Theo đó, “Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 2020 và tầm nhìn đến năm 2050” với 3 nhiệm vụ chiến lược: Giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch năng lượng tái tạo: Giai đoạn 2011 2020, nhiệm vụ Chiến lược đề ra là giảm cường độ phát thải khí nhà kính 8 10% so với mức 2010, giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP 1 1,5% mỗi năm. Giảm lượng phát thải khí nhà kính trong các hoạt động năng lượng từ 10 20% so với phương án phát triển bình thường. Trong đó, mức tự nguyện khoảng 10%, 10% còn lại mức phấn đấu khi có thêm hỗ trợ quốc tế. Đến năm 2030, giảm mức phát thải khí nhà kính mỗi năm ít nhất 1,5% 2%, giảm lượng phát thải khí nhà kính trong các hoạt động năng lượng từ 20 30% so với phương án phát triển bình thường. Trong đó, mức tự nguyện 20%, 10% còn lại mức phấn đấu khi có thêm hỗ trợ quốc tế. Đến năm 2050, giảm mức phát thải nhà kính mỗi năm 1,5 2%. Xanh hóa sản xuất: Thực hiện một chiến lược công nghiệp hóa sạch thông qua rà soát, điều chỉnh những quy hoạch ngành hiện có, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên, khuyến khích phát triển công nghiệp xanh, nông nghiệp xanh với cơ cấu ngành nghề, công nghệ, thiết bị bảo đảm nguyên tắc thân thiện với môi trường, đầu tư phát triển vốn tự nhiên; tích cực ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm.
Trang 1Trước sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế VN……… Những cách thức mà chính phủ có thể sử dụng để đối phó với các yếu tố ngoại cảnh:
1 Quyết định Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh.
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt “Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ
2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2050” (Quyết định số: 1393/QĐ-TTg, ngày 25/9/2012), với mục tiêu tổng quát, tăng trưởng xanh, tiến tới nền kinh tế các-bon thấp, làm giàu vốn tự nhiên trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển kinh tế bền vững; giảm phát thải và tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính dần trở thành chỉ tiêu bắt buộc và quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội.
Theo đó, “Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm2050” với 3 nhiệm vụ chiến lược:
Giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch năng lượng tái tạo: Giai đoạn 2011 - 2020, nhiệm vụ Chiến lược đề ra là giảm cường độ phát thải khí nhà
kính 8 - 10% so với mức 2010, giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP 1 - 1,5% mỗi năm Giảm lượng phát thải khí nhà kính trong các hoạt động năng lượng từ 10 - 20% so với phương
án phát triển bình thường Trong đó, mức tự nguyện khoảng 10%, 10% còn lại mức phấn đấu khi có thêm hỗ trợ quốc tế.
Đến năm 2030, giảm mức phát thải khí nhà kính mỗi năm ít nhất 1,5% - 2%, giảm lượng phát thải khí nhà kính trong các hoạt động năng lượng từ 20 - 30% so với phương án phát triển bình thường Trong đó, mức tự nguyện 20%, 10% còn lại mức phấn đấu khi có thêm hỗ trợ quốc tế.
Đến năm 2050, giảm mức phát thải nhà kính mỗi năm 1,5 - 2%.
Xanh hóa sản xuất: Thực hiện một chiến lược "công nghiệp hóa sạch" thông qua rà soát, điều
chỉnh những quy hoạch ngành hiện có, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên, khuyến khích phát triển công nghiệp xanh, nông nghiệp xanh với cơ cấu ngành nghề, công nghệ, thiết
bị bảo đảm nguyên tắc thân thiện với môi trường, đầu tư phát triển vốn tự nhiên; tích cực ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm.
Đến 2020, giá trị sản phẩm ngành công nghệ cao, công nghệ xanh trong GDP là 42 - 45%;
tỷ lệ cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn môi trường là 80%, áp dụng công nghệ sạch hơn 50%, đầu tư phát triển các ngành hỗ trợ bảo vệ môi trường và làm giàu vốn tự nhiên phấn đấu đạt 3 - 4% GDP.
Xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững: Nhằm xanh hóa lối sống và thúc đẩy
tiêu dùng bền vững, Chiến lược đặt nhiệm vụ kết hợp nếp sống đẹp truyền thống với những phương tiện văn minh hiện đại để tạo nên đời sống tiện nghi, chất lượng cao mang đậm bản sắc dân tộc cho xã hội Việt Nam hiện đại Thực hiện đô thị hóa nhanh, bền vững, duy trì lối sống hòa hợp với thiên nhiên ở nông thôn và tạo lập thói quen tiêu dùng bền vững trong bối cảnh hội nhập với thế giới toàn cầu.
Đến năm 2020, 60% đô thị loại III có hệ thống thu gom và xử lý nước thải đạt quy chuẩn quy định, với đô thị loại IV, loại V và các làng nghề là 40%; 100% khu vực bị ô nhiễm
Trang 2nặng được cải thiện môi trường; tỷ lệ đô thị lớn và vừa đạt tiêu chí đô thị xanh phấn đấu đạt 50%.
2 Chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế và điều chỉnh kết cấu kinh tế.
2 - Điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế Việt Nam thời hậu khủng hoảng
Trở lại Việt Nam, nền kinh tế chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường chưa được bao lâu, nhưngtình trạng sản xuất thừa đã xuất hiện trong nhiều ngành hàng, chu kỳ tăng trưởng giảm đang được lặp đilặp lại với khoảng thời gian 10 năm đã lộ rõ Nền kinh tế ngày càng lệ thuộc vào thị trường thế giới, khikim ngạch xuất - nhập khẩu tăng mạnh cả về giá trị tuyệt đối lẫn tỷ trọng so với GDP Bởi vậy, khi nhu cầutiêu thụ trên các thị trường nước ngoài bị cắt giảm thì nền kinh tế rơi vào trạng thái khủng hoảng dâychuyền, sản xuất thừa, nhân công bị cắt giảm, thất nghiệp
Ở một khía cạnh hẹp hơn, có thể xem xét mối quan hệ tương tác giữa thị trường trong nước và thị trườngxuất khẩu Có một van an toàn để bù đắp khoản thiếu hụt nhu cầu trên thị trường xuất khẩu là kích thíchtiêu dùng trong nước Vậy có phải tái cấu trúc nền kinh tế chính là nhằm tìm cách tạo được những khảnăng để nền kinh tế có thể tránh được tối đa tác động tiêu cực của khủng hoảng? Chúng ta hẳn còn nhớ,khoảng từ năm 1998 những ý tưởng về tái cấu trúc cũng đã xuất hiện ở phương diện hướng vào thịtrường trong nước như cái "van an toàn" cho xuất khẩu khi thị trường thế giới khủng hoảng
Muốn phát triển thị trường trong nước thì phải chăm lo đến đời sống của quảng đại quần chúng nhândân, nhất là 2/3 dân số khu vực nông thôn Thế nhưng khi kinh tế thế giới phục hồi sau khủng hoảng tàichính 1997, thì chúng ta lại lao vào sản xuất, gia công để xuất khẩu, nay kim ngạch xuất khẩu đã lên tới tỷtrọng khá cao trong GDP Đến năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của chúng ta đã lên đến con số trên 70%GDP, nhưng khi thị trường thế giới bị suy thoái, hàng loạt hợp đồng bị cắt giảm, khó khăn trong việc kýcác hợp đồng xuất khẩu mới, thì câu chuyện tìm lại thị trường trong nước bắt đầu sôi động trở lại Thịtrường trong nước là gì, ai tham gia, hiện trạng nó đang như thế nào, lại được tiếp tục bàn cãi
Từ giữa năm 2009, chúng ta lại bàn tới tái cấu trúc nền kinh tế để đề kháng với khủng hoảng, để biếnthách thức thành thời cơ Nhưng mức độ hội nhập về lĩnh vực xuất - nhập khẩu đã khá sâu, đã tạo ramối quan hệ lệ thuộc quá lớn vào thị trường thế giới, mà chưa có một biện pháp phòng ngừa rủi ro nàocho thật căn cơ và bài bản Đây cũng là vấn đề cần được bàn tính kỹ
Dưới sự tác động nhiều chiều của cuộc khủng hoảng lần này, mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết, có thể kể đến như sau:
Thứ nhất, sản xuất, gia công để hướng ra xuất khẩu làm cho nền kinh tế lệ thuộc sâu vào thế giới, nhưng
lại xem nhẹ thị trường trong nước Lúc sức tiêu thụ bên ngoài giảm mạnh, thì những mặt hàng gia công xuất khẩu không dựa trên cơ sở nhu cầu thực tế của người tiêu dùng trong nước, nên lúng túng trướcviệc quay lại với thị trường nội địa Đó là chưa nói tới đặc thù của nhu cầu thị trường trong nước cũngkhông hẳn trùng khớp với thị trường xuất khẩu Có một sự giả định rằng, trong lúc nền kinh tế đangđương đầu với lạm phát gia tăng năm 2008 mà được "hỗ trợ" bởi lượng hàng hóa xuất khẩu quay trở lạithị trường trong nước do bị tác động bởi khủng hoảng kinh tế và suy thoái bên ngoài (với giả định là thịtrường trong nước hấp thu được số hàng hóa xuất khẩu bị từ chối đó), thì có lẽ nền kinh tế đã có tốc độtăng trưởng khác chứ không như hiện nay Dường như Trung Quốc đã tận dụng được cơ hội này tốt hơn
-ta Tỷ lệ mậu dịch trên GDP của Việt Nam là 156, trong khi của Trung Quốc là 71,3 Đối với Việt Nam, cácsản phẩm nông nghiệp, nhiên liệu và khoáng sản chiếm 46,3% tổng kim ngạch xuất khẩu, đối với TrungQuốc con số này chỉ là 6,7% Trung Quốc cung cấp chính cho thị trường Việt Nam về máy móc, máy tính,hóa chất và hàng dệt may Lượng trái cây và các loại rau nhập khẩu từ Trung Quốc lớn gấp 3 lần số
Trang 3lượng mà Trung Quốc mua của Việt Nam Việt Nam xuất khẩu 70% mủ cao su sang Trung Quốc, nhưngcác sản phẩm cao su chế tạo từ Trung Quốc chiếm tới 2/3 số mặt hàng này trên thị trường Việt Nam.Năm 2007 thặng dư thương mại với Mỹ đã giúp trang trải 92% thâm hụt thương mại của Việt Nam vớiTrung Quốc(3).
Theo đánh giá của tờ The Asian Age (Ấn Độ), ngày 23-10-2009, các gói kích thích kinh tế của TrungQuốc cũng có những khác biệt với Mỹ và phương Tây Nếu chi tiêu của đại đa số các chính phủ, nhất là
Mỹ, đều hướng vào tiêu thụ, dưới hình thức trợ cấp, tiền lương, phúc lợi y tế , thì phần lớn các khoảnkích thích kinh tế của Trung Quốc vừa qua được sử dụng để đầu tư cho sự tăng trưởng kinh tế trongtương lai: kết cấu hạ tầng, các công nghệ mới v.v ; khoảng 200 tỉ USD cho phát triển đường sắt (trongkhi Mỹ chi chưa đầy 20 tỉ USD), ngoài ra còn xây dựng thêm các tuyến đường mới với tổng chiều dàikhoảng 44.000 dặm, 100 sân bay mới sẽ đi vào hoạt động trong thập niên tới(4)
Thứ hai, tăng trưởng nhanh chủ yếu dựa vào các yếu tố mang tính chất "quảng canh"- theo chiều rộng,
không chú ý các yếu tố chiều sâu Khoảng 54% tăng trưởng là do yếu tố tăng vốn đầu tư Năng suất củacác nhân tố tổng hợp chậm được cải thiện, thậm chí giảm dần Bởi vậy, càng thúc đẩy tăng trưởngnhanh, quy mô vốn, quy mô sản xuất càng phải tăng mạnh, trong lúc giá trị gia tăng thấp Những khâu giacông xuất khẩu cũng thường có giá trị gia tăng thấp cộng với gánh nặng về xã hội, phải ưu tiên cho côngnghệ sử dụng nhiều lao động để tạo nhiều việc làm và sự khai thác thái quá đặc điểm lao động rẻ, Rútcục, càng tăng trưởng thì càng cần thu hút thêm nhiều đầu tư, nhưng đầu tư lại kém hiệu quả, hệ sốICOR càng tăng, năng lực cạnh tranh càng ít có điều kiện để được cải thiện Số liệu thống kê cho thấy,ICOR của nền kinh tế nói chung và của các ngành nói riêng đều có xu hướng tăng trên cả ba khu vực:kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Bởi vậy, gần đây nhiều học giả đã nói đến cái bẫy của thu nhập trung bình, hay cái bẫy của việc theo đuổităng trưởng nhanh chính là cảnh báo cho tính kém bền vững, kém đồng bộ và mất cân đối của nền kinh
tế, mà muốn điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế theo hướng tăng trưởng nhanh, hiệu quả và bền vững là phảikhắc phục được những khiếm khuyết cố hữu của nó
Đã thế, trong điều hành vĩ mô cũng đang còn nhiều mặt tồn tại Có lẽ trong nghiên cứu, các nhà kinh tếcũng nên xác định được rằng, đối với nền kinh tế đang cần đầu tư lớn (trong đó đầu tư dài hạn chiếm tỷtrọng đáng kể) để tăng trưởng nhanh, thì mức độ lạm phát an toàn hay hợp lý cho chính nền kinh tế ViệtNam(5) thường cũng cao hơn những nước công nghiệp phát triển, chứ không thể giống nhau được Nếulạm phát ở mức 3%, như IMF khuyến nghị, thì môi trường đầu tư không thể năng động được, chưa nóinền kinh tế có thể rơi vào trạng thái thiểu phát, thiếu tiền mặt trong lưu thông Trên thực tế đã có lúcchúng ta vừa phải đối mặt với thiểu phát cục bộ, vừa chống lạm phát Như Nhật Bản đang phải đối phóhiện nay thì thiểu phát cũng không kém phần nguy hiểm so với lạm phát
Kích cầu, hay nói chuẩn xác hơn là kích thích kinh tế, có nghĩa là "tăng ga" cho "cỗ xe" kinh tế Việt Nam.Vấn đề là kích cầu có trọng tâm, trọng điểm Chẳng hạn, kích thích tăng trưởng vào những lĩnh vực chiếnlược mà khi kinh tế phục hồi thì chúng ta đã chuẩn bị mọi điều kiện để "cất cánh" Đó chính là cơ hội đểđầu tư vào kết cấu hạ tầng và nông thôn, là căn chỉnh lại các cân đối lớn của nền kinh tế, như nănglượng, điện, hệ thống lưu thông phân phối; hay tập trung vốn để hoàn thành dứt điểm những công trìnhđầu tư sắp kết thúc, nhằm giảm tỷ lệ vốn đầu tư "chết" do các công trình chậm tiến độ, ngâm vốn và dàntrải hiện đang khá lớn Kích thích kinh tế như vậy giống như một mũi tên trúng ít nhất hai đích sau:
- Những ngành, những lĩnh vực đó đòi hỏi phải đầu tư dài hạn, nên nó sẽ góp thêm cung tiền, làm cholạm phát có thể nhích lên đôi chút, nhưng chúng ta tạo được việc làm, tăng thu nhập cho nền kinh tế màkhông những không làm tăng thêm cung vốn đang bị thừa do khủng hoảng, nhất là cung tiêu dùng, màcòn tạo thêm cầu nhờ thu nhập của khối lao động trong khu vực này
Trang 4- Phát triển nông thôn chính là tạo nền tảng cho phát triển thị trường trong nước, vì số dân đông, nhưngthu nhập bằng tiền mặt rất hạn chế Trung Quốc đã khai thác rất tốt đặc điểm này của kinh tế Việt Nam.Nhìn vào các sạp hàng tiêu dùng tại Việt Nam, đa phần là hàng hóa nhập từ Trung Quốc, từ cái kim, sợichỉ, đến đồ chơi các loại với giá rất rẻ, hợp túi tiền của đa số dân nghèo Nên không khéo kích cầu lạirơi vào hàng nhập khẩu giá rẻ chính là ở khâu này Doanh nghiệp Việt Nam đã làm được khá nhiều,nhưng chắc chắn là chưa đủ Bởi vậy, chúng tôi ủng hộ quan điểm cho rằng, nếu cân nhắc thấy thật sựcần thiết cho nền kinh tế, mà khu vực tư nhân và khu vực đầu tư nước ngoài không làm, thì nhất thiếtphải đầu tư từ ngân sách, trong đó có việc phát huy vai trò của doanh nghiệp nhà nước.
Điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế hiện nay là phải nhắm đến thời kỳ kinh tế thế giới phục hồi hoàn toàn với
hy vọng có sự thay đổi nào đó trong trật tự kinh tế thế giới, đồng thời tìm cách để kinh tế Việt Nam thamgia tốt nhất vào chuỗi giá trị toàn cầu, phân công lao động toàn cầu Muốn làm được điều đó, điều chỉnh
cơ cấu nền kinh tế phải gắn chặt với điều chỉnh cơ cấu lại thị trường, bao gồm thị trường trong nước, thìtrường nước ngoài, và mối quan hệ giữa thị trường nội địa và thị trường quốc tế
Kết nối giữa hai thị trường này làm sao để thị trường trong nước có thể làm tốt vai trò "van an toàn" cho thị trường xuất khẩu Nhiều học giả chỉ trích vấn đề gia công là đúng, nhưng để có những bước đi ban đầu chúng ta phải chấp nhận gia công, điều quan trọng là chúng ta phải biết tận dụng giai đoạn này một cách hiệu quả nhất để xây dựng thương hiệu, hội nhập vào chuỗi phân phối và chuỗi giá trị toàn cầu, sớmthoát ra và thay đổi từ gia công sang sản xuất - chế tác có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu, từng bước có thương hiệu và củng cố dần uy tín thương hiệu cả quốc gia lẫn ngành hàng sản phẩm(6)./
3 Chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế theo hướng nền kinh tế xanh ở Việt Nam.
Chuyển đổi phương thức phát triển, hướng tới phát triển “Nền kinh tế xanh” là hướng tiếp cận mới, tuynhiên xét về dài hạn đây là hướng tiếp cận phù hợp với xu thế phát triển chung của hệ thống kinh tế toàn cầuLịch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua các phương thức phát triển kinh tế khác nhau, từ chế
độ cộng sản nguyên thủy, sang chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, tư bản chủ nghĩa (kinh tế thịtrường), quá độ xã hội chủ nghĩa (kinh tế kế hoạch hóa tập trung) và hiện nay đang tìm một hướng đimới là sự tích hợp của những ưu điểm các phương thức phát triển đã có điển hình là Trung Quốc vàViệt Nam theo mô hình “Kinh tế thị trường định hướng XHCN”, trên cơ sở đó có sự đổi mới phát triểnkinh tế phù hợp với từng quốc gia và từng giai đoạn nhằm mang lại phúc lợi tốt nhất cho con người.Với xu hướng Hội nhập và chia sẻ kinh nghiệm phát triển kinh tế trong thời gian vừa qua, nhất là từ năm
1945 đến nay, mặc dù kinh tế thế giới đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng các mô hình phát triển kinh tếtrong giai đoạn này theo kiểu nền kinh tế “nâu”, đó là một nền kinh tế khai thác và sử dụng quá nhiều nănglượng từ nhiên liệu hóa thạch và các nguồn tài nguyên thiên nhiên, gây ra những tổn hại to lớn cho môitrường như ô nhiễm không khí, nguồn nước và đại dương, suy thoái đất, mất rừng và suy giảm đa dạng sinhhọc Người ta đang cho rằng với phương thức phát triển cũ đã phát thải quá nhiều khí gây hiệu ứng nhà kínhnhư CO2, SO2, CH4… là nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu diễn ra với quy mô toàn cầu đe dọa cuộcsống con người và gây ra tổn thất cho hoạt động kinh tế Nhằm thay đổi tình trạng này, Chương trình môitrường Liên Hợp Quốc (UNEP) đã đưa ra một hướng tiếp cận mới cho phát triển kinh tế được nhiều quốcgia đồng tình hưởng ứng, đó là phát triển “nền kinh tế xanh” (Green Economy)
Việt nam là quốc gia đang phát triển, kể từ khi “Đổi mới” và mở cửa với kinh tế thế giới (1986), nhất là
từ sau Đại hội VI, Đảng cộng sản Việt Nam đã chuyển sang phương thức phát triển mới “Xây dựng mộtnền kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN, có sự quản lý củaNhà nước”, kể từ đó đến nay đã đạt được nhiều thành tựu trong tăng trưởng kinh tế, đời sống người dânkhông ngừng được nâng cao, hiện nay Kinh tế Việt nam đã đạt đến mức phát triển trung bình Tuynhiên trong 25 phát triển đó, Việt Nam đã phải trả giá cho sự suy giảm tài nguyên và ô nhiễm môitrường là không nhỏ Để khắc phục tình trạng này và rút ngắn khoảng cách trong phát triển có tính dài
Trang 5hạn nhằm phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới, mang lại phúc lợi tốt nhất cho ngườidân, yêu cầu chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế là tất yếu nhằm “Đổi mới mô hình tăng trưởng,
cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng đảm bảo phúc lợi và bảo vệ Tài nguyên môtrường”, muốn vậy nên tiếp cận theo hướng “nền Kinh tế xanh”
I Nội hàm phát triển của nền Kinh tế xanh.
UNEP đã đưa ra khái niệm ban đầu cho rằng: “Nền kinh tế xanh là kết quả mang lại phúc lợi cho conngười và công bằng xã hội, nó có ý nghĩa giảm những rủi ro môi trường và khan hiếm sinh thái” Từkhái niệm đó cho thấy, phát triển một nền kinh tế xanh thực chất là vì con người, đảm bảo phúc lợi caonhất, đạt mục tiêu công bằng về mặt xã hội và hạn chế tối đa những rủi ro cho môi trường và hệ sinhthái, tôn tạo và phát triển hệ sinh thái tự nhiên Một nền kinh tế xanh đơn giản là một nền kinh tế cómức phát thải thấp, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo tính công bằng vềmặt xã hội Trong nền kinh tế xanh, sự tăng trưởng về thu nhập và việc làm thông qua việc đầu tư củaNhà nước và tư nhân cho nền kinh tế làm giảm thiểu phát thải cacbon, giảm thiểu ô nhiễm môi trường,
sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên, ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học và dịch vụ của hệsinh thái Như vậy khác với trước đây, trong “nền kinh tế nâu”, đầu tư công cần phải có sự điều chỉnh
cơ bản thông qua những chính sách mới được cải thiện của các quốc gia, ưu tiên cho duy trì và pháttriển nguồn vốn tự nhiên, nhất là những nguồn tài sản thuộc sở hữu chung mang lại lợi ích cho mọingười Sự đầu tư đó cũng cần chú ý tới nhóm người nghèo, bởi sinh kế và an sinh của họ phụ thuộcnhiều vào tự nhiên và họ là những đối tượng dễ bị tổn thương do tác động của thiên tai cũng như sựbiến đổi khí hậu
Xét về mặt học thuật, “Nền kinh tế xanh” là sự nâng cấp của “Kinh tế môi trường”, trong kinh tế môi trường
về bản chất đó là “Nghiên cứu mối quan hệ tương tác, phụ thuộc và quy định lẫn nhau giữa kinh tế và môitrường (hệ thống hỗ trợ cuộc sống của trái đất) nhằm bảo đảm một sự phát triển ổn định, hiệu quả, liên tục
và bền vững trên cơ sở bảo vệ môi trường và lấy con người làm trung tâm”, kinh tế xanh nhấn mạnh hơnđầu tư cho phát triển chú trọng tới giảm thiểu ô nhiễm, nhất là giảm phát thải cacbon và duy trì, phát triểnnguồn vốn của tự nhiên, mang lại quyền hưởng lợi của mọi người do đầu tư đó mang lại Theo kết qủanghiên cứu của các tác giả trong tài liệu “Hướng tới nền kinh tế xanh” do chương trình môi trường LiênHợp Quốc (UNEP) công bố năm 2011, mô hình kịch bản đầu tư xanh với số vốn khoảng 2% GDP toàn cầu(Khoảng 1300 tỷ USD), trong đó khoảng một phần tư của tổng số (0,5% GDP) tương đương với số tiền 350
tỷ USD được đầu tư cho các lĩnh vực sử dụng nhiều vốn tự nhiên như các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp,nước sạch và thủy sản Trong mô hình kinh tế vĩ mô, các tác giả cũng đã tính toán và chỉ ra rằng, xét trongdài hạn, đầu tư vào nền kinh tế xanh sẽ cải thiện hiệu quả kinh tế và tăng tổng lượng của cải trên toàn cầu.Mặt khác sự đầu tư đó sẽ đem lại hiệu quả trong việc phục hồi các nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo,giảm thiểu những rủi ro môi trường và tái thiết sự thịnh vượng cho tương lai Như vậy xây dựng một nềnkinh tế xanh cũng không thay thế và mâu thuẫn với “Phát triển bền vững”, vì phát triển bền vững thực chất
là "sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhucầu của các thế hệ tương lai", phát triển bền vững nhằm đạt tới mục tiêu dài hạn (mục tiêu thiên niên kỷ),còn xanh hóa nền kinh tế là phương tiện đưa chúng ta tới đích của phát triển bền vững
2 Nền kinh tế xanh là mục tiêu hướng tới của kinh tế toàn cầu.
Mặc dù khái niệm Kinh tế xanh (Green Economy) mới được UNEP đề xuất, nhưng nội hàm của nónhư đã đề cập ở trên thực chất là sự nâng cấp của khái niệm truyền thống trước đây là Kinh tế môitrường “Environmental Economy”, tuy nhiên “kinh tế xanh đã mở ra một hướng tiếp cận rộng hơn cho
cả những điều chỉnh từ chính sách kinh tế vĩ mô và điều hành thực hiện trong kinh tế vi mô, nhất là đốivới chính sách công trong đầu tư cho khôi phục tài nguyên và môi trường Khái niệm mới ra đời nhưngtrong thực tế đã có nhiều quốc gia đã và đang thực hiện theo hướng xanh hóa nền kinh tế, thậm chí cácchỉ tiêu đo lường đã được một số quốc gia áp dụng như GDP xanh (Green GDP) cho chỉ tiêu kinh tế vĩ
mô Đối với hoạt đông của doanh nghiệp, những sản phẩm có chất lượng cao và có sức cạnh tranh trênthế giới trong thời gian vừa qua cũng là những sản phẩm không chỉ đạt về mặt chất lượng mà còn đảmbảo yêu cầu về môi trường, đó là những sản phẩm đã đăng ký và được cấp chứng chỉ ISO-14000,
Trang 6những sản phẩm xanh được cấp nhãn sinh thái (Eco-label), những sản phẩm đó chính là sự lựa chọn củangười tiêu dùng Tại Hội nghị của các quan chức cấp Bộ trưởng do UNEP tổ chức ở Nairobi, Kenyatháng 02-2011 nhằm chuẩn bị nội dung và thảo luận những vấn đề cần đưa ra bàn thảo và thống nhất đểchuẩn bị cho Hội nghị thượng đỉnh về môi trường năm 2012 ở Rio Dejanerio, Brazin Các quốc gia cơbản nhất trí mục tiêu hướng tới của các nền kinh tế toàn cầu là “Kinh tế xanh”, trong đó cần chú trọngtới “Sản xuất và tiêu dùng bền vững”
- Từ khởi xướng của UNEP về “Kinh tế xanh”, để thực hiện nền kinh tế xanh, đòi hỏi các quốc gia căn
cứ vào thực tiễn của mỗi nước tiến hành chuyển đổi mô hình và phương thức phát triển kinh tế cho phùhợp với xu thế phát triển mới, phải có sự điều chỉnh kết cấu kinh tế Trong thực tế đã có một số nướcmặc dù không nói rõ phát triển “nền kinh tế xanh”, nhưng họ đã có những điều chỉnh và chuyển đổiphương thức phát triển không theo phương thức phát triển cũ nữa-“Kinh tế nâu” Trung Quốc là một ví
dụ, sau một thời gian dài cải cách và mở cửa từ năm 1978, Kinh tế Trung Quốc liên tục tăng trưởng ởmức cao, thu nhập của người dân không ngừng tăng lên Cụ thể nếu tính theo giá không đổi, năm 1978nếu chỉ số GDP của Trung Quốc là 100, thì năm 2010 là 2056,8; Nếu GDP bình quân đầu người vàonăm 1978 là 100, thì năm 2010 là 1470,7 Giai đoạn năm 1979-2010, GDP của Trung Quốc tăng trungbình 9,9%/năm, GDP bình quân đầu người tăng 8,8%/năm Cùng với những thành tựu đã đạt đượctrong tăng trưởng kinh tế, Trung Quốc đã gặp phải nhiều vấn đề mâu thuẫn với tài nguyên và môitrường, so với trước khi cải cách mở cửa (CCMC), tình trạng ô nhiễm môi trường và hệ sinh thái suygiảm nghiêm trọng, ô nhiễm môi trường có xu thế lan rộng, thiếu hụt tài nguyên và năng lượng chophát triển kinh tế theo xu hướng ngày càng trầm trọng; Các chất thải nguy hại tồn đọng ngày càngnhiều, nhất là các chất thải hữu cơ khó phân hủy; Nguy cơ rủi ro môi trường gia tăng Do nhu cầu sửdụng tài nguyên liên tục tăng, kết cấu tài nguyên có sự thay đổi lớn So với các nước phát triển, tiêu haonăng lượng của Trung Quốc đáng báo động, cụ thể năm 2009, tiêu hao năng lượng của tổng giá trị sảnphẩm trong nước trên một đơn vị của Trung Quốc gấp 2,9 lần Mỹ, 4,9 lần của Nhật, 4,3 lần của EU và2,3 lần của mức bình quân của thế giới Lượng tiêu dùng quặng sắt, thép thô, ôxit nhôm và xi măng lầnlượt là 870 triệu tấn, 567 triệu tấn, 26 triệu tấn và 1,6 tỷ tấn, ước tính tổng lượng tiêu dùng thế giới54%, 43%, 34% và 52% Tỷ trọng nhập khẩu những tài nguyên như dầu mỏ và quặng sắt đã vượt quá50% Có thể thấy qua hơn 30 năm CCMC Trung Quốc đã phải trả giá cho công nghiệp hóa, đô thị hóabằng bằng môi trường và thiếu hụt năng lượng và tài nguyên Chiến lược mới phát triển của TrungQuốc là “Chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế và điều chỉnh kết cấu kinh tế” nhằm hướng tới duytrì nền kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững, đề cao chất lượng tăng trưởng Quan điểm phát triểnkhoa học toàn diện, cân bằng và bền vững, nhấn mạnh bảo vệ môi trường và GDP xanh, khuyến khíchphát minh tự chủ và đổi mới kỹ thuật, ra sức ủng hộ và khuyến khích những ngành sản xuất mới, tạo ra
ưu thế cho các ngành nâng cấp qua phương thức “xanh” và phát triển bền vững Cụ thể hóa trong cácnội dung chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế, liên quan đến tài nguyên và môi trường, chiến lượcphát triển mới của Trung Quốc được thể hiện như trong hộp 1
Hộp 1: Chuyển từ phương thức phát triển kinh tế kiểu tiêu hao nhiều tài nguyên sang phương thức pháttriển kinh tế kiểu tiết kiệm tài nguyên
Để đẩy nhanh chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế, cần phải nâng cao chất lượng phát triển, nóđược thể hiện nổi bật ở chỗ giảm giá thành tài nguyên cho sự phát triển và xây dựng hệ thống nền kinh
tế quốc dân kiểu tiết kiệm tài nguyên
- Một là, lấy việc ưu tiên tiết kiệm và hiệu quả làm gốc để làm nòng cốt cho việc xây dựng hệ thốngKTQD kiểu tiết kiệm tài nguyên toàn diện, nâng cao vị trí quan trọng của việc tiết kiệm tài nguyêntrong chiến lược phát triển Kinh tế-xã hội, nâng cao hiệu suất sử dụng tài nguyên, thêm một bước nữatăng cường hướng dẫn về chính sách cho việc tiết kiệm tài nguyên, ra sức điều chỉnh và tối ưu hóa kếtcấu ngành nghề, ra sức khai thác và phổ biến kỹ thuật tiết kiệm tài nguyên, loại bỏ công nghệ và thiết bịlạc hậu, tăng cường quản lý các khâu về sản xuất, vận chuyển, tiêu dùng tài nguyên
- Hai là, lấy việc ra sức phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế sản sinh lượng Carbon thấp làm con đường
cơ bản xây dựng hệ thống kinh tế quốc dân kiểu tiết kiệm tài nguyên
Trang 7- Ba là, lấy việc tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm nước, tiết kiệm nguyên liệu, tiết kiệm đất và sử dụngtổng hợp nguồn tài nguyên làm trọng điểm cho việc xây dựng hệ thống kinh tế quốc dân kiểu tiết kiệmtài nguyên, cố gắng tiết kiệm nguồn năng lượng, tiết kiệm nước, tiết kiệm nguyên vật liệu, tiết kiệm và
sử dụng hợp lý tài nguyên đất, thúc đẩy sử dụng tổng hợp tài nguyên
- Bốn là, lấy việc bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh làm nhu cầu cơ bản cho việc xây dựng hệ thốngkinh tế quốc dân kiểu tiết kiệm nguồn tài nguyên, một mặt phải điều chỉnh và cải thiện kết cấu tiêudùng nguồn tài nguyên, nhất là kết cấu tiêu dùng nguồn năng lượng, cố gắng giảm thiểu tác động xấucủa việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên đối với môi trường, nỗ lực thực hiện sự hòa hợp giữatài nguyên và môi trường; Mặt khác, phải đảm bảo an ninh tài nguyên, xây dựng và hoàn thiện dự trữchiến lược dầu mỏ thích ứng với sức mạnh của đất nước, tích cực quán triệt chiến lược “Bước rangoài”, thực hiện mục tiêu đa dạng hóa con đường nhập khẩu nguồn năng lượng, khai thác kỹ thuậtthay thế và tiết kiệm dầu mỏ, đảm bảo sự cung cấp dầu khí, nắm lấy thời cơ để khai thác và sử dụngnguồn năng lượng
Nguồn: GS.Dương Thu Bảo (2011), bộ môn nghiên cứu Kinh tế học Trường Đảng trung ương TrungQuốc “Chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế và điều chỉnh kết cấu kinh tế”
Với 4 nội dung đã được nêu ra trong hộp 1 đã chứng tỏ trong chuyển đổi phương thức phát triển kinh tếtrong những năm tới của Trung Quốc rất chú trọng tới tiết kiệm tài nguyên, phục hồi các nguồn tàinguyên tái tạo, duy trì và phát triển hệ sinh thái và bảo vệ môi trường Sử dụng năng lượng tái tạo vàgiảm thiểu phát thải Cac bon Những định hướng chính sách này đang được thể hiện trong thực tế, biểuhiện rõ nhất là tại thành phố Thẩm Dương và thành phố Đại Liên thuộc tỉnh Liêu Ninh ở Đông BắcTrung Quốc Tại thành phố Thẩm dương là thành phố công nghiệp nặng trước đây, đang có một quátrình quy hoạch lại, các nhà máy sản xuất cũ gây ô nhiễm đang được thay thế dần, quy hoạch mới thểhiện xanh hóa thành phố và thân thiện môi trường Tại thành phố Đại liên bộ mặt thành phố đã đượcthay đổi so với trước đây, các khu bãi rác nay đã biến thành quảng trường vui chơi giải trí, hệ thốnggiao thông có giải phân cách xanh và trồng hoa, nước thải được thu gom xử lý Các khu công nghiệpmới đã được quy hoạch hợp lý, xen kẽ cây xanh vườn hoa, điều đáng chú ý là tại các khu công nghiệpmới như khu Kim Châu có diện tích 1948 Km2, quy hoạch thu hút đầu tư nước ngoài có sự lựa chọn vàthay đổi kết cấu ngành nghề so với trước đây, trong đó phát triển 5 lĩnh vực chính là công nghệ môitrường, chế tạo ô tô sử dụng năng lượng mới thân thiện môi trường, sản xuất cấp điện bằng năng lượnggió và mặt trời, du lịch và công nghệ intel được ưu tiên mời gọi đầu tư Từ chính sách chuyển đổiphương thức phát triển kinh tế đến biểu hiện cụ thể tại các thành phố và khu công nghiệp cho thấyTrung Quốc đang hướng tới nền kinh tế xanh, phát triển theo hướng cacbon thấp và tăng trưởng xanh.Điều đó sẽ tạo ra sức cạnh tranh của các ngành sản xuất của Trung Quốc trên thị trường thế giới
- Ở Mỹ, kể từ sau khủng hoảng tài chính năm 2008 đang có một sự xem xét lại chuyển đổi phương thứcphát triển kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng việc làm, áp dụng chiến lược “Tái côngnghiệp hóa” Tháng 11 năm 2009 tổng thống Obama đưa ra mô hình tăng trưởng của Mỹ phải chuyểnsang mô hình tăng trưởng bền vững Trong chiến lược “Tái công nghiệp hóa” cho giai đoạn 10 năm tớinhằm phát triển công nghệ mới dự kiến đầu tư 15.000.000 USD hỗ trợ cho các nguồn năng lượng mới,khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tiết kiệm năng lượng, nhất là các doanh nghiệp vừa
và nhỏ, Mỹ muốn trở thành nhà lãnh đạo sạch trong công nghệ Hướng tiếp cận mới theo cách “Kinh tếcác bon thấp”, giảm thiểu phát thải khí nhà kính, để thực hiện điều đó một số luật đang được đưa ra bànthảo để đi đến quyết định ban hành như đạo luật AB 32 liên quan đến tiêu chuẩn môi trường giảm thiểukhí thải gây ô nhiễm và phát thải gây hiệu ứng nhà kính Cách tiếp cận ở Mỹ luôn lấy tiêu chí hiệu quảKinh tế để thực thi chính sách, động lực thị trường thúc đẩy đổi mới công nghệ Thực thi bảo vệ môitrường có khoa học và kế hoạch rõ ràng chia theo giai đoạn, trước hết người dân phải hiểu, thứ đến phải
có can thiệp khoa học và cuối cùng thực hiện theo chương trình kế hoạch đã có Tuy nhiên tuỳ theo đặctrưng từng vùng có kế hoạch khác nhau, ví dụ vùng cần bảo vệ nguồn nước có chương trình riêng củalĩnh vực này, bảo vệ đất hay duy trì đa dạng sinh học có chương trình cụ thể thích hợp cho từng loạiđất Trong nông nghiệp, sản xuất sản phẩm hữu cơ và kết hợp nhiều loại sản phẩm khác nhau trong một
Trang 8trang trại sản xuất được chủ trang trại phát huy cao độ Cây trồng vật nuôi được kết hợp và phù hợp vớiđặc điểm sinh thái của nơi sản xuất, duy trì chất lượng đất Tại trang trại sản xuất nông nghiệp, xuhướng tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng mặt trời khá phổ biến Chủ trang trại luôn tính toánhiệu quả kinh tế của các phương án sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, gắn sản xuất với tiêu thụ thông quaviệc hoàn thiện sản phẩm từ khâu thu hoạch đến đóng gói, đưa trực tiếp sản phẩm tới các siêu thị để đếnngười tiêu dùng nhanh nhất, hạn chế chi phí qua trung gian, tăng lợi nhuận Việc sử dụng hầm Biogas,trợ cấp cho năng lượng sạch được thực hiện ở các vùng sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi quy mô lớn.
Cơ quan dịch vụ sản xuất nông trại- FSA (Farm Service Agency) khuyến khích trang trại không sửdụng hoá chất diệt côn trùng và các dịch vụ hỗ trợ khoa học kỹ thuật khác Trong công nghiệp, vấn đềđược chú trọng nhất là tiết kiệm năng lượng và sử dụng năng lượng thay thế nhằm hạn chế sử dụngnhiên liệu hoá thạch Để quyết định lựa chọn theo hướng nào, bài toán kinh tế được tính toán theo vậnhành của cơ chế thị trường Xu hướng sử dụng năng lượng mặt trời từ việc sản xuất ra nhiều tấm pin đã
và đang được triển khai, hiện nay có khoảng 22 thành phố đã sản xuất và sử dụng, không chỉ giải quyếtcông ăn việc làm, mà còn tiết kiệm năng lượng, mang lại hiệu quả và tiếp cận theo hướng cac bon thấp Những nơi chịu nhiều rủi ro của thiên nhiên và con người như New Olean, sau cơn bão Cachina, nhiềuvùng không có người quay lại sinh sống ở các ngôi nhà cũ Chính quyền địa phương đã thiết lập lại quyhoạch khu dân cư mới với nguồn đóng góp vốn của cộng đồng và các nhà tài trợ khác, quy hoạch mớitính tới ảnh hưởng của bão, lụt và phù hợp hơn với điều kiện sinh thái tự nhiên của vùng Từ hướng tiếpcận kinh tế cac bon thấp, đối với phát triển đô thị, những khu đô thị mới, chẳng hạn khu vực sân bay cũnay không còn sử dụng ỏ gần thành phố Austin thuộc bang Taxes, được quy hoạch lại chuyển đổi sangphát triển khu dân cư sinh sống, một tổ chức phi lợi nhuận với sự tài trợ của Chính phủ và tham gia củanhiều doanh nghiệp, tiến hành quy hoạch, thiết kế các ngôi nhà và toàn bộ khu dân cư thân thiện môitrường, các ngôi nhà xanh được hình thành (Green houses) Những ngôi nhà đó so với các kiểu nhàtrước đây sẽ tiết kiệm năng lượng nhiều hơn, sử dụng năng lượng mặt trời, mang lại lợi ích nhiều hơncho chủ hộ sử dụng Hệ thống hạ tầng đồng bộ từ đường sá, thu gom phân loại và xử lý rác, các côngnghệ mới được đưa vào ngôi nhà, không gian xanh phù hợp Khái niệm “Nhà không dây điện” đã xuấthiện Xu hướng mới xây dựng nhà công sở cũng đã được thiết kế và xây dựng ở thành phố Austin,thuộc bang Texa, một ngôi nhà công sở được thiết kế theo dạng ngôi nhà xanh, tiết kiệm năng lượng, sửdụng được nước mưa, các vật dụng trang trí tận dụng chất thải và nhiều sáng kiến khác được đưa vào làhướng tiếp cận mới đã được thực hiện ở Mỹ Hệ thống giao thông, nhất là đối với các đường cao tốcquy hoạch giải phân cách xanh là yêu cầu bắt buộc Mặc dù cách giải quyết ở Mỹ theo kiểu “Kinh tếcác bon thấp”, nhưng với cách tiếp cận đó cũng là nội dung hướng tới phát triển “Nền kinh tế xanh”
- Các nước Tây Âu và Nhật bản xu hướng phát triển cũng hướng tới “Nền kinh tế sạch” và phát triển
“Nền kinh tế xanh”, các nước này đã trải qua một thời kỳ dài của quá trình công nghiệp hóa và cũng đãphải trả giá cho suy giảm tài nguyên và chất lượng môi trường Từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX, xu hướngphát triển đã có sự thay đổi, quan điểm thân thiện với môi trường và duy trì hệ sinh thái tự nhiên thôngqua chuyển đổi mô hình phát triển đầu tư vào khoa học công nghệ, xử lý ô nhiễm, giảm thiểu, tái chế vàtái sử dụng chất thải (3R) Hiện nay đang hướng tới lộ trình thực hiện và thúc đẩy các ngành sản xuấtsạch và phát triển các ngành cac bon thấp mới hình thành, nằm trong hệ thống kinh tế toàn cầu củanhóm nước công nghiệp phát triển (OECD), Tây Âu ra sức thúc đẩy đưa các chỉ tiêu về cac bon thấpvào hệ thống quy định quốc tế, với sự ra đời của tiêu chuẩn chứng nhận quốc tế về “Dấu chân cac bon”
đã mở màn cho quá trình này Còn Nhật bản tích cực xu hướng giảm thiểu cac bon thông qua Nghị địnhthư Kyoto, thực hiện triệt để 3R và tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường EU dự kiến trước năm
2013 sẽ đầu tư 105.000.000.000 € để phát triển “nền kinh tế sạch” Còn Nhật bản từ cuối năm 2009phát động chiến lược tăng trưởng mới, tập trung vào hai ngành công nghiệp mới là ngành môi trường
và năng lượng, ngành y tế, với việc đầu tư vào hai ngành này dự kiến đến năm 2020 tạo ra thị trườngmới tương đương 1 triệu tỷ Yên
- Nhóm các nước mới nổi lên nhờ quá trình công nghiệp hóa như Hàn quốc, Singapore Từ những năm
80 của thế kỷ XX họ không phải trả giá nhiều cho môi trường nhờ tiếp nhận công nghệ mới của cácnước công nghiệp phát triển và những bài học kinh nghiệm của các nước đó trước đây Mô hình phát
Trang 9triển của các nước này ngay từ đầu đã chú trọng tới môi trường và tiết kiệm tài nguyên, chính vì vậy họ
đã rút ngắn khoảng cách phát triển không chỉ đạt mục tiêu kinh tế mà chú trọng tới môi trường Hiệnnay các nước này tiếp tục phát triển theo xu hướng “Tăng trưởng xanh”, “Kinh tế cac bon thấp” vàhướng tới nền kinh tế xanh
- Các nước đang phát triển, nhất là các nước nghèo và trình độ phát triển trung bình ở châu Á, châu Phi
và châu mỹ La Tinh Ở các nước này trình độ công nghệ thấp hơn các nước phát triển, sản xuất chủ yếudựa vào nông nghiệp, khai thác và xuất khẩu tài nguyên, lao động giá rẻ, sẽ bị lôi kéo vào xu thế pháttriển mới Tuy nhiên theo nội hàm phát triển “Kinh tế xanh”, sẽ là cơ hội cho các nước này tham gia đểkhôi phục nguồn tài nguyên tái tạo, duy trì và phát triển hệ sinh thái tự nhiên và bảo vệ môi trường,tăng phúc lợi và giảm nghèo Việc tiếp cận mô hình phát triển “kinh tế xanh” sẽ đặt ra nhiều thách thức,nhất là nguồn vốn đầu tư, công nghệ và năng lực thực thi Để vượt qua được những thách thức đó, cácnước đang phát triển không chỉ phải phát huy nội lực mà còn cần sự trợ giúp của các nước phát triển,nhất là nguồn vốn, công nghệ và nâng cao năng lực thực thi
3 Đề xuất hướng tiếp cận nền “Kinh tế xanh” ở Việt nam.
Với tính chất đặc thù của Việt nam, thể chế chính trị và mô hình phát triển kinh tế gần giống với TrungQuốc, đó là chuyển đổi từ mô hình “Kinh tế kế hoạch hoạch hóa tập trung” sang mô hình “Kinh tế thịtrường, định hướng xã hội chủ nghĩa” Kể từ năm 1986, Việt Nam tiến hành “Đổi mới và mở cửa”, cònTrung Quốc “Cải cách mở cửa”; cả hai nước Kinh tế liên tục tăng trưởng dương, mặc dù có giai đoạnchịu tác động của khủng hoảng tài chính-tiền tệ vào năm 2007-2008 Hiện nay Việt Nam đã thoát khỏinước nghèo và xếp vào nhóm nước có thu nhập trung bình Trải qua 24 năm đổi mới và mở cửa pháttriển Kinh tế, Việt Nam cũng đã phải trả giá cho suy giảm tài nguyên và ô nhiễm môi trường Nằmtrong xu thế phát triển chung của kinh tế thế giới với sự điều chỉnh về mô hình phát triển và thay đổi cơcấu ngành nghề Việt nam đã trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO), do vậy pháttriển kinh tế của Việt nam phải tuân theo những nguyên tắc chung của những cam kết với WTO trong
xu thế phát triển Hội nhập toàn cầu Hơn nữa Việt nam được xếp vào danh sách một trong năm nướcchịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, do vậy hướng tới nền “Kinh tế xanh” là lựa chọn hợp
lý Tuy nhiên sự lựa chọn này cần phải nhìn nhận rõ những cơ hội và thách thức để định hướng chophát triển
3.1 Về cơ hội.
- Hiện nay sự quan tâm lớn nhất của cộng đồng thế giới là “Biến đổi khí hậu” Nhằm giảm thiểu vàthích ứng với biến đổi khí hậu, các quốc gia đang có nhiều nỗ lực, trong đó phát triển kinh tế cac bonthấp, tăng trưởng xanh đang là những xu hướng mới trong lộ trình tiến tới “Nền kinh tế xanh” Việtnam sẽ đón nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia và các tổ chức quốc tế trên thế giới trong
nỗ lực chung giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu trên cơ sở hướng tới “Nền kinh tế xanh”
- Việt nam đang có những thay đổi cơ bản sau 24 năm “Đổi mới và mở cửa”, hoàn thiện thể chế kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng tới một sự phát triển vì con người, những yếu tố đó được thựchiện trong một môi trường chính trị ổn định là cơ hội tốt cho triển khai thực hiện “Nền kinh tế xanh”
- Tiếp tục triển khai, thực hiện chiến lược phát triển Kinh tế-Xã hội giai đoạn 2011-2015 Hội nghị lần thứ
3 BCHTW Đảng Cộng Sản Việt nam đã khẳng định: đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tếtheo hướng nâng cao chất lượng, đảm bảo phúc lợi và an sinh xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường Nhưvậy Việt nam sẽ đẩy mạnh “Tái cơ cấu nền kinh tế gắn với mô hình tăng trưởng” trong thời gian sắp tới.Đây là cơ hội để Việt Nam hướng tới “Nền Kinh tế xanh” và “Tăng trưởng xanh”
- Kinh tế Việt nam liên tục tăng trưởng trong những năm vừa qua tạo ra nội lực bên trong cho một xuthế phát triển mới Những vấn đề bức xúc về ô nhiễm môi trường và suy giảm tài nguyên trong thờigian phát triển vừa qua đối với đất nước Hướng tới một nền kinh tế xanh sẽ được sự đồng thuận caocủa xã hội Sau một thời gian phát triển từ khi đổi mới và mở cửa, người dân đã nhận thức được sự trảgiá của mô hình phát triển của nền “kinh tế nâu”
Trang 10- Với lợi thế nằm trong khu vực nhiệt đới, gió mùa Đông Nam Á, có nguồn năng lượng mặt trời dồidào, năng lượng gió phong phú, sinh vật tăng trưởng nhanh là cơ hội cho Việt nam tham gia vào cácchương trình mục tiêu thiên niên kỷ để hướng tới “Nền kinh tế xanh”.
3.2 Thách thức.
Bên cạnh những cơ hội như đã nêu ở trên, thực hiện “Nền kinh tế xanh”, Việt Nam sẽ gặp phải những tháchthức đòi hỏi phải vượt qua như sau:
- Trước hết, về nhận thức, hiểu thế nào là một nền “kinh tế xanh” hiện nay ở Việt nam vẫn còn hết sức mới
mẻ, đòi hỏi phải có những nghiên cứu và phổ biến rộng rãi kiến thức trong tầng lớp lãnh đạo, các nhà hoạchđịnh chính sách, các doanh nghiệp và người dân Nếu không nhận thức đầy đủ, tính đồng thuận trong xã hội
sẽ không đạt được, do vậy sẽ khó thực hiện
- Thứ hai, về cách thức tiến hành, so với nền kinh tế truyền thống-“Nền kinh tế nâu”, xây dựng mô hìnhmới-“Nền kinh tế xanh”, thay đổi mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế có sự khác biệt như thế nào vàbắt đầu từ đâu trong bối cảnh phát triển kinh tế Việt nam hiện nay
- Thứ ba, nền kinh tế xanh gắn với sử dụng năng lượng tái tạo, cac bon thấp, tăng trưởng xanh, đầu tư khôiphục hệ sinh thái, giải quyết sinh kế gắn với phục hồi môi trường… Thực tế công nghệ sản xuất ở Việt namhiện nay so với thế giới phần lớn là công nghệ cũ, tiêu hao năng lượng lớn, việc thay đổi công nghệ mới phùhợp với nền kinh tế xanh là thách thức không nhỏ nếu không có trợ giúp của các nước có công nghệ cao trênthế giới Nhiều vùng nông thôn và khu vực miền núi, sinh kế người dân còn gặp nhiều khó khăn
- Thứ tư, về huy động nguồn vốn cho thực hiện mục tiêu “Xây dựng nền kinh xanh”, mặc dù Việt nam
đã thoát khỏi ngưỡng của nước nghèo nhưng tích luỹ quốc gia so với các nước đã phát triển còn quáthấp, điều này ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình triển khai hướng tơi “Nền kinh tế xanh”
- Thứ năm, Cơ chế chính sách hướng tới thực hiện “Nền kinh tế xanh” ở Việt nam hiện nay gần như chưa
có, trong khi trên thế giới cũng mới đề xuất hướng tiếp cận Việc rà soát lại cơ chế chính sách liên quan vàsửa đổi bổ sung cho phù hợp với mô hình phát triển mới theo hướng cơ cấu lại ngành kinh tế và hướng tớinền “kinh tế xanh” là thách thức không nhỏ
3.3 Định hướng thực hiện nền kinh tế xanh ở Việt nam.
Để thực hiện nền “Kinh tế xanh” ở Việt nam những định hướng cơ bản sau đây cần thực hiện
- Về cơ chế chính sách, trên cơ sở cương lĩnh định hướng Chiến lược phát triển kinh tế-xã Việt nam giaiđoạn 2011-2015 và tầm nhìn 2020, Việt nam cơ bản trở thành nước công nghiệp Cơ chế chính sách cần tậptrung vào tạo điều kiện thuận lợi cho đổi mới mô hình tăng trưởng, trọng tâm là cơ cấu lại ngành nghề, ưutiên phát triển các ngành có công nghệ cao, công nghệ thân thiện môi trường; Sử dụng tiết kiệm năng lượng
và tài nguyên; Không gây ô nhiễm môi trường; Phục hồi tài nguyên và hệ sinh thái
- Về nhận thức, tập trung tuyên truyền, giáo dục định hướng thay đổi nhận thức trước đây của xã hội từ nền
“Kinh tế nâu” sang nền “Kinh tế xanh” để tạo ra một sự đồng thuận cao trong xã hội từ lãnh đạo đến ngườidân và doanh nghiệp, từ đó thay đổi quan niệm và nhận thức về một “Nền kinh tế xanh” Trong hệ thốnggiáo dục chuyên nghiệp, đổi mới giáo trình, bài giảng theo hướng tiếp cận phát triển “Nền kinh tế xanh”.Nâng cấp nội dung “Kinh tế môi trường” và “Kinh tế tài nguyên thiên nhiên” truyền thống theo hướnggiảng dạy “Kinh tế xanh”
- Đầu tư cho phát triển khoa học công nghệ trong nghiên cứu, hợp tác nghiên cứu các lĩnh vực ngành nghềtrong nội hàm của “Nền kinh tế xanh” như sử dụng năng lượng tái tạo, công nghệ sản xuất tiết kiệm tàinguyên, tiêu hao ít năng lượng, công nghệ giảm thiểu phát thải khí nhà kính; hạn chế tối đa gây ô nhiễm môitrường; Phục hồi hệ sinh thái tự nhiên
- Đổi mới quy hoạch sử dụng đất cho phát triển đô thị, phát triển giao thông, khu công nghiệp, khu chếxuất, các công trình phúc lợi xã hội theo hướng dành quỹ đất đủ cho phát triển cây xanh, hồ nước vàcác công trình hạ tầng kỹ thuật môi trường theo quy định tiêu chuẩn quốc tế
Trang 11- Cải cách lại hệ thống thuế tài nguyên và xem xét lại thuế môi trường hướng tới phát triển nền kinh tế xanhđược điều chỉnh thông qua công cụ tài chính và thuế khóa nhằm khuyến khích tiết kiệm và sử dụng hiệu quảtài nguyên, nhất là tài nguyên quý hiếm, bảo vệ môi trường.
- Đối với chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cần có sựu đổi mới, xem xét lại và hoàn thiện chỉ tiêu GDP xanh, cải tiến hệthống SNA phản ánh đủ các chỉ tiêu tính toán môi trường trong hạch toán cân đối tài khoản quốc gia
- Rà soát, xem xét lại cơ chế chính sách đã có liên quan đến dịch vụ hệ sinh thái và đầu tư cho phát triểnrừng thời gian vừa qua, gắn phát triển rừng với xóa đói giảm nghèo trên cơ sở phát huy hiệu quả thể chế
“Kinh tế thị trường định hướng XHCN”, những ưu thế của công cụ kinh tế liên quan đến chi trả dịch vụ môitrường rừng, bổ sung và hoàn thiện công cụ này triển khai trong cả nước
- Dựa vào tiêu chí quốc tế như đã dự tính của UNEP, đầu tư công toàn cấu 2% GDP cho phát triển kinh tếxanh, tổng kết thời gian vừa qua mức độ đầu tư cho môi trường ở Việt nam còn thiếu hụt bao nhiêu để tiếptục bổ sung và hoàn thiện phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế
- Tích cực hợp tác quốc tế trong nỗ lực xây dựng “Nền kinh tế xanh” ở Việt nam, huy động các nguồn lực
hỗ trợ của quốc tế, nhất là nguồn vốn đầu tư 2% GDP toàn cầu cho phát triển Kinh tế xanh Các cơ chế tàichính khác cho phát triển rừng như REDD+; CDM Kinh nghiệm trước đây cho thấy Việt Nam thường bỏ lỡnhiều cơ hội đầu tư quốc tế cũng như các thể chế tài chính khác mà Việt nam có ưu thế như CDM Điều này
Kết luận.
Chuyển đổi phương thức phát triển, hướng tới phát triển “Nền kinh tế xanh” là hướng tiếp cận mới, tuynhiên xét về dài hạn đây là hướng tiếp cận phù hợp với xu thế phát triển chung của hệ thống kinh tế toàncầu Hơn nữa Việt nam là quốc gia phát triển sau, do vậy để rút ngắn khoảng cách phát triển và tiếp cận vớimột nền kinh tế hiện đại, văn minh và phát triển bền vững cần hướng tới một “Nền kinh tế xanh” Tuy nhiên
mô hình phát triển và cơ cấu ngành nghề thế nào phù hợp với “Nền kinh tế xanh” trong điều kiện phát triểncủa Việt nam cần phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện, học tập cách thức tiến hành của các quốc gia đãthực hiện trước để từ đó có lộ trình và bước đi phù hợp
Phát triển nhanh và bền vững là quan điểm xuyên suốt trong chiến lược phát triển KT-XH của đất nước ta
Thứ hai, 30 Tháng 8 2010 03:46 Quản trị viên
Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng vừa có bài viết với tiêu đề "Phát triển nhanh và bền vững là quan điểm xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta" Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu với độc giả bài viết quan trọng của Thủ tướng
Trang 12Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại Hội nghị cấp cao ASEAN 16 (tháng 4/2010), Hội nghị đã thông qua 2Tuyên bố quan trọng là Tuyên bố về Phục hồi và Phát triển bền vững và Tuyên bố về Hợp tác đối phó với biến đổi
khí hậu - Ảnh Chinhphu.vn
Quan niệm phát triển bền vững xuất hiện từ những năm đầu thập kỷ 80 thế kỷ 20, được phổ biến rộng rãi vào năm
1987, với hàm ý tổng quát là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau [1] Đây là quá trình phải bảo đảm có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường
Trong hai thập kỷ qua, trên bình diện quốc tế, vấn đề phát triển bền vững ngày càng được đặc biệt quan tâm, trở thành yêu cầu phát triển của toàn cầu Đã có không ít hội nghị thượng đỉnh thảo luận về chủ đề này và đưa ra nhiều văn kiện, quyết sách quan trọng
Ở nước ta, quan điểm phát triển nhanh và bền vững đã được nhận thức rất sớm và thể hiện trong nhiều chủ trương,
nghị quyết của Đảng Ngay từ Đại hội III năm 1960 và Đại hội IV năm 1976, Đảng ta đã đặt mục tiêu “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” Đại hội VII thông qua Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 1991 –
2000, nhấn mạnh “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường” Đại hội VIII nêu bài học “Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái” Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 thông qua tại Đại hội IX khẳng định “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” Đại hội X nêu bài học về phát triển nhanh và bền vững, trong đó ngoài các nội dung phát triển kinh tế, xã hội, môi trường còn bổ sung yêu cầu phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ và xác định mục tiêu tổng quát của Kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 là “Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh, chất lượng cao và bền vững hơn, gắn với phát triển con người”.
Như vậy, quan điểm phát triển nhanh và bền vững đã sớm được Đảng và Nhà nước ta đặt ra với nội dung ngày càng hoàn thiện và đã trở thành một chủ trương nhất quán trong lãnh đạo, quản lý, điều hành tiến trình phát triển của đất nước trong nhiều thập kỷ qua Nhà nước ta cũng đã có những cam kết mạnh mẽ về phát triển bền vững[2]
II
Trang 13Trong mười năm qua, thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt gần 7,3%/năm[3], thuộc nhóm nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt khoảng 1.200 USD, vượt qua ngưỡng nước đang phát triển có thu nhậpthấp Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế được giữ vững, thâm hụt ngân sách và nợ quốc gia được kiểm soát trong giới hạn an toàn Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện tốt hơn Thu nhập thực tế bình quân đầu người 10 năm qua tăng khoảng 2,3 lần Công cuộc xóa đói giảm nghèo đạt nhiều thành tựu nổi bật, được quốc tế đánh giá cao Chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn giảm từ 2,3 lần năm 1999 xuống còn 2 lần năm 2008 Trẻ em được quan tâm bảo vệ, chăm sóc; tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm từ 33,8% xuống còn dưới 18% Tuổi thọ bình quân tăng từ 67 lên 72 tuổi Cả nước đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở Chỉ số phát triểncon người (HDI) không ngừng tăng lên, năm 2008 là 0,733, thuộc nhóm nước trung bình cao trên thế giới Mức hưởng thụ văn hoá, điều kiện tiếp cận thông tin của người dân được nâng lên rõ rệt Hệ thống phúc lợi và an sinh xã hội được coi trọng và từng bước mở rộng Cùng với những kết quả to lớn trong việc xã hội hoá phát triển các lĩnh vực xã hội, ngân sách nhà nước chi cho các lĩnh vực này không ngừng tăng lên; bảo hiểm y tế được mở rộng từ 13,4% dân số năm 2000 lên khoảng 62% năm 2010 Bình đẳng giới có nhiều tiến bộ, tỷ lệ phụ nữ tham gia Quốc hội
và giữ các trọng trách trong hệ thống chính trị ngày càng cao Năm 2008, nước ta đã hoàn thành hầu hết các Mục tiêuThiên niên kỷ đặt ra cho năm 2015
Phát biểu tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng
của phát triển bền vững - Ảnh Chinhphu.vn
Công tác bảo vệ môi trường được quan tâm và có mặt được cải thiện Dân chủ trong xã hội tiếp tục được mở rộng, xãhội cởi mở và đồng thuận hơn Quốc phòng, an ninh được giữ vững Chính trị - xã hội ổn định Diện mạo của đất nước có nhiều thay đổi; thế và lực của nước ta vững mạnh thêm nhiều; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao; tạo ra những tiền đề quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân
Trang 14Bên cạnh những kết quả nêu trên, trong sự phát triển cũng còn nhiều yếu kém, bất cập Những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng Chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp Tăng trưởng kinh tế còn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu Huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực còn hạn chế; lãng phí, thất thoát còn nhiều; hiệu quả đầu tư thấp Tiêu hao nguyên liệu, năng lượng còn rất lớn Việc khai thác và sử dụng tài nguyên chưa thật hợp lý và tiết kiệm Các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc, bội chi ngân sách, thâm hụt cán cân thương mại còn lớn, lạm phát còn cao Môi trường sinh thái nhiều nơi bị ô nhiễm nặng.
Các lĩnh vực văn hoá, xã hội còn nhiều bất cập, một số mặt vẫn còn bức xúc; tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng;
ùn tắc và tai nạn giao thông còn nghiêm trọng; tham nhũng chưa bị đẩy lùi; chất lượng giáo dục và đào tạo, nhất là đào tạo đại học và dạy nghề còn yếu kém và chậm được cải thiện; các bệnh viện bị quá tải, chất lượng dịch vụ y tế còn thấp
Những hạn chế, yếu kém trên đây có phần do nguyên nhân khách quan, nhưng nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu,nổi lên là: Quan điểm phát triển bền vững chưa được nhận thức sâu sắc và thể hiện một cách cụ thể, nhất quán trong
hệ thống chính sách, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết Trong quản lý, điều hành còn thiên về tốc độ tăng trưởng mà chưa coi trọng đúng mức đến chất lượng tăng trưởng và tính bền vững của sự phát triển; chưa tạo được chuyển biến mạnh trong việc giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc Quá trình lập quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng, thực hiện chính sách bảo vệ môi trường chưa có sự kết hợp chặt chẽ, lồng ghép hợp lý Cơ chế quản lý và giám sát sự phát triển bền vững chưa được thiết lập rõ ràng và có hiệu quả Quyền làm chủcủa nhân dân, nhất là dân chủ trực tiếp chưa được phát huy đầy đủ
III
Từ thực tiễn nêu trên, dự thảo Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 nêu bài học “Đặc biệt coi trọng chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển… giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng” và xác định “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược”, với các nội dung chủ yếu là“Phải phát triển bền vững về kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ
mô, bảo đảm an ninh kinh tế Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao không ngừng chất lượng cuộc sống của nhân dân Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn đi cùng với bảo vệ và cải thiện môi trường Nước ta có điều kiện phát triển nhanh và yêu cầu phát triển nhanh cũng đang đặt ra hết sức cấp thiết; phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững Phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xã hội Phải đặc biệt quan tâm giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ để bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững.”
Để hiện thực hoá quan điểm phát triển nhanh và bền vững, phải thực hiện đồng bộ các định hướng phát triển đã nêu trong dự thảo Chiến lược, trong đó cần tập trung thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp sau: