Cho đến nay, trong khi nhân loại đang cố gắng đi tìm những nguồn nhiên liệu mới thay thế thì Dầu Mỏ vẫn là nguồn tài nguyên quý báu và đáng giá nhất thế giới. Với trí tuệ và sự sáng tạo vô tận của con người, Dầu Mỏ đã được tinh lọc và chế biến đem lại những ứng dụng vô cùng tuyệt vời. Dầu Mỏ và khí Gas cung cấp ba phần năm nhiên liệu mà chúng ta đang dùng. Trong cuộc sống hiện đại không nơi nào không có sự hiện diện của Dầu Mỏ: Dầu hỏa dùng để đốt, xăng để chạy các loại xe và máy bay, nhựa đường để làm đường… Song song với nó thì nghành công nghiệp ứng dụng khí thiên nhiên và khí đồng hành để sản xuất phân hóa học, các loại nhựa, cao su tổng hợp, đặc biệt là việc tận dụng nguồn khí đồng hành từ quá trình khai thác dầu mỏ để chế biến ra các sản phẩm hóa dầu có giá trị kinh tế cao cũng quan trọng không kém. Là những sinh viên theo học nghành công nghệ hóa dầu chúng tôi nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng của nghành công nghiệp này đối với sự phát triển chung của nền công nghiệp quốc gia. Đây chính là lý do tại sao nhóm chúng tôi quyết định thực hiện bài báo cáo “ tìm hiểu nhà máy xử lí khí Dinh Cố ”.
Trang 1Cho đến nay, trong khi nhân loại đang cố gắng đi tìm những nguồnnhiên liệu mới thay thế thì Dầu Mỏ vẫn là nguồn tài nguyên quý báu và đánggiá nhất thế giới Với trí tuệ và sự sáng tạo vô tận của con người, Dầu Mỏ đãđược tinh lọc và chế biến đem lại những ứng dụng vô cùng tuyệt vời Dầu
Mỏ và khí Gas cung cấp ba phần năm nhiên liệu mà chúng ta đang dùng.Trong cuộc sống hiện đại không nơi nào không có sự hiện diện của Dầu Mỏ:Dầu hỏa dùng để đốt, xăng để chạy các loại xe và máy bay, nhựa đường đểlàm đường… Song song với nó thì nghành công nghiệp ứng dụng khí thiênnhiên và khí đồng hành để sản xuất phân hóa học, các loại nhựa, cao su tổnghợp, đặc biệt là việc tận dụng nguồn khí đồng hành từ quá trình khai thác dầu
mỏ để chế biến ra các sản phẩm hóa dầu có giá trị kinh tế cao cũng quantrọng không kém Là những sinh viên theo học nghành công nghệ hóa dầuchúng tôi nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng của nghành công nghiệpnày đối với sự phát triển chung của nền công nghiệp quốc gia Đây chính là
lý do tại sao nhóm chúng tôi quyết định thực hiện bài báo cáo “ tìm hiểu nhà máy xử lí khí Dinh Cố ”.
Trang 2CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NHÀ MÁY CHẾ BIẾN KHÍ
DINH CỐ1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của nhà máy
1.1.1 Địa điểm
Nhà máy xử lý khí Dinh Cố được xây dựng tại xã An Ngãi, HuyệnLong Đất, Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
1.1.2 Vị trí địa lý và môi trường
Nhà máy GPP cách tỉnh lộ 44 khoảng 700 m (Bà Rịa đến Long Hải) vàcách Long Hải 6 km về phía bắc Đây là nhà máy được xây dựng với quy mô
to lớn với diện tích 89,600 m2 (dài 320 m, rộng 280 m)
1.2 Giới thiệu chung
Từ tháng 10 năm 1998, nhà máy đã đi vào hoạt động để xử lý và chếbến khí đồng hành với công suất khoảng 1,5 tỷ m3 khí/năm (khoảng 4,3 triệu
m3 khí/ngày Nguyên liệu cho nhà máy là khí đồng hành ở mỏ Bạch Hổ, được
xử lý và thu hồi LPG và Condensate, khí còn lại làm nguyên liệu cho hai nhàmáy điện Bà Rịa và Phú Mỹ Nhà máy có thể tách riêng sản phẩm Propane vàButane cho khách hàng
Từ năm 2002, nhà máy tiếp nhận thêm lượng khí từ mỏ Bạch Hổ vớicông suất 5,7 triệu m3 khí/ngày, áp suất đầu vào bị sụt giảm xuống còn 85 barnên nhà máy đặt thêm trạm máy nén đầu vào để nâng áp lên 109 bar như thiếtkế
Các thiết bị vận hành được thiết kế vận hành liên tục trong 24 giờtrong ngày (hoạt động 350 ngày/năm), thời gian của nhà máy là 30 năm Đểcho nhà máy được linh động đề phòng một số thiết bị chính của nhà máy bị
sự củng cố như đảm bảo cho quá trình bảo dưỡng, sữa chữa thiết bị khônggây ảnh hưởng cho đến việc cung cấp khí cho nhà máy điện và đảm bảo thuđược sản phẩm lỏng, nhà máy vận hành theo ba chế độ
Trang 3- Chế độ AMF (Absolute Minium Facility): Cụm thiết bị tối thiểu
tuyệt đối Thu khí thương mại (chưa tách C3, C4) và condensate Sảnphẩm được lấy ra sau khi dòng khí và lỏng được cho đi qua các thiết bị
kĩ thuật: thiết bị nén của AMF, thiết bị phân tách lỏng-hơi (AMFRectifier), thiết bị loại bỏ ethane để ổn định condensate (De-ethaniser)
- Chế độ MF (Minium Facility): Cụm thiết bị tối thiểu Với mục đích
thu khí thương mại (đã tách C3, C4), Bupro và condensate Do vậy cần
bổ sung thêm các thiết bị từ AMF, chủ yếu là thiết bị hidrat bằngphương pháp hấp thụ, thiết bị trao đổi nhiệt bằng khí, thiết bị trao đổinhiệt cân bằng dòng lỏng lạnh, thiết bị De-ethaniser OVHDCompressor và thiết bị ổn định Trong chế độ này thì các nguyên tắccủa chưng luyện được vận dụng rất triệt để nhằm thu lượng sản phẩmcao nhất
- Chế độ GPP (Gas Processing Plant): Cụm thiết bị hoàn thiện Là chế
độ làm việc hoàn chỉnh nhất, sử dụng công nghệ Turbo Expander Vàhiệu suất thu hồi sản phẩm lỏng ở chế độ này là cao nhất Ngoài nhữngthiết bị được sử dụng trong chế độ trước thì có bổ sung thêm thiết bịGas Stripper, Turbo Expander/Compressor (đóng vai trò thiết bị traođổi nhiệt nhờ điều chỉnh áp), máy nén khí, tháp tách
- Chế độ MGPP (Modified Gas Processing Plant): Vận hành công
nghệ theo chế độ GPP chuyển đổi
Hiện nay nhà máy vận hành theo chế độ GPP chuyển đổi, chỉ chuyểnsang chế độ MF hoặc AMF khi xảy ra sự cố hoặc bảo dưỡng sữa chữa thiết bị
Hệ thống đuốc cao 72 m (Flare) và hầm đốt chất lỏng (burnpit) đượcthiết kế hoặc đảm bảo an toàn cho hệ thống khí nói chung và nhà máy nóiriêng nhất là trong sự cố nhà máy phải ngừng cung cấp khí cho nhà máy điện
Trang 4nhưng vẫn đảm bảo điều kiện môi trường Đuốc được thiết kế với công suất 4triệu m3/ngày đêm.
Hệ thống đốt chất lỏng được thiết kế để đốt chất lỏng thu gom đượcqua hệ thống thải kín của các thiết bị công nghệ khi nhà máy hoạt động bìnhthường và khi dừng hoạt động để bảo dưỡng Công suất thiết kế cho hầm đốt
là 10 triệu m3/giờ
Ngoài ra, nhà máy còn có hệ thống xử lý nước thải nhiễm dầu bao gồm:
- Cụm thu gom và tách dầu
- Bể chứa nước thải
- Bơm nước thải
1.3 Nguyên liệu và sản phẩm của nhà máy
1.3.1 Nguyên liệu
Nguyên liệu đầu vào của nhà máy là khí đồng hành (loại khí thu được
từ quá trình khai thác dầu) Khí nằm trong dầu mỏ có áp suất cao nên chúnghòa tan một phần trong dầu Khi khai thác lên áp suất giảm nên khí được tách
ra thành khí đồng hành
Lượng khí đồng hành đi vào nhà máy thu từ mỏ Bạch Hổ và một số
mỏ khác Sau đó khí được dẫn vào bờ theo đường ống khí cao áp có đườngkính 16” (16 inch) về nhà máy
Trang 5Lưu lượng thiết kế ban đầu của nhà máy là 4,3 triệu m3 khí/ngày Hiệnnay, do tiếp nhận lượng khí từ mỏ Rạng Đông nên lưu lượng hiện tại của nhàmáy là 5,7 triệu m3 khí/ngày.
Bảng 1.1 Thành phần khí vào bờ CCP (% mole)
Đông
Condensate trắng
Khí sau khi làm khô
Khí về bờ
18
Trọng lượngphân tử trungbình (g/mole)
Trang 6Nhiệt cháytrên kJ/m3(15,50C,1atm)
20
Nhiệt cháydưới (kJ/m3, 1 atm)
1.3.2 Sản phẩm
- LPG: Chủ yếu là Propan và Butan hoặc hỗn hợp Bupro Được ứng dụng đểlàm nhiên liệu, nguyên liệu cho sản xuất vật liệu xây dựng, tổng hợp hữu cơ.Hiện nay, LPG do nhà máy xử lý khí Dinh Cố sản xuất đáp ứng khoảng 30-35% nhu cầu thị trường LPG Việt Nam Lưu lượng từ 750-850 tấn/ngày
Bảng 1.2 Chỉ tiêu kỹ thuật cần đạt được của LPG
1 Áp suất hơi bão hòa ở
Trang 7Tính toán
- Condensate: Hỗn hợp đồng thể ở dạng lỏng, có màu vàng rơm, gồmhidrocacbon có phân tử lượng lớn hơn Propan và Butan, hợp chất vòng, nhânthơm Ở Việt Nam có hai loại: Một loại được tách từ bình lỏng đặt tại giànkhoan, lượng không lớn; loại thứ hai được ngưng tụ trong quá trình vậnchuyển trên đường ống Từ condensate, chúng ta có thể làm nhiên liệu (nhưcác loại xăng M92, M95), làm dung môi và các sản phẩm Hoá dầu
+ Thành phần chủ yếu: C5+
+ Lưu lượng: 150.000 tấn/năm
Hiện nay, Condensate của nhà máy được vận chuyển đến nhà máy xử
lý Condensate và được sử dụng chủ yếu để pha chế xăng
Bảng 1.3 Chỉ tiêu cần đạt được của Condensate
Trang 8Chỉ tiêu giám định Đơn vị Kết quả Phương pháp
% W
2,075,50,01
(Chứng thư giám định phẩm chất ASI No: 08638A/GĐAC)
- Khí khô thương phẩm: Cung cấp cho nhà máy điện đạm, nhà máy cán thép,nhà máy sản xuất gốm…Thành phần chủ yếu của khí khô thương phẩm chủyếu là Methane, Ethane, ngoài ra còn có chứa Propane, Butane và một số tạpchất khác như Nitrogen, Carbondioxite… với hàm lượng cho phép
Bảng 1.4 Hàm lượng cho phép trong khí khô thương phẩm.
Trang 9Để đảm bảo cho việc vận hành Nhà máy được linh hoạt (đề phòng một
số thiết bị chính của nhà máy bị sự cố) và hoạt động của Nhà máy được liêntục (khi thực hiện bảo dưỡng, sửa chữa các thiết bị) không gây ảnh hưởngđến việc cung cấp khí cho nhà máy điện, đạm, Nhà máy được lắp đặt và hoạtđộng theo các chế độ chính:
- Chế độ AMF (Ablolute Minium Facility): Cụm thiết bị tối thiểu tuyệt
đối
- Chế độ MF (Minium Facility): Cụm thiết bị tối thiểu.
- Chế độ GPP (Gas Processing Plant): Cụm thiết bị hoàn thiện.
- Chế độ MGPP (Modified Gas Processing Plant ): Chế độ GPP sửa 2.1.1 CHẾ ĐỘ AMF
2.1.1.1 Chế độ AMF (theo thiết kế):
Trang 10Chế độ AMF theo thiết kế là chế độ vận hành nhà máy ban đầu với cácthiết bị tối thiểu nhằm cung cấp khí cho các hộ tiêu thụ và không chú trọngvào thu hồi sản phẩm lỏng.
2.1.1.2 Các thiết bị trong chế độ AMF
Tháp tách Etan C-01
Tháp tách C1/C2 C-05
Bình Tách V-03
Các thiết bị trao đổi nhiệt: E-14, E-20
2.1.1.3 Sơ đồ công nghệ chế độ AMF
Quy trình sơ đồ công ngệ
Khí đồng hành mỏ Bạch Hổ với lưu lượng khí ẩm khoảng 4,3 triệu m3/ngàyđược đưa tới Slug Catcher của nhà máy bằng đường ống 16’’ với áp suất 109
Trang 11bar, nhiệt độ 25,6 0C Tại đây, Condensate và khí được tách ra theo cácđường riêng biệt để tiếp tục xử lí, nước có trong Condensate được tách nhờtrọng lực và đưa vào bình tách nước (V- 52) để xử lí Tại đây nước được làmgiảm tới áp suất khí quyển và hydrocacbon bị hấp thụ sẽ được giải phóng đưavào đốt ở hệ thống cột đuốc, nước sau đó được đưa tới hầm đốt (ME- 52).
Dòng lỏng đi ra từ Slug Catcher (SC) được giảm áp và đưa vào bìnhtách V-03 hoạt động ở 75 bar và được duy trì ở nhiệt độ 200C V-03 có nhiệmvụ: Tách hydrocacbon nhẹ hấp thụ trong lỏng nhờ giảm áp Cùng với việcgiảm áp suất từ 109 bar xuống 75 bar, nhiệt độ cũng giảm thấp hơn nhiệt độhình thành hydrate nên để tránh hiện tượng này, V-03 được gia nhiệt đến
200C bằng dầu nóng nhờ thiết bị gia nhiệt E-07 Sau khi ra khỏi V-03 dònglỏng này được trao đổi nhiệt tại thiết bị E-04A/B nhằm tận dụng nhiệt và làmmát cho dòng condensate thương phẩm
Dòng khí thoát ra từ Slug Catcher được dẫn vào bình tách lọc V-08 đểtách triệt để các hạt lỏng nhỏ bị cuốn theo dòng khí do SC không tách hết vàlọc các hạt bụi trong khí (nếu có) tránh làm hư hỏng các thiết bị sau
Khí từ đầu ra của V-08 được đưa vào thiết bị hòa dòng EJ-01 A/B/C đểgiảm áp suất từ 109 bar xuống 47 bar Việc giảm áp này có tác dụng hút khí
từ đỉnh tháp C-01 Dòng ra là dòng 2 pha có áp suất 47 bar và nhiệt độ 200Ccùng với dòng khí từ V-03 (đã giảm áp) được đưa vào tháp C-05 Nhiệm vụcủa EJ-01 A/B/C là giữ áp suất làm việc của tháp C-01 ổn định Tháp C-05hoạt động ở áp suất 47 bar và nhiệt độ 200C Ở chế độ AMF phần đỉnh củatháp hoạt động như bình tách khí lỏng thông thường Tháp C-05 có nhiệm vụtách phần lỏng ngưng tụ do sự sụt áp của khí từ 109 bar xuống 47 bar khi quaEJ-01 A/B/C Dòng khí đi ra từ đỉnh tháp C-05 được đưa ra đường khíthương phẩm để cung cấp cho các nhà máy điện Lỏng tại đáy C-05 được đưavào đĩa thứ 1 của tháp C-01 Chế độ AMF tháp C-01 có hai dòng nhập liệu:
- Dòng từ V- 03 vào đĩa thứ 14 của tháp C-01
Trang 12- Dòng lỏng từ đáy của tháp C-05 vào đĩa trên cùng của tháp C-01.
Áp suất hơi của condensate giảm đi và được điều chỉnh trong tháp
C-01 nhằm mục đích: Phù hợp cho công việc chứa trong bồn chứa ngoài trời.Với ý nghĩa đó, trong chế độ AMF tháp C-01 hoạt động như là tháp ổn địnhCondensate Trong đó, phần lớn hydrocacbon nhẹ hơn Butan được tách rakhỏi Condensate nhờ thiết bị gia nhiệt E-04A/B đến 1940C Khí ra ở đỉnhtháp có nhiệt độ 640C được trộn với khí nguyên liệu nhờ EJ-01 A/B/C DòngCondensate ở đáy tháp được trao đổi nhiệt tại E-04A/B và được làm lạnhbằng không khí ở E-09 để giảm nhiệt độ xuống 450C trước khi ra đường ốngdẫn Condensate về kho cảng hoặc chứa bồn chứa TK-21
2.1.2 CHẾ ĐỘ MF
2.1.2.1 Chế độ MF (theo thiết kế)
Đây là chế độ hoạt động trung gian của nhà máy Thiết bị của chế độnày gồm toàn bộ các thiết bị của chế độ AMF (trừ EJ-A/B/C) và được bổsung thêm các thiết bị chính sau
Trang 13Dòng khí từ Slug Catcher được đưa tới bình tách lọc V-08, thiết bị này cóchức năng: Tách nước, hydrocacbon lỏng, dầu và lọc các hạt rắn, nhằm bảo
vệ lớp chất hấp thụ trong V-06A/B khỏi bị hỏng hoặc giảm hoạt tính cũngnhư giảm tuổi thọ của chúng Sau khi được loại nước tại V-06A/B dòng khíđược đưa đồng thời đến 2 thiết bị E-14 và E-20 để làm lạnh Dòng khí saukhi ra khỏi E-14 và E-20 là dòng hai pha (lỏng - khí) được đưa vào tháp C-05
để tách lỏng Khí đi ra từ đỉnh tháp C-05 được sử dụng như tác nhân làm lạnhbậc một cho dòng nguyên liệu tại E-14 (nhiệt độ giảm từ 26,50C xuống -
170C) dòng nguyên liệu qua E-14 được làm lạnh bậc hai tại van FV-1001
Dòng khí ra từ đỉnh C-05 sau khi trao đổi nhiệt qua E-14 nhiệt độ đượctăng lên đủ điều kiện cung cấp cho các nhà máy điện
Hai tháp hấp thụ V-06A/B được sử dụng luân phiên, khi tháp này làmviệc thì tháp kia tái sinh Quá trình tái sinh được nhờ sự cung cấp nhiệt của
Trang 14dòng khí thương phẩm nâng nhiệt độ lên 2200C, dòng ra khỏi thiết bị V-06 A/
B được làm mát tại E-15 và được tách lỏng ở V-07 trước khi ra đường khíthương phẩm
Sơ đồ dòng lỏng trong chế độ MF giống như trong chế độ AMF, ngoạitrừ việc đưa khí từ V-03 đến C-01 thay vì đến C-05 như chế độ AMF Ngoài
ra trong chế độ MF, tháp C-02 được đưa vào vận hành để thu hồi Bupro.Nhằm tận dụng Bupro và tách một phần methane, ethane còn lại, dòng khí ra
từ V-03 được đưa đến tháp C-01 để tách triệt để ethane Dòng lỏng ra khỏiV-03 được đưa đến tháp C-01 sau khi được gia nhiệt từ 200C lên 800C tạithiết bị E-04A/B nhờ dòng lỏng ra từ tháp C-02 Tháp C-01 có ba dòngnguyên liệu được đưa vào:
- Dòng khí đến từ V-03 vào giữa đĩa thứ 2 và thứ 3 của tháp C-01
- Dòng lỏng từ V-03 vào đĩa thứ 20 của tháp C-01
- Dòng lỏng đến từ đáy C-05 vào đĩa trên cùng của tháp C-01
Tại đây các hydrocacbon nhẹ như C1, C2 được tách ra và đi trên đỉnhtháp sau đó được nén từ 25 bar lên 47 bar nhờ máy nén K-01 trước khi đượcdẫn vào đường khí thương phẩm
Phần lỏng ra từ đáy tháp C-01 được đưa đến tháp C-02 Tháp C-02 làmviệc ở áp suất 11 bar, nhiệt độ đỉnh 600C và nhiệt độ đáy 1540C Tại đây C5+được tách ra và đi ra ở đáy tháp Sau khi ra khỏi E-04A/B để gia nhiệt chonguyên liệu vào tháp Sau khi ra khỏi E-04A/B dòng lỏng này được đưa đếnlàm lạnh bằng thiết bị làm mát bằng không khí E-09 trước khi đưa ra đườngống hoặc bồn chứa condensate thương phẩm TK-21
Dòng hơi ra khỏi đỉnh tháp C-02 là LPG, được ngưng tụ tại V-02, mộtphần được cho hồi lưu trở lại C-02 để đảm bảo sự hoạt động của tháp, phầncòn lại theo đường dẫn sản phẩm LPG
2.1.3 CHẾ ĐỘ GPP
Trang 15Đây là chế độ hoàn thiện của nhà máy chế biến khí Chế độ này baogồm các thiết bị của chế độ MF và được bổ sung một số thiết bị sau:
Trang 16Mô tả công nghệ
Khí ngoài giàn vào nhà máy được tiếp nhận đầu tiên tại Slug Catcher(SC-01/02), dòng lỏng ra có nhiệt độ 25,60C và áp suất 109 bar được đưa tớiV-03
Dòng khí ra từ Slug Catcher qua V-08 để tách nốt phần lỏng còn lại,lượng lỏng được tách ra này được đưa tới bình tách V-03 để xử lý, còn dòngkhí ra từ V-08 đi vào V-06A/B để tách tinh nước
Trong chế độ này, thiết bị Turbo-Expander được đưa vào hoạt độngthay thế E-20 trong chế độ MF, nên khoảng 2/3 lượng khí ra khỏi V-06A/Bđược chuyển tới phần giãn nở của thiết bị CC-01, tại đó khí được giãn từ 109bar xuống 33,5 bar và nhiệt độ cũng giảm xuống -180C, sau đó dòng nàyđược đưa vào tháp tinh lọc C-05
Phần còn lại khoảng 1/3 dòng từ V-06A/B được đưa tới thiết bị traođổi nhiệt E-14 để làm lạnh dòng khí từ 260C xuống -350C nhờ dòng khí lạnh
ra từ đỉnh tháp C-05 có nhiệt độ -42,50C Sau đó, dòng này lại qua van giảm
áp FV-1001 (áp suất được giảm từ 109 bar xuống 47,5 bar, nhiệt độ cũnggiảm xuống còn -620C) rồi được đưa vào tháp C-05 như một dòng hồi lưungoài đỉnh tháp
Trong chế độ GPP, tháp C-05 làm việc ở áp suất 33,5 bar nhiệt độ đỉnh-420C và nhiệt độ đáy -200C Khí ra khỏi đỉnh tháp C-05 có nhiệt độ -42,50C được sử dụng làm lạnh khí đầu vào thông qua thiết bị trao đổi nhiệt E-14trước khi nén ra dòng khí thương phẩm bằng phần nén của CC-01
Quá trình thu hồi lỏng của chế độ này có khác biệt so với chế độ AMF
và chế độ MF do sự có mặt của tháp C-04 và các máy nén K-02, K-03 Dòngkhí ra từ đỉnh tháp C-01 được máy nén K-01 nén từ 29 bar lên 47 bar rồi tiếptục được làm lạnh trong thiết bị trao đổi nhiệt E-08 (tác nhân lạnh là dònglỏng ra từ V-03 có nhiệt độ 200C) và vào tháp C-04 để tách nước vàhydrocacbon nhẹ lẫn trong lỏng đến từ V-03
Trang 17Tháp C-04 làm việc ở áp suất 47,5 bar, nhiệt độ đỉnh và đáy lần lượt là
44oC và 40oC Khí sau khi ra khỏi thiết bị C-04 được nén đến áp suất 75 barnhờ máy nén K-02 rồi được làm lạnh tại thiết bị trao đổi nhiệt bằng khôngkhí E-19 Dòng này được trộn lẫn với dòng khí ra từ V-03, và được nén tới
109 bar bằng máy nén K-03, sau đó đó được làm lạnh và nhập vào dòng khínguyên liệu trước khi vào V-08
Dòng lỏng ra từ tháp C-04 được đưa đến đĩa thứ 14 của tháp C-01,dòng lỏng ra từ tháp C-05 được đưa đến đĩa thứ nhất của tháp C-01 đóng vaitrò như dòng hồi lưu ngoài ở đỉnh tháp Trong chế độ này, tháp C-01 làmviệc ở áp suất 29 bar, nhiệt độ đỉnh là 14oC và nhiệt độ đáy là 109 oC Sảnphẩm đáy của tháp C-01 chủ yếu là C3+ được đưa đến tháp C-02 (áp suất việccủa C-02 là 11 bar, nhiệt độ đỉnh 55oC và nhiệt độ đáy là 134oC) để tách riêngCondensate và bupro Dòng ra từ đỉnh tháp C-02 là hỗn hợp bupro được tiếnhành ngưng tụ hoàn toàn ở nhiệt độ 43oC qua hệ thống quạt làm mát bằngkhông khí E-02, sau đó được đưa đến bình hồi lưu V-02 có dạng nằm ngang,một phần bupro được bơm trở lại tháp C-02 để hồi lưu bằng bơm P-01A/B,
áp suất của bơm có thể bù đắp được sự chênh áp suất làm việc của tháp C-02(11 bar) và tháp C-03 (16 bar) Phần bupro còn lại được gia nhiệt đến 60oCtrong thiết bị gia nhiệt E-17 trước khi cấp cho tháp C-03 bằng chất lỏng nóng
từ đáy tháp C-03 Sản phẩm đáy của tháp C-03 chính là condensate thươngphẩm được đưa ra bồn chứa hoặc dẫn ra đường ống vận chuyển condensate
về kho cảng Thị Vải Sản phẩm ra từ đỉnh tháp C-03 là hơi propan đượcngưng tụ hoàn toàn ở nhiệt độ 46oC trong thiết bị E-11 được lắp tại đỉnh C-03
có dạng làm mát bằng không khí và được đưa đến thiết bị chứa hồi lưu V-05
có dạng nằm ngang Sản phẩm propan lỏng này được bơm ra khỏi V-05 bơmbằng các máy bơm, một phần propan thương phẩm được tách ra bằng thiết bịđiều khiển mức và chúng được đưa đến đường ống dẫn propan hoặc để chứapropan V-21A Phần còn lại được đưa trở lại tháp C-03 như một dòng hồi lưu
Trang 18ngoài ở đỉnh tháp Tại tháp C-03, thiết bị trao đổi nhiệt E-10 được lắp đặt đểcấp nhiệt đun sôi lại bằng dầu nóng tới nhiệt độ 97oC Nhiệt độ của nó đượcđiều khiển bởi van TV-2123 đặt trên ống dẫn dầu nóng Butan còn lại đưa rabồn chứa hoặc đưa đến kho cảng Thị Vải sau khi được giảm nhiệt độ đến 60oCbằng thiết bị trao đổi nhiệt E-17 và đến 45oC nhờ thiết bị trao đổi nhiệt E-12.
Các thiết bị trao đổi nhiệt: E-17, E-11
2.1.4.2 sơ đồ công nghệ chế độ GPP chuyển đổi
Trang 19Phụ lục 4 Sơ đồ công nghệ chế độ GPP chuyển đổi
Khí đồng hành từ mỏ Bạch Hổ với lưu lượng khoảng 5,7- 6,1 triệu khí/ngày vào hệ thống Slug Catcher trong điều kiện áp suất 65 bar-80 barnhiệt độ 20 đến 30 (tùy theo nhiệt độ môi trường) Dòng khí đi ra từ SCđược chia thành 2 dòng
- Dòng thứ nhất có lưu lượng khoảng 1 triệu /ngày được đưa qua vangiảm áp PV-106 giảm áp suất từ 65 bar-80 bar xuống 54 bar và đi vào thiết bịtách lỏng V-101 Lỏng được tách ra tại bình V-101 được đưa vào thiết bị V-03
để chế biến sâu Khí đi ra từ bình tách V-101 được đưa vào hệ thống đường dẫnkhí thương phẩm 16” cung cấp cho các nhà máy điện
- Dòng thứ hai có lưu lượng khoảng 5 triệu /ngày được đưa vàotrạm nén khí đầu vào K-1011 A/B/C/D (3 máy hoạt động và 1 máy dựphòng) để nén nâng áp suất từ 65 bar- 80 bar lên 109 bar sau đó qua hệ thốngquạt làm mát bằng không khí E-1011 để làm nguội dòng khí ra khỏi máy nénđến nhiệt độ khoảng 40-50 Dòng khí này đi vào thiết bị tách lọc V-08 đểtách lượng lỏng còn lại trong khí và lọc bụi bẩn Sau đó được đưa vào thiết bịhấp thụ V-06 A/B để tách triệt để nước tránh hiện tượng tạo thành hydratequá trình làm lạnh sâu
- Dòng khí đi ra khỏi thiết bị V-06A/B được tách thành hai dòng:khoảng một phần ba dòng khí ban đầu qua thiết bị trao đổi nhiệt E-14 để hạnhiệt độ từ 26,5 xuống -35 với tác nhân lạnh là dòng khí khô đến từ đỉnhtháp C-05 có nhiệt độ -45 , sau đó được làm lạnh sâu bằng cách giảm ápqua van FV-1001 Áp suất giảm từ 109 bar xuống 37 bar ( bằng áp suất làm
Trang 20việc của C-05) kéo theo nhiệt độ giảm xuống -62 rồi được đưa vào đĩa trêncùng của tháp tinh cất C-05, đóng vai trò như dòng hồi lưu ngoài của đỉnhtháp Hai phần ba dòng khí còn lạị được đưa vào thiết bị CC-01 để thực hiệnviệc giảm áp từ 109 bar xuống 37 bar và nhiệt độ giảm xuống -12 và đượcđưa vào đáy tháp tinh cất C-05.
- Tháp tinh cất C-05 hoạt động ở áp suất 37 bar, nhiệt độ đỉnh tháp vàđáy tháp tương ứng là -45 và -15 , tại đây khí (chủ yếu là metan và etan)được tách ra tại đỉnh tháp C-05 Thành phần lỏng chủ yếu là Propan và cáccấu tử nặng được tách ra từ đáy tháp
- Dòng khí đi ra từ đỉnh của tháp tinh cất có nhiệt độ -45 được sửdụng làm tác nhân lạnh cho thiết bị trao đổi nhiệt E-14 và sau đó được néntới áp suất 54 bar trong phần nén của thiết bị CC-01 Hỗn hợp khí đi ra thiết
bị này là khí thương phẩm được đưa vào hệ thống 16’’ đến các nhà máy điện
- Dòng lỏng ra từ đáy tháp tinh cất C- 05 được đưa vào tháp C-01 nhưdòng hồi lưu ngoài đỉnh tháp
- Trong tháp C-01, với nhiệt độ đáy tháp là 1090C ( nhờ thiết bị gianhiệt E-01A/B), áp suất hoạt động của tháp là 27,5 bar, các hydrocacbon nhẹnhư metan, etan được tách ra đi lên đỉnh tháp vào bình tách V-12 để táchlỏng có trong khí và được máy nén K-01 nén từ áp suất 27,5 bar lên áp suất47,5 bar Dòng ra khỏi máy nén K-01 được đưa vào E-08 sau đó vào tháp C-
04 Do bình tách V-03 phải giảm áp suất vận hành từ 75 bar theo thiết kếxuống còn 45 bar (vì các lý do đã trình bày ở mục trên) nên lượng lỏng từđáy bình tách V-03 được đưa trực tiếp qua E-04A/B mà không đi vào thiết bịtrao đổi nhiệt E-08 như thiết kế Vì vậy E-08 và C-04 lúc này không hoạt