Doanh nghiệp nhà nước nên nằm trong khuc vực công, nhưng một số quan điểm khác thì ngược lại. Hay giải thích và trình bày quan điểm
Trang 1Đề tài :
Có quan điểm cho rằng : Doanh nghiệp nhà nước nên nằm trong khuc vực công, nhưng một số quan điểm khác thì ngược lại Hay giải thích và trình bày quan điểm.
Trang 2Mục lục
1 Khái quát chung 3
1.1 Khái niệm khu vực công 3
1.2 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước 4
2 Doanh nghiệp nhà nước nên nằm trong khu vực công 5
2.1 Giữ vai trò chủ đạo là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế 5
2.2 Đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước 8
2.3 Điều tiết thị trường phù hợp với tình hình thực tế của đất nước: 8
2.4 Tạo ra nhiều công ăn việc làm: 10
2.5 Giúp cho nền kinh tế tự chủ hơn, hạn chế sự phụ thuộc và nguy cơ bị thâu tóm của nước ngoài 11
2.6 Cung cấp các sản phẩm phù hợp với mức sống của người dân 13
3 Doanh nghiệp nhà nước không nên nằm trong khu vực công 13
3.1 Thứ nhất 14
3.2 Thứ hai 14
3.3 Thứ ba 15
3.4 Thứ tư 16
3.5 Thứ năm 16
4 Nên nằm trong khu vực công, nhưng phải có những đổi mới trong hoạt động 19
4.1 Cơ chế giám sát cần chặt chẽ hơn, tách cơ quan quản lý khỏi kinh doanh 20
4.2 Cơ chế quản lý phù hợp hơn và thống nhất 21
4.3 Cần xã hội hóa nhiều hơn nữa và chỉ nên đầu tư vào những lĩnh vực cần thiết 23
4.4 Về quy định về nhân sự và phân công phân cấp hợp tác quản lý theo từng bộ phận chuyên quản 26
4.5 Xác lập và khống chế các tỉ lệ tài chính nhằm đảm bảo an toàn tài chính cho tập đoàn Trong đó tỉ lệ nợ không quá 3 lần trên vốn chủ sở hữu 27
4 Định hướng phát triển DNNN 30
Mục lục 32
Trang 31 Khái quát chung.
1.1 Khái niệm khu vực công.
Khu vực công là khu vực phản ánh hoạt động kinh tế chính trị đượctiến hành bởi nhà nước
Đặc điểm của một cơ quan hay đơn vị được xếp vào khu vực công :
trong một chế độ dân chủ, những người chịu trách nhiệm lãnhđạo các cơ quan công lập đều trực tiếp hay gián tiếp được công chúng bầu rahoặc được chỉ định
Các đơn vị trong khu vực công được giao một số quyền hạnnhất định có tính chất bắt buộc, cưỡng chế mà các cơ quan tư nhân khôngthể có được
Khu vực công gồm:
- hệ thống các cơ quan quyền lực :
Cơ quan lập pháp, tư pháp , và hành pháp từ trung ương đến địaphương
Hệ thống quốc phòng và các cơ quan an ninh
Hệ thống các đơn vị cung cấp dịch vụ công
Hệ thống cơ quan cung cấp an sinh xã hội
- hệ thống các đơn vị kinh tế của nhà nước :
Các doanh nghiệp nhà nước
Các định chế tài chính
Ngân hàng trung ương
Các đơn vị được nhà nước cấp vốn hoạt động
Trang 41.2 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu
tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt độngcông ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nướcgiao.Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, có quyên và nghĩa vụ dân sự , chịutrách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh
- Đặc điểm :
Quyền sở hữu tư liệu sản xuất thuộc về nhà nước Các hoạtđộng kinh doanh là đặc điểm phân biệt doanh nghiệp nhà nước với các tôtchức, cơ quan chính phủ
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập, thựchiện các mục tiêu kinh tế xã hội đảm bảo tính định hướng chủ nghĩa xã hội
Tài sản là 1 bộ phận của nhà nước thuộc sở hữu của nhà nước.Doanh nghiệp nhà nước chỉ là người quản lý kinh doanh trên số tài sản củanhà nước
Doanh nghiệp nhà nước do nhà nước tổ chức bộ máy quản lý,
bổ nhiệm các cán bộ chủ chốt của doanh nghiệp, phê duyệt chiến lược, kếhoạch
2 Doanh nghiệp nhà nước nên nằm trong khu vực công
2.1 Giữ vai trò chủ đạo là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế.
Trang 5Trong văn kiện đại hội đảng toàn quốc lần thứ X có nêu rõ: “Trên cơ
sở ba chế độ sở hữu toàn dân (toàn dân, tập thể, tư nhân) đã hình thành nhiềuhình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước,kinh tế tậpthể, kinh tế cá thể, tiểu thủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước,kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Các thành phần kinh tế hoạt động theoluật pháp đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa… Trong kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo,
là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nềnkinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế kháccùng phát triển…”
DNNN một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Bộ phận này sẽdẫn dắt nền kinh tế đi lên và làm động lực cho các ngành nghề khác pháttriển Trong quá trình phát triển đất nước hiện nay với sự hoạt động củamình, DNNN luôn góp phần ngày càng cao trong tăng trưởng kinh tế của đấtnước, luôn là khu vực tạo ra của cải vật chất lớn cho xã hội, chiếm tỷ trọngcao trong kim ngạch xuất khẩu, đem lại nguồn ngoại tệ cho quốc gia Ngoài
ra các DNNN không ngừng đổi mới và phát triển, hiện nay nhiều doanhnghiệp không những có khả năng thực hiện việc kinh doanh và đầu tư ởtrong nước mà còn tham gia đầu tư ở nước ngoài, từ đó nâng cao chất lượng
và hiệu quả hoạt động của DN và đây cũng là một cầu nối với kinh tế nướcngoài
Đến cuối năm 2005, sau 20 năm đổi mới khu vực kinh tế nhà nướcvẫn còn đóng góp tới 39% GDP ( trong đó khu vực DNNN chiếm giữ tới70%), kinh tế dân doanh chiếm 45,5%GDP, kinh tế hợp tác xã đóng góp 8%GDP, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 15,5% GDP Trong đó DNNN
Trang 6đóng góp tới 50% thu ngân sách của quốc gia (nguồn: viện nghiên cứu quản
lý kinh tế trung ương)
DNNN đóng góp to lớn trong việc tạo ra “bộ mặt” kết cấu hạ tầngcủa quốc gia, để nền kinh tế đi lên thì không thể thiếu được những côngtrình cơ sở hạ tầng lớn, mà việc xây dựng những công trình này đòi hỏi mộtlượng vốn rất lớn, chu kỳ dài, rủi do cao, lợi ích xã hội rộng lớn Thế nêncác doanh nghiệp bình thường không đủ sức làm và cũng không muốn làm.Chính nhờ những DNNN mà đất nước ta có những cơ sở hạ tầng lớn nhưngày hôm nay làm động lực cho sự tăng trưởng kinh tế và phát triển đấtnước trong hiện tại và cả trong tương lai Với một cơ sở hạ tầng tốt đủ đápứng cho nền kinh tế thì đây la một tiền đề quan trọng trong việc thúc đẩy chocác ngành nghề khác phát triển
DNNN là những cơ sở quan trọng trong công cuộc hiện đại hóa đấtnước, thông qua DNNN chúng ta đã có nhiều công cuộc hiện đại hóa trongnhiều lĩnh vực như hiện nay qua các DNNN việc hiện đại hóa và côngnghiệp hóa nền nông nghiệp, nông thôn đã và đang được thực hiện Bằngcách đưa máy móc cơ giới vào hoạt động sản xuất nhằm giải phóng sức laođộng cho con người Nhà nước đã đầu tư, thành lập những công ty cơ khítrong lĩnh vưc nông nghiệp như Tổng công ty máy động lực và máy nôngnghiệp Việt Nam, công ty máy nông nghiệp miền nam… với mục đích sảnxuất ra các loại máy móc cơ khí với giá thấp để người nông dân có thể mua
sử dụng vào mục đích nông nghiệp và có giảm lượng nhập khẩu máy mócnông nghiệp từ nước ngoài Ngoài nông nghiệp chúng ta cũng đang thựchiện hiện đại hóa trong lĩnh vực giao thông, công nghiệp…
Trang 7
Một nền kinh tế mạnh thì phải có những doanh nghiệp lớn để có đủkhả năng chống chọi với những biến động trong nền kinh tế thế giới và giúpkinh tế đất nước vực dậy sau khủng hoảng, với tính qui mô và trọng trách tolớn của các doanh nghiệp này thì nhà nước phải là người đứng ra thành lập,quản lý và kiểm soát sao cho có thể đảm bảo được những mục tiêu đề ra vàtính ổn định của nền kinh tế Để làm được điều này thì đòi hỏi phải có mộtnguồn lực lớn về vốn lớn và một trình độ khoa học kỹ thuật nhất định Trongvấn đề này thì các doanh nghiệp khác chưa đủ các nguồn lực để thực hiện
mà phải có sự can thiệp của nhà nước Trong quá trình hoạt động để đảmbảo được sự tồn tại và sự phát triển vững chắc, đôi khi các doanh nghiệpphải hy sinh những lợi ích trước mắt mà phải tập trung vào những mục tiêukinh tế dài hạn, do đó doanh nghiệp có thể sẽ hoạt động với mức lợi nhuậnthấp hoặc chấp nhận thua lỗ trong thời kỳ đầu, điều này thường khó có thểbắt gặp ở những doanh nghiệp bình thường khác
DNNN thường nắm giữ những nghành nghề kinh doanh quan trọngcủa nền kinh tế quốc dân do đó thông qua các doanh nghiệp này nhà nước sẽthực hiện việc cơ cấu từng ngành nghề sao cho phù hợp với nên kinh tếtrong từng giai đoạn phát triển của đất nước
Trong giai đoạn hiện nay nhà nước đang tích cưc hỗ trợ những ngànhnghề quan trọng tạo động lực phát triển kinh tế như các ngành công nghiệp,nông nghiệp, vận tải
2.2 Đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước
Trang 8
Do đây la những doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước nên doanhthu từ hoạt động kinh doanh sẽ thuộc về nhà nước quản lý, đây là một nguồnthu quan trọng cho ngân sách nhà nước.
Mức đóng góp ngân sách của 7 tập đoàn, 11 tổng công ty 91 và 56tổng công ty 90 trong 6 tháng đầu năm của name 2008 cho thấy
Tổng nộp ngân sách của các DNNN là 78.066 tỉ đồng, đạt 68,4% kếhoạch năm, tăng 58,6% so với cùng kỳ năm 2007 Trong đó, 18 tập đoàn,tổng công ty 91 đạt 62.484 tỉ đồng, bằng 70% kế hoạch năm, tăng 62% sovới cùng kỳ 2007
Những tập đoàn, tổng công ty nhà nước có mức nộp ngân sách caolà: Tập đoàn Dầu khí đạt 75% kế hoạch năm, tăng 18% so cùng kỳ 2007;Tổng công ty Lương thực miền Nam đạt 94% kế hoạch năm, tăng 38% socùng kỳ 2007; Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đạt 66%
kế hoạch năm, tăng 35% so cùng kỳ 2007, (nguồn: báo điện tử Đảng cộngsản)
2.3 Điều tiết thị trường phù hợp với tình hình thực tế của đất nước:
Trong văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã nêu rõ:”… Cácthành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quantrọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong đó nềnkinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng đểnhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế…” Kinh tế nhà nước ở đâybao gồm nhiều thành phần góp lại, nhưng “Các tập đoàn, Tổng công ty nhànước là lực lượng giữ vai trò then chốt trong nền kinh tế, là công cụ vật chất
để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô” (theo lời của Thủ Tướng
Trang 9Nguyễn Tấn Dũng vào Ngày 10/3/2010, tại buổi làm việc với đại diện cácTập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước) DNNN chính là chủ thể quantrọng nhất và cũng chính các DNNN là những phương tiện để cho Chính phủ
có thể áp dụng những biện pháp điều tiết thị trường một cách bềnvững.Trong những năm qua vai trò điều tiết thị trường của các DNNN đãđược kiểm chứng và đã đạt những thành tựu đáng kể
Thứ nhất vì là doanh nghiệp thuộc về nhà nước nên doanh thu của cácdoanh nghiệp nhà nước đóng góp một phần quan trọng trong việc cân đốithu chi của ngân sách nhà nước , Tổng cục Thống kê cho rằng DNNN tạo rakhoảng 27% GDP của Việt Nam trong năm 2008(còn cả khu vực kinh tế nhànước là khoảng 35%), đóng góp của khu vực DNNN vào tăng trưởng GDP
là 19% trong giai đoạn 2006-2009 Góp phần quan trọng để Chính Phủ cóthêm nguồn vốn đầu tư thêm vào các dự án an sinh xã hội,góp phần cải thiệnđời sống nhân dân
Thành tích chống lạm phát năm 2008 và chống suy giảm kinh tế năm
2009 được cho là công lớn của các DNNN (trích báo cáo tóm tắt của Ủy banThường vụ Quốc hội về giám sát các tập đoàn, tổng công ty nhà nước ).Cóthể kể đến là ở ngành Viễn thông, trong khi hầu hết các mặt hàng trên thịtrường tăng giá ào ào vào thời điểm đó thì giá cước viễn thông đã giảm trungbình 15% sau khi thông tư 02/BTTTT của Bộ Thông tin truyền thông chophép doanh nghiệp viễn thông được tự quyết định giá cước
Cũng trong năm 2008 thì lĩnh vực xăng dầu cũng đã có những nỗ lựckiềm chế rất đáng khen dù giá dầu thế giới có những biến động mạnh.Cónhững thời điểm giá xăng tăng đến 19000đ/l Cuối cùng đến ngày 1/12/2008,
Trang 10giá bán lẻ xăng còn 12000đ/l bằng với mức giá ở năm 2005.
2.4 Tạo ra nhiều công ăn việc làm:
Với chủ trương đúng đắn là cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nướcbởi khi cổ phần hoá, các doanh nghiệp sẽ có được những sự thay đổi cơ hộitiếp cận được mọi nguồn lực trong xã hội, nâng cao trình độ quản lý, côngnghệ và nhân sự, làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thịtrường Theo đó từ khoảng 6500 doanh nghiệp nhà nước vào đầu năm 2001
đã rút gọn xuống còn khoảng hơn 1.700 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.(Thống kê Bộ tài chính vào tháng 10/2009) kéo theo đó số nhân viên làm
Trang 11trong doanh nghiệp nhà cũng được tinh giảm xuống nhanh chóng thực vớikhoảng 1,9 triệu lao động 54,8 triệu lao động toàn xã hội tức là chỉ sử dụngkhoảng 3,5% số lao động hiện có trong nền kinh tế Nhưng chỉ với ngần ấylao động, các DNNN đã tạo ra 27% GDP của Việt Nam trong năm 2008 nócho thấy sự hiệu quả trong việc tạo ra lợi nhuận của các doanh nghiệp nhànước trong khi cùng thời kì với các doanh nghiệp tư nhân chiếm nhiều laođộng nhất với 53,7% và tạo ra 46,1% GDP Nghĩa là 1 lao động ở trong khuvực nhà nước hiệu quả gấp 9 lần so với 1 lao động ở khu vực tư nhân.
Mặc dù số DNNN bị tinh giảm khá nhiều nhưng với sự đầu tư lớn củanhà nước, các DNNN cũng đã đầu tư nhiều dự án trọng điểm quan trọng vớivốn lớn và qua đó, gián tiếp tạo ra công ăn việc làm tại từng địa phương có
dự án đầu tư ví dụ dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất, Quảng Ngãi với vốnđầu tư tổng cộng là 3,5 tỉ USD,nó đã tạo ra 12.000 việc làm trong suốt quátrình xây dựng và khoảng 2000 kĩ sư sẽ làm việc tại đây khi nhà máy đượcvận hành tối đa
Bên cạnh đó mức lương của người lao động ngày một được cải thiệntheo Theo dự toán mới nhất được thông qua, việc tăng lương tối thiểu lên830.000 đồng một tháng được thực hiện từ 1/5/2011 từ mức 730.000 nhưhiện nay, nghĩa là sẽ tăng khoảng 13,7%,đây là mức tăng khá cao và theo Bộtrưởng Nội vụ Trần Văn Tuấn đánh giá thì tăng lương đã vượt mức tăng lạmphát,nó sẽ giúp cho những người lao động đang làm việc trong DNNN cóthể trang trãi thêm trong chi tiêu hàng ngày
2.5 Giúp cho nền kinh tế tự chủ hơn, hạn chế sự phụ thuộc và nguy cơ bị thâu tóm của nước ngoài.
Trang 12Ngày nay DNNN giữ vài trò là xương sống của nền kinh tế với việcnắm hầu hết các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế với sự hỗ trợ rất lớn từphía chính phủ về vốn và nguồn nhân lực đã giúp cho các DNNN ngày càngphát triển và có thể cạnh tranh được với các công ty nước ngoài góp phầnvào sự tăng trưởng, ổn định và tự chủ của nền kinh tế Hiện nay Việt Namđang có khoảng 8 tập đoàn và 90 tổng công ty Nhà nước đang hoạt động trêncác lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế như: viễn thông, hàng không, dầukhí, đóng tàu, khai thác than, bảo hiểm v.v… Đó là những lãnh vực có tácđộng sâu xa đến các hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước khác Ngoài
ra còn có 6 ngân hàng thương mại và ngân hàng chính sách cũng tác độngrất mạnh mẽ đến thị trường tín dụng
Với việc sỡ hữu những DN có vai trò quan trọng trong nền kinh tếcũng giúp chính phủ điều chỉnh tình hình an ninh lương thực và an ninhnăng lượng theo hướng giảm lệ thuộc vào nước ngoài và từng bước nâng caokhả năng và đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Ví dụ như những ngành nhưđiện, khai khoáng, dầu khí, viễn thông… VN đang từng bước làm chủ côngnghệ và phát triển Hiện nay VN là một trong những nước có sản lượng tàubiển tính theo khối lượng hàng đầu thế giới, là nước có đường dây 500KVdài nhất Đông Nam Á và là nước có sự phát triển về hạ tầng viễn thôngnhanh nhất Châu Á…
Ngoài ra cùng với quá trình cạnh tranh các DNNN cũng từng bướcvươn ra nước ngoài để đầu tư điều đó cũng đóng góp những thuận lợi nhấtđịnh cho các chính sách đối ngoại và đối nội của chính phủ đồng thời giatăng ảnh hưởng của VN ra nước ngoài, ví dụ như sự đầu tư của tập đoàn dầu
Trang 13khí của VN ở Venuezela, một số nước Đông Âu hay hợp tác với một số công
ty dầu khí của Mỹ, Anh, ngoài ra còn có sự đầu tư của Viettel, BIDV vào thịtrường Campuchia … điều đó cũng giúp nâng cao vị thế của VN trong quan
hệ kinh tế và chính trị với các nước
2.6 Cung cấp các sản phẩm phù hợp với mức sống của người dân.
Vì mục đích tồn tại của DNNN không chỉ đơn thuần là mục đích kinh
tế mà còn có chức năng chính trị to lớn Vì vậy ngoài việc đạt được lợinhuận trong kinh doanh các DNNN còn có chức năng hỗ trợ xã hội Ví dụ:hiện nay chúng ta vẫn đang được dùng than với giá rẻ hơn so với các nướctrong khu vực vì TKV đã lấy lợi nhuận từ xuất khẩu với giá cao để bù đắpcho giá than trong nước, ngoài ra giá điện của VN cũng rẻ hơn với nhiềunước trong khu vực… Ngoài ra vào các dịp cao điểm như lễ, tết các DNNNcũng có nhiều chương trình giảm giá nhằm bình ổn giá cả thị trường giúpcho đời sống của người dân ít biến động hơn
Ngoài ra việc nắm giữ hầu hết các lĩnh vực quan trọng cũng giúp chocác DNNN có thể tạo ra mặt bằng giá cả giúp định hướng giá cả thị trườngsao cho phù hợp với thực trạng của nền kinh tế Đồng thời nó cũng có tácđộng tới các thành phần kinh tế khác
3 Doanh nghiệp nhà nước không nên nằm trong khu vực công.
Trang 14Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp hoạt động dựa vào vốncủa nhà nước Chính vì là “con đẻ” nên doanh nghiệp nhà nước được hưởngrất nhiều ưu đãi mà các loại hình doanh nghiệp khác không có, nhưng hìnhnhư chính vì tâm lý ỷ lại mình là “con đẻ ” nên DNNN đã tỏ ra quá chậm trễtrong việc phát triển Ở nước ta, nhà nước đã bảo hộ quá nhiều cho DNNN,tạo tất cả điều kiện thuận lợi từ vốn, đất đai, nguồn nhân lực… nên làm cho
áp lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp Nhà Nước giảm đi đáng kể, vànhư một quy luật tất yếu: khi áp lực cạnh tranh không có thì động lực pháttriển, động lực đổi mới sẽ không còn Đây là nguyên nhân chủ làm cho cácdoanh nghiệp nhà nước hoạt động không hiệu quả Trong những năm quachính phủ đã không ngừng rót vốn và tiếp tục bảo hộ cho DNNN với mộtniềm tin DNNN sẽ là đẩu tàu trong công cuộc phát triển nền kinh tế song kếtquả thu về là gì?
3.1 Thứ nhất, trong 10 năm trở lại đây tỷ lệ đóng góp của khu vựcDNNN cho ngân sách nhà nước trung bình chưa tới 20% và ngày một giảm
so với chính mình cũng như so với khu vực tư nhân (bao gồm khu vựcDNDD và FDI) Nếu như trong giai đoạn 2001-2005, DNNN đóng góp19,6% cho ngân sách, cao gần gấp rưỡi so với khu vực tư nhân, thì trong giaiđoạn 2006-2009, tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn 17%, tức là chỉ bằng bốnphần năm so với khu vực tư nhân
3.2 Thứ hai, đóng góp của khu vực DNNN vào GDP cũng đi theo
xu hướng tương tự Báo cáo của Chính phủ thường dẫn số liệu của Tổng cụcThống kê cho rằng DNNN tạo ra khoảng 35% GDP của Việt Nam, nhưngđiều này không chính xác vì 35% là tỷ lệ đóng góp của cả khu vực nhà nước
- trong đó DNNN chỉ là một bộ phận
Trang 15Sau khi trừ đi GDP tạo ra từ các hoạt động của khu vực nhà nước nằmngoài DNNN (như quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng, đảm bảo xã hội,văn hóa, y tế, giáo dục, thể dục thể thao, hoạt động đoàn thể ) thì trong giaiđoạn 2006-2009, khu vực DNNN trung bình chỉ tạo ra khoảng 28% GDP,giảm từ mức 30% của giai đoạn 2001-2005.
Hơn nữa, đóng góp của khu vực DNNN vào tăng trưởng GDP đãgiảm từ mức 33% trong giai đoạn 2001-2005 xuống 19% trong giai đoạn2006-2009, nguyên nhân là do tốc độ tăng GDP của khu vực DNNN giảm từ7,6% xuống 4,0% - tức là chỉ bằng một nửa so với khu vực tư nhân
3.3 Thứ ba, về phương diện lao động - việc làm, kết quả điều tradoanh nghiệp của Tổng cục Thống kê cho thấy tỷ trọng lao động của khuvực DNNN giảm rất nhanh từ mức 44% trong giai đoạn 2001-2005 xuốngchỉ còn 24% trong giai đoạn 2006-2008 Không những thế, tỷ lệ tạo ra việclàm mới cũng giảm một cách tương ứng từ -4% xuống -22%, tức là DNNNkhông những không tạo ra việc làm mới mà còn cắt giảm lao động, do vậyđặt gánh nặng tạo việc làm mới hoàn toàn trên vai của khu vực tư nhân, chủyếu là của khu vực dân doanh
Đã đành việc cắt giảm lao động là hệ quả khó tránh khỏi trong quátrình cổ phần hóa DNNN, nhưng nếu DNNN thực sự ngày một lớn mạnh thìchúng cũng phải có khả năng tạo ra việc làm mới, một yêu cầu tối quantrọng đối với một nền kinh tế đang phát triển nhanh và có lực lượng laođộng trẻ dồi dào như Việt Nam
Trang 163.4 Thứ tư, nếu nhìn vào hoạt động sản xuất công nghiệp, lĩnh vựctrung tâm trong chiến lược phát triển theo hướng công nghiệp hóa của ViệtNam, thì vai trò của khu vực DNNN cũng hết sức khiêm tốn Nếu như vàonăm 1995, tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực nhà nước và tưnhân là 50%-50%, thì đến năm 2009, tỷ lệ này chỉ còn là 20-80%.
Không những thế, tỷ lệ đóng góp vào tăng trưởng giá trị sản xuất côngnghiệp của khu vực nhà nước (theo giá cố định) đã giảm từ 29% trong giaiđoạn 2001-2005 xuống chỉ còn 8% trong giai đoạn 2006-2009 Trong khi
đó, đóng góp của khu vực dân doanh tăng từ 34% lên 46% trong cùng thờikỳ
3.5 Thứ năm, có bằng chứng cho thấy các DNNN đóng góp mộtcách khiêm tốn cho kim ngạch xuất khẩu nhưng lại là nơi tạo ra một tỷ lệ lớnkim ngạch nhập khẩu Vì các nguồn số liệu chính thức hiện nay không táchbạch số liệu xuất - nhập khẩu của khu vực DNNN và DNDD nên kết quảxuất - nhập khẩu của hai khu vực này chỉ có thể được ước tính một cách gầnđúng Cụ thể là sau khi trừ dầu thô, than và khoáng sản thì DNNN chỉ tạo rakhoảng 15-20% tổng kim ngạch xuất khẩu
DNNN không ngững không đóng góp nhiều cho nền kinh tế màmột số DNNN còn lạm dụng và có những hành động tham nhũng gây hậuquả nghiêm trọng đối với nền kinh tế Một số ví dụ cho ta thấy được ảnhhưởng không tốt của các DNNN đối với toàn bộ nền kinh tế:
- ảnh hưởng của ngành điện:
- điện là nguồn năng lượng thiết yếu để duy trì cuộc sống sinhhoạt của người dân, tác động trực tiếp đến sự phát triển của nền kinh tế và