HỘI NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ QUY LUẬT LƯỢNG ĐỔI -CHẤT ĐỔI
Trang 1HỘI NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ
QUY LUẬT LƯỢNG ĐỔI -CHẤT ĐỔI.
LỜI NÓI ĐẦU
Triết học Mác ra đời từ thế kỷ XIX đã chỉ ra rằng thế giới vật chất không chỉ tồn tạitrong sự thống nhất đa dạng của các sự vật hiện tượng mà còn trong sự vận động vàphát triển không ngừng theo những quy luật vốn có của nó
Thế giới vật chất như một chỉnh thể thống nhất, trong đó các sự vật hiện tượng và cácquá trình cấu thành thế giới vừa tách biệt nhau vừa có sự quan hệ qua lại thâm nhậpchuyển hóa lẫn nhau Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành nhữngthay đổi về chất và ngược lại cho biết phương thức vận động và phát triển của sự vật,hiện tượng Sự liên hệ, tác động qua lại làm cho các sự vật vận động và phát triểnkhông ngừng
Phát triển theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng là kết quả của quá trìnhthay đổi về lượng dẫn tới sự thay đổi về chất Đây là nội dung quan trọng của quy luật
sự chuyển hóa về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại – một trong nhữngvấn đề cơ bản của phép biện chứng duy vật - triết học Mác
Quá trình hội nhập kinh tế và tự do hóa thương mại trên bình diện toàn cầu đang diễn ranhanh chóng và trở thành xu hướng tất yếu của thế giới đương đại Quá trình này màđặc biệt hơn là quá trình hội nhập WTO chính là biểu hiện rõ nét trong việc vận dụngQuy luật “những sự chuyển hóa về lượng dẫn đến những thay đổi về chất” của Đảng vànhà nước ta trong thời gian qua
Với những kiến thức nghiên cứu được, cùng với sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của cácthầy cô giảng viên và nhà trường, trong bài viết này, tôi xin tập trung nghiên cứu nhữngvấn đề xung quanh Quy luật lượng đổi – chất đổi và sự vận dụng Quy luật này trongquá trình nước ta hội nhập WTO
Đề tài có tên gọi: “HỘI NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ QUYLUẬT LƯỢNG ĐỔI- CHẤT ĐỔI”
Trang 2Đây là một đề tài có tính lý luận và thực tiễn cao, đòi hỏi khả năng nắm bắt sâu sắc vềnhững quan điểm của triết học Mác - Lê Nin cũng như những kiến thức, tư liệu về quátrình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và quá trình hội nhập WTO nói riêng của nước
ta Vì thế, với khả năng có hạn cùng những hạn chế nhất định về quỹ thời gian và điềukiện học tập, đề tài không sao tránh khỏi những nhược điểm, thiếu sót Người viết kínhmong được sự chân thành góp ý, bổ sung từ phía người đọc
Đề tài gồm 3 phần :
Phần thứ nhất :Những lý luận chung về quy luật lượng đổi–chất đổi
Phần thứ hai :Quá trình hội nhập WTO của nước ta nhìn từ quy luật lượng đổi–chất đổiPhần thứ ba :Kết luận
Người viết một lần nữa xin cảm ơn các thầy cô giảng viên bộ môn Triết Học – Khoasau Đại Học - trường đại học Kinh Tế Luật TPHCM đã tận tình giúp đỡ trong quá trìnhthực hiện đề tài này
Tp Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 12 năm 2010
NGƯỜI THỰC HIỆN
ĐẶNG MINH SANG
Trang 3PHẦN I NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY LUẬT LƯỢNG ĐỔI-CHẤT ĐỔI
1 Quan niệm biện chứng về chất và lượng
1.1 Quan niệm về chất và lượng của các nhà triết học cổ
1.1.1 Arixtốt : Nhà triết học cổ đại Arixtốt là người đầu tiên đưa ra quan niệm
chất và lượng với tư cách là các phạm trù triết học Ông xem chất là tất cả những gì làmcho sự vật là nó Là những cái gì có thể phân ra thành những bộ phận cấu thành Ôngphân lượng của sự vật thành hai loại: số lượng và đại lượng.Ngoài ra, ông cũng là ngườiđầu tiên tiến tới giải quyết vấn đề quan trọng đó là vấn đề tính nhiều chất của sự vật
Từ đó, ông phân biệt sự khác nhau về hình thức với chất căn bản của sự vật – cái sẽxuất hiện hay mất đi cùng với sự xuất hiện hay mất đi của bản thân sự vật; ông cũng đạtđược bước tiến đáng kể trong việc nghiên cứu phạm trù độ, xem độ là cái thống nhất,cái không thể phân chia giữa chất và lượng
1.1.2 Hêghen : Quan niệm về lượng và chất của sự vật, hiện tượng đã có bước
tiến đáng kế trong triết học cổ điển Đức, đặc biệt là trong triết học Hêghen Hêghen đãphân tích một cách tỉ mỉ sự thống nhất biện chứng, mối quan hệ qua lại, sự chuyển hóalẫn nhau giữa lượng và chất, xem xét chất và lượng nằm trong quá trình vận động vàphát triển không ngừng Với quan điểm biện chứng, Hêghen đã xem xét từ chất thuầntuý đến chất được xác định ; chất phát triển đến tột độ thì ra đời lượng; lượng cũngkhông ngừng tiến hoá, số lượng là đỉnh cao nhất trong sự tiến hoá
Trong việc xem xét mối quan hệ giữa thay đổi về lượng và thay đổi về chất,Hêghen đặc biệt chú ý tới phạm trù bước nhảy Chính dựa trên tư tưởng của Hêghen,Lênin đã rút ra một kết luận quan trọng là : Việc thừa nhận bước nhảy hay không là tiêuchí cơ bản để xem đó là người theo quan điểm biện chứng hay siêu hình về sự pháttriển
Tất nhiên, với tư cách là nhà triết học duy tâm, Hêghen đã xem các phạm trùchất, lượng, độ chỉ như những nấc thang tự phát triển của tinh thần, của ‘‘ý niệm tuyệt
Trang 4đối’’chứ không phải là những nấc thang nhận thức của con người đối với thế giới bênngoài.
1.2 Quan niệm biện chứng duy vật về chất và lượng
1.2.1 Quan niệm biện chứng duy vật về chất
Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của các sự vật
và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm ra nó và do đó nó khác với
cái khác.
Thuộc tính là biểu hiện một khía cạnh nào đó về chất của một sự vật trong mốiquan hệ qua lại với sự vật khác Ví dụ : Khi cho đường vào nước ta thấy đường có tínhtan, khi nếm ta biết đường có vị ngọt Vậy tính tan, vị ngọt là thuộc tính của đường.Tất cả những thuộc tính của đường là những cái vốn có của đường, nhưng chúng chỉbộc lộ ra trong quan hệ của đường với nước hay trong quan hệ của đường với vị giáccủa con người
Đặc trưng khách quan nói trên quy định phương thức nhận thức của con ngườiđối với vật chất của sự vật, để nhận thức được những thuộc tính, chúng ta cần nhận thức
nó trong mối quan hệ giữa các sự vật Trong mối quan hệ cụ thể thường bộc lộ ra mộtthuộc tính (một khía cạnh về chất) của sự vật Do vậy, để nhận thức được chất với tưcách là sự tổng hợp của tất cả các thuộc tính vốn có của sự vật đó, chúng ta phải nhânthức sự vật trong tổng hòa các mối quan hệ có thể có giữa sự vật đó với các sự vật khác
Mỗi sự vật có vô vàn thuộc tính, mỗi thuộc tính của sự vật lại có một tổng hợpnhững đặc trưng về chất của mình, nên khiến cho mỗi thuộc tính lại trở thành một chất.Điều đó cũng có nghĩa, mỗi sự vật có vô vàn chất Cho nên khi diễn đạt tính không thểtách rời giữa chất và sự vật cũng như tính nhiều chất của nó, Ăngghen đã viết : ‘‘nhữngchất lượng không tồn tại, mà những sự vật có chất lượng, hơn nữa, những sự vật có vôvàn chất lượng, mới tồn tại ’’1
Với tư cách là những khía cạnh của chất được bộc lộ ra trong các mối quan hệ,các thuộc tính của sự vật cũng có vị trí khác nhau tạo thành những thuộc tính cơ bản vànhững thuộc tính không cơ bản Tổng hợp những thuộc tính cơ bản tạo thành chất cơbản của sự vật Ở mỗi sự vật chỉ có một chất cơ bản, đó là tổng hợp những thuộc tính
Trang 5đặc trưng cho sự vật trong toàn bộ quá trình tồn tại của sự vật; đó là loại chất mà sự tồntại hay mất đi của nó quy định sự tồn tại hay mất đi của bản thân sự vật Ví dụ : trên cơ
sở chiếm hữu tư nhân tư tư liệu sản xuất, chất cơ bản của nền kinh tế tư bản tư nhân làsản xuất chạy theo giá trị thặng dư Khi đặc trưng đó mất đi, nền kinh tế cũng khôngcòn là kinh tế tư bản chủ nghĩa
Chất của sự vật không những được xác định bởi chất của các yếu tố cấu thành,
mà còn bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành sự vật đó
Trong tự nhiên và cả trong xã hội, chúng ta thấy không ít sự vật, mà xét riêng vềcác yếu tố cấu thành, chúng hoàn toàn đồng nhất, nhưng các sự vật đó lại khác nhau vềchất Ví dụ : kim cương và than chì là những sự vật đều do cácbon tạo thành Nhưngkim cương là vật cứng, có thể cắt được hầu hết mọi kim loại, có giá trị kinh tế cao, cònthan thì không có được những đặc trưng tương tự Sự khác nhau đó được quyết định bởiphương thức liên kết khác nhau của các nguyên tử cácbon
Chất của sự vật không chỉ thay đổi khi có sự thay đổi những yếu tố cấu thành mà
nó còn phụ thuộc vào sự thay đổi phương thức liên kết giữa các yếu tố đó Do vậy, đểlàm biến đổi chất của sự vật, chúng ta có thể cải tạo các yếu tố cấu thành, hoặc biến đổiphương thức liên kết giữa các yếu tố đó
1.2.2 Quan niệm biện chứng duy vật về lượng
Lượng là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật, nó
biểu thị số lượng các thuộc tính, tống số các bộ phận, các đại lượng, trình độ, quy mô,nhịp điệu của sự vận động và phát triển
Những đặc trưng về lượng cũng mang tính khách quan vốn có của sự vật : chúngcũng là những đặc trưng giúp ta phân biệt được sự vật này với sự vật khác
Những đặc trưng về lượng cũng được biểu hiện trong những mối quan hệ nhấtđịnh Nhưng, khác với những mối quan hệ là phương thức bộc lộ các thuộc tính về chất,những mối quan hệ nhờ đó những thuộc tính về lượng bộc lộ ra, mang tính xác định,chặt chẽ, nghiêm ngặt hơn rất nhiều
Tuy nhiên, trong thực tế có những thuộc tính về lượng của sự vật không thể biểuthị một cách chính xác bằng số lượng hay đại lượng Ví dụ : trình độ giác ngộ cách
Trang 6mạng, phẩm chất, tư cách, đạo đức của một con người… Trong những trường hợp nhưthế, để có tri thức đúng đắn về lượng, đòi hỏi phải có sự trừu tượng hoá rất cao với mộtphương pháp luận khoa học.
Không chỉ chất, mà cả các thuộc tính về chất cũng có tính quy định về lượng Dovậy, một sự vật cũng có vô vàn lượng
Chất và lượng là hai mặt không thể tách rời nhau trong sự vật Trong quá trìnhvận động và phát triển, chất và lượng của sự vật không đứng im Chúng luôn vận độngkhông phải biệt lập với nhau mà luôn luôn có quan hệ qua lại theo một quy luật nhấtđịnh
2 Mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đồi về chất.
Lượng có thể thay đổi trong một giới hạn nhất định mà không làm thay đổi cănbản về chất của sự vật Ở thời điểm này sự vật vẫn còn là nó mà chưa thành cái khác Ví
dụ : khi xét các trạng thái khác nhau của nước trong khoảng nhiệt độ từ 0 độ C đến 100
độ C, bản chất của nước vẫn không thay đổi (xét về cấu tạo chất ) Như vậy, không phảibất kỳ một sự thay đổi về lượng cũng ngay lập tức làm thay đổi căn bản về chất của sựvật
Khuôn khổ, mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi về chất của sựvật, được gọi là độ
Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, nó là
một khoảng giới hạn, mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản vềchất của sự vật
Những giới hạn mà khi lượng đạt tới đó sẽ làm thay đổi về chất của sự vật được
gọi là điểm nút Trong ví dụ trên, nếu coi trạng thái của nước là chất thì 0 độ C và 100
độ C là điểm nút
Sự thay đổi về lượng đạt tới điểm nút sẽ ra đời chất mới với lượng mới tươngứng của nó Sự thống nhất giữa lượng và chất mới tạo thành một độ mới với nhữngđiểm nút mới Sự vận động và phát triển là không cùng Do đó, sự vận động, biến đổicủa sự vật sẽ hình thành một đường nút của những quan hệ về độ
Trang 7Sự thay đổi về chất do những sự thay đổi về lượng trước đó gây ra được gọi làbước nhảy :
Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ thời kỳ chuyển hóa chất của sự
vật do những sự thay đổi về lượng trước đó gây ra, là quá trình trực tiếp chuyển từ chấtnày sang chất khác một cách căn bản
Thế giới là muôn hình muôn vẻ, nên sự thay đổi về chất cũng hết sức đa dạngvới nhiều hình thức khác nhau Tính chất của các bước nhảy được quyết định trước bếtbởi tính chất của bản thân sự vật, bởi những mâu thuẫn vốn có Với những sự vật cótính chất khác nhau và với những mâu thuẫn khác nhau sẽ có những bước nhảy khácnhau Chẳng hạn, bước nhảy trong tự nhiên dẫn tới sự ra đời của những loài động vật,thực vật mới phải trải qua hàng ngàn năm hoặc nhiều hơn Nhưng cũng trong tự nhiên,chúng ta vẫn quan sát thấy cả những quá trình thay đổi về chất diễn ra một cách nhanhchóng Ví dụ : hiện tượng phóng xạ trong tự nhiên của một số nguyên tố hoá học…
Tính đa dạng trong hình thức thay đổi về chất còn được quy định bởi điều kiệntrong đó diễn ra sự thay đổi về chất Chẳng hạn, cũng là vấn đề thay đổi quyền lựcchính trị trong quá trình phát triển xã hội,nhưng tuỳ thuộc vào điều kiện lịch sử – cụ thể
mà sự thay đổi đó có thể diễn ra bằng con đường hoà bình hoặc bạo lực cách mạng Khidiễn ra theo con đường thứ 2, bước nhảy được thực hiện trong khoảng thời gian tươngđối ngắn
Trong thực tế, sự thay đổi về chất thông qua các bước nhảy hết sức đa dạng vàphong phú Nhìn chung, các bước nhảy thể hiện qua một số cách cơ bản sau:
Bước nhảy đột biến và bước nhảy diễn ra một cách dần dần :
Sự phân chia như vậy được dựa trên không chỉ thời gian của sự thay đổi về chất,
mà còn dựa trên cả tính chất của bản thân sự thay đổi đó Những bước nhảy đột biến,khi chất của sự vật được biến đổi một các nhanh chóng Chẳng hạn, sự chuyển hoá củacác hạt cơ bản…Những bước nhảy được thực hiện một cách dần dần là quá trình thayđổi về chất diễn ra bằng con đường tích luỹ dần dần những nhân tố của chất mới và mất
đi dần dần những nhân tố của chất cũ Chẳng hạn, quá trình chuyển hoá từ vượn ngườithành người… Như vậy, sự khác nhau giữa hai loại bước nhảy vừa nêu không chỉ ở thời
Trang 8gian diễn ra sự thay đổi về chất, và cả ở cơ chế của sự thay đổi đó Khi nói về bướcnhảy dần dần, ngoài nhân tố tốc độ, chúng ta còn nói đến cơ chế của việc tạo ra chấtmới Ở đây, chất mới được tạo thành không phải ngay lập tức, mà được tạo thành từngphần.
Mặt khác, cũng cần phân biệt bước nhảy dần dần với sự thay đổi dần dần vềlượng Nhưng sự thay đổi dần dần về lượng diễn ra một cách liên tục trong khuôn khổcủa chất đang có; còn bước nhảy dần dần là sự chuyển hóa chất này sang chất khác, là
sự đứt đoạn của tính liên tục, là bước ngoặc quyết định trong sự phát triển
Bước nhảy toàn bộ và bước nhảy cục bộ
Bước nhảy toàn bộ là loại bước nhảy làm thay đổi về chất ở tất cả các mặt, các
bộ phận, các nhân tố cấu thành sự vật Bước nhảy cục bộ là loại bước nhảy làm thay đổimột số mặt, một số nhân tố, một số bộ phận của sự vật đó Đối với các sự vật phức tạp
về tính chất, về những nhân tố cấu trúc, về những bộ phận cấu thành bước nhảy
thường diễn ra bằng con đường từ những thay đổi về chất cục bộ đến thay đổi về chất toàn bộ
Từ những phân tích trên, có thể rút ra nội dung cơ bản của quy luật chuyển dần
từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại như sau: Bất kỳ sự vật nào cũng là sự thống nhất giữa chất và lượng, sự thay đổi dần dần về lượng vượt qua giới hạn của độ sẽ dẫn tới thay đổi căn bản về chất của sự vật thông quabước nhảy; chất mới ra đời sẽ tác động trở lại tới sự thay đổi của lượng
Vì vậy để có tri thức tương đối đầy đủ về sự vật, ta phải nhận thức cả mặt lượng
và mặt chất của nó Con đường nhận thức đó sẽ diễn ra như sau: từ những nhận thức ban đầu về chất đi tới nhận thức lượng, trong quá trình đó, tri thức về chất được làm sâusắc thêm, khi đạt đến tri thức về sự thống nhất giữa chất và lượng chúng ta sẽ có tri thứctương đối hoàn chỉnh về sự vật đó
Vì sự thay đổi về lượng và thay đổi về chất có mối quan hệ biện chứng với nhau,nên trong hoạt động thực tiễn phải dựa trên việc hiểu đúng đắn vị trí vai trò và ý nghĩa của mỗi loại thay đổi nói trên Trong sự phát triển xã hội, phải biết kịp thời chuyển từ
Trang 9sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, từ những thay đổi mang tính tiến hóa sang thay đổi mang tính cách mạng.
Xem xét tiến hóa và cách mạng trong mối quan hệ biện chứng là một trong những nguyên tắc phương pháp luận trong việc xây dựng chiến lược và sách lược cách mạng Hiểu đúng đắn mối quan hệ đó là cơ sở để chống lại chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa xét lại hữu khuynh cũng như chủ nghĩa tả khuynh
Việc nắm vững nội dung của quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa thay đổi
về lượng và thay đổi về chất cũng như ý nghĩa phương pháp luận của nó có vai trò to lớn trong việc xem xét và giải quyết những vấn đề trong công cuộc đổi mới mà đặc biệt
là công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế Việc thực hiện thành công quá trình đổi mới trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội mà đặc biệt là quá trình hội nhập sẽ tạo ra bước nhảy
về chất tạo điều kiện để thực hiện thành công quá trình đổi mới nhằm tạo ra bước nhảy
về chất của toàn bộ xã hội nói chung và bước nhảy về chất của quá trình hội nhập nói riêng Như bất kỳ sự thay đổi về chất nào khác, những bước nhảy trong quá trình hội nhậphiện nay cũng chỉ có thể là kết quả của quá trình thay đổi về lượng thích hợp Ở đây bất kỳ sự nôn nóng, chủ quan, ảo tưởng nào đều có thể gây ra tổn thất cho cách mạng, cản trở sự nghiệp đổi mới đất nước
PHẦN II HỘI NHẬP WTO CỦA NƯỚC TA NHÌN TỪ GÓC ĐỘ
QUY LUẬT LƯỢNG ĐỔI-CHẤT ĐỔI.
Quy luật từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất vàngược lại đã chỉ ra rằng : Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là sự thống nhất giữa chất
và lượng, sự thay đổi dần dần về lượng vượt qua giới hạn của độ sẽ dẫn tới thay đổicăn bản về chất của sự vật thông qua bước nhảy; chất mới ra đời sẽ tác động trở lại tới
sự thay đổi của lượng Kế thừa quy luật này Đảng và nhà nước ta nhất quán trongđường lối, chủ trương, và quá trình thực hiện để đưa nước ta hội nhập vào kinh tế quốc
Trang 10tế đặc biệt là tổ chức thương mại thế giới WTO “Hội nhập kinh tế quốc tế là yêu cầukhách quan; phải chủ động, có lộ trình phù hợp với bước đi tích cực, vững chắc, không
do dự chần chừ; nhưng cũng không được nóng vội, giản đơn.”2 ( Trích văn kiện đạihội Đảng toàn quốc lần thứ X)
1 Giới thiệu về WTO :
Ngày 07 tháng 11 năm 2006, sau gần 12 năm đàm phán, tại Phiên họp đặc biệtcủa Đại hội đồng Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã chính thức đượckết nạp vào WTO Đây là một thành công to lớn, là sự kiện trọng đại của lịch sử thươngmại và ngoại giao của Việt Nam, là một cột mốc quan trọng của Việt Nam trong quátrình hội nhập kinh tế quốc tế
WTO là tổ chức thương mại quy mô toàn cầu, được thành lập vào ngày 01 tháng
01 năm 1995, ‘‘hiện có 153 thành viên (Việt Nam là thành viên thứ 150)’’3.Tiền thâncủa WTO là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), được 23 quốc gia
ký kết vào năm 1947 nhằm tăng cường giao lưu thương mại giữa các quốc gia thôngqua việc cắt giảm các hàng rào bảo hộ ở mỗi nước thành viên Trong lịch sử gần 50năm của mình, GATT đã tổ chức được 8 vòng đàm phán đa phương về thương mại.Vòng thứ 8 diễn ra từ năm 1986 đến năm 1994 tại Marrakesh thủ đô của Marocco (còngọi là Vòng đàm phán Uruguay và Hiệp định thành lập WTO còn gọi là Hiệp địnhMarrakesh) nội dung là cải tổ GATT để lập ra một định chế thương mại toàn cầu mới
có tên là Tổ chức Thương mại thế giới, viết tắt là WTO
1.1 Cơ cấu tổ chức của WTO
1.1.1 Cơ cấu tổ chức
WTO là một tổ chức hoàn chỉnh, bao gồm các cơ quan có thẩm quyền như:
- Hội nghị Bộ trưởng
- Đại Hội đồng
Trang 11- Các Ủy ban chức năng và Cơ quan giải quyết tranh chấp Các Ủy ban chức năngthông thường gồm các đại sứ và trưởng phái đoàn ở Geneva nhưng đôi khi các viênchức cũng được gửi tới từ thủ đô của các quốc gia thành viên; Ủy ban Chức năng họpvài lần một năm ở Hội sở của WTO tại Geneva (Thụy Sĩ ) là cơ quan lo về xem xétchính sách Ủy ban Giải quyết tranh chấp cũng họp với lịch trình tương tự.
- Các Ban hàng hóa, Ban dịch vụ và Ban sở hữu trí tuệ Các ban này báo cáo côngtác cho các Ủy ban chức năng Ngoài ra còn có một số lượng các tiểu ban đặc biệt,nhóm công tác và các thành viên xử lý các hiệp ước ký riêng giữa các thành viên cá thể
và các khu vực khác nhau như môi trường, phát triển, xử lý đơn gia nhập và các hiệpước thương mại khu vực
- Cơ quan đảm nhiệm chức năng hành chính – thư ký là Ban Thư ký với hơn 600nhân viên, đứng đầu là Tổng thư ký
1.2.2 Trụ sở WTO
Trụ sở đặt tại Geneva, Thụy Sỹ Các Thành viên tham gia vào hoạt động của WTOthông qua phái đoàn đại diện Các quyết định quan trọng nhất của WTO được thông quatại Hội nghị Bộ trưởng (họp ít nhất 2 năm một lần) hoặc tại các cuộc họp của Đại hộiđồng (cấp đại sứ, họp thường xuyên tại Geneva) Mỗi thành viên WTO có một phiếubiểu quyết, không phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế hay mức niên liễm đóng góp Cácthỏa thuận của WTO phải được phê chuẩn ở tất cả nghị viện (Quốc hội) của các quốcgia thành viên
1.2 Chức năng của WTO
WTO có những chức năng cơ bản sau đây:
- Quản lý, giám sát và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi các hiệp định của WTO
WTO có cả một hệ thống hiệp định đa phương (bắt buộc) và hiệp định nhiều bên (không bắt buộc) điều chỉnh các lĩnh vực thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, các
Trang 12biện pháp về đầu tư liên quan đến thương mại và các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ.
- Thúc đẩy tự do hoá thương mại thông qua các cuộc đàm phán đa phương về tự
do hoá thương mại
Năm 2001, vòng đàm phán đầu tiên của WTO được phát động với tên gọi là Nghịtrình Phát triển Đôha, hay Vòng đàm phán Đôha Vòng đàm phán này cho tới nay vẫnchưa kết thúc
- Giải quyết tranh chấp thương mại giữa các Thành viên theo các quy tắc, trình
tự, thủ tục do WTO quy định
Bảo đảm tuân thủ các luật lệ của WTO cũng như sự bình đẳng giữa các thành viên
- Cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển thông qua các chương trình tư vấn, đào tạo nguồn nhân lực; hợp tác với các tổ chức quốc tế khác
1.3 Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của WTO:
1.3.1 Nguyên tắc không phân biệt đối xử:
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất của WTO, thể hiện qua hai chế độ là đối xử tối
huệ quốc (MFN) và đối xử quốc gia (NT) Đối xử tối huệ quốc ( MFN) quy định một thành viên phải đối xử bình đẳng với tất cả các thành viên khác Đối xử quốc gia ( NT)
quy định phải dành cho hàng hoá, dịch vụ và doanh nghiệp nước ngoài sự đối xử bình đẳng như dành cho hàng hoá, dịch vụ và doanh nghiệp trong nước
WTO cho phép có ngoại lệ về đối xử MFN và NT nhưng phải theo đúng quy định của WTO
1.3.2 Nguyên tắc thúc đẩy thương mại quốc tế đối với hàng hoá và dịch vụ thông qua đàm phán dỡ bỏ rào cản giữa các quốc gia:
Trang 13Bao gồm cắt giảm thuế nhập khẩu, loại bỏ các biện pháp phi thuế, xử lý các hành
vi gây lệch lạc thương mại như trợ cấp, phá giá v.v
1.3.3 Nguyên tắc minh bạch hoá:
Bao gồm minh bạch về chính sách và minh bạch về tiếp cận thị trường Minh bạch
về chính sách yêu cầu mọi quy định có liên quan đến thương mại của một thành viên
phải được công bố công khai, dễ tiếp cận, phù hợp với luật lệ của WTO và áp dụngthống nhất trên toàn lãnh thổ Đồng thời, phải dành cơ hội thoả đáng cho các bên có
liên quan được góp ý trong quá trình lập quy Minh bạch về tiếp cận thị trường yêu cầu
các Thành viên nỗ lực ràng buộc mức trần cho thuế nhập khẩu và đưa ra các cam kết rõràng về mở cửa thị trường dịch vụ, giúp cho các doanh nghiệp có thể dự báo và hoạchđịnh chiến lược kinh doanh
1.4 Hệ thống văn kiện pháp lý của WTO bao gồm:
a Hiệp định thành lập WTO, thường gọi tắt là Hiệp định WTO hay Hiệp địnhMarrakesh;
b Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), chuyên điều chỉnhthương mại hàng hoá;
c Các hiệp định phụ trợ cho GATT (Hiệp định Nông nghiệp, Hiệp định về hàngrào kỹ thuật đối với thương mại, Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đếnthương mại, Hiệp định về xác định trị giá hải quan v v.);
d Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS), chuyên điều chỉnh thương mạidịch vụ;
e Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ(TRIPs);
f Thoả thuận về quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp;
g Cơ chế rà soát chính sách thương mại;