hóa diễn ra mạnh mẽ hiện nay, nhu cầu nâng cao tri thức về văn hóa các cộng đồng trong quốc gia của mình, để hiểu biết về chính mình, để tự hào và ý thức bảo tồn, phát triển những nét bản sắc riêng càng trở nên cấp thiết
Hiện nay ở Việt Nam, do những nguyên nhân khác nhau nhiều dân tộc (đặc biệt là các dân tộc thiểu số) đang để mai một dần vốn văn hóa truyền thống của dân tộc mình Đó là điều rất đáng lưu tâm và cần được điều chỉnh Để giải quyết vấn đề này, ngoài việc nâng cao bản lĩnh của con người Việt Nam trước cánh cửa hội nhập, cần phải tôn vinh văn hóa cổ truyền của các dân tộc, phải nghiên cứu, sưu tầm và biên soạn các công trình bách khoa về văn hóa cổ truyền Có thể xem đây là một yêu cầu đặt ra cho các nhà khoa học: cấp thiết biên soạn các công trình tra cứu mang tính bách khoa về văn hóa cổ truyền các dân tộc ở Việt Nam
1.3 Bản thân tác giả là người con của một dân tộc thiểu số, sinh ra và được
nuôi dưỡng trong cái nôi văn hóa Tày Trong quá trình sinh sống, gắn bó trên mảnh đất quê hương Cao Bằng đa dân tộc, tác giả luôn thường trực một ý nguyện bảo tồn
và quảng bá những viên ngọc văn hóa cổ truyền của các dân tộc nơi đây Ngoài ra, lại
Trang 11là một giáo viên vùng cao hàng ngày được tiếp xúc với các em học sinh dân tộc thiểu
số, tác giả cũng hi vọng sẽ góp phần giúp cho học sinh và giáo viên là người dân tộc Tày và thuộc những dân tộc khác ở những vùng người Tày sinh sống có cơ sở hiểu rõ hơn về văn hóa dân tộc Tày và dân tộc mình
Xuất phát từ những lí do trên, đề tài“Cấu trúc một bách khoa về văn hóa cổ
truyền các dân tộc ở Việt Nam” đã được lựa chọn để thực hiện trong luận văn này
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Lịch sử nghiên cứu lí luận về từ điển học và các công trình bách khoa ở Việt Nam
Để biên soạn thành công các công trình tra cứu bách khoa thì việc nghiên cứu những vấn đề lí luận có ý nghĩa quan trọng Đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị đặt nền móng cơ sở khoa học cho việc biên soạn các công trình bách khoa Có thể
kể ra những nghiên cứu lí luận về Từ điển học và các công trình bách khoa của các tác giả tiêu biểu như Hoàng Phê, Nguyễn Ngọc Trâm, Chu Thị Bích Thu, Hà Học Trạc, Vũ Quang Hào, Nguyễn Kim Thản Ở đây chỉ xin nhắc đến một vài công trình tiêu biểu:
Ở Việt Nam, từ những năm 1968- 1969, đã bắt đầu triển khai có hệ thống việc tìm hiểu lí luận từ điển học, trong điều kiện rất thiếu tài liệu tham khảo và những bài học kinh nghiệm trong công tác từ điển học của các nước, cũng như kinh nghiệm của nước ta Có thể kể đến một loạt bài viết trình bày về lí thuyết từ điển học nói chung cũng như một số công việc “bếp núc” cụ thể của từ điển học, bắt đầu từ bài viết của
Hoàng Phê“Về việc biên soạn một cuốn từ điển tiếng Việt mới” in trên tạp chí Ngôn
ngữ số 2/ 1969 Sau khi kiểm kê lại những từ điển tiếng Việt hiện có, ông chỉ ra
nguyên nhân những hạn chế ở những cuốn từ điển đó Sau đó, tác giả thảo luận về vấn đề quan điểm mới và phương pháp mới trong công việc biên soạn từ điển Đồng thời trong bài báo này tác giả đã đề cập đến vấn đề các phương châm biên soạn, theo ông cần quán triệt và chú ý trước tiên trong toàn bộ việc biên soạn là tính khoa học
và tính tư tưởng và tính tiện dùng Cũng trong tập chí Ngôn ngữ số 2 này, Bùi Khắc Việt có bài viết giới thiệu“Một vài kinh nghiệm biên soạn từ điển ngôn ngữ ở các
nước xã hội chủ nghĩa”
Thứ đến trên tạo chí Ngôn ngữ số 3/1977, tác giả Đặng Chấn Liêu giới thiệu
“kinh nghiệm làm từ điển hai thứ tiếng” Thứ nhất đó là kinh nghiệm về xác định đối
Trang 12tượng của từ điển định soạn để định trước được quy mô của loại từ điển và thứ hai tác giả bàn đến nhiều hơn cả về vấn đề phức tạp về ngữ nghĩa trong việc tìm từ tương đương giữa hai thứ tiếng
Thứ đến có thể kể bài “Vấn đề lượng thông tin của từ điển ngữ văn” của Bùi Đình Mỹ trên tạp chí Ngôn ngữ số 2/1991, bàn về khối lượng, định nghĩa, về kênh
hình, việc tăng giá trị sử dụng của từ điển ngữ văn
Đặc biệt trong số các công trình nghiên cứu lí luận từ điển học phải kể đến
Hoàng Phê, Nguyễn Ngọc Trâm…cuốn Một số vấn đề từ điển học (NXB Khoa học
xã hội, Hà Nội, 1997) Sự ra đời của công trình này đã đánh giá một cột mốc quan trọng lĩnh vực nghiên cứu lí luận từ điển học Đó là tác phẩm về từ điển học đầu tiên
ở nước ta Do một số khó khăn nên công trình chỉ dừng lại ở việc tập hợp các bài viết nhưng tập sách được soạn thảo theo kế hoạch của một tập thể Đó là các bài viết tâm
đắc như: “Một số vấn đề từ điển học” của Hoàng Phê, Nguyễn Ngọc Trâm, “Một vài
nhận xét về cấu trúc vĩ mô của từ điển giải thích tiếng Việt” tác giả Nguyễn Ngọc
Trâm, “Hệ thống các kiểu chú trong từ điển tiếng Việt” của Đào Thản, “Một vài suy
nghĩ về từ điển song ngữ” của Lê Khả Kế Các bài viết đã bàn về những vấn đề cơ
bản của từ điển học và có những đóng góp giá trị trong lịch sử nghiên cứu lí luận từ
điển học Tuy nhiên các tác giả cũng nhận thấy “ hạn chế của cuốn sách là chưa trình
bày được đầy đủ, toàn diện những vấn đề của từ điển học [ ] mới chỉ khảo sát những vấn đề của từ điển ngôn ngữ, từ điển ngôn ngữ mới chú vào từ điển giải tích”
[38, tr.6]
Hà Học Trạc, Lịch sử - lí luận và thực tiễn biên soạn bách khoa toàn thư,
NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2004 Đây là công trình quy mô có gía trị tổng kết
về lịch sử - lí luận và thực tiễn biên soạn bách khoa toàn thư ở Việt Nam Công trình
đã đưa ra những tri thức lí luận hiểu rõ hơn các khái niệm về từ điển, từ điển bách khoa, và bách khoa toàn thư, cũng như các phương pháp biên soạn bách khoa toàn thư từ các khâu cơ bản trong việc biên soạn cho đến việc tuyển chọn và biên tập các mục bách khoa, niêm biểu các sự kiện lớn và sách dẫn Đó là tổng kết và đề xuất quý báu làm cơ sở lí luận mở đường cho việc biên soạn thành công bộ Bách khoa toàn thư Việt Nam sau này
Trang 13Trong công trình Kiểm kê từ điển học Việt Nam (NXB Đại học quốc gia, Hà Nội,
2005), Vũ Quang Hào đã liệt kê khá đầy đủ toàn cảnh từ điển học lí thuyết Việt Nam, với số lượng hơn 180 tài liệu.Trong số đó, nhiều tài liệu đã đặt ra và giải quyết thấu đáo một số vấn đề cơ bản của từ điển học Việt Nam Cuốn sách nhận xét rằng từ điển học lí thuyết Việt Nam đã làm tốt vai trò dẫn dắt từ điển học thực hành Việt Nam
Ngoài ra còn số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành như tạp chí Ngôn
ngữ,Thông tin khoa học và xã hội, Ngôn ngữ và đời sống, Từ điển học và bách khoa thư:
- Vương Lộc (1969), Một vài nhận xét về từ điển giải thích của ta, Ngôn ngữ, s2
- Hồng Dân (1971), Vấn đề miêu tả hư từ trong việc biên soan từ điển giải
thích, Ngôn ngữ, s1
- Nguyễn Kim Thản (1983), Các công trình bách khoa và việc biên soạn các
công trình bách khoa ở Việt Nam, Thông tin khoa học và xã hội
- Đặng Chấn Liêu (1997), Vài kinh nghiệm làm từ điển hai thứ tiếng, Ngôn ngữ, s3
- Hồ Hải Thụy (2005), Suy nghĩ lại về làm từ điển, Ngôn ngữ và Đời sống
s.12-2004 + s.1+2
- Tạ văn Thông (2010) Mục trong công trình bách khoa văn hóa Việt Nam
Tạp chí Từ điển và bách khoa thư, s3
Vấn đề nghiên cứu lí luận về từ điển học và công trình bách khoa đã sớm
được các nhà từ điển học Viêt Nam quan tâm và dày công nghiêm cứu Mỗi công trình nghiên cứu đi sâu vào một chủ đề riêng, tâm đắc nhất của các tác giả về lí luận
từ điển học, nhờ vậy đã đúc rút được những kinh nghiệm, nêu nhiều đề xuất mới, đóng góp vào lí thuyết từ điển nói chung và đặt cơ sởn nhất định cho việc biên soạn những công trình sau này Đây là cơ sở lí luận rất quan trọng tạo điều kiện tiền đề tốt cho sự phất triển từ điển học của Việt Nam trên con đường hội nhập với nền văn hóa thế giới
2.2 Những công trình bách khoa nghiên cứu về văn hóa các dân tộc trên thế giới
và ở Việt Nam
Trong những năm gần đây việc biên soạn và công bố các công trình bách khoa
về văn hóa ngày càng trở nên cấp thiết Điều này xuất phát từ nhu cầu mở mang nhận
Trang 14thức của các dân tộc trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa diễn ra mạnh mẽ hiện nay Các công trình tiêu biểu như :
- Bùi Thiết (1993), Từ điển lễ hội Việt Nam, Nxb Văn hóa, H
- Nguyễn Đức Thọ (chủ biên) (1993), Từ điển di tích văn hóa Việt Nam, Nxb
- Triều Ân, Hoàng Quyết (1996), Từ điển văn hóa cổ truyền dân tộc Tày,, NXB
Văn hóa dân tộc, H
- Huỳnh Thị Dung, Nguyễn Thu Hà, Phạm Minh Thảo (1999), Từ điển văn
hóa gia đình Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, H
- Vũ Ngọc Khánh (2000),Từ điển Việt Nam văn hóa, phong tục, tín ngưỡng,
Vũ Ngọc Khánh, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội
- Hoàng Thị Dung, Nguyễn Thu Hà, Nguyễn Thị Huế (2001), Từ điển văn hóa
ẩm thực Việt Nam, Nxb VHTT, Hà Nội
- Doãn Hiệp (chủ biên) (2001), Từ điển văn hóa cổ truyền Trung Hoa, Nxb
Văn hóa thông tin, H
- Phạm Thị Vinh (chủ biên) (2003), Từ điển văn hóa Inddoneeessia, Nxb
KHXH,H
- Trung tâm dịch thuật (2004), Từ điển Văn hóa bách khoa, Nxb VHTT, H
- Trần Ngọc Bảo (2005), Từ điển ngôn ngữ văn hóa – du lich Huế Xưa, Nxb
Thuận Hóa, Huế
- Nguyễn Như Ý, Chu Như (2013), Từ điển văn hóa, phong tục cổ truyền Việt
Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam H
…
Điểm lại các công trình bách khoa về văn hóa cổ truyền các dân tộc Việt Nam, có thể nhận xét:
Thứ nhất: Các công trình trên cho thấy các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến
bức tranh văn hóa phong phú đặc sắc của các dân tộc Việt Nam đặc biệt là trong
Trang 15trong xu hướng hội nhập văn hóa hiện nay Các tác phẩm ấy đã góp phần quan trọng trong việc lưu giữ, bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu của dân tộc, để cho người đời nay và mai sau được biết và trân trọng
Thứ hai: Ở Việt Nam những công trình bách khoa chuyên biệt về văn hóa cổ
truyền - các công trình cung cấp đầy đủ tri thức về văn hóa cổ truyền Việt Nam hoặc văn hóa cổ truyền của các vùng miền, dân tộc, hoặc công trình chỉ nghiên cứu về một thành tố trong văn hóa cổ truyền như (văn hóa gia đình, văn hóa ẩm thực, văn hóa du lịch, tín ngưỡng, lễ hội ), cho đến nay vẫn không nhiều Điều đó có thể do nhiều nguyên do khác nhau, trong đó có thể là do thiếu những khuôn mẫu Chúng có thể giúp cho các tác giả hình dung khái quát về “xương sống” của các tác phẩm trong tương lại, đó là cấu trúc vĩ mô, vi mô của các mục trong các công trình này
Thiết nghĩ, hiện nay một đề tài tìm hiểu về cấu trúc một công trình bách khoa
về văn hóa cổ truyền các dân tộc Việt Nam rất cấp thiết, sẽ góp phần hình dung khái quát về cấu trúc của loại công trình bách khoa về văn hóa ccỏ truyền Nó không chỉ có ý nghĩa trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa các dân tộc, mà còn có thể thúc đẩy việc nghiên cứu và biên soạn các công trình tra cứu mang tính bách khoa
cổ truyền ở Việt Nam
Trên cơ sở tìm hiểu và khảo sát đó luận văn sẽ bước đầu xác lập mô hình cấu trúc vĩ mô và vi mô, làm cơ sở để biên soạn các công trình bách khoa về văn hóa cổ truyền các dân tộc
Trang 16- Tìm hiểu và khảo sát các kiểu loại cấu trúc vĩ mô (hệ thống mục), cấu trúc vi
mô (các tri thức được triển khai, sắp xếp trong một mục) của các công trình bách khoa về văn hóa nói chung
- Từ cơ sở lí thuyết và thực tế khảo sát và tìm hiểu trên đề xuất phương hướng
về mô hình cấu trúc biên soạn đối với một công trình tra bách khoa về văn hóa cổ truyền các dân tộc Việt Nam
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là hai công trình bách khoa về văn
hóa cổ truyền sau:
Thứ nhất: cuốn Từ điển văn hóa cổ truyền của dân tộc Tày,Triều Ân, Hoàng
Quyết, Hoàng Đức Toàn, NXB Văn hóa Dân tộc, Hà nội.1996
Công trình gồm 281 trang, với tổng số 127 mục - con số nói lên quá trình lao động không mệt mỏi của các tác giả người đã dành trọn niềm đam mê cho văn hóa Tày Đặc trưng của cuốn từ điển này là từ điển song ngữ (tên đầu mục viết bằng tiếng Tày và nội dung mục viết bằng tiếng Việt) Cuốn từ điển đã giới thiệu những nét đặc trưng trong văn hóa cổ truyền được hình thành và được gìn giữ, bảo tồn cho đến ngày nay của người Tày – một dân tộc có dân số tương đối đông, sinh sống tập trung và ổn định tại Việt Nam
Cuốn sách là kết quả nhiều năm sưu tầm, lựa chọn những nét bản sắc nhất về văn hóa của các tác giả - những người con được lớn lên trong các nôi văn hóa Tày
Cuốn từ điển đã phản ánh sâu sắc bức tranh văn hóa đa sắc màu của người Tày, của những chủ nhân đôn hậu, yêu quý con người, có lối sống riêng mang vẻ cổ kính mà hiện đại Các mục được biên soạn trong cuốn từ điển phản ánh khá đậm nét
cả đời sống văn hóa vật chất (những di tích văn hóa, các tổ chức văn hóa, văn hóa ẩm thực ) và đời sống văn hóa tinh thần (lễ hội, phong tục, quan niệm dân gian .) mang đậm nét bản sắc văn hóa Tày
Thứ hai: cuốn Từ điển văn hóa, phong tục cổ truyền Việt Nam, Nguyễn Như
Ý, Chu Như, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013 Đây là cuốn từ điển về văn hóa cổ truyền được biên soạn trong thời gian gần đây nhất, là năm 2013; có đối tượng là văn hóa của tất cả các dân tộc Việt Nam
Trang 17Công trình này gồm hơn 2000 mục khác nhau, phản ánh các khái niệm, hiện tượng trong đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của người Việt Nam trong tiến trình hình thành và phát triển của dân tộc Hệ thống các mục trong cuốn từ điển là:
- Công cụ sản xuất, phương thức sản xuất, các sản phẩm vật chất, các nghề thủ công, cách chế tác công cụ lao động, các phương tiện đánh bắt
- Cách thức ăn mặc, cư trú, đi lại của con người thuộc các giới, lứa tuổi, dân tộc khác nhau
- Các phong tục, tập quán, nghi lễ, gắn với vòng đời của con người từ khi sinh
ra cho đến lúc chết theo lẽ tự nhiên “sinh - lão - bệnh- tử”
- Các nghi lễ các điều cấm kỵ trong sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng của các giáo phái các tín đồ
- Các lễ nghi, tập quán thờ cúng tổ tiên
- Các hình thức vui chơi giải trí dân gian như: hát xoan, hát quan họ, dân ca dân vũ đi theo đó là các loại nhạc cụ, các trò diễn xướng dân gian
- Các yếu tố trong thiết chế xã hội xưa thể hiện qua các đơn vị hành chính, các chức tước, học vị
5 Phạm vi nghiên cứu
- Tập trung nghiên cứu cấu trúc (vĩ mô và vi mô) của các mục trong các công trình tra cứu bách khoa Không tìm hiểu về vốn văn hóa cổ truyền của các dân tộc dưới góc độ văn hóa, văn học nghệ thuật, hay tín ngưỡng, cách thức tri nhận văn hóa
- Chủ yếu tìm hiểu về văn hóa cổ truyền các dân tộc Việt Nam, không nghiên cứu về văn hóa đương đại
- Chỉ tìm hiểu về sự thể hiện vốn văn hóa cổ truyền của các dân tộc được đề cập đến trong hai cuốn từ điển đã lựa chọn trong phần đối tượng nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thống kê phân loại
Căn cứ vào các văn bản khảo sát, luận văn tiến hành thống kê, phân loại
hệ thống các mục, các tri thức được sử dụng trong một mục của các công trình bách khoa về văn hóa và từ đó tìm ra quy luật xuất hiện của chúng trong các văn bản cụ thể
Trang 186.2 Phương pháp miêu tả
Trên cơ sở thống kê phân loại, liệu luận văn đi đến phân tích, tổng hợp, đánh giá mô hình cấu trúc khái quát chung, từ đó có cơ sở đề xuất cho việc biên soạn một công trình bách khoa về văn hóa cổ truyền của các dân tộc Việt Nam
6.3 Phương pháp điền dã
Để tìm hiểu kĩ càng hơn về những điều đã được ghi nhận trong các công trình nói trên, tác giả luận văn sẽ tiến hành một số cuộc đi xuống vùng nông thôn, gặp các trí thức dân tộc, để mắt thấy tai nghe và hỏi kĩ hơn về một số nhận xét và điểm đáng
lưu ý khi tìm hiểu vốn văn hóa cổ truyền
7 Đóng góp của luận văn
7.1 Về mặt lí luận
Luận văn sẽ bổ sung thêm những tư liệu về Từ điển học nói chung và Công trình bách khoa học nói riêng, cách thức phân tích cấu trúc và đánh giá về một công trình tra cứu mang tính bách khoa chuyên ngành, nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu
và biên soạn các công trình tra cứu nói chung
Đồng thời, luận văn có thể coi là sự đóng góp về tư liệu và cách nhìn nhận đối
với ngành Văn hóa học
7.2 Về mặt thực tiễn
- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo về cấu trúc chung cho việc biên soạn
một công trình tra cứu mang tính bách khoa về văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt Nam, là động lực thúc đẩy việc biên soạn loại công trình này trong tương lai
- Luận văn có thể là một cơ sở giúp cho bạn đọc thuộc những dân tộc khác nhau tìm hiểu về vốn văn hóa cổ truyền của các dân tộc Việt Nam, cũng như một dân tộc cụ thể Từ đó, độc giả thấy được khái quát sự thống nhất trong đa dạng, nét đặc sắc trong bức tranh muôn màu văn hóa của các dân tộc ở Việt Nam
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết và một số vấn đề có liên quan đến luận văn
Chương 2: Kết quả khảo sát một số công trình bách khoa về văn hóa cổ truyền
của dân tộc Việt Nam
Trang 19Chương 3: Đề xuất về cấu trúc của một công trình bách khoa về văn hóa cổ
truyền của các dân tộc Việt Nam
Phần Phụ lục:
- Phụ lục 1: Một số hình ảnh về người Tày và sinh hoạt văn hóa cổ truyền Việt Nam
- Phụ lục 2: Một số trang hai công trình là đối tượng nghiên cứu chính của luận văn
Trang 20Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN
1.1 Lý thuyết về Từ điển học và Công trình bách khoa học
1.1.1 Từ điển
1.1.1.1 Định nghĩa
Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về từ điển Theo L.Zguasta, một trong những định nghĩa tốt nhất về thuật ngữ “từ điển” mà được nhiều người thừa nhận và
sử dụng đó là định nghĩa của C.C.Bergl: “Một cuốn từ điển là một danh mục được
sắp xếp có hệ thống của các hình thức ngôn ngữ được xã hội hóa, thu nhận từ những thói quen nói năng của một cộng đồng ngôn ngữ nhất định và được biên soạn chú giải sao cho người đọc có một trình độ nhất định hiểu được ý nghĩa của từng hình thức ngôn ngữ riêng rẽ và biết được điều cần yếu về chức năng của nó trong cộng đồng ngôn ngữ đó.”[42, tr.245]
Các nhà từ điển học Việt Nam cũng có những cách khác nhau định nghĩa về
khái niệm “từ điển” trong các công trình nghiên cứu lí luận của mình Theo cuốn Một
số vấn đề từ điển học:“Từ điển là loại sách tra cứu, ở đó thu thập và cung cấp những thông tin về kí hiệu ngôn ngữ Đúng như tên gọi của mình, các thông tin trong từ điển có tính chất khách quan, thường được coi như là một chân lí Từ điển không phải là một công trình sáng tác nhằm trình bày những kiến giải cá nhân mà là một công trình biên soạn, dựa vào tư liệu ngôn ngữ mà tổng hợp, đúc rút và soạn thảo ra.” [38, tr.26] Cách định nghĩa dựa trên đặc điểm về chức năng, tính chất của loại
sách này
Luận văn chọn cách định nghĩa của Nguyễn Ngọc Trâm bởi định nghĩa đã
nhấn mạnh mặt đặc điểm chức năng của các loại từ điển là sách công cụ dùng để tra cứu trong công tác hàng ngày, chủ yếu là để tra cứu, tìm kiếm thông tin thông tin nhanh chóng, thuận tiện Đây là chức năng quan trọng, thiết yếu của loại sách này Đồng thời định nghĩa cũng nêu lên yêu cầu thông tin của cuốn từ điển: các
thông tin phải đảm bảo khách quan Cơ sở để biên soạn từ điển là tư liệu ngôn ngữ
Trang 21của một cộng đồng và từ điển không phải là một công trình nhằm trình bày những kiến giải cá nhân
Từ những định nghĩa về “từ điển” trên đây ta thấy một số đặc tính chung của loại công trình này đuợc chỉ ra như sau:
- Về chức năng, từ điển là dùng để tra cứư, tìm kiếm thông tinn qua các lớp từ được thu thập trở thành các mục
- Các đầu mục được sắp xếp theo thứ tự nhất định có thể đi kèm theo các thông tin phụ liên quan đến đầu mục này
- Trong mỗi mục ngoài các đầu mục, là phần còn lại (còn được quan niệm là phần thuyết) có vai trò giảng giải về nội dung của đầu mục hoặc cung cấp thông tin
về cái được nêu ra trong phần “đề”
1.1.1.2 Phân loại từ điển
Nói đến phân loại từ điển ở đây là nói đến việc phân loại theo lý thuyết Về phương diện này, có nhiều ý kiến và cách phân loại khác nhau
Trong cuốn “Kiểm kê từ điển học Việt Nam”, tác giả Vũ Quang Hào đã dẫn ra
cách phân loại từ điển của L.V Séc- ba công bố năm 1940 trong bài báo nổi tiếng
“Thực nghiệm lí thuyết đại cuơng về từ điển học”:
1) Từ điển bách khoa và từ điển ngôn ngữ
2) Từ điển tổng toàn và từ điển thông thường
3) Từ điển thông thường và từ điển ý niệm
4) Từ điển giải thích và từ điển đối dịch
5) Từ điển phi lịch sử và từ điển lịch sử
Theo Ladislav.Zgusta trong Giáo trình từ điển học (1971), sự phân loại đầu
tiên mang tích bao quát nhất là sự phân biệt giữa từ điển ngôn ngữ và từ điển bách
khoa “Từ điển ngôn ngữ chủ yếu đề cập đến ngôn ngữ, tức là đề cập đến các đơn vị
từ vựng của một ngôn ngữ và tất cả các đặc tính ngôn ngữ của chúng Ngược lại từ điển bách khoa chỉ đề cập đến các biểu vật của đơn vị ngôn ngữ (denotate) của các đơn vị từ vựng (từ) chúng cung cấp các thông tin ngoài ngôn ngữ, có tính chất vật chất hoặc phi vật chất, chúng chỉ sắp xếp theo thứ tự của các đơn vị từ vựng, bằng cách đó các mảnh đoạn của thế giới ngôn ngữ khi người ta nói tới” [42, tr.246]
Trang 22Ldislav.Zgusta phân loại từ điển ngôn ngữ thành các loại cơ bản sau đây: 1)Theo tiêu chí thời gian, có sự đối lập giữa từ điển lịch đại và từ điển đồng đại Theo ông đây là sự phân loại quan trọng nhất đối với từ điển ngôn ngữ ông cũng lưu ý
rằng có “tình trạng luôn luôn chồng chéo giữa lĩnh vực của từ điển lịch đại và từ điển
đồng đại” và “khái niệm về từ điển được coi là đồng đại chỉ là rất tương đối” [42,tr.248]
2)Theo phạm vi thu thập toàn bộ hay một bộ phận từ vựng của một ngôn ngữ,
có từ điển phổ thông và từ điển hạn chế (từ điển đặc biệt)
3)Theo số lượng ngôn ngữ được miêu tả có từ điển một thứ tiếng và từ điển hai thứ tiếng (trường hợp ba thứ tiếng trở lên thường hiếm)
4) Theo cỡ của từ điển có: Từ điển cỡ nhỏ, từ điển cỡ vừa và từ điển cỡ lớn
Theo La.Zgusta “ đây là một trong những mặt không thể nói được một cách chính
xác mà chỉ có thể là sự đánh giá có tính chất ấn tượng (như Malkiel thường gọi)”
[42, tr.269]
Tiếp thu ánh sáng của thành quả nghiên cứu của từ điển học nước ngoài, ở Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu lí luận đưa ra các cách phân loại từ
điển Hà Học Trạc trong cuốn “Lịch sử - lí luận và thực tiễn biên soạn bách khoa
toàn thư” đã đưa ra cách phân loại như sau :
Từ điển bao gồm từ điển ngôn ngữ, từ điển khái niệm, từ điển thuật ngữ, từ điển bách khoa và bách khoa toàn thư
Và ông đã chỉ ra rằng: “Từ điển thuật ngữ chuyên môn, từ điển bách khoa, và
bách khoa toàn thư thuộc loại từ điển khái niệm Từ điển khái niệm ít liên quan đến ngôn ngữ học [ ] Lí luận và phương pháp biên soạn từ điển bách khoa và bách khoa toàn thư không thể nào giải quyết trong khuôn khổ của từ điển học với tư cách là một
bộ phận hợp thành của ngôn ngữ học”[37, tr.92]
Hoàng Thị Huyền Linh trong luận án “Một số vấn đề thông tin ngữ nghĩa
trong từ điển Tiếng Việt” cho rằng: “Các tiêu chí ở mỗi sự phân loịa trên có thể tiếp tục được cụ thể hóa, theo đó có thể phân loại từ điển thành nhiều loại nhỏ hơn Thêm nữa,
do các tiêu chí tương đối độc lập, nên có thể có sự phối hợp một số tiêu chí trong phân loại từ điển” [18, tr.42] Do mục đích của luận án, tác giả đã có sự phân biệt kĩ hơn giữa
từ điển bách khoa và từ điển ngôn ngữ, mà cụ thể là từ điển giải thích
Trang 23Trong bài viết “Giới thiệu sơ luợc về từ điển và từ điển học Việt Nam”, Chu Bích Thu chọn cách phân lọai như sau: “Gọi chung những từ điển một thứ tiếng là từ
điển giải thích, phân biệt với từ điển song ngữ và đa ngữ là từ điển đối dịch Trong
đó từ điển giải thích lại chia thành hai loại: từ điển ngữ văn và từ điển bách khoa [ ] Trong đó từ điển đối dịch lại bao gồm từ điển đối dịch ngữ văn và từ điển đối dịch thuật ngữ” [32, tr.12] Theo các tác giả đây là cách phân loại không logic,
không triệt để như cách phân loại truyền thống, nhưng là cách phân loại dễ theo dõi
và cũng dễ trình bày, mặt khác cũng phần nào phù hợp với thực tế ở Việt Nam
Luận văn này theo cách phân loại từ điển theo Vũ Quang Hào trong cuốn “Kiểm
kê từ điển học Việt Nam”(2005), bởi đây là cách phân loại tương đối có hệ thống:
CÁC CÔNG TRÌNH (SÁCH) TRA CỨU
Từ điển ngữ văn Từ điển khái niệm Các công trình bách khoa
Một thứ Nhiều thứ Một thứ Nhiều thứ Từ điển Bách khoa tiếng tiếng tiếng tiếng bách khoa thư Theo Vũ Quang Hào, trong các công trình tra cứu từ 1 đến 6, lại có thể phân ra thành nhiều loại nhỏ
1) Từ điển ngữ văn một thứ tiếng bao gồm từ điển từ điển giải thích, từ điển chính tả, từ điển, từ điển đồng nghĩa, từ điển trái nghĩa, từ điển trái nghĩa – đồng nghĩa, từ điển đồng âm, từ điển gần âm gần nghĩa, từ điển tần số, từ điển tác giả từ điển tác phẩm, từ điển thành ngữ, tục ngữ, từ điển chữ tắt, từ điển ngược,từ điển ngữ
âm, từ điển ngữ pháp, từ điển phương ngữ
2) Từ điển ngữ văn hai nhiều thứ tiếng (hay còn gọi là từ điển đối dịch và từ đối chiếu) loại này chủ yếu bao gồm từ điển đối chiếu hai thứ tiếng (từ điển song ngữ), một số loại đói chiếu 3 thứ tiếng hiếm hơn loại đối chiếu 4-5 thứ tiếng
3) Từ điển thuật ngữ một thứ tiếng hay còn gọi là từ điển thuật ngữ tường giải
Trang 244) Từ điển thuật ngữ đối chiếu nhiều thứ tiếng hay còn gọi là từ điển thuât ngữ đối chiếu
5) Từ điển bách khoa là loại sách tra cứu phản ánh tri thức của một xã hội nhất định về một hay nhiều ngành khoa học kĩ thuât hoặc về hoạt động thực tiễn Nó cung cấp tri thức vắn tắt về nội dung các khái niệm của một hoặc nhiều ngành khoa học kĩ thuật Nếu như công trình bách khoa là loại xuất bản phẩm chủ yếu dùng để học hoặc
để tra cứu thì từ điển bách khoa là loại sách dùng để tra cứu và giải đáp các thắc mắc, thường không phức tạp
6) Công trình bách khoa là loại sách tra cứu phản ánh tri thức của một xã hội nhất định về một hay nhiều ngành khoa học kĩ thuât hoặc về hoạt động thực tiễn Nó
có chức năng hệ thống hóa tri thức cơ bản của một ngành (công trình bách khoa chuyên ngành) hoặc tất cả các ngành (công trình bách khoa tổng hợp hay bách khoa toàn thư)
Tác giả này còn chỉ ra tiêu chí phân loại của từ điển bách khoa và công trình bách khoa là ở chức năng và quy mô
Có thể phân loại từ điển theo những tiêu chí khác nhau Các tiêu chí phân loại trên có thể được cụ thể hóa hơn và có thể phối hợp đan xen nhiều tiêu chí, nên đã dẫn đến tình trạng là trên thực tế các kiểu loại từ điển rất đa dạng và phong phú Việc phân loại từ điển có ý nghĩa đặc biệt trong nghiên cứu lí luận từ điển học và thực tế biên soạn từ điển
1.1.2 Các công trình bách khoa
1.1.2.1 Khái niệm “ công trình bách khoa” ( “ bách khoa toàn thư”)
Từ cổ đại các nhà bác học ở những cái nôi văn hóa lớn của nhân loại đã viết những công trình mang tính chất công trình bách khoa đầu tiên, về thế giới xung quanh loài người và bản thân loài người
Công trình bách khoa là mượn từ tiếng Hán trong tiếng Hán công trình bách
khoa là thuật ngữ dịch từ Encylopedie hoặc Encyclopaedia có nguồn gốc từ Hi lạp
từ thời Platon, nghĩa đen là giáo dục trong một chu trình, tức là giảng dạy tất cả các tri thức
Như vậy công trình bách khoa là công trình hệ thống hóa toàn bộ các tri thức, nhằm mục đích là giáo dục người đọc
Trang 25Trên tạp chí Từ điển học và bách khoa thư (7-2012), số 4 (tr18) tác giả
Nguyễn Trung Thuần cho rằng Đào Duy Anh ở Việt Nam là người đầu tiên sử dụng
thuật ngữ bách khoa từ điển và bách khoa toàn thư trong bộ “Giản yếu Hán Việt từ
điển” (1923) do ông biên soạn
Theo Hà Học Trạc “Bách khoa toàn thư là công trình trong đó, người ta trình bày dưới dạng chủ đề hoặc theo thứ tự mục sắp xếp theo thứ tự chữ cái toàn bộ tri thức của nhân loại (bách khoa toàn thư tổng hợp) hoặc những tri thức thuộc một lĩnh vực( bách khoa toàn thư chuyên ngành) hoặc những tri thức
về một địa phương.” [37, tr.93]
Hà Học Trạc đã sử dụng thuật ngữ “bách khoa toàn thư” tương đương với
công trình bách khoa Ông lại phân biệt bách khoa toàn thư thành 3 loại: “Bách khoa
toàn thư là công trình trong đó người ta trình bày dưới dạng chủ đề hoặc theo hình thức mục sắp xếp theo thứ tự chữ cái toàn bộ các tri thức của nhân loại (bách khoa toàn thư tổng hợp) hoặc các tri thức của một lĩnh vực (bách khoa toàn thư chuyên ngành) hoặc tri thức về một địa phương (bách khoa toàn thư địa phương)”[37, tr.93]
Trong cuốn “Kiểm kê từ điển học Việt Nam”, Vũ Quang Hào viết “Công trình
bách khoa là loại sách tra cứu phản ánh tri thức của một xã hội nhất định về một hay nhiều ngành khoa học kĩ thuật hoặc về hoạt động thực tiễn Nó có chức năng hệ thống hóa tri thức cơ bản của một ngành (công trình bách khoa chuyên ngành) hoặc của tất cả các ngành ( công trình bách khoa tổng hợp hay còn gọi là bách khao toàn thư) công trình bách khoa gúp cho người đọc thu lượm được những thông tin quan trọng nhất, cô đọng và sâu sắc nhất không những về nội dung khái niệm, về phạm trù
do các mục biểu thị mà còn về lịch sử, quá trình phát sinh, phát triển của khái niệm
và của các khoa học liện quan đến khái niệm đó, về các phương pháp nghiên cứu, về cuộc thảo luận hay tranh cãi xung qunah khái niệm đó.”[12, tr.52]
Trong định nghĩa này, Vũ Quang Hào ngoài việc chỉ ra đặc điểm về chức năng, nội dung và phân loại công trình bách khoa, đã phân tích rõ hơn nội dung tri thức trong công trình bách khoa và nhấn mạnh đặc điểm quan trọng của bách khoa toàn thư là tính khoa học và tính tiện dụng
Trang 261.1.2.2 Phân loại công trình bách khoa
Trong cuốn “Nguyễn Kim Thản tuyển tập” của Viện ngôn ngữ đã có sự phân
loại công trình bách khoa như sau:
1/ Theo tiêu chí nội dung của công trình:
- Công trình bách khoa tổng hợp chứa đựng tri thức về mọi ngành khoa học (tự nhiên và xã hội), kĩ thuật, nghệ thuật.(Các công trình bách khoa tổng hợp còn gọi
2/ Theo tiêu chí quy mô của công trình:
Các loại công trình bách khoa thường được chai thành hai loại chính là lớn và nhỏ (ở Liên Xô cũ còn có loại tóm tắt Ở Đức còn có loại “bỏ túi”) Các cỡ lớn, nhỏ tóm tắt nói trên tùy theo từng nhà nước định lượng của từng nước và từng nhà xuất bản, có tính chất tương đối
3/ Theo lứa tuổi người đọc:
Bên cạnh công trình bách khoa dùng cho người lớn thường thấy nhất, còn có loại dành cho thiếu nhi Ngoài ra còn có công trình bách khoa cho từng giới Chẳng hạn ở một số nước còn xuất bản công trình bách khoa riêng cho giới nữ
4/ Theo cấu trúc (hay cách trình bày) của các công trình:
Theo cách này, có hai loại: trình bày theo thứ tự chữ viết và trình bày theo đề tài 5/ Theo phạm vi đề cập của các công trình:
Theo tiêu chí này người ta chia công trình bách khoa ra thành hai loại:
“chung”(toàn cục) và “riêng”(địa phương, dân tộc ) loại thứ nhất cung cấp thông tin
về toàn thế giới và toàn quốc (liên bang, liên hiệp các nước) Ở loại thứ hai người ta chỉ cung cấp thông tin về một bộ phận trong liên bang, liên hiệp ấy (một nước trong
Trang 27liên bang, hay lên hiệp), tức là những tri thức địa lí, tự nhiên, xã hội, nhân vặt của
bộ phận ấy
6/ Theo phương thức xuất bản của các công trình:
Theo tiêu chí này có thể chia ra những công trình bách khoa xuất bản nhiều tập (trong loại in thành nhiều tập gồm xuất bản không định kì và xuất bản định kì) và những công trình bách khoa chỉ in làm một tập
7/ Cuối cùng theo phương tiện truyền đạt (hay cách tiếp thụ) thông tin: một là bằng sách in (phần lớn thuộc loại này); bằng hình ảnh động và âm thanh; bằng âm thanh; bằng mùi vị
Dựa trên tiêu chí về nội dung thì hai cuốn “Từ điển văn hóa cổ truyền dân tộc
Tày” của Hoàng Quyết, Triều Ân, Hoàng Đức Toàn và cuốn “Từ điển văn hóa, phong tục cổ truyền Việt Nam" của Nguyễn Như Ý, Chu Như thuộc loại công trình
bách khoa chuyên ngành (Công trình bách khoa chuyên ngành văn hóa)
1.1.3 Cấu trúc vĩ mô và vi mô trong một công trình bách khoa
1.1.3.1 Cấu trúc vĩ mô (cấu trúc bảng đầu mục)
Cấu trúc vĩ mô là cấu trúc bao gồm toàn thể các mục được sắp xếp trong từ điển theo một trật tự xác định, còn có thể gọi là cấu trúc tổng thể hay cấu trúc bảng đầu mục [38, tr.26].
Vấn đề đầu tiên cần phải quyết khi tiến hành biên soạn một quyển từ điển là lập bảng đầu mục Đây là danh sách các mục, gồm những đơn vị ngôn ngữ là từ, nhưng cũng có thể là lớn hơn từ hoặc nhỏ hơn từ, được tuyển chọn theo mục đích yêu cầu và yêu cầu, tính chất của cuốn từ điển và sắp xếp theo một trật tự nhất định thường là trật tự chữ cái (Nếu là ngôn ngữ có chữ viết ghi âm bằng chữ cái) tạo thành một cấu trúc chặt chẽ Đây là cấu trúc dọc suốt từ đầu đến cuối cuốn từ điển, nên gọi
là cấu trúc vĩ mô (thuật ngữ của Rey- Debive (1971))
Khái nệm cấu trúc vĩ mô đi liền với khái niệm cấu trúc vi mô trong một công trình bách khoa Cấu trúc đôi là đặc điểm nói chung, bao gồm cả từ điển ngôn ngữ, từ điển bách khoa, từ điển đơn ngữ và từ điển đa ngữ Song nếu cấu trúc vĩ mô là không thể thiếu được trong bất kì cuốn từ điển nào thì, thì cấu trúc vi mô có thể vắng mặt ở một số từ điển đặc biệt, như từ điển vốn từ, từ điển chính tả Lúc này thông tin của cuốn từ điển hàm chứa ngay trong cấu trúc vĩ mô
Trang 28Việc xác định cấu trúc vĩ mô và cấu trúc vi mô trong từ điển chính là cái nhìn mới áp dụng quan điểm hệ thống - cấu trúc trong nghiên cứu từ điển
Từ trước đến nay, do nhiều lí do mà tổ chức trong cuốn từ điển thường bị phi cấu trúc hóa
Trước hết, đó là sự cắt đoạn, biệt lập tương đối của mỗi mục đối với những mục khác Nhiều khi những yếu tố nằm trong lời giải thích của mục nào đó lại không
có mặt trong bảng đầu mục; tức là thành phần của cấu trúc vi mô lại không nằm trong cấu trúc vĩ mô
Thứ hai, do số lượng rất lớn của các mục được sắp xếp theo trật tự hình thức
nào đó (thường là theo abc) kéo dài dọc suốt quyển từ điển cho nên những mô tả về
hình thức, về cấu tạo của các đơn vị, tính chất và mức độ khác nhau về phạm vi, sắc thái của các đơn vị có thể thiếu nhất quán
Cuối cùng, từ vựng của ngôn ngữ là một tập hợp mở, nó có số lượng đơn vị rất lớn và thường xuyên biến động: những từ ngữ mới xuất hiện và những từ ngữ bị thải loại Quan niệm về cấu trúc hóa bảng đầu mục ngữ của từ điển phải xuất phát từ đặc điểm trên Không thể đòi hỏi tính cấu trúc trong bảng đầu mục thật rõ ràng như trong một hệ khép kín, chẳng hạn hệ thống âm vị, chỉ cần thay đổi một yếu tố là có thể tạo nên sự biến đổi trong cả hệ thống
Cấu trúc bảng đầu mục là tập hợp chứa trong mình nhiều mối quan hệ của nhiều hệ thống nhỏ, nhiều nhóm nhỏ, chúng có thể đan xen lên nhau Từng hệ thống nhỏ có mối quan hệ riêng, hoạt động theo những quy luật riêng
Đặc điểm của cấu trúc vĩ mô:
Cấu trúc vĩ mô trong từ điển là một chỉnh thể nghiêm ngặt, điều này được thể hiện cụ thể như sau:
- Mọi mục đều cần có vị trí thích đáng trong cấu trúc vĩ mô
- Các bộ phận trong cấu trúc vĩ mô phải hình thành mối quan hệ hữu cơ
- Về nguyên tắc, cấu trúc vĩ mô phải là một chỉnh thể, phải trả lời được mọi vấn đề xuất hiện trong cuốn từ điển đó Đặc biệt cần lưu ý tới hệ thống thuật ngữ chuyên môn, siêu ngôn ngữ mô tả
Theo L.Zgusta, khi nghiên cứu cấu trúc bảng đầu mục người ta thường quan tâm đến hai mặt: a) đặc tính của bảng đầu mục, b) số lượng các đơn vị, xét toàn bộ hay từng bộ phận cấu thành
Trang 29Đặc tính của đơn vị trong bảng đầu mục:
Ngọai diên của đơn vị mục trong từ điển rộng hơn khái niệm từ trong ngữ
pháp học L.Zgusta cho rằng “đại đa số các mục trong từ điển sẽ là những đơn vị từ
vựng” [42, tr.298] Ông khẳng định cơ sở của đơn vị trong từ điển là từ và đơn vị
nhiều từ, song cũng không thể bỏ qua những đơn vị nhỏ hơn từ, tức là những yếu tố tạo từ có sức sản sinh cao (L.Zgusta, 1971)
Nhìn đại thể đơn vị mục trong từ điển có đặc điểm sau:
a Đơn vị mục trong từ điển là kí hiệu con chữ chứ không phải kí hiệu âm thanh Bởi từ điển là sách tra cứu, sử dụng chủ yếu đơn vị của ngôn ngữ viết Với ngôn ngữ đơn lập âm tiết tính như tiếng Việt, tiếng Hán, ranh giới từ và ngữ không phải lúc nào cũng rõ ràng, việc xử lý đơn vị mục phức tạp hơn
b Đơn vị mục là từ ngữ được trừu tượng hóa trong ngôn ngữ, xuất hiện dưới hình thức trừu tượng, không kèm theo những dấu hiệu ngữ pháp (như những biến đổi
về số, giống, thời ở các ngôn ngữ Châu Âu)
c Đơn vị mục được xác lập dựa vào thuộc tính ngữ nghĩa, chứ không đơn thuần vào ngữ pháp Trong từ điển không phải cứ một kí hiệu con chữ sẽ trở thành một mục Rất nhiều trường hợp, cùng một kí hiệu con chữ xuất hiện trên hai mục Đó
là những đồng âm ngẫu nhiên hay đồng âm cùng gốc
Lựa chọn mục (nội dung và số lượng):
Theo kinh nghiệm từ điển học của thế giới, cụ thể qua ý kiến của J Rey Debore (1971), thì có thể dựa vào bốn nguồn tư liệu cung cấp mục sau:
- Tri thức và ngữ cảm của cá nhân nhà từ điển học
- Ngữ liệu ngôn ngữ học trong hội thoại và trong sách vở (tác phẩm văn học, báo chí, xuất bản phẩm )
- Ngữ liệu siêu ngôn ngữ học trong từ điển hiện đại và những tác phẩm khảo sát
về ngôn ngữ học
- Từ điển bách khoa và các tài liệu chuyên ngành
Việc xây dựng bảng đầu mục cho từ điển là việc làm hết sức phức tạp Malkie cho rằng hiện nay chưa có được một tiêu chuẩn chung về việc lựa chọn mục Hơn nữa bảng đầu mục của mỗi loại lại phụ thuộc vào từng loại và mục đích của cuốn từ điển đó Vấn đề càng đa dạng hơn
Trang 30Sắp xếp mục trong từ điển:
Chức năng của từ điển là sách công cụ dùng để tra cứu thông tin và học tập
Bởi vậy, một trong những vấn đề quan trọng của từ điển là cách sắp xếp các mục để đàm bảo tính tiện dụng Từ điển rất đa dạng về kiểu loại, nên cách sắp xếp các mục cũng khác nhau Về cơ bản có ba cách sắp xếp chính:
+ Dùng tiêu chí ý nghĩa có các cách sắp xếp sau:
+ Theo phân loại ý nghĩa nội dung như các loại từ điển có phân khoa mục, từ điển phân loại
+ Theo đồng nghĩa, gần nghĩa hoặc trái nghĩa
+ Theo các loại nghĩa: nghĩa gốc, nghĩa phái sinh và các loại từ điển loại suy + Theo hệ thống khái niệm như từ điển bách khoa
Trong thực tế mỗi quyển từ điển đều chọn dùng một cách sắp xếp chính và những kiểu khác sắp xếp bổ sung
1.1.3.2 Cấu trúc vi mô
“Cấu trúc vi mô là cấu trúc toàn bộ những thông tin được trình bày một cách
hệ thống trong mỗi mục, có thể gọi là cấu trúc mục” [38, tr.76]
Trong từ điển, mỗi mục có cấu tạo trọn vẹn, đứng độc lập và tách rời nhau Thoạt nhìn, hình như cấu tạo của mỗi mục theo một kiểu riêng có cách diễn đạt và
độ dài ngắn khác nhau Nhưng thực ra tính nhất quán của cấu tạo các mục được xử lý như một nhu cầu bắt buộc Các thông tin được trình bày trong một mục đều phải tuân theo một trật tự nhất định, phù hợp với mục đích của cuốn từ điển Sự tăng lên hay giảm bớp, đảo trật tự trình bày các thông tin đều làm cho cuốn từ điển thiếu tính nhất quán, cấu trúc vi mô bị phá vỡ, ảnh hưởng đến chất lượng của cuốn từ điển
Trang 31Đặc điểm của cấu trúc vi mô:
- Cấu vi mô bao gồm hai phần rõ rệt : phần thứ nhất là đơn vị mục; phần thứ hai là các thông tin khác
L.Zgusta cho rằng cấu trúc mục gồm hai phần, phần thứ nhất là đơn vị mục gọi là phần đề, phần thứ hai chứa mọi thông tin về đơn vị mục đó gọi là phần chính Rey Debove (1971) coi một mục trong từ điển có cấu tạo như một câu, đơn vị mục là chủ ngữ, toàn bộ phần nói về nội dung của đơn vị mục là vị ngữ
Như vậy, tính đề thuyết là đặc điểm của cấu trúc của mục Nối giữa phần đề
và phần thuyết là một “hệ từ” hiểu theo nghĩa rộng
Trên mặt cấu trúc, phần đề trong cấu tạo mục chỉ gồm một đơn vị còn phần thuyết hiếm khi chỉ có một thông tin, mà thường là trên một thông tin Nhưng ở cấu trúc sâu, mỗi thông tin đều có quan hệ trực tiếp với mục tạo thành một cấu trúc đề thuyết hoàn chỉnh
- Xác định cấu trúc mục là cấu trúc đề thuyết, các nhà từ điển học đã coi đơn
vị mục là thành phần của cấu trúc vi mô Về nội dung phần đề là các đã cho, cái đã biết, phần thuyết là cái mới, cái cần biết Song về cấu tạo thì cả hai hợp thành một thể thống nhất, gắn bỏ chặt chẽ với nhau, thiếu một trong hai bộ phận thì không cấu thành cấu trúc vi mô của từ điển Thành ra mục trong từ điển là đơn vị đặc biệt, đơn
vị đa chức năng, đơn vị kép: Mục vừa là đơn vị cơ bản của cấu trúc vĩ mô, vừa là một thành phần cơ bản của cấu trúc vi mô
Các yếu tố cấu thành cấu trúc vi mô:
- Các yếu tố cấu của cấu trúc vi mô gồm đầu mục và các thông tin mọi mặt của đầu
mục, sao cho các thông tin này làm thành một tập hợp đẳng nghĩa với đầu mục
Văn bản từ điển có đặc điểm nổi bật là tính ngắt đoạn Đó là sự độc lập tương đối của mỗi đơn vị, mỗi yếu tố trong hệ thống Mỗi mục là một đơn vị độc lập tương đối với các đơn vị mục khác trong toàn bộ cuốn từ điển Mỗi thông tin về đầu mục lại
có sự độc lập tương đối với các thông tin khác trong cùng mục Khả năng tách một mục thành những câu khác nhau có chung chủ ngữ là đầu mục có thể dùng làm cơ sở
để tách các thông tin trong một mục Như vậy mỗi thông tin tách rời có quan hệ trực tiếp với đầu mục được coi là một yếu tố cấu thành của cấu trúc vi mô
Trang 32- Mỗi yếu tố của cấu trúc vi mô mang một thông tin, được diễn đạt bằng một phương tiện mào đó Mỗi phương tiện có thể diễn đạt một hoặc hơn một thông tin về đầu mục
- Các yếu tố của cấu trúc vi mô có chức năng riêng và có vị trí tương đối ổn định Vì thế có thể phân loại chúng dựa vào: Chức năng thông tin mà chúng mang tải; Vị trí của chúng trong toàn bộ cấu trúc
Cấu trúc vi mô của một cuốn từ điển được hiểu là cấu trúc mục: bao gồm toàn
bộ những thông tin, tri thức được trình bày trong mục đó Mối yếu tố của cấu trúc vi
mô mang một thông tin nhất định và thông tin này được diễn đạt bằng một phương
tiện nào đó Tuy nhiên việc đưa thông tin vào mục lại phụ thuộc vào từng loại, từ
cuốn từ điển cụ thể, cũng như quan điểm của từng soạn giả Khi nghiên cứu cấu trúc
vi mô của một mục, cần quan tâm đến hai vấn đề cơ bản sau: Các yếu tố cấu thành cầu trúc vi mô của mục; Cách thức tổ chức các yếu tố thông tin này thành văn bản
1.2 Lý thuyết về văn hóa học
1.2.1 Khái niệm về văn hóa - văn hóa cổ truyền
Khái niệm “văn hoá” đã có trong đời sống ngôn ngữ ở phương Đông cũng như
ở phương Tây rất sớm Trong thời kì Cổ đại Trung Quốc, “văn hoá” được hiểu là cách thức hành xử xã hội của tầng lớp thống trị dùng "văn hoá" và "giáo hoá", dùng
cái hay, cái đẹp để cảm hoá dân chúng
Ở phương Tây, “văn hoá” bắt nguồn từ chữ Latinh: cultus, có nghĩa là “trồng
trọt”, tạo ra những sản phẩm phục vụ cho con người Về sau khái niệm “văn hoá” phát triển ngày càng phong phú Tuỳ cách tiếp cận khác nhau, tuỳ cách hiểu khác nhau mà những người nghiên cứu hình thành các khái niệm khác nhau về “văn hoá” Hiện nay, các định nghĩa về “văn hoá” đã vượt quá con số 500
Định nghĩa văn hóa của UNESCO trong cuốn"Cơ sở văn hóa Việt Nam": “Văn
hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ
và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người những hệ thống các giá trị những tập tục và tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về vản thân và chính văn hóa làm cho chúng
Trang 33ta trở thành những sinh vật đặc biệt, nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí…” [40, tr.23]
Theo cách hiểu này, hiện tượng được gọi là “văn hoá” bao gồm tất cả những sản phẩm vật chất (văn hóa vật chất) và những sản phẩm tinh thần (văn hoá tinh thần)
do con người sáng tạo ra trong quá khứ, hiện tại và mang tính giá trị Tính giá trị của văn hoá được hiểu là những sản phẩm do con người sáng tại ra phải là cái có ích cho con người, còn những sản phẩm cũng do con người sáng tạo ra nhưng không mang tính giá trị thì không phải là “văn hoá” Tính chất (hay đặc trưng) của xã hội hay một nhóm người là sản phẩn phản ánh văn hóa trong một giai đoạn nhất định Định nghĩa không chỉ đưa ra các thành phần của văn hóa còn khẳng định văn hóa chính là thức
đo giá trị con người
Thế nào là “văn hóa cổ truyền”?
Ở nước ta hiện nay thuật ngữ văn hóa cổ truyền được dùng với hai quan niệm
về mốc thời gian khác nhau Thứ nhất: Một số tác giả cho rằng văn hóa từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX trở về trước là văn hóa cổ truyền (Hữu Ngọc) Thứ hai: Một số tác giả lại cho rằng văn hóa từ sau cách mạng tháng 8/ 1945 trở về trước là văn hóa cổ truyền (Đinh Gia Khánh, Kiều Thu Hoạch, Nguyễn Xuân Kính )
Trong cuốn Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam, tác giả Hữu Ngọc đã đưa ra quan niệm về “Văn hóa cổ truyền là nền văn hóa có từ lúc hình thành dân tộc, trải
qua nhiều bước phát triển nội tại và chịu ảnh hưởng ngoại lai Châu Á cho đến khi ảnh hưởng của văn hóa phương Tây tác động quan trọng đến một số lĩnh vực, tuy gốc dân tộc vẫn tồn tại Như vậy khoảng thời gian kéo dài từ thiên nhiên kỷ thứ I trước công nguyên cho đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX” [23,tr.5]
Chúng ta thấy dù quan niệm văn hóa cổ truyền theo quan điểm thứ nhất hay theo quan điểm thứ hai thì từ “cổ truyền” cũng được xác định trong đối lập với “hiện đại” (phân biệt về mặt thời gian ngày xưa và ngày nay) Bản thân văn hóa có tính lịch
sử và ít nhiều chủ quan nên việc lựa chọn mộc thời gian để phân chia văn hóa cổ truyền và văn hóa hiện đại chỉ mang tính tương đối
Dù lựa chọn quan điểm nào thì văn hóa cổ truyền cũng được hiểu là các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần, có giá trị, gắn liền với hoạt động sản xuất vật chất và
Trang 34tinh thần do con người sáng tạo ra trong tiến trình hình thành và phát triển, được truyền từ đời này sang đời khác
1.2.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
1.2.2.1 Ngôn ngữ là thành tố của văn hóa
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu, âm thanh đặc biệt, là phuơng tiện giao tiếp
cơ bản và quan trọng của các thành viên trong cộng đồng người Ngôn ngữ đồng thời
là phương tiện để phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống văn hoá - lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác
Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá, các nhà khoa học đều thừa nhận rằng giữa ngôn ngữ và văn hoá (đúng ra là giữa ngôn ngữ và các thành tố văn hóa khác) có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau, phát triển trong sự tác động qua lại lẫn nhau Ngôn ngữ gần như là cơ sở, là nền tảng của văn hoá Nói chung, văn hoá mỗi dân tộc không tồn tại ngoài ngôn ngữ
Mối quan hệ ấy có thể được nhìn thấy ở ba biểu hiện: một, ngôn ngữ là một phần của văn hóa; hai, ngôn ngữ là một chỉ số của văn hóa (theo nghĩa nó tiết lộ cách suy nghĩ và tổ chức kinh nghiệm của một cộng đồng); và ba, ngôn ngữ là biểu trưng của văn hóa Theo mối quan hệ ấy cũng có ba biểu hiện chính: một, ngôn ngữ diễn tả thực tại văn hóa (các từ ngữ con người sử dụng, để có thể hiểu được, bao giờ cũng liên hệ đến những kinh nghiệm chung và những kho kiến thức mà một cộng đồng đã tích lũy và chia sẻ); hai, ngôn ngữ nhập thể vào hiện thực văn hóa (bằng cách tạo những kinh nghiệm mới qua phương tiện ngôn ngữ); và ba, ngôn ngữ biểu tượng hóa thực tại văn hóa (ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu trong khi chính hệ thống này, tự
nó, đã là một giá trị văn hóa )
1.2.2.2 Quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá
Văn hoá bao gồm tất cả những sản phẩm vật chất (văn hóa vật chất) và những sản phẩm tinh thần (văn hoá tinh thần) Văn hoá tinh thần có nhiều thành tố, trong đó
có ngôn ngữ
Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá, các nhà khoa học đều thừa nhận rằng giữa ngôn ngữ và văn hoá (đúng ra là giữa ngôn ngữ và các thành tố văn hóa khác) có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau, phát triển trong sự tác động
Trang 35qua lại lẫn nhau Ngôn ngữ gần như là cơ sở, là nền tảng của văn hoá Nói chung, văn hoá mỗi dân tộc không tồn tại ngoài ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một trong những thành tố quan trọng nhất của văn hoá Ngôn ngữ, nói chính xác, là một hiện tượng văn hoá, nằm trong văn hoá Văn hoá có ngoại diên lớn, trong khi đó ngôn ngữ có ngoại diên hẹp hơn, nhưng có những đặc tính nội hàm rộng lớn hơn Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá là mối quan hệ bao nhau Giữa chúng có những chỗ khác nhau, giao nhau và giống nhau
Ngôn ngữ thuộc phạm trù văn hoá, là một thành tố trong văn hoá nên tất cả những gì là đặc tính chung của văn hoá cũng đều tìm thấy trong ngôn ngữ
Ngôn ngữ là hiện tượng văn hoá đặc thù Bởi vì, ngôn ngữ là sản phẩm của văn hoá nhưng lại là phương tiện tất yếu và là điều kiện cho sự nảy sinh, phát triển và hoạt động của nhiều thành tố khác trong văn hoá; là phương tiện bảo lưu và truyền đạt các giá trị văn hoá từ thế hệ này sang thế hệ khác; là công cụ thể hiện nhiều nét bản sắc của văn hoá cộng đồng
Với chức năng là phương tiện cơ bản và quan trọng nhất của việc giao tiếp giữa các thành viên trong cộng đồng, ngôn ngữ trong sự hành chức luôn phải chịu sự chi phối của hàng loại các quy tắc và chuẩn mực văn hoá cộng đồng
Tóm lại, ngôn ngữ là một thành tố của văn hoá, là sản phẩm của quá trình lao động sáng tạo của con người Nó tạo nên những giá trị và bản thân là một giá trị trong văn hóa Qua ngôn ngữ, chúng ta nhận ra những nét văn hoá đặc trưng của các dân tộc, trong đó có dân tộc Tày
1.2.2.3 Các lớp từ ngữ văn hóa trong ngôn ngữ
Thế giới được phản ánh vào trong ngôn ngữ không bao giờ là cái thế giới khách quan đầy đủ và trọn vẹn như chính nó Có thể gọi thế giới như vậy là “thế
giới văn hóa” đã có sự tri nhận theo cách chủ quan của con người trong quá trình
nhận thức, khám phá, thông qua ngôn ngữ và phản ánh vào ngôn ngữ Với chức năng phản ánh, ngôn ngữ có một vốn từ vựng được dùng để ghi nhận những sự vật hiện tượng… ở bên ngoài nó, trong quá trình định danh chúng
Cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam là chủ thể của nền văn hóa Việt Nam phong phú, độc đáo riêng biệt bởi vậy xuất phát từ các mối quan hệ (với thế giới tự
Trang 36nhiên; thế giới xã hội; với chính bản thân mình) họ đã xác lập đƣợc vốn từ vựng văn hóa cơ bản trong ngôn ngữ của mình Trên cơ sở các lớp từng vựng văn hóa đó các nhà làm từ điển đã xây đựng hệ thống mục khi biên soạn từ điển Luận văn này sẽ tiến hành khảo sát cấu trúc vi mô, vĩ mô của các cuốn từ điển văn hóa đƣợc xây dựng trên cơ sở các lớp từ vựng văn hóa của các dân tộc
1.3 Tiểu kết
Khi nghiên cứu các công trình tra cứu nói chung và các công trình bách khoa nói chung, cần trang bị một số cơ sở lí luận làm cơ sở lí thuyết cho luận văn Đó là định nghĩa về từ điển và công trình bách khoa, phân loại công trình bách khoa, cấu trúc vĩ mô và cấu trúc vi mô Bên cạnh đó còn tìm hiểu về khái niệm trong lĩnh vực văn hóa nhƣ khái niệm văn hóa, các thành tố cơ bản của văn hóa cổ truyền Việt Nam, mối quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ Các khái niệm này là cơ sở lí luận cho việc triển khai tìm hiểu cấu trúc của công trình bách khoa về văn hóa cổ truyền các dân tộc Việt Nam và để xây dựng và đề xuất một mô hình cấu trúc thích hợp
Cuốn “Từ điển văn hóa cổ truyền dân tộc Tày” của Triều Ân, Hoàng Quyết và cuốn “Từ điển văn hóa phong tục cổ truyền Việt Nam” - đối tƣợng nghiên cứu của
luận văn là các công trình tra cứu mang tính bách khoa, thuộc loại chuyên ngành (về
văn hóa cổ truyền)
Trang 37Chương 2 CẤU TRÚC CỦA MỘT SỐ CÔNG TRÌNH BÁCH KHOA
VỀ VĂN HÓA CỔ TRUYỀN Ở VIỆT NAM
2.1 Cấu trúc trong cuốn Từ điển văn hóa cổ truyền dân tộc Tày của Triều Ân,
Hoàng Quyết, Hoàng Đức Toàn
2.1.1 Cấu trúc vĩ mô
2.1.1.1 Kết cấu chung của công trình
Cuốn Từ điển văn hóa cổ truyền dân tộc Tày gồm 282 trang
Mở đầu: Mở đầu cuốn từ điển là bài viết “Lời nói đầu” của nhóm tác giả Bài
viết đã khẳng định cuốn từ điển có vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu văn hóa các
dân tộc “Có cuốn từ điển văn hóa dân tộc Tày trong tay, sẽ nhanh có những nhận
thức khái quát nhất, tế nhị nhất về các dân tộc anh em, sẽ cảm thông nhau, biết về thuần phong mỹ tục, thói quen, sinh hoạt văn hóa để tôn trọng nhau và nhanh chóng có thiện cảm, gần gũi nhau” [2, tr.5] Đó cũng là mục đích của nhóm tác giả
khi biên soạn công trình này Đồng thời trong bài viết này, Các tác giả giới thiệu về lịch sử hình thành, vùng miền cư trú của dân tộc Tày, đưa ra quan niệm về khái niệm văn hóa, văn hóa cổ truyền Việc đưa ra quan niệm về văn hóa cổ truyền giúp người đọc hình dung được giới hạn thời gian, không gian, các bộ phận cấu thành của khái
niệm văn hóa cổ truyền của dân tộc Tày Đồng thời “Lời nói đầu” cũng giới thiệu
khái quát chung bố cục của cuốn từ điển
Tiếp theo là "Danh mục tài liệu tham khảo cơ bản" và "Bảng chữ tắt"
Phần chính: Hệ thống các mục trong cấu trúc vĩ mô của cuốn từ điển trình bày
chia thành 3 phần (theo các chủ đề tri thức) (tổng số 309 mục) Các mục trong mỗi chủ đề lớn lại được sắp xếp theo thứ tự a, b, c
Các chủ đề đó là:
Phần I: Phong tục, tập quán, sinh hoạt, lễ hội
Phần II: Chùa chiền, đền, miếu
Phần III: Văn học, nghệ thuật và sự tích
Mục lục
Trang 382.1.1.2 Các loại mục trong cấu trúc vĩ mô
Công trình gồm 309 mục Hệ thống các mục được phân thành các loại được thống kê như sau:
Bảng 2.1 Các loại mục trong cấu trúc vĩ mô
1 Mục về Phong tục, tập quán
- Phong tục tập quán trong cưới xin
- Phong tục tập quán trong tang lễ
- Phong tục tập quán trong sinh hoạt
hàng ngày
- Phong tục tập quán trong ngày lễ tết
- Nhặp sít và (khâu chăm màn),Kim
tháp (lễ ăn hỏi), Rặp lùa (đón dâu)
- Ngòi đin (xem đất phần mộ), Đếnh đin (tìm phần mộ cho người chết) Tây lộ (Trị lộ)
- Dòn lầu (lễ cho con chiu nhà giàu),
Pây tái (về nhà ngoại), Mửng thọ
(mừng thọ)
- Chiêng (tết tháng riêng), Đắp nọi (rằm tháng riêng), Khả mốc mèng
(tết mùng 5/5)
2 Lễ hội - Khẩu mẩu (hội cốm), Phúng lìu
(hội chợ phong lưu), Loỏng phụ (hội
múa kì lâm)
3 Ẩm thực - Nựa cáy sẻo khinh (thịt gà xào
gừng), Nựa lạp (thịt khô), Nựa thỉnh
(thịt thính), Hém nựa (thịt chua)
4 - Khái niệm định danh người
- Khái niệm thuật ngữ trong văn hóa
- Mẻ táp( mẹ nối),Mẻ liệng (mẹ
nuôi), Lục xo (con xin được), Lục
giài táp (con trai tiếp)
- Tam Cương, Tam Tòng, Thao
lược
5 Không gian tâm linh:
- Không gian tầng trên
- Không gian tầng giữa
- Không gian tầng dưới
- Cõi thượng, Cửu Túng, Thiên
Trang 39- Ngô quỳnh Văn, Bế Huỳnh, Bế Hữu
Chung, Bế Văn Phương
- Lý thế Khanh, Chiêu Đức, Bióoc Lả
Đính Quân, Nam Kim- Thị Đan
8 Biểu tuợng văn hóa (động vật, thực
vật)
Cáy đông (gà rừng), Cáy nhùng
(chim lông xù), Ngược (thuồng luồng), Bióoc Mạ (hoa Mạ), Đan
Đào, Bióoc Nát (Hoa Nát)
9 Địa danh Cao Bằng, Bạch Đế
10 Tổ chức quan hệ cộng đồng Làng (phường làng), Bản dẻ (làng
bản), Họ bạn (nhóm bạn), Họ háng (họ hàng), Sao báo (hội trai gái)
11 Lực lượng siêu nhiên (nhiên thần,
nhân thần)
Sứ hương (sứ giả khói nhang), Đông quăn (vua cai quan non ngàn), Vỏ
sẩu (thần đầu bếp)
12 Di tích (đền, chùa, miếu) Cao Tiên, Mạn Khanh, Quan đế,
Bạch đế, Bà Hoàng, Bắc Nga, Ba Mi,
Bắc Lệ
13 Đồ vật Quan tài, Khẩu lương (gạo mừng
thọ), Búa pảo mỉnh (bùa hộ mệnh)
Hệ thống các mục trong kết cấu vĩ mô được chia thành 13 loại mục, đã phản ánh bức tranh văn hóa Tày đa dạng và phong phú, đặc sắc
Trang 402.1.1.3 Cơ sở thiết lập và đặc điểm các đơn vị mục
1/ Cuốn Từ điển văn hóa cổ truyền của dân tộc Tày đã có sự kết hợp giữa hai
nguồn tư liệu khi xây dựng cấu trúc bảng đầu mục Thứ nhất các đơn vị mục trong cuốn từ điển được lựa chọn chủ yếu là dựa vào tri thức và ngữ cảm ngôn ngữ của các tác giả Đây là nguồn tư liệu quý giá bởi các tác giả biên soạn cuốn từ điển là người Tày được nuôi dưỡng trong cái nôi văn hóa Tày và là những nhà nghiêm cứu văn hóa Tày, bởi vậy họ am hiểu sâu sắc giá trị văn hóa Tày Thứ hai là cấu trúc bảng đầu mục được xây dựng từ các tác phẩm văn học dân gian, chủ yếu ở những tác phẩm
truyện thơ Nôm Tày (13 truyện thơ Nôm) như Truyện thơ Nôm Nàng Kim, Truyện
thơ Nôm Nhân Lăng, Truyện thơ Nôm Bioóc Lả, Lý Thế Khanh và ngữ liệu trong các
bài hát lượn như lượn Sam Chu, Lượn Tứ quý và trên ngữ liệu Thơ của Hoàng Đức
Hậu, một số mục còn được lựa chọn trong kho tàng ca dao tục ngữ của dân tộc Tày
2/ Những đặc điểm các đơn vị mục
- Đặc điểm hình thức: Phần lớn các đầu mục đều được phiên âm bằng tiếng
Tày Đó là các mục về các thành tố văn hóa Tày, một số ít mục là từ Hán Việt (gồm
35 mục chiếm 11%) như Ngự, Ngũ âm, Bát âm, Tam tòng, Tam cương, Phúc sinh,
Hiền chức, Thái bà, Thái hiệu, Hạ giá là các khái niệm, thuật ngữ văn hóa có nguồn
gốc từ Trung Quốc
- Các tác giả chú trọng thu thập các đơn vị mục là các đơn vị từ ngữ cơ bản mang dấu ấn văn hóa Tày Trong đó thu thập cả từ ngữ đặc văn hóa Tày (những từ
ngũ chỉ văn hóa chỉ có ở dân tộc Tày) như Đang đai (thân nhàn rỗi), Đang piấu (thân
không) Đặc biệt còn thu thập cả những đơn vị mục là các khái niệm, thuật ngũ văn
hóa có nguồn gốc từ Trung Quốc như Tam tòng, Ngũ âm, Bát âm, Tam cương, Thao