Theo đó ở chương này, chúng ta sẽ tìm hiểu về cách tính thu nhập chịu thuế = doanh thu – chi phí hợp lý + thu nhập chịu thuế khác; đồng thời sẽ trình bày những bất cập và hướng hoàn thiệ
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI NÓI ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Phạm vi nghiên cứu 4
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Bố cục của luận văn 5
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 6
1 Lược sử phát triển của pháp luật Thuế thu nhập doanh nghịêp ở Việt Nam 6
1.1 Thuế lợi tức và nhược điểm của nó 6
1.2 Sự ra đời của Thuế thu nhập doanh nghiệp (Thuế TNDN) 9
2 Bản chất và đặc điểmcủa Thuế thu nhập doanh nghiệp 13
2.1 Bản chất 13
2.2 Đặc điểm 14
3 Phạm vi áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp 15
3.1 Đối tượng có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 15
3.2 Đối tượng không thuộc diện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 17
CHƯƠNG 2:THU NHẬP CHỊU THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 19
1 Thu nhập chịu thuế 19
1.1 Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế 20
1.1.1 Cách xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế 20
1.1.2 Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế 20
1.1.3 Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế trong một số trường hợp 22
1.2 Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế 25
1.3 Thu nhập chịu thuế khác 42
1.4 Vấn đề chuyển lỗ: 46
2 Thu nhập chịu thuế và thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất 48
2.1 Đối tượng chịu thuế 48
2.2 Đối tượng nộp thuế 50
2.3 Thu nhập chịu thuế 50
2.3.1 Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế 50
2.3.2 Chi phí chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất: 51
2.4 Thuế suất thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất 52
3 Thuế thu nhập doanh nghiệp từ chuyển nhượng vốn đầu tư vào cơ sở kinh doanh 55
3.1 Phạm vi áp dụng 55
3.2 Căn cứ tính thuế 56
3.2.1 Thu nhập chịu thuế: 56
3.2.2 Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 57
3.2.3 Xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp 57
CHƯƠNG 3: THUẾ SUẤT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 58
1.Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 58
1.1 Thuế suất phổ thông 58
1.2 Thuế suất từ 28 – 50% 60
1.3 Thuế suất ưu đãi 61
Trang 21.3.1 Điều kiện ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 61
1.3.2 Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi và thời hạn áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi 61
2 Một số vấn đề khác về Thuế thu nhập doanh nghiệp 65
2.1 Hướng hoàn thiện phạm vi áp dụng Thuế thu nhập doanh nghiệp 65
2.1.1 Đối tượng có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 65
2.1.2 Đối tượng không có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 67
2.2 Vấn đề thông tư, nghị đinh hướng dẫn luật 68
KẾT LUẬN 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Phụ lục A 75
Phụ lục B 82
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách thuế là một trong những công cụ cơ bản trong quản lý kinh tế của Nhà nước nhằm tăng nguồn thu ngân sách quốc gia, góp phần thực hiện công bằng
xã hội, kích thích các thành phần kinh tế, tăng cường cạnh tranh và đầu tư phát triển Ở nước ta, từ năm 1990 đến nay, Chính phủ đã không ngừng đổi mới chính sách thuế phù hợp với cơ chế kinh tế và xu hướng hội nhập kinh tế thế giới Hiện nay, hệ thống thuế tương đối hoàn chỉnh bao gồm các sắc thuế được quy định thành luật: thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thuế thu nhập cá nhân, thuế tiêu thụ đặc biệt…Trong các loại thuế, thuế thu nhập doanh nghiệp được các doanh nghiệp hết sức quan tâm, bởi đó là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của doanh nghiệp, ảnh hưởng rõ nhất đến lợi ích của doanh nghiệp, có tác động không nhỏ đến quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp theo hai xu hướng hoặc là khuyến khích hoặc là không khuyến khích Trong tổng thu ngân sách nhà nước từ thuế cuả Việt Nam, thuế thu nhập doanh nghiệp chiếm khoảng 24,4% tổng số thu ngân sách từ thuế, phí và lệ phí; thuế thu nhập cá nhân chiếm 2,3%; thuế giá tri gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt chiếm 35,7%; thuế xuất nhập khẩu chiếm 13,6%; còn lại các loại thuế khác chiếm 23,9%1 Như vậy, tỷ trọng Thuế thu nhập doanh nghiệp đang ở mức cao trong tổng thu của hệ thống thuế Việt Nam Để thuận tiện cho việc nộp thuế cũng như thu thuế thu nhập doanh nghiệp, chúng ta cần có chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp thật bình đẳng, minh bạch,
rõ ràng…Đặc biệt, sau khi chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam phải thực hiện ngay một số cam kết quốc tế từ thời điểm này, một số cam kết khác được thực hiện theo lộ trình tối đa 5 năm Đối chiếu đến những điểm trong chính sách Thuế thu nhập doanh nghiệp, một số văn bản như Nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 và Nghị định số 152/2004/NĐ-CP ngày 06/8/2004 đang bộc lộ những quy định chưa thật rõ ràng, minh bạch, hiệu quả
và chưa phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp trong tình hình mới, nhất là trong tình hình áp dụng Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư mới Do vậy, chúng ta cần sửa đổi các nghị định của Chính phủ và bước tiếp theo là sửa đổi luật Việc sửa đổi lần này hướng tới các chuẩn mực tiên tiến, đảm bảo sự rõ ràng, đơn giản và minh bạch, đồng thời đáp ứng được nhu cầu thực tiễn đang đặt ra, nhằm nâng cao hiệu quả và
1 Nguồn: Can Developng countries impose an Individual Incom Tax, J.Alm and S.wallace, May 2004
Trang 4tính khả thi của chính sách thuế, tạo thuận lợi và bình đẳng hơn cho doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế cạnh tranh lành mạnh và phát triển Với những mục tiêu và nguyên tắc đó, ngày 14/02/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp thay thế Nghị định số 164/2007/NĐ-CP và 154/2003/NĐ-CP
Nghị định quy định chi tiết thi hành thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành (NĐ24/2007/NĐ-CP) sửa đổi tập trung vào các điều kiện ưu đãi thuế, các mức ưu đãi, các quy định liên quan đến chi phí hợp lý và một số khoản thu nhập khác phát sinh trong kinh tế thị trường Chính những sự thay đổi, bổ sung mới này sẽ làm thay đổi thuế thu nhập doanh nghiệp mà cơ sở kinh doanh phải nộp vào ngân sách nhà nước, ảnh hưởng đến lợi ích và khả năng tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp.Năm 2008, dự kiến Quốc hội sẽ thông qua Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi, nhằm tạo môi trường thuận lợi cho nhà đầu tư, đảm bảo phù hợp với thông
lệ quốc tế đồng thời đảm bảo tính minh bạch và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Vì vậy, nghiên cứu về các căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp là cần thiết trong giai đoạn hiện nay
2 Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu thuế thu nhập doanh nghiệp là một vấn đề rộng bao gồm nhiều khía cạnh Trong khuôn khổ luận văn, người viết tập trung nghiên cứu về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp – tức là xoáy sâu vào hai nội dung chính: thu nhập chịu thuế và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
3 Mục tiêu nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu đề tài sẽ làm rõ lên những điểm tiến bộ; đồng thời cho thấy những điểm hạn chế cần khắc phục đang tồn tại trong các văn bản pháp luật hiện hành Từ đó, người viết mong muốn tiến tới mục tiêu cao hơn là đóng góp một số ý kiến nhằm góp phần hoàn thiện các căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được đề tài, người viết sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, bình luận những quy định thuế thu nhập doanh nghiệp, so sánh giữa văn bản hiện hành và văn bản trước đây đã hết hiệu lực, giữa quy định của luật Việt Nam và luật nước ngoài về một số vấn đề nghiên cứu trong luận văn này
Trang 55 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành ba chương riêng biệt với nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Khái quát về Thuế thu nhập doanh nghiệp
Trình bày về sự phát triển của Thuế thu nhập doanh nghiệp từ những ngày mới hình thành với tên gọi là thuế lợi tức Đặc điểm, bản chất cũng như phạm vi áp dụng và hướng hoàn thiện của Thuế thu nhập doanh nghiệp
Chương 2: Thu nhập chịu thuế TNDN và hướng hoàn thiện
Căn cứ tính Thuế thu nhập doanh nghiệp là thu nhập chịu thuế và thuế suất Theo đó ở chương này, chúng ta sẽ tìm hiểu về cách tính thu nhập chịu thuế (= doanh thu – chi phí hợp lý + thu nhập chịu thuế khác); đồng thời sẽ trình bày những bất cập và hướng hoàn thiện về các khoản chi không tính vào chi phí hợp lý như việc khống chế tỷ lệ chi phí quảng cáo và chi phí khác không quá 10%, phần chi vượt múc theo quy định của pháp luật có liên quan về trang phục, tiền ăn giữa ca, phần chi trả lãi tiền vay vốn sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ của đối tượng ngoài các ngân hàng, các tổ chúc tín dụng và các tổ chức kinh tế vượt quá 1,2 lần mức lãi suất cho vay của ngnân hàng tại thời điểm vay Ngoài ra, có đề cập đến vấn đề chuyển lỗ, thuế thu nhập doanh nghiệp từ chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất
Chương 3: Thuế suất Thuế TNDN và hướng hoàn thiện
Ở chương này, trình bày về thuế suất tiêu chuẩn 28%, thuế suất ưu đãi với các mức 20%, 15%, 10% và mức thuế suất cao từ 28% - 50% đối với cơ sở kinh doanh tiến hành tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm khác; đồng thời trình bày hướng hoàn thiện về thuế suất (thuế suất tiêu chuẩn và thuế suất
ưu đãi)
Ngoài ra, ở chương 3, còn trình bày thêm về một số vấn đề khác về thuế thu nhập doanh nghiệp như: đối tượng có nghĩa vụ nộp thuế và đối tượng không có nghĩa vụ nộp thuế, vấn đề nghị định và thông tư hướng dẫn luật…
Với trình độ của một sinh viên, kinh nghiệm thực tế rất ít, mặc dù có cố gắng nhưng bài viết chắc chắn sẽ không tránh được những sai sót Vì vậy tác giả mong sự đóng góp ý kiến của của quý thầy cô, bạn bè Xin chân thành cảm ơn
Sinh viên thực hiện Huỳnh Thị Thu Thảo
Trang 6CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THUẾ THU NHẬP
số điều của Luật thuế lợi tức đã được Quốc hội khóa IX, kỳ họp khóa 3 thông qua ngày 06/7/1993
Trãi qua quá trình áp dụng trong thực tiễn, Luật thuế lợi tức đã thu được nhiếu kết quả so với chế độ thu cũ2 Điển hình là áp dụng chung một chính sách thuế lợi tức đối với các thành phần kinh tế đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong cạnh tranh, tạo diều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển Đối với kinh tế quốc doanh áp dụng chính sách thuế lợi tức thay cho chế độ thu quốc doanh mang nặng tính bao cấp trước đây đã thật sự có tác động mạnh mẽ thúc đẩy các xí nghiệp tăng cường hoạch toán kinh doanh, từng bước thích ứng với cơ chế thị trường để tồn tại và phát triển; hạn chế tình trạng “lãi giả, lỗ thật” Ở các cơ sở kinh doanh, đã được sắp xếp lại từ 12000, đến 1995 còn khoản 7000 cơ sở và đến năm 1998 chỉ còn 5000 cơ sở, giảm bớt những doanh nghiệp kinh doanh bị thua lỗ Đối với kinh
tế ngoài quốc doanh cũng được áp dụng một chính sách thuế như đối với kinh tế quốc doanh đã tạo ra sự phấn khởi, kích thích các thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, làm cho các ngành nghề ngày càng đa dạng, phong phú hơn Đến năm 1995 đã có thêm hàng vạn các cơ sở kinh doanh thhuộc các loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần Khu vực
cá thể, tổ chức kinh tế của các đoàn thể cũng tham gia kinh doanh thương mại, dịch
2 Từ năm 1961, hệ thống chính sách thuế nước ta được chia thành hai mảng lớn: Đối với xí nghiệp quốc doanh thực hiện chế độ thu quốc doanh (gián tiếp) và chế độ trích nộp lợi nhuận (trực thu), đối với đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh thực hiện chế độ thuế Như vậy vai trò của thuế được sử dụng rất là hạn chế cả về
số lượng (chỉ trong phạm vi là kinh tế ngoài quốc doanh) và cả về chất lượng (vì giá cả, cung – cầu đều do nhà nước trực tiếp quy định và chi phối) Hai mảng này tồn tai cho đến tháng 8 năm 1990.
Trang 7vụ ngày càng nhiều hơn Các doanh nghiệp trong nước phát triển và hoạt động kinh doanh ngày càng có hiệu quả và là những đối tác thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển mạnh các hoạt động dịch vụ góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế trong nước Chính sách thuế quy định nhiều nhiều ưu đãi đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng thu hút các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài, theo tài liệu của Bộ kế hoạch và Đầu tư, tính đến ngày 31/5/1996 hiện có 1474 dự án đầu tư của 54 nước
và vùng lãnh thổ được cấp giấy phép đang có hiệu lực, với tổng số vốn hơn 25,5 tỷ đôla3 Ngoài ra còn có các hình thức đầu tư gián tiếp trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp luật, giáo dục, y tế…Có thể nói, sự ra đời của thuế lợi tức
đã góp phần đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng và có bước phát triển.Báo cáo của Chính Phủ số 5211-TH ngày 15/10/1996 do Thủ tướng Võ Văn Kiệt trình bày tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX đã khẳng định: “Từ chỗ dựa một phần quan trọng vào viện trợ nước ngoài, ngân sách nhà nước đã dần dần tích lũy trong nước làm nguồn thu chủ yếu, đáp ứng được nhu cầu chi thường xuyên và dành một phần cho đầu tư phát triển Đó là một thành tựu quan trọng của quá trình đổi mới” Song bên cạnh đó tình hình kinh tế xã hội luôn có những bước phát triển mới, kinh tế thị trường đã và đang hình thành ở nước ta, Luật Thuế lợi tức đã ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế và gây ảnh hưởng tiêu cực không nhỏ đến tiến trình phát triển của nền kinh tế nước ta, cụ thể:
- Về tên gọi “Thuế lợi tức” không phản ánh đầy đủ nội dung kinh tế của thuế này Khái niệm lợi tức thường được hiểu là lợi tức trong kinh doanh.Trong kinh tế thị trường, các khoản thu rất đa dạng, phong phú, có khoản thu từ lợi tức kinh doanh, có khoản thu không phải từ kinh doanh như: các khoản thu từ chuyển nhượng vốn, tài sản, chuyển giao công nghệ, bản quyền, các khoản nợ khó đòi đã
xử lý xóa nợ nay đòi được, thu các khoản phải trả nhưng không xác định được chủ
nợ và các khoản thu nhập khác trong kinh doanh Do vậy, khái niệm lợi tức không bao quát được hết các khoản thu nhập của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
- Phạm vi điều chỉnh của Luật Thuế lợi tức còn hạn hẹp, không bao quát hết mọi loại hình kinh doanh, mọi loại thu nhập đã và đang phát sinh, phát triển đa dạng trong nền kinh tế thị trường Trong Luật Thuế lợi tức tuy đã có những quy định lợi tức chịu thuế bao gồm: lợi tức kinh doanh và lợi tức khác, nhưng trong thực tế việc giải thích các khoản lợi tức khác chưa có tính thuyết phục cao, nhất là các xí nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài
3 PGS.Quách Đức Pháp – “Thuế - Công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế” – NXB Xây dựng, Hà Nội 1999,
trang 114
Trang 8- Mức động viên thu nhập của các cơ sở sản xuất, kinh doanh vào ngân sách nhà nước còn bất hợp lý như mức thuế suất áp dụng còn quá cao, quá chênh lệch giữa các ngành nghề, điều đó không những hạn chế doanh nghiệp tích lũy tái đầu tư
mà còn gây khó khăn, phức tạp cho công tác quản lý, thu nộp thuế đồng thời tạo kẽ
hở cho tham nhũng, tiêu cực phát sinh, phát triển Đặc biệt, trong Luật Thuế lợi tức, thuế suất áp dụng còn khác biệt quá lớn giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, gây sự bất bình đẳng lớn trong kinh doanh, trong cạnh tranh, không khuyến khích các nhà đầu tư trong nước tăng tích lũy để tái đầu
tư mà còn tạo ra tâm lý cho các doanh nghiệp trong nước luôn tìm cách trốn thuế Việc dành quá nhiều ưu đãi về thuế cho các nhà đầu tư nước ngoài không những không gây hứng thú cho họ mà làm cho họ hoài nghi về môi trường đầu tư ở Việt Nam Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được hưởng mức thuế suất thuế lợi tức (25%) thấp hơn so với doanh nghiệp trong nước (25, 35, 45% tùy theo ngành nghề kinh doanh) Tùy theo mức độ cần khuyến khích đầu tư đối với từng nghành nghề, từng khu vực, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn có thể được hưởng mức thuế suất lợi tức thấp hơn 25% trong một số năm; được miễn thuế lợi tức đến 8 năm và được giảm 50% số thuế lợi tức trong 4 năm tiếp theo Tổ chức, cá nhân nước ngoài dùng lợi nhuận thu được để tái đầu tư tại Việt Nam thì được hoàn trả số thuế lợi tức đã nộp trên phần lợi nhuận tái đầu tư
- Nhiều quy định trong thuế lợi tức không còn phù hợp như: Một số quy định
về chi phí hợp lý, hợp lệ hoặc quy định về miễm giảm thuế lợi tức, về chế độ đa thuế suất với ba mức thuế suất với ba nhóm nghành nghề: 25% đối với công nghiệp nặng, vận tải, xây dựng; 35% đối với sản xuất hàng tiêu dung; 45% đối với kinh doanh thương nghiệp, dịch vụ, ăn uống Nhưng trong kinh tế thị trường, nhiều doanh nghiệp kinh doanh tổng hợp đa dạng; vừa sản xuất vừa đưa hàng đi tiêu thụ
và bảo hành trên địa bàn cả nước nên khó có thể phân định số lợi tức đạt được trong từng khâu sản xuất, vận tải, thương nghiệp, dịch vụ để thu thuế theo đúng quy định Điều bất lợi thứ hai là không thực tế vì những mặt hàng thiết yếu cho sản xuất và đời sống thì thường được áp dụng thuế suất thấp với mong muốn là có giá bán rẻ hơn nhằm mang lại sự ưu đãi cho đối tượng tiêu dùng Nhưng trong kinh tế thị trường, giá cả hàng hóa do cung - cầu quyết định, cho nên trong trường hợp cung nhỏ hơn cầu thì giá bán vẫn tăng lên và người tiêu dùng không được hưởng ưu đãi
đó Vì vậy, chế độ đa thuế suất không còn phù hợp nên chẳng mang lại kết quả trong thực tế
- Nhiều quy định chưa được tập trung rải ra nhiều văn bản và phức tạp dẫn đến việc thực hiện gặp nhiều khó khăn Các cơ sở kinh doanh trong nước và các
Trang 9doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhưng hoạt động không theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chịu sự điều chỉnh của Luật Thuế lợi tức Trong khi đó doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới các hình thức trong Luật Đầu tư phải nộp thuế lợi tức được quy định trong luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Với những nội dung không nhất quán, thuế lợi tức chồng chéo, thiếu rõ ràng dẫn đến vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Thuế lợi tức còn hạn chế
Vì vậy, phải đổi Luật Thuế lợi tức thành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp
1.2 Sự ra đời của Thuế thu nhập doanh nghiệp (Thuế TNDN)
Để khắc phục những nhược điểm cơ bản của Luật Thuế lợi tức, đảm bảo sự phù hợp của chính sách thuế đối với sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong giai đoạn đổi mới, đảm bảo cho hệ thống thuế Việt Nam từng bước hòa nhập với hệ thống thuế trong khu vực và trên thế giới, Luật Thuế thuế thu nhập doanh nghiệp đã được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 11 từ ngày 02 tháng 4 đến ngày 10 tháng 5 năm
1997 thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 1999 Được ban hành để thay thế cho Luật Thuế lợi tức trước đó, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu, yêu cầu sau:
- Bao quát và điều tiết được tất cả tất cả các khoản thu nhập đã, đang và sẽ phát sinh của cơ sở kinh doanh hoạt động trong cơ chế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa của nước ta
- Thông qua việc ưu đãi về thuế suất, về miễn thuế, giảm thuế, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước tiết kiệm để dành vốn đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh
- Từng bước thu hẹp sự phân biệt giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước, giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, đảm bảo sự bình đẳng trong sản xuất, kinh doanh phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần ở nước ta
- Hệ thống hóa những ưu đãi về thuế trong các luật khác vào Luật Thuế TNDN, đảm bảo sự thống nhất trong việc thực hiện các chế độưu đãi thuế
Luật Thuế TNDN năm 1997 có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 1999 được
áp dụng thống nhất cho các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
có thu nhập chịu thuế thuộc mọi thành phần kinh tế đã góp phần đáng kể vào việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và tăng thu cho ngân sách nhà nước Qua bốn năm thực hiện, Luật Thuế TNDN năm 1999 đã đạt được kết quả sau:
Thứ nhất, thông qua việc quy định miễn, giảm thuế cho các dự án đầu tư, Luật Thuế TNDN đã góp phần quan trọng kích thích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư thành lập doanh nghiệp mới, xây dựng dây chuyền sản xuất mới
Trang 10mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải thiện môi trường sinh thái, nâng cao năng lực sản xuất, khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư vào lĩnh vực, ngành nghề, vùng kinh tế theo đúng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước.
Thứ hai, Luật Thuế TNDN đã điều tiết được hầu hết các khoản thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; số thu về Thuế TNDN tăng trưởng hàng năm và chiếm tỷ trọng khoảng 24,4% trong tổng thu thuế và phí
Thứ ba, thông qua việc quy định doanh thu, các khoản chi phí hợp lý phải có hóa đơn, chứng từ hợp pháp, Luật Thuế TNDN đã thúc đẩy các cơ sở kinh doanh tăng cường hoạch toán kinh doanh, củng cố công tác kế toán, hóa đơn, chứng từ, tiết kiệm chi phí, từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Thứ tư, Luật Thuế TNDN đã đơn giản, dễ thực hiện hơn so với Luật Thuế lợi tức trước đây Luật Thuế TNDN vối mức thuế suất chung 32% đã tạo điều kiện thuận lợi cho cơ sở kinh doanh trong công tác hoạch toán, kế toán, trong việc xác định thu nhập chịu thuế, trong việc kê khai, nộp thuế, nhất là đối với doanh nghiệp kinh doanh đa dạng, nhiều ngành nghề (Luật Thuế lợi tức cũ có ba mức thuế suất phân biệt cho ba loại nghành nghề) Do dó, đã tiết kiệm được thời gian, chi phí vật chất, nhân lực của cơ sở kinh doanh và của cơ quan thuế
Bên cạnh những ưu điểm, Luật Thuế TNDN 1997 còn bộc lộ một số hạn chế chủ yếu sau:
- Một là, đối tượng chịu thuế chưa bao quát hết các khoản thu nhập cần điều tiết cho ngân sách nhà nước
- Hai là, thuế suất thuế TNDN còn cao, chưa tạo điều kiện cho cơ sở kinh doanh tích tụ vốn tái sản xuất mở rộng
- Ba là, mức thuế suất thuế TNDN và ưu đãi thuế còn phân biệt giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Các quy định về ưu đãi, miễn giảm thuế TNDN được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật gây khó khăn, phức tạp cho việc theo dõi thực hiện
Ngày 17/6/2003, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Thuế thu nhập (sửa đổi) với những bổ sung, sửa đổi cơ bản (sau đây gọi tắt là Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2003) Việc ban hành Luật Thuế TNDN năm 2003 xuất phát từ những lý do sau:
- Giảm mức điều tiết qua thuế trực thu, hạ thuế suất Thuế TNDN để khuyến khích đầu tư, sản xuất, kinh doanh nhằm nuôi dưỡng nguồn thu, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Từng bước thu hẹp để tiến tới xóa bỏ sự phân biệt trong chính sách Thuế TNDN trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 11- Tạo ra sự thống nhất, đồng bộ giữa Thuế TNDN với các văn bản pháp luật khác.
- Cải cách thủ tục hành chính trong thủ tục kê khai, nộp thuế, tăng cường trách nhiệm của đối tượng nộp thuế
Luật Thuế TNDN 2003 đã sửa đổi, bổ sung khá nhiều với những vấn đề cơ bản Bảng so sánh sau đây chỉ rõ sự khác biệt về cấu trúc các điều khoản của Luật Thuế TNDN 2003 so với Luật Thuế TNDN 1997:
Luật Thuế TNDN 1997 Luật Thuế TNDN 2003
Chương I Những quy định chung
Điều 1: Đối tượng nộp thuế TNDN
Điều 2: Đối tượng không nộp thuế TNDN
Điều 3: Giải thích từ ngữ
Điều 4: Nghĩa vụ, trách nhiệm thực hiện
Luật thuế TNDN
Chương I Những quy định chung
Điều 1: Đối tượng nộp thuế TNDN Điều 2: Đối tượng không nộp thuế TNDN Điều 3: Giải thích từ ngữ
Điều 4: Nghĩa vụ, trách nhiệm thực hiện
Luật thuế TNDN
Chương II Căn cứ tính thuế và thuế suất
Điều 5: Căn cứ tính thuế
Điều 6: Thu nhập chịu thuế
Điều 7: Xác định thu nhập chiu thuế
Điều 8: Doanh thu
Điều 9: Chi phí
Điều 10: Thuế suất
Chương II Căn cứ tính thuế và thuế suất
Điều 5: Căn cứ tính thuế Điều 6: Thu nhập chịu thuế Điều 7: Xác định thu nhập chiu thuế Điều 8: Doanh thu
Điều 9: Chi phí Điều 10: Thuế suất
Chương III
Kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế
Điều 11: Trách nhiệm của cơ sở kinh
doanh
Điều 12: Kê khai thuế
Điều 13: Nộp thuế
Điều 14: Quyết toán thuế
Điều 15: Nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm của cơ quan thuế
Điều 16: Quyền ấn định thu nhập chịu
thuế
Chương III
Kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế
Điều 11: Trách nhiệm của cơ sở kinh
doanh
Điều 12: Kê khai thuế Điều 13: Nộp thuế Điều 14: Quyết toán thuế Điều 15: Nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm của cơ quan thuế
Điều 16: Quyền ấn định thu nhập chịu thuế
Chương IV Miễn thuế, giảm thuế TNDN
Điều 17: Miễm thuế, giảm thuế cho cơ sở
Chương IV Miễn thuế, giảm thuế TNDN
Điều 17: Miễn thuế, giảm thuế cho dự án
Trang 12kinh doanh mới thành lập
Điều 18: Miễn thuế, giảm thuế cho cơ sở
kinh doanh trong nước trong trường hợp
đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới,
mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải
thiện môi trường sinh thái, nâng cao năng
lực sản xuất
Điều 19: Hoàn thiện cho số thu nhập tái
đầu tư đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư
ngước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác
kinh doanh
Điều 20: Miễn thuế cho sơ sở kinh doanh
di chuyển đến vùng núi, hải đảo và những
vùng khó khăn khác
Điều 21: Miễn thuế, giảm thuế cho các
trường hợp khác
Điềi 22: Xét miễn, giảm thuế
đầu tư thành lập cơ sở kinh doannh, hợp tác
xã, cơ sở kinh doanh di chuyển địa điểm
Điều 18: Miễn thuế, giảm thuế cho cơ sở
kinh doanh đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải thiện môi trường sinh thái, nâng cao năng lực sản xuất
Điều 19: Miễn thuế, giảm thuế cho các
trường hợp khác
Điều 20: Chuyển lỗ Điều 21: Thủ tục thực hiện miễn, giảm
thuế và chuyển lỗ
Chương V
Xử lý vi phạm, khen thưởng
Điều 24: Xử lý vi phạm về thuế dối với
đối tượng nộp thuế
Điều 25: Thẩm quyền của cơ quan thuế
Điều 28: Quyền và trách nhiệm của đối
tượng nộp thuế trong khiếu nại về thuế
Điều 29: Trách nhiệm và quyền hạn của
cơ quan thuế trong giải quyết khiếu nại về
thuế
Chương VI Khiếu nại và thời hiệu
Điều 26: Quyền và trách nhiệm của đối
tượng nộp thuế trong khiếu nại về thuế
Điều 27: Trách nhiệm và quyền hạn của cơ
quan thuế trong giải quyết khiếu nại về thuế
Trang 13Điều 31: Trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ
Tài chính
Điều 32: Trách nhiệm của UBND các cấp
Điều 29: Trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ
Tài chính
Điều 30: Trách nhiệm của UBND các cấp
Chương VIII Điều khoản thi hành
Điều 33: Hiệu lực thi hành
Điều 34: Quy định chi tiết
Chương VIII Điều khoản thi hành
Điều 31: Hiệu lực thi hành Điều 32: Quy định chi tiết
Bảng so sánh trên cho thấy, Luật Thuế TNDN 2003 vẫn có 8 chương như Luật Thuế TNDN 1997, song chỉ có 32 điều tức là giảm đi 02 điều khoản Hai điều khoản không có trong Luật Thuế TNDN 2003 là Điều 17 (cũ): Miễn, giảm thuế cho
cơ sở kinh doanh mới thành lập và Điều 19 (cũ): Hoàn thuế cho số thu nhập tái đầu
tư đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh Sự khác nhau chủ yếu thể hiện ở nội dung những điều khoản sửa đổi, bổ sung
Trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành, Thuế TNDN có thể được hiểu như sau: Thuế TNDN là loại thuế trực thu, thu vào phần thu nhập của các cở sở kinh doanh nhằm đảm bảo sự đóng góp công bằng, hợp lý giữa các cá nhân, tổ chức sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển
2 Bản chất và đặc điểmcủa Thuế thu nhập doanh nghiệp
2.1 Bản chất
Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu Thuế này đánh vào thu nhập của các cơ sở kinh doanh có thu nhập phát sinh trong kỳ tính thuế sau khi trừ các chi phí liên quan đến thu nhập của các cơ sở kinh doanh, dịch vụ đó Bản chất kinh tế của thuế trực thu là người nộp thuế đồng thời là người chịu thuế Căn cứ mức thuế qui định trong pháp luật thuế, người nộp thuế tự tính và trích một phần thu nhập của mình trực tiếp nộp cho nhà nước Tuy nhiên nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp cũng có thể được chuyển cho những đối tượng khác, chẳng hạn như
cổ đông ở công ty cổ phần (vì lấy thu nhập sau thuế để chia lợi nhuận), hoặc người tiêu dùng (vì doanh nghiệp doanh nghiệp có thể tính luôn tiền thuế vào giá thành sản phẩm) …
Ví dụ: Một doanh nghiệp có thu nhập trước thuế là 100 triệu đồng sau khi thực hiện nghĩa vụ thuế (với thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 28%), doanh nghiệp còn lại 72 triệu Doanh nghiệp sẽ dùng 72 triệu này để chia cho các cổ đông
Trang 14của mình Như vậy chính các cổ đông phải là người chịu thuế mà không phải công
ty cổ phần
Ưu điểm của thuế trực thu là động viên vào thu nhập của từng tổ chức, cá nhân có thu nhập cho nên đảm bảo được tính công bằng xã hội: người có thu nhập cao thì phải nộp thuế nhiều người có thu nhập vừa thì phải nộp thuế ít hơn, người không có thu nhập thì không phải nộp thuế Nhưng thuế trực thu cũng có những mặt bất lợi (mặt hạn chế) là: việc tính toán phức tạp hơn và thường là phải xác định rõ thu nhập thì mới thu được thuế nên rất chậm Nhiều trường hợp phải đến kỳ quyết toán mới thu được đủ thuế có trường hợp thu thiếu thì phải nộp thêm, thu thừa thì phải thoái trả Một trở ngại khác là thuế thu trực diện vào thu nhập của tổ chức, cá nhân nên tâm lý là dễ bị phản ứng
2.2 Đặc điểm
Thuế thu nhập doanh nghiệp cũng là một loại thuế thu nhập, nên nó có một
số đặc điểm chung với thuế thu nhập cá nhân như sau:
- Thứ nhất Thuế thu nhập doanh nghiệp có đối tượng đánh thuế là thu nhập Trong hệ thống thuế của các nước, bất kỳ loại thuế nào suy cho đến cùng cũng đều lấy từ thu nhập dân cư trong xã hội để tập trung vào quỹ ngân sách nhà nước Tuy nhiên không phải loại thuế nào cũng là thuế thu nhập Do thuế thu nhập doanh nghiệp có đối tượng đánh thuế là thu nhập phát sinh, vì thế một nội dung quan trong trong chính sách thuế này là phải xác định được thu nhập chịu thuế Không phải khoản thu nhập nào cũng là thu nhập chịu thuế mà chỉ có một số khoản thu nhập đáp ứng những điều kiện nhất định mới là thu nhập chịu thuế Thông thường thu nhập chịu thuế phải là những khoản thu nhập hợp pháp, đã thực tế phát sinh, có tính phổ biến và nhà nước có thể kiểm soát được Có như vậy, pháp luật thuế mới đảm bảo tính khả thi, đảm bảo tính công bằng cho đối tượng nộp thuế đảm bảo nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước… Tuy nhiên các khoản thu nhập chịu thuế được pháp luật qui định không hoàn toàn giống nhau ở các nước
- Thứ hai, Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu, ngoài mục tiêu tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, nó còn có mục tiêu điều tiết kinh tế, điều hoà thu nhập xã hội nên thường gắn liền với chính sách kinh tế xã hhội của nhà nước Bởi vậy, pháp luật thuế thu nhập ở các nước thường có những quy định về chế độ ưu đãi, miễn, giảm thuế để đảm bảo chức năng khuyến khích thuế thu nhập
- Thứ ba, Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế phức tạp có tính ổn định cao, việc quản lý thuế, thu thuế tương đối khó khăn chi phí quản lý thuế thường lớn hơn so với các loại thuế khác Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp, ngoài việc xác định các khoản thu nhập chịu thuế còn phải xác định nguồn gốc thu nhập, địa điểm
Trang 15phát sinh thu nhập, thời gian cư trú của chủ sở hữu thu nhập, tính ổn định của thu nhập…
Trong phần xác định thu nhập chịu thuế, phải xác định được các khoản khấu trừ hợp lý để tiến hành khấu trừ khi tính thuế nhằm đảmbảo mực tiêu công bằng và khuyến khích đối với đối tượng nộp thuế
- Thứ tư, nguồn luật điều chỉnh thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm các văn bản pháp lật quốc gia và cả Luật quốc tế Bởi thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu nên nó có thể là đối tượng được điều chỉnh bởi hiệp định tránh đánh thuế hai lần Trong quá trình kinh doanh, một đơn vị kinh doanh ngoài địa điểm kinh doanh chính còn có các chi nhánh, công ty phụ thuộc kinh doanh ở địa điểm khác Ở nước ngoài, các chi nhánh, công ty phải nộp thuế đối với thu nhập phát sinh theo luật pháp nước sở tại, đồng thời cũng khoản thu nhập đó khi chuyển về trụ sở chính lại chịu thuế một lần nữa theo luật pháp nước đơn vị kinh doanh đó thành lập Như vậy xảy ra việc đánh thuế trùng đối với cùng một khoản thu nhập của một đơn
vị kinh doanh Hiệp định tránh đánh thuế trùng của Chính phủ Việt Nam ký với chính phủ các nước là để phân chia quyền đánh thuế và tránh hiện tượng đánh thuế trùng đối với cùng một khoản thu nhập, nhằm đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài, khuyến khích họ đầu tư vào Việt Nam Ngược lại các nhà đầu tư Việt Nam đầu tư ra nước ngoài cũng được hưởng quy định này
Tuy nhiên, thuế thu nhập doanh nghiệp có đặc điểm riêng là thuế thu nhập doanh nghiệp được áp dụng một thuế suất Thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân đều là thuế trực thu đánh vào thu nhập nên nếu chỉ dừng lại ở bốn đặc điểm trên thì ta có thể phân biệt được thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế khác nhưng cũng có thể nhầm lẫn với thuế thu nhập cá nhân Điểm khác biệt giữa hai loại thuế này có thể là thuế suất Vì hai chủ thể này khác nhau ở qui mô, ở hình thức sở hữu, một bên có thể là sở hữu của nhiều người và một bên là sở hữu của một người nên thông thường thuế thu nhập doanh nghiệp được áp dụng một thuế suất, còn thuế thu nhập cá nhân đánh vào thu nhập của từng cá nhân thì áp dụng thuế suất lũy tiến từng phần
3 Phạm vi áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp
3.1 Đối tượng có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ gọi chung là cơ sở kinh doanh) có thu nhập phải nộp Thuế thu nhập doanh nghiệp Như vậy, đối tượng
có nghĩa vụ nộp Thuế thu nhập doanh nghiệp là rất rộng, không chỉ dừng lại ở các doanh nghiệp kinh doanh theo đúng nghĩa như quy định của Luật Doanh nghiệp
Trang 16(doanh nghiệp gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, nhóm công ty), mà còn có cả cá nhân kinh doanh
@Tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa bao gồm: Doanh nghiệp nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn; công ty cổ phần; công ty hợp doanh; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh theo Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp; các công ty nước ngoài và tổ chức nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam không theo Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp; tổ hợp tác; tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp có tổ chức sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
@Cá nhân trong nước sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bao gồm:
- Cá nhân và nhóm cá nhân kinh doanh
Theo thông tư 134/2007/TT-BTC hướng dẫn nghị định 24: “Công ty nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính”
@Công ty nước ngoài hoạt động kinh doanh thông qua cơ sở thường trú tại Việt Nam
Cơ sở thường trú là cơ sở kinh doanh mà thông qua cơ sở này công ty nước ngoài thực hiện một phần hay toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình tại Việt Nam mang lại thu nhập Cơ sở thường trú của công ty nước ngoài chủ yếu bao gồm các hình thức sau:
- Chi nhánh, văn phòng điều hành, nhà máy, xưởng sản xuất, kho giao nhận hàng hóa, phương tiện vận tải, hầm mỏ, mỏ dầu hoặc khí đốt, địa điểm thăm dò hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên hay các thiết bị phương tiện phục vụ cho việc thăm dò tài nguyên thiên nhiên
- Địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp; các hoạt động giám sát xây dựng, công trình xây dựng lắp đặt, lắp ráp
Trang 17- Cơ sở cung cấp dịch vụ bao gồm dịch vụ tư vấn thông qua người làm công cho mình hoặc một đối tượng khác.
- Đại lý cho công ty ở nước ngoài
- Đại diện của Việt Nam trong các trương hợp:
+ Có thẩm quyền ký kết các hợp đồng đứng tên công ty ở nước ngoài
+ Không có thẩm quyền ký kết các hợp đồng đứng tên công ty ở nước ngoài nhưng thường xuyên thực hiện việc giao nhận hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ tại Việt Nam
Trường hợp Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết có quy định khác về cơ sở thường trú thì thực hiện theo quy định của hiệp định đó
- Theo Dự thảo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm: Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư; liên hiệp hợp tác xã, hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã; tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp; tổ chức được thành lập và hoạt động theo luật pháp Việt Nam, tổ chức nước ngoài được hoạt động hợp pháp tại Việt Nam trong các lĩnh vực từ thiện, nhân đạo, văn hoá, giáo dục, nghệ thuật, nghiên cứu khoa học và các hoạt động xã hội khác vì mục tiêu hoà bình, hữu nghị, phát triển kinh tế - xã hội có thu nhập nhưng không chia (gọi tắt
là tổ chức có thu nhập không chia); và các tổ chức khác có sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, có thu nhập (dưới đây gọi chung là doanh nghiệp), trừ đối tượng quy định tại Điều 3 của Luật Như vậy, đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
đã được tiến hành rà soát, sắp xếp lại, chuyển thu nhập của các thể nhân kinh doanh hiện đang thuộc diện điều chỉnh của Thuế thu nhập doanh nghiệp sang điều chỉnh bởi Luật Thuế thu nhập cá nhân (được quy định tại Điều 2 và Điều 3 của Luật Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009)
3.2 Đối tượng không thuộc diện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
Đối tượng không thuộc diện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm hộ gia đình, cá nhân, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có thu nhập từ sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản; trừ hộ gia đình và cá nhân nông dân sản xuất hàng hóa lớn, có thu nhập cao
Việc nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đối với tổ chức, cá nhân nông dân sản xuất hàng hóa lớn, có thu nhập cao từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản sẽ có quy định riêng
Trang 18Trước đây, nghi định số 30/1998 NĐ- CP ngày 13/5/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 1997 có quy định về sản xuất hàng hóa lớn, có thu nhập cao là: giá trị sản phẩm hàng hóa trên 90 triệu đồng/năm và có thu nhập trên 36 triệu đồng/năm thì phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho phần thu nhập trên 36 triệu đồng4.
Ví dụ: Một hộ gia đình, cá nhân nông dân có giá trị sản phẩm hàng hóa 150 triệu đồng /năm và thu nhập là 60 triệu đồng /năm Hộ gia đình, cá nhân này phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với số tiền là: (60 triệu – 36 triệu) x 32% = 7,68 triệu đồng
Còn ở Thông tư 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003 hướng dẫn thi hành Nghị định 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2003 thì lại quy định: “Tạm thời chưa thu Thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hộ gia đình và cá nhân nông dân sản xuất hàng hóa lớn, có thu nhập cao từ các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản đến khi có quy định của Chính phủ” (khoản 2 mục II Thông tư 128) Thông tư 134/TT-BTC ngày 14/02/2007 vẫn giữ nguyên quy định này của Thông tư 128, tức
là khi chưa có quy định của Chính phủ thì cá nhân và hộ gia đình trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản vẫn chưa nộp Thuế thu nhập doanh nghiệp
Theo dự thảo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, đối tượng không thuộc diện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm:
Tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có thu nhập từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản không thuộc diện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
Trên đây là những khái quát về thuế thu nhập doanh nghiệp Để vào phần trong tâm của đề tài Xin được giới thiệu một trong những phần quan trọng chính của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2003 – Thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp và hướng hoàn thiện
4 Điểm e khoản 2 điều 1 nghi định 30/1998/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 1997
Trang 19CHƯƠNG 2:THU NHẬP CHỊU THUẾ THU NHẬP DOANH
NGHIỆP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
1 Thu nhập chịu thuế
Theo quy định của pháp luật hiện hành, thu nhập chịu thuế được xác định trong từng kỳ tính thuế Kỳ tính thuế được xác định theo năm dương lịch hoặc năm tài chính Kỳ tính thuế đầu tiên đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập và kỳ tính thuế cuối cùng đối với cơ sở kinh doanh chuyển loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, sáp nhập, chia tách, giải thể, phá sản được xác định phù hợp với kỳ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán
Theo Thông tư số 134/2007/TT-BTC ngày 23/11/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định 24 có quy định thêm về kỳ tính thuế như sau: Trường hợp kỳ tính thuế năm đầu tiên của cơ sở kinh doanh mới thành lập và kỳ tính thuế cuối cùng đối với cơ sở kinh doanh chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, phá sản có thời hạn ngắn hơn
03 tháng thì được cộng với kỳ tính thuế năm tiếp theo (đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập) hoặc kỳ tính thuế năm trước (đối với cơ sở kinh doanh chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, hợp nhất, sáp nhập, chia tách, giải thể, phá sản) để hình thành một kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm cuối cùng không vượt quá 15 tháng
Thu nhập chịu thuế được xác định bao gồm: Thu nhập từ sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập khác trong kỳ tính thuế, kể cả thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ ở nước ngoài Thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bằng doanh thu để tính thu nhập chịu thuế trừ (-) các khoản chi phí hợp lý liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ tính thuế
Dự thảo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp đề xuất về xác định thu nhập tính thuế:
Thu nhập tính thuế trong kỳ được xác định bằng thu nhập chịu thuế trừ (-) thu nhập được miễn thuế và các khoản lỗ được kết chuyển từ các năm trước
Thu nhập chịu thuế bằng doanh thu trừ (-) các khoản chi phí được trừ của hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, cộng (+) thu nhập khác nhận được từ các nguồn, kể cả thu nhập thu được ở nước ngoài
Doanh nghiệp có hoạt động chuyển nhượng bất động sản thì phải xác định riêng thu nhập chịu thuế từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản để kê khai nộp thuế riêng
Trang 201.1 Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế
Trước hết doanh thu được hiểu là tổng giá trị các lợi ích mà cơ sở kinh doanh thu được trong kỳ tính thuế, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu
1.1.1 Cách xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế
Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định như sau:
Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng hoá, tiền cung cấp dịch vụ bao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cơ sở kinh doanh được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền
- Đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế là doanh thu chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng
Ví dụ: Cơ sở kinh doanh A là đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế Hoá đơn giá trị gia tăng gồm các chỉ tiêu như sau:
Thuế GTGT (10%): 10.000 đồng
Giá thanh toán : 110.000 đồng
Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là 100.000 đồng
- Đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng là doanh thu bao gồm cả thuế giá trị gia tăng
Ví dụ: Cơ sở kinh doanh B là đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng Hoá đơn bán hàng chỉ ghi giá bán là 110.000 đồng (giá
đã có thuế GTGT)
Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là 110.000 đồng
Theo Dự thảo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, doanh thu để
tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cung ứng dịch
vụ, kể cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cơ sở kinh doanh được hưởng; trường hợp có doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu bằng ngoại tệ
1.1.2 Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế
Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với hoạt động bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá, hoàn thành dịch vụ hoặc thời điểm lập hoá đơn bán hàng, cung ứng dịch vụ5
5 Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 24/2007quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp
Trang 21Theo thông tư 134/2007/NĐ-CP, đối với hoạt động bán hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa hoặc thời điểm xác lập hóa đơn bán hàng Đối với hoạt động cung ứng dịch vụ là thời điểm hoàn thành dịch vụ hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ.
Theo quy định trên có thể hiểu việc chuyển giao quyền sở hữu, hoàn thành việc cung ứng dịch vụ không nhất thết phải đồng thời với thời điểm lập hóa đơn bán hàng, có thể diễn ra trước hoặc sau khi viết hóa đơn bán hàng Hàng hóa được chuyển giao, dịch vụ được cung cấp thì bên bán có thể viết hóa đơn để hoạch toán doanh thu Lợi dụng quy định này, một số doanh nghiệp yêu cầu viết hóa đơn bán trước khi hoàn thành việc giao hàng, cung cấp dịch vụ để hoạch toán tăng chi phí, giảm thu nhập chịu thuế Ngược lại, một số doanh nghiệp với tư cách là người bán trong trường hợp cho mua chịu, mặc dù đã chuyển quyền sở hữu hàng hóa, hoàn thành việc cung cấp dịch vụ vẫn không viết hóa đơn để hoạch toán thu nhập chịu thuế Nếu viết hóa đơn, họ sẽ nộp một khoản thuế thu nhập doanh nghiệp trong khi chưa thu hồi được nợ Bên bán chỉ viết hóa đơn bán lẻ, phiếu xuất kho thông thường hay đơn giản hơn là ký sổ lưu nội bộ làm căn cứ thanh toán thực tế Khi nào nhận được tiền về số hàng hóa, dịch vụ cung cấp trên thì bên bán mới viết hóa đơn Trong
cả hai trường hợp, Nhà nước thất thu một khoản thuế mà lẽ ra phát sinh ngay tại thời điểm trên
Trong trường hợp hợp đồng xây dựng quy định nhà thầu được thanh toán theo tiến độ thì doanh thu và chi phí được ghi nhận tương ứng với phần công việc
đã hoàn thành do nhà đầu thầu tự xác định vào ngày lập báo cáo tài chính, không phụ thuộc vào hóa đơn đã lập hay chưa và số tiền ghi trên hóa dơn là bao nhiêu Phần công việc hoàn thành để xác định doanh thu có thể được xác định một trong
ba phương pháp khác nhau tùy thuộc vào bản chất của hợp đồng (ba phương pháp
đó là:so sánh chi phí đã phát sinh của phần công việc đã hoàn thành với tổng chi phí
dự toán; đánh giá phần công việc đã hoàn thành của hợp đồng; hoặc theo tỷ lệ % giữa khối lượng xây lắp hoàn thành tại thời điểm so với khối lượng xây lắp phải hoàn thành) Nhà thầu căn cứ vào chứng từ để hoạch toán doanh thu trong kỳ kếtoán và đương nhiên trong trường hợp này không cần xác định của bên mua (chủđầu tư) và doanh thu này là căn cứ để xác định thu nhập chịu thuế Trường hợp hợp đồng xây dựng quy định nhà thầu được thanh toán theo tiến độ kế hoạch thì tài liệu pháp lý duy nhất để nhà thầu xác định hoạch toán doanh thu chính là hợp đồng xây dựng – trong đó ghi rõ được thanh toán theo tiến độ và bộ chứng từ xác định doanh thu trên cơ sở phần việc hoàn thành do đơn vị tự xác định Như vậy, đã xác định và hoạch toán được doanh thu nhưng trường hợp này chưa chuyển giao quyền sở hữu
Trang 22và nhà thầu chưa lập hóa đơn bán hàng Vì vậy, cần phải quy định rõ ràng và bổsung về thời điểm xác định doanh thu hợp đồng xây dựng khi nhà thầu được thanh toán theo tiến độ Theo đó, nếu trong hợp đồng xây dựng quy định nhà thầu được thanh toán theo tiến độ thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là doanh thu tương ứng với phần công việc đã hoàn thành do nhà thầu tự xác định vào ngày lập báo cáo tài chính so với tổng khối lượng công việc phải hoàn thành được ghi trong dựtoán và phản ánh trong hợp đồng xây dựng6
1.1.3 Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế trong một số trường hợp
@ Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với hàng hóa theo phương thức trả góp được xác định theo giá bán hàng hóa, trả tiền một lần, không bao gồm tiền lãi trả chậm Về vấn đề này, Thông tư số 134/2007/TT-BTC hướng dẫn: Trường hợp việc thanh toán theo hợp đồng mua bán trả góp, trả chậm kéo dài nhiều kỳ tính thuế thì doanh thu là số tiền phải thu của người mua trong kỳ tính thuế không bao gồm lãi trả góp, trả chậm theo thời hạn quy định trong hợp đồng.Việc xác định chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế đối với hàng hoá bán trả góp, trả chậm thực hiện theo nguyên tắc chi phí phải phù hợp với doanh thu
@ Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với hàng hoá, dịch vụ do cơ sởkinh doanh làm ra dùng để trao đổi, biếu, tặng, tiêu dùng nội bộ được xác định theo giá bán của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm trao đổi, biếu, tặng, tiêu dùng nội bộ
@ Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với hàng hoá, dịch vụ do cơ sởkinh doanh làm ra tự dùng để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh như: điện
tự dùng, sản phẩm sản xuất ra dùng làm tài sản cố định, sản phẩm xây dựng cơ bản
tự làm là chi phí sản xuất ra sản phẩm đó
Trong thực tế, một số tổ chức, cá nhân kinh doanh ở tỉnh Khánh Hòa đầu tư phát triển du lịch sinh thái ven biển và một số hải đảo, nơi chưa có cơ sở hạ tầng của nhà đầu tư như: điện thắp sáng, nước đường giao thông nên họ phải đầu tư toàn bộ Khi phát điện để phục vụ kinh doanh thì phát sinh chi phí như dầu chạy máy nổ, khấu hao thiết bị nếu coi là doanh thu để tính thu nhập chịu thuế thì thiệt thòi cho doanh nghiệp, bởi lẽ đây là chi phí kinh doanh họ bỏ ra để có nguồn thu từdịch vụ du lịch, vả lại quy định này không thể hiện chính sách ưu đãi về đầu tư vào vùng có khó khăn, không có sự hỗ trợ về cơ sở hạ tầng của nhà nước Ngoài ra , khi
cơ sở kinh doanh với mục đích tiết kiệm chi phí, khi xây dựng cơ bản những công
6 Sv Nguyễn Thị Bích Phượng – Luận văn Nghiên cứu về các căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp – trang 58, 59
Trang 23trình nhỏ, không đòi hỏi kết cấu hạ tầng như tường rào, sân phơi, đường đi lại nội
bộ trong đơn vị thì những tổ chức này được thuê mướn nhân công và tự mua vật
tư để thi công, đây là những chi phí xây dựng cơ bản nhằm tạo ra tài sản cố định của doanh nghệp, nếu những chi phí này lại được coi là doanh thu để tính thuế thì khó được sự đồng tình về nghĩa vụ thuế, không khuyến khích các doanh nghiệp đầu tưvào những vùng khó khăn chưa có sự đầu tư về cơ sở hạ tầng của nhà nước
Với những dẫn chứng trên, những quy định về doanh thu để tính thu nhập chịu thuế có ảnh hưởng đến sự động viên, điều tiết thu nhập và tính công bằng xã hội Vì vậy chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp nói chung, nhất là doanh thu đểtính thu nhập chịu thuế tiếp tục cần được xem xét, sửa đổi, bổ sung đảm bảo đúng đạo lý và tính nhân văn của chính sách thuế, phù hợp với thực tế sản xuất kinh doanh7
@ Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với hoạt động gia công hàng hoá
là tiền thu về gia công bao gồm cả tiền công, nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ và chi phí khác phục vụ cho việc gia công hàng hoá
@ Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với cơ sở kinh doanh nhận làm đại lý, ký gửi bán hàng đúng giá quy định của cơ sở kinh doanh giao đại lý, ký gửi
là tiền hoa hồng được hưởng theo hợp đồng đại lý, ký gửi hàng hoá
@ Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với hoạt động cho thuê tài sản là
số tiền bên thuê trả từng kỳ theo hợp đồng thuê Trường hợp bên thuê trả trước cho nhiều năm thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được phân bổ cho số năm trả tiền trước hoặc xác định theo doanh thu trả tiền một lần
Thông tư số 134/2007/TT-BTC hương dẫn như sau: Trường hợp bên thuê trảtiền trước cho nhiều năm thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định phù hợp với việc xác định chi phí của cơ sở kinh doanh
Tuỳ theo điều kiện về việc xác định chi phí hợp lý, cơ sở kinh doanh có thể lựa chọn một trong hai phương pháp xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế như sau:
- Là số tiền cho thuê tài sản của từng năm được xác định bằng (=) số tiền trảtrước chia (:) cho số năm trả tiền trước
- Là toàn bộ số tiền cho thuê tài sản của số năm trả tiền trước
Trường hợp cơ sở kinh doanh đang trong thời gian ưu đãi thuế lựa chọn phương pháp xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ số tiền thuê
7 Sv Nguyễn Thị Bích Phượng – Luận văn Nghiên cứu về các căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp – trang 60
Trang 24bên thuê trả trước cho nhiều năm thì việc xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp từng năm miễn thuế, giảm thuế căn cứ vào tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp của
số năm trả tiền trước chia (:) cho số năm bên thuê trả tiền trước
Đối với tổ chức và cá nhân chưa thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn chứng từ theo chế độ quy định, có hoạt động cho thuê tài sản mà bên thuê trả tiền trước cho nhiều năm thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ số tiền cho thuê tài sản trảtrước cho nhiều năm thu được
@ Đối với hoạt động tín dụng là số lãi phải thu phát sinh trong kỳ tính thuế đối với các khoản nợ xác định là có khả năng thu hồi cả gốc, lãi đúng thời hạn
- Đối với số lãi phải thu của các khoản cho vay trong hạn đã hạch toán vào thu nhập nhưng đến kỳ hạn trả nợ (gốc, lãi) khách hàng không trả được đúng hạn, tổ chức tín dụng hạch toán vào chi phí hoạt động kinh doanh và theo dõi ngoài bảng để đôn đốc thu Khi thu được thì hạch toán vào thu nhập
- Đối với số lãi phải thu phát sinh trong kỳ của các khoản nợ khách hàng không trả được đúng hạn còn lại, tổ chức tín dụng theo dõi ngoài bảng để đôn đốc thu, khi thu được hạch toán vào thu nhập
- Đối với thu lãi tiền gửi, lãi đầu tư trái phiếu, tín phiếu là số lãi phải thu trong kỳ
@ Ngòai ra, theo Thông tư số 134/2002/TT-BTC doanh thu tính thuế còn bao gồm các lọai doanh thu khác như:
- Đối với hoạt động vận tải hàng không là toàn bộ số tiền được hưởng từ việc
vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hoá, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là thời điểm hoàn thành dịch vụ vận chuyển
- Đối với hoạt động bán điện là số tiền bán điện ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là ngày xác nhận chỉ
số công tơ điện và ghi trên hoá đơn tính tiền điện
Ví dụ: Hoá đơn tiền điện ghi chỉ số công tơ từ ngày 5/12 đến ngày 5/1 Doanh thu của hoá đơn này được tính vào tháng 1
- Đối với hoạt động khác như kinh doanh nước sạch doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định tương tự như hoạt động bán điện
- Đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm là số tiền phải thu
về phí bảo hiểm gốc, phí dịch vụ đại lý (giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn, xử lý hàng bồi thường 100%); phí nhận tái bảo hiểm; thu hoa hồng tái bảo hiểm và các khoản thu khác về kinh doanh bảo hiểm sau khi đã trừ các khoản phải chi để giảm thu như: hoàn phí bảo hiểm, giảm phí
Trang 25nhận tái bảo hiểm; hoàn hoa hồng nhượng tái bảo hiểm, giảm hoa hồng nhượng tái bảo hiểm.
- Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình, giá trị hạng mục công trình nghiệm thu bàn giao hoặc giá trị khối lượng xây dựng, lắp đặt nghiệm thu bàn giao
- Trường hợp xây dựng, lắp đặt có bao thầu nguyên vật liệu, máy móc, thiết
bị là số tiền từ hoạt động xây dựng, lắp đặt bao gồm cả giá trị nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị
- Trường hợp xây dựng, lắp đặt không bao thầu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị là số tiền từ hoạt động xây dựng, lắp đặt không bao gồm giá trị nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị
- Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản là số tiền phải thu về kinh doanh bất động sản Thời điểm xác định doanh thu là thời điểm chuyển quyền sửdụng đất, chuyển quyền sở hữu công trình, vật kiến trúc trên đất hoặc thời điểm bên chuyển nhượng bàn giao bất động sản cho bên nhận chuyển nhượng hoặc thời điểm xuất hoá đơn
- Đối với hoạt động kinh doanh dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh:+Trường hợp các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh phân chia kết quả kinh doanh bằng doanh thu thì doanh thu để tính thuế thu nhập doanh nghiệp của từng bên là số tiền bán hàng hoá, dịch vụ của từng bên được chia theo hợp đồng hợp tác kinh doanh
+ Trường hợp các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh phân chia kết quả kinh doanh bằng sản phẩm thì doanh thu để tính thuế thu nhập doanh nghiệp của từng bên là số tiền bán sản phẩm đó
+ Trường hợp các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh phân chia kết quả kinh doanh bằng lợi nhuận thì doanh thu để tính thuế thu nhập doanh nghiệp là
số tiền bán hàng hoá, dịch vụ của hợp đồng hợp tác kinh doanh Các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh cử ra một bên làm đại diện, xuất hoá đơn, ghi nhận doanh thu và kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp thay cho các bên còn lại tham
gia hợp đồng hợp tác kinh doanh.
1.2 Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
Theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp ban hành năm 2003, chi phí của doanh nghiệp được chia thành 2 nhóm: được khấu trừ và không được khấu trừ.Điều này đã làm mất tính chủ động của doanh nghiệp, đồng thời tạo ra cơ chế xin-
Trang 26cho khi mà nhà làm luật không thể tiên liệu hết tất cả các loại chi phí của doanh nghiệp.
Theo trung tâm thông tin TM – Bộ Công thương, kể từ ngày tính thuế 2008, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ sẽ thực hiện tính thuế và quyết toán Thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định mới là Thông tư số 134/2007/TT-BTC Điểm khác biệt lớn nhất của quy định mới là Bộ Tài chính không quy định cụ thể các khoản chi phí hợp lý được trừ để tính thu nhập chịu thuế,
mà chỉ quy định chi tiết các khoản khác không tính vào chi phí hợp lý
Các khoản chi phí sau đây không được tính vào chi phí hợp lý 8 :
@ Các khoản trích trước vào chi phí mà thực tế không chi;
@ Các khoản chi không có chứng từ hoặc chứng từ không hợp pháp;
@ Các khoản tiền phạt, các khoản chi không liên quan đến doanh thu tính thuế và thu nhập chịu thuế;
Nguyên tắc xác định các khoản chi phí không tính vào chi phí hợp lý:
+ Các khoản chi không có đầy đủ hoá đơn, chứng từ theo quy định hoặc hoá đơn, chứng từ không hợp pháp
Theo đó mọi khoản chi mặc dù là chi phí thực tế của doanh nghiệp trong việc tạo ra doanh thu và lợi nhuận, kể cả trường hợp thực tiễn phải có hàng hóa dịch vụ
đó thì mới có doanh thu kinh doanh nhưng nếu không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp thì theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ không được chấp nhận là chi phí hợp lý để tính trừ khi xác định thu nhập chịu thuế Việc này dẫn đến thiệt hại cho doanh nghiệp
Bên cạnh sự thay đổi, hoàn thiện chính sách Thuế thu nhập doanh nghiệp thì việc sử dụng các đòn bẫy kinh tế khuyến kích sử dụng hóa đơn, chứng từ mỗi khi mua bán và cung ứng dịch vụ thu tiền, mở rộng diện thanh toán giao dịch qua ngân hàng, hạn chế dần hoạt động thanh toán bằng tiền mặt và xử phạt nghiêm đối với các trường hợp vi phạm là các biện pháp cơ bản và lâu dài nhằm giảm thiểu cơ bản giữa chi phí hợp lý và chi phí thực tế
+ Các khoản chi không liên quan đến việc tạo ra doanh thu, thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế
+ Các khoản chi do nguồn kinh phí khác đài thọ
Những khoản chi phí sau đây không tính vào chi phí hợp lý:
@ Chi phí khấu hao tài sản cố định thuộc một trong các trường hợp sau:
8 Khoản 2 Điều 9 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2003
Trang 27- Chi phí khấu hao đối với tài sản cố định không sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.
Riêng tài sản cố định phục vụ cho người lao động làm việc tại cơ sở kinh doanh như: nhà nghỉ giữa ca, nhà ăn giữa ca, nhà thay quần áo, nhà vệ sinh, bể chứa nước sạch, nhà để xe, phòng hoặc trạm y tế để khám chữa bệnh, xe đưa đón người lao động, cơ sở đào tạo, dạy nghề, nhà ở cho người lao động do cơ sở kinh doanh đầu tư xây dựng được trích khấu hao tính vào chi phí hợp lý
- Chi phí khấu hao đối với tài sản cố định không có giấy tờ chứng minh được thuộc quyền sở hữu của cơ sở kinh doanh (trừ tài sản cố định thuê mua tài chính)
- Chi phí khấu hao đối với tài sản cố định không được quản lý, theo dõi, hạch toán trong sổ sách kế toán của cơ sở kinh doanh theo chế độ quản lý tài sản cố định
và hạch toán kế toán hiện hành
- Phần trích khấu hao vượt mức quy định hiện hành của Bộ Tài chính về chế
độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định Trường hợp cơ sở kinh doanh
có lãi áp dụng phương pháp khấu hao theo đường thẳng, khấu hao nhanh để đổi mới công nghệ là phần trích khấu hao vượt quá 02 lần mức khấu hao theo quy định
Trường hợp đặc biệt khác được trích khấu hao tính vào chi phí hợp lý theo Quyết định của Bộ Tài chính
- Chi phí khấu hao đối với tài sản cố định đã khấu hao hết giá trị
- Chi phí khấu hao đối với công trình trên đất vừa sử dụng cho sản xuất kinh doanh vừa sử dụng cho mục đích khác thì không được tính khấu hao vào chi phí hợp lý đối với giá trị công trình trên đất tương ứng phần diện tích không sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh
@ Chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hoá phần vượt mức tiêu hao hợp lý, bị tổn thất hoặc bị hư hỏng đã được các tổ chức, cá nhân bồi thường
@ Chi phí tiền lương, tiền công thuộc một trong các trường hợp sau:
- Chi phí tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp phải trả cho người lao động nhưng hết thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế năm thực tế chưa chi
- Chi phí tiền lương, tiền công do cơ sở kinh doanh chi ngoài hợp đồng lao động hoặc thoả ước lao động tập thể Chi phí tiền lương, tiền công chi không có hợp đồng lao động hoặc thoả ước lao động tập thể theo quy định của pháp luật về lao động trừ trường hợp cơ sở kinh doanh thuê lao động thời vụ hoặc vụ việc
- Các khoản tiền thưởng cho người lao động không mang tính chất tiền lương, không được ghi trong hợp đồng lao động hoặc thoả ước lao động tập thể
Trang 28- Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ hộ cá thể, cá nhân kinh doanh Thù lao trả cho các sáng lập viên, thành viên của hội đồng thành viên, hội đồng quản trị không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.
@ Chi phí của cơ sở kinh doanh mua hàng hoá, dịch vụ không có hoá đơn, được phép lập Bảng kê thu mua hàng hoá, dịch vụ mua vào (theo mẫu số 01/TNDN kèm theo Thông tư số 134/2007/TT-BTC) nhưng không lập Bảng kê kèm theo chứng từ thanh toán cho cơ sở, người bán hàng, cung cấp dịch vụ trong các trường hợp: mua sản phẩm làm bằng mây, tre, cói, dừa, cọ, của người nông dân trực tiếp làm ra; mua sản phẩm thủ công mỹ nghệ của các nghệ nhân không kinh doanh; mua đất, đá, cát, sỏi của người dân tự khai thác; mua nông, lâm, thuỷ sản của người sản xuất, đánh bắt bán ra; mua phế liệu của người trực tiếp thu nhặt, mua đồ dùng, tài sản của hộ gia đình, cá nhân đã qua sử dụng trực tiếp bán ra và một số dịch vụ mua của cá nhân không kinh doanh
Bảng kê thu mua hàng hoá, dịch vụ do người đại diện theo pháp luật của cơ
sở kinh doanh ký và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực Trường hợp giá mua hàng hoá, dịch vụ trên bảng kê cao hơn giá thị trường tại thời điểm mua hàng thì cơ quan thuế căn cứ vào giá thị trường tại thời điểm mua hàng, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự trên thị trường xác định lại mức giá để tính lại chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế
@ Phần chi phí tiền ăn giữa ca hàng tháng cho mỗi người lao động vượt quá mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định đối với công chức Nhà nước
@ Phần chi phí tiền ăn định lượng chi trả cho người lao động làm việc trong một số ngành đặc biệt vượt quá mức chế độ Nhà nước quy
@Chi thưởng sáng kiến, cải tiến mà cơ sở kinh doanh không có quy chế quy định cụ thể về việc chi thưởng sáng kiến, cải tiến, không có hội đồng nghiệm thu sáng kiến, cải tiến
@ Chi tài trợ cho giáo dục không đúng đối tượng quy định tại khoản a mục 2.8 phần III Thông tư số 134/2007/TT-BTC, không có hồ sơ xác định khoản tài trợnêu tại điểm b mục 2.8 phần III Thông tư số 134/2007/TT-BTC:
- Tài trợ cho giáo dục gồm: tài trợ cho việc mở trường học theo các hình thức công lập, dân lập và tư thục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân theo quy định của Luật Giáo dục; Tài trợ cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, học tập và hoạt động của trường học; Tài trợ học bổng cho học sinh, sinh viên thuộc các cơ sở giáo dục phổthông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ sở sở giáo dục đại học được quy định tại
Trang 29Luật Giáo dục; Tài trợ cho các cuộc thi về các môn học được giảng dạy trong trường học mà đối tượng tham gia dự thi là người học.
- Hồ sơ xác định khoản tài trợ cho giáo dục gồm: Biên bản xác nhận khoản tài trợ có chữ ký của người đại diện cơ sở kinh doanh là nhà tài trợ, đại diện của cơ
sở giáo dục hợp pháp là đơn vị nhận tài trợ (theo mẫu số 02/TNDN ban hành kèm theo Thông tư số 134/2007/TT-BTC)
@ Phần chi bồi thường, trợ cấp cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghềnghiệp vượt quá mức quy định Chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động
@ Chi phí trả tiền điện, nước đối với những hợp đồng điện nước do chủ sởhữu cho thuê địa điểm sản xuất, kinh doanh ký trực tiếp với đơn vị cung cấp điện, nước không có đủ chứng từ thuộc một trong các trường hợp sau:
- Trường hợp cơ sở kinh doanh thuê địa điểm sản xuất kinh doanh trực tiếp thanh toán tiền điện, nước cho nhà cung cấp điện, nước không có bảng kê (theo mẫu số 03/TNDN ban hành kèm theo Thông tư số 134/2007/TT-BTC) kèm theo các hoá đơn thanh toán tiền điện, nước và hợp đồng thuê địa điểm sản xuất kinh doanh
- Trường hợp cơ sở kinh doanh thuê địa điểm sản xuất kinh doanh thanh toán tiền điện, nước với chủ sở hữu cho thuê địa điểm kinh doanh không có bảng kê (theo mẫu số 03/TNDN ban hành kèm theo Thông tư số 134/2007/TT-BTC) kèm theo chứng từ thanh toán tiền điện, nước đối với người cho thuê địa điểm sản xuất kinh doanh phù hợp với số lượng điện, nước thực tế tiêu thụ và hợp đồng thuê địa điểm sản xuất kinh doanh
- Phần chi phí thuê tài sản cố định vượt quá mức phân bổ theo số năm mà bên đi thuê trả tiền trước
Ví dụ: Doanh nghiệp A thuê tài sản cố định trong 4 năm với số tiền thuê là:
400 triệu đồng và thanh toán một lần Chi phí thuê tài sản cố định được hạch toán vào chi phí hàng năm là 100 triệu đồng Chi phí thuê tài sản cố định hàng năm vượt trên 100 triệu đồng thì phần vượt trên 100 triệu đồng không được tính vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế
Đối với chi phí sửa chữa tài sản cố định đi thuê mà trong hợp đồng thuê tài sản quy định bên đi thuê có trách nhiệm sửa chữa tài sản trong thời gian thuê thì chi phí sửa chữa tài sản cố định đi thuê được phép hạch toán vào chi phí hoặc phân bổ dần vào chi phí nhưng thời gian tối đa không quá 3 năm
Trường hợp chi phí để có các tài sản không thuộc tài sản cố định: chi về mua
và sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy phép chuyển giao công nghệ,
Trang 30nhãn hiệu thương mại, lợi thế kinh doanh được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh nhưng tối đa không quá 3 năm
@ Chi phụ cấp tàu xe đi nghỉ phép không đúng theo quy định của Bộ Luật Lao động; Phần chi phụ cấp cho nguời lao động đi công tác (không bao gồm tiền đi lại và tiền ở) vượt quá 2 lần mức quy định theo hướng dẫn của Bộ Tài chính đối với cán bộ công chức, viên chức Nhà nước
@ Các khoản chi cho lao động nữ không đúng đối tượng và mức chi vượt quá theo các quy định dưới đây:
- Chi cho đào tạo lại nghề cho lao động nữ trong trường hợp nghề cũ không còn phù hợp phải chuyển đổi sang nghề khác theo quy hoạch phát triển của cơ sở kinh doanh
Khoản chi này bao gồm: học phí (nếu có) + chênh lệch tiền lương ngạch bậc (đảm bảo 100% lương cho người đi học)
- Chi phí tiền lương và phụ cấp (nếu có) cho giáo viên dạy ở nhà trẻ, mẫu giáo do cơ sở kinh doanh tổ chức và quản lý Số lượng giáo viên được xác định theo định mức do hệ thống giáo dục đào tạo quy định
- Chi phí tổ chức khám sức khoẻ thêm 01 lần trong năm như khám bệnh nghề nghiệp, mãn tính hoặc phụ khoa cho nữ công nhân viên
- Chi bồi dưỡng cho lao động nữ sau khi sinh con lần thứ nhất hoặc lần thứ hai Mức chi không vượt quá 1,5 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định để giúp lao động nữ khắc phục một phần khó khăn do sinh đẻ
- Phụ cấp làm thêm giờ cho lao động nữ trong trường hợp vì lý do khách quan người lao động nữ không nghỉ theo chế độ quy định mà ở lại làm việc cho cơ
sở kinh doanh được trả theo chế độ hiện hành
@ Phần chi trang phục bằng tiền cho người lao động vượt quá 1.000.000 đồng/năm
@ Phần trích nộp quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn vượt mức quy định Phần chi đóng góp hình thành nguồn chi phí quản lý cho cấp trên, chi đóng góp vào các quỹ của hiệp hội vượt quá mức quy định của cơ sở kinh doanh, hiệp hội
@ Phần chi phí lãi tiền vay vốn sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức tín dụng, các tổ chức tài chính vượt mức lãi suất thực tế căn cứ vào hợp đồng vay Phần chi phí lãi tiền vay của các đối tượng khác vượt mức lãi suất thực tếcăn cứ vào hợp đồng vay hoặc phần chi phí lãi tiền vay vượt quá 1,2 lần mức lãi suất cho vay cao nhất cùng thời điểm của tổ chức tín dụng mà cơ sở kinh doanh có quan hệ giao dịch
Trang 31Các khoản chi trả lãi tiền vay để góp vốn điều lệ hoặc chi trả lãi tiền vay tương ứng với phần vốn điều lệ đã đăng ký còn thiếu kể cả trường hợp cơ sở kinh doanh đã đi vào sản xuất kinh doanh.
@ Trích, lập và sử dụng không đúng chế độ về trích lập và sử dụng Quỹnghiên cứu phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp
@ Trích, lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dựphòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính, dự phòng nợ phải thu khó đòi và dựphòng bảo hành sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp không theo đúng hướng dẫn của Bộ Tài chính
@ Trích, lập và sử dụng quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm và chi trợ cấp thôi việc cho người lao động không theo đúng chế độ hiện hành
@ Các khoản chi phí trích trước mà thực tế không chi gồm: trích trước vềsửa chữa lớn tài sản cố định và các khoản trích trước khác
Riêng đối với những tài sản cố định đặc thù, việc sửa chữa có tính chu kỳ thì
cơ sở kinh doanh được trích trước chi phí sửa chữa theo dự toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh Nếu số thực chi sửa chữa lớn hơn số trích theo dự toán thì cơ sởkinh doanh được tính thêm vào chi phí hợp lý số chênh lệch này, nếu số thực chi nhỏ hơn số trích theo dự toán thì hạch toán giảm chi phí
@ Chi phí quảng cáo, khuyến mại, chi phí giao dịch, đối ngoại (không bao gồm: Chi phí nghiên cứu thị trường: thăm dò, khảo sát, phỏng vấn, thu thập, phân tích và đánh giá thông tin; chi phí phát triển và hỗ trợ nghiên cứu thị trường; chi phí thuê tư vấn thực hiện công việc nghiên cứu, phát triển và hỗ trợ nghiên cứu thịtrường; Chi phí trưng bày, giới thiệu sản phẩm và tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại: chi phí mở phòng hoặc gian hàng trưng bày, giới thiệu sản phẩm; chi phí thuê không gian để trưng bày, giới thiệu sản phẩm; chi phí vật liệu, công cụ hỗ trợ trưng bày, giới thiệu sản phẩm; chi phí vận chuyển sản phẩm trưng bày, giới thiệu); Chi tiếp tân, khánh tiết, chi hoa hồng môi giới, chi phí hội nghị; Chi phí hỗ trợ tiếp thị, chi hỗ trợ chi phí, chi phí chiết khấu thanh toán (kể cả chi bằng tiền cho đại lý và người mua hàng hoá, dịch vụ với khối lượng lớn); Chi báo biếu, báo tặng của các cơ quan báo chí và các loại chi phí khác phần vượt quá 10% tổng số các khoản chi phí hợp lý Đối với hoạt động kinh doanh thương mại chi phí hợp lý để xác định mức khống chế không bao gồm giá vốn của hàng hoá bán ra
@ Các khoản chi phí của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ sốkiến thiết, kinh doanh chứng khoán và một số hoạt động kinh doanh đặc thù khác không thực hiện đúng theo văn bản hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính
Trang 32@ Khoản lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ
có gốc ngoại tệ cuối năm tài chính; lỗ chênh lệch tỷ giá phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản (giai đoạn trước hoạt động sản xuất kinh doanh)
@ Chi phí quản lý kinh doanh do công ty ở nước ngoài phân bổ cho cơ sởthường trú tại Việt Nam phần vượt mức chi phí được tính theo công thức dưới đây:
Chi phí quản lý
kinh doanh do công
ty ở nước ngoài
phân bổ cho cơ sở
thường trú tại Việt
x
Tổng số chi phí quản lý kinh doanh của công ty
ở nước ngoài trong kỳ tính thuế
Căn cứ để xác định chi phí và doanh thu của công ty ở nước ngoài là báo cáo tài chính của công ty ở nước ngoài đã được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán độc lập trong đó thể hiện rõ doanh thu của công ty ở nước ngoài, chi phí quản lý của công ty ở nước ngoài, phần chi phí quản lý công ty mẹ ở nước ngoài phân bổ cho cơ sở thường trú tại Việt Nam
Cơ sở thường trú của công ty ở nước ngoài tại Việt Nam chưa thực hiện chế
độ kế toán, hoá đơn, chứng từ, nộp thuế theo phương pháp kê khai thì không được tính vào chi phí hợp lý khoản chi phí quản lý kinh doanh do công ty ở nước ngoài phân bổ
@ Các khoản tiền phạt về vi phạm hành chính như: vi phạm luật giao thông,
vi phạm chế độ đăng ký kinh doanh, vi phạm chế độ kế toán thống kê, vi phạm pháp luật về thuế và các khoản phạt về vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật
@ Chi về đầu tư xây dựng cơ bản; chi ủng hộ các đoàn thể, tổ chức xã hội
và ủng hộ địa phương; chi từ thiện trừ khoản chi tài trợ cho giáo dục nêu tại điểm 2.8 Mục III Phần A Thông 134/2007/TT-BTC; chi phí mua thẻ hội viên sân golf, chi phí chơi golf
@ Các khoản thuế:
- Thuế GTGT của cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ đã được khấu trừ hoặc hoàn thuế;
Trang 33- Thuế thu nhập doanh nghiệp;
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất;
- Thuế thu nhập cá nhân
@ Chi phí không hợp lý khác theo quy định của pháp luật
Theo dự thảo luật, doanh nghiệp sẽ tự xác định các chi phí được trừ dựa vào các điều kiện quy định, bên cạnh các khoản chi phí không được trừ được liệt kê cụ thể trong luật mới
Dự thảo Thuế thu nhập doanh nghiệp đề xuất:
Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
& Doanh nghiệp được trừ các khoản chi (trừ các khoản quy định tại Điều 9 của Dự
luật) nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
-Các khoản chi hợp pháp, có đủ hoá đơn, chứng từ theo chế độ quy định;
- Các khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
Quy định như trên có thể làm nảy sinh một số bất cập giữa doanh nghiệp và
cơ quan thuế vì thiếu định nghĩa về các khái niệm “hợp pháp”, “có đủ hoá đơn chứng từ” và “thực tế phát sinh” Đây là điểm hết sức quan trọng nên cần có giải thích về tập hợp từ này trong phần giải thích thuật ngữ của Dự thảo
Để đảm bảo chặt chẽ cũng như tránh nhầm lẫn cho doanh nghiệp cũng như
cơ quan quản lý thuế trong quá trình áp dụng Luật sau này, cụm từ “các khoản chi nếu…” nên sửa thành “các khoản chi phí nếu các khoản chi phí này đáp ứng toàn bộ các tiêu chí sau:” vì có thể hiểu rằng điều khoản này áp dụng cho các chi phí (dù đã chi hay chưa chi) chứ không phải các khoản chi
Tại Điều này nên phân biệt rõ giữa khoản chi hay chi phí để đảm bảo tránh mâu thuẫn tiềm ẩn với các khoản trích về dự phòng (quĩ trợ cấp mất việc làm, quĩ phát triển khoa học và công nghệ, khấu hao….) Điều này cũng nên quy định rõ các khoản chi phí nhưng chưa chi trả thì liệu có được coi là các khoản chi phí được khấu trừ khi xác định thu nhập chịu thuế không9
9 Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam, Giữa kỳ, 2008
10 http://vibonline.com.vn
Trang 34phí liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh và có hóa đơn, chứng từ hợp pháp thì đều được trừ khi tính thuế TNDN.
Về vấn đề này, Ủy ban Tài chính-ngân sách có 2 loại ý kiến
Loại ý kiến thứ nhất tán thành với quy định của Dự thảo Luật vì cho rằng, chỉ
quy định cụ thể những chi phí không được trừ, còn lại mọi chi phí hợp lý khác đều được trừ sẽ bao quát được hết các chi phí phát sinh, đặc biệt là các khoản chi phí mới phát sinh và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp khi tính thuế, tránh được tình trạng tiêu cực khi xác định chi phí được trừ giữa cơ quan quản lý thu thuế với đối tượng nộp thuế
Loại ý kiến thứ 2 không tán thành với quy định của Dự thảo luật với lý do sau: Thứ nhất, nếu quy định như Dự thảo thì khó tránh khỏi doanh nghiệp có thể tự
kê khai rất nhiều chi phí được coi là liên quan đến sản xuất kinh doanh, kể cả những chi phí không có thật để giảm thuế; như vậy không bảo đảm yêu cầu quản lý chặt chẽ, tránh thất thoát nguồn thu Trên thực tế ở nước ta hiện nay thì việc mua hóa
đơn, chứng từ để hợp pháp hoá các khoản chi không phải là khó Thứ 2, đối với
doanh nghiệp và đối với cả cơ quan thuế, việc xác định các chi phí được trừ sẽ
thuận lợi cho công tác hạch toán kế toán, xác định thu nhập chịu thuế Thứ 3, tại
khoản 3, Điều 10 của Luật thuế thu nhập cá nhân được Quốc hội thông qua và sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2009 (cùng thời điểm với dự thảo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp dự kiến thực thi) đã quy định theo hướng xác định rõ chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân và quy định rõ các khoản được trừ Vì vậy nếu Dự thảo Luật thuế TNDN quy định không thống nhất với Luật thuế thu nhập cá nhân thì sẽ dẫn đến tình trạng cùng là các đạo luật về thuế thu nhập, cùng một thời điểm áp dụng nhưng cách xác định chi phí, thu nhập chịu thuế của hoạt động sản xuất kinh doanh lại khác nhau
Với lý do trên, nhiều ý kiến trong Ủy ban Tài chính-ngân sách đề nghị, cần nghiên cứu để quy định cụ thể ngay trong Luật các chi phí được trừ khi tính thuế TNDN để khắc phục việc vận dụng tùy tiện trong tổ chức thực hiện của cơ quan nhà nước thực thi nhiệm vụ và tránh được các sơ hở mà doanh nghiệp có thể lợi dụng gây thất thoát nguồn thu, tạo điều kiện thuận tiện trong triển khai thực hiện, đồng thời bảo đảm tính thống nhất giữa các văn bản pháp luật về thuế
* Thực tế trong quá trình thực hiện cho thấy việc quy định cả các loại chi
phí hợp lý được trừ và các chi phí không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế là cần thiết, phù hợp với thực tiễn của nền kinh tế trong thời gian đầu được chuyển đổi
Trang 35từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, từng bước chuyển sang cơ chế thị trường Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta đang trong quá trình vận động và phát triển theo hướng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (đa ngành nghề, đa lĩnh vực) việc quy định như trên không bao quát hết những khoản chi phí thực tế phát sinh dẫn đến việc hiểu và vận dụng khác nhau của doanh nghiệp và cơ quan quản lý Nhà nước, tạo ra cơ chế “xin, cho” trong quá trình thực hiện.
Để việc xác định chi phí được thuận lợi và đảm bảo thực hiện thống nhất, tạo
sự chủ động cho doanh nghiệp trong thực hiện khi có các nghiệp vụ kinh tế mới phát sinh, cần quy định rõ những khoản chi phí không được phép hạch toán vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN Theo đó, sẽ đảm bảo nguyên tắc và xu hướng chung khi xây dựng văn bản pháp luật hiện nay là Nhà nước cần quy định rõ những điều cấm, mọi chủ thể được thực hiện những điều mà pháp luật không cấm Đồng thời để phù hợp với cơ chế tự khai, tự nộp thuế theo quy định của Luật quản
lý thuế, cần quy định những khoản chi phí không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế (những khoản chi phí không quy định đương nhiên được công nhận là chi phí hợp lý)
Cần tính cho doanh nghiệp các chi phí trước thuế như theo thông lệ quốc tế 11
Các chi phí này không thanh toán cho cổ đông, hoặc tăng vốn cho doanh nghiệp nhưng có lợi cho người lao động và cho xã hội, cụ thể những chi phí như sau: -Chi phí phúc lợi khen thưởng (cho người lao động cũng như cho người quản lý doanh nghiệp) Người hưởng lợi phải tính thu nhập này vào thu nhập chịu thuế Thu nhập cá nhân
- Chi phí cho phát triển thể thao, văn hóa nghệ thuật, từ thiện, hoặc tương tự nhằm khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào xã hội hóa các lĩnh vực mà Nhà nước cần quan tâm phát triển nhưng chưa đủ nguồn lực
Để tránh việc lạm dụng chi phí này có thể quy định các chi phí này không quá 10% lợi nhuận trước thuế (nếu quá sẽ không được tinh là chi phí hợp lý trước thuế đối với phần vượt 10%)
& Khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế:
@ Các khoản tiền phạt do vi phạm hành chính;
@ Các khoản chi được bù đắp bằng nguồn kinh phí khác;
Dự thảo nên giải thích rõ khái niệm “nguồn kinh phí khác” Nên tránh sử dụng khái niệm “nguồn kinh phí” vì khái niệm này thường chỉ áp dụng trong các doanh nghiệp nhà nước
11 http://vibonline.com.vn
Trang 36@ Phần chi phí quản lý kinh doanh do công ty nước ngoài phân bổ cho cơ sở thường trú ở Việt Nam vượt mức tính theo phương pháp phân bổ do pháp luật quy định;
@ Phần chi vượt mức theo quy định của pháp luật có liên quan về: trích lập
dự phòng; tiền trang phục; tiền ăn giữa ca;
Về các khoản chi cho người lao động 12 : Điều 10 khoản 2 điểm d và điểm i
của Dự thảo Luật quy định về các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm: “d) Phần chi vượt mức theo quy định của pháp luật có liên quan về: ……… tiền trang phục; tiền ăn giữa ca; i) ……… ; các khoản chi trả cho người lao động không được quy định trong hợp đồng lao động hoặc thoả ước lao động tập thể theo quy định của Bộ luật lao động”
(Theo quy định của pháp luật về lao động thì tiền trang phục hiện nay là 1.000.000 đồng, tiền ăn giữa ca hiện nay không quá mức lương cơ bản = 540.000 đồng)
Một số ý kiến cho rằng, quy định trên có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của
người lao động Vì nếu khoản chi cho người lao động không được trừ khi tính chi phí thì sẽ không động viên doanh nghiệp quan tâm, chăm lo đến đời sống người lao động Vì vậy, để bảo đảm quyền lợi của người lao động và từng bước tạo điều kiện cho người sử dụng lao động chăm lo đời sống cho người lao động ngày càng tốt hơn
đề nghị bỏ quy định trên
Đa số ý kiến cho rằng, việc quy định như Dự thảo là chặt chẽ, khắc phục tình trạng doanh nghiệp lợi dụng quy định của pháp luật về việc cho phép trừ các chi phí cho người lao động để khai khống các khoản chi nhằm trốn thuế
Theo Luật sư Trương Thanh Đức, Khoản 4, Điều 8 (Các khoản chi không
được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế) của Dự thảo cũng giống như Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành đã quy định về một trong những khoản chi hợp lý
để xác định thuế thu nhập là “trang phục” Tuy nhiên, Luật không chỉ ra được mức
cụ thể hay đặt ra nguyên tắc để tính mức chi phí hợp lý chịu thuế, mức nào được tính và mức nào không được tính vào chi phí hợp lý Đến Nghị định của Chính phủ cũng vẫn không có gì rõ hơn Cuối cùng, hoàn toàn phụ thuộc vào quyền áp đặt của
12
http://vibonline.com.vn
Trang 37thông tư Thành thử thông tư mới thật sự quyết định vấn đề và có giá trị thực tế
“cao” hơn luật
Nhiều doanh nghiệp chi tiền rất thực tế và hợp lý để may đo, trang cấp đồng phục cho người lao động, nhưng lại không được coi là chi phí hợp lý nếu chi trên
500 ngàn đồng/năm (từ cuối 2007 là 1 triệu đồng) Nếu khống chế trong trường hợp phát tiền mặt cho người lao động, thì còn có lý, đằng này lại “vơ đũa cả nắm” Tại sao chúng ta không dám sòng phẳng mà áp luật chơi: Nếu có hoá đơn, chứng từ mua sắm hợp pháp, thì khoản chi của doanh nghiệp này chính là khoản thu của doanh nghiệp khác Vẫn Bộ Tài chính thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập, chứ còn nước nào vào đây mà thu Như vậy còn rất phù hợp với quy định của Bộ luật Lao động là khuyến khích doanh nghiệp tăng thêm quyền lợi cho người lao động13.Cần nghiên cứu bổ sung một cách rõ ràng các quy định có tính nguyên tắc về phương pháp xác định giá hàng tồn kho trong khi xác định chi phí tính thuế TNDN Theo quy định hiện hành, chi phí hợp lý đối với hàng tồn kho là giá thực tế khi xuất kho Quy định như vậy chưa sát với thực tế vì để bảo đảm hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp thường xuyên phải mua các nguyên vật liệu phụ trợ với các mức giá cao thấp khác nhau ở nhiều thời điểm Nếu quy định không rõ ràng thì khi
kê khai nộp thuế doanh nghiệp có thể lợi dụng kê khai hàng tồn kho với giá cao để giảm thu nhập chịu thuế, nhằm tạo ra tình trạng lỗ giả, lãi thật, khó kiểm soát thu nhập của doanh nghiệp14
@ Phần chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hóa vượt mức tiêu hao hợp lý và giá thực tế xuất kho
@ Phần chi trả lãi tiền vay vốn sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của đối tượng ngoài các ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các tổ chức kinh tế vượt quá 1,2 lần mức lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại tại thời điểm vay
Khống chế phần chi trả lãi cũng chưa hợp lý 15 :
Luật Thuế thu nhập hiện hành cũng như khoản 6, Điều 8 của Dự luật có quy
định một trong những khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế là
“Phần chi trả lãi tiền vay vốn sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của đối tượng ngoài các ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các tổ chức kinh tế vượt quá 1,2 lần
mức lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại tại thời điểm vay” Hiện nay khoản
Trang 381, Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định: “Lãi suất vay do các bên
thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng
Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.” Tuy nhiên đây là một quy định
quá bất cập, cho nên đã được Quốc hội dự kiến sửa đổi trong kỳ họp tháng 5-2008 này
Quy định trên của Dự thảo tuy có “rộng rãi” hơn so với Bộ luật Dân sự, nhưng cũng đến lúc cần phải thay đổi cho phù hợp với thực tế Việc vay lãi bên ngoài của các doanh nghiệp với mức lãi vượt quá 150% so với lãi suất ngân hàng là tương đối phổ biến, nhất là vay vốn không có tài sản bảo đảm Thậm chí chính các ngân hàng nhiều khi cũng còn phải đi vay với lãi suất cao hơn nhiều so với giới hạn của pháp luật
Ngoài ra, “mức lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại” cũng là một con
số nhảy nhót, vì phụ thuộc vào từng ngân hàng, từng khoản vay với tính chất, thời điểm, thời hạn, số tiền, uy tín, tài sản bảo đảm,… khác nhau
@ Trích khấu hao tài sản cố định không đúng quy định của pháp luật về khấu hao tài sản cố định
Đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định rõ về phương pháp tính khấu hao cơ bản đối với tài sản cố định của doanh nghiệp trong dự thảo luật nhằm bảo đảm sự minh bạch về nguyên tắc trích khấu hao tài sản cố định của doanh nghiệp không được thấp hơn thời gian sử dụng tối thiểu đối với từng loại tài sản theo quy định Quy định như vậy sẽ tạo điều kiện thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ
@ Các khoản trích trước vào chi phí mà thực tế không chi khi hết thời hạn quy định.
Đề nghị làm rõ nghĩa cụm từ “khi hết thời hạn quy định”
@ Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân; thù lao trả cho sáng lập viên công ty không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh; các khoản chi trả cho người lao động không được quy định trong hợp đồng lao động hoặc thoả ước lao động tập thể theo quy định của Bộ luật lao động
Sở dĩ có quy định này vì các nhà làm luật cho rằng chủ doanh ngiệp tư nhân không có quyền định ra ra một mức lương cụ thể cho mình mặt khác, sau khi thực hiện nghĩa vụ thuế doanh nghiệp tư nhân và các nghĩa vụ tài chính khác cho theo quy định của pháp luật thì họ được hưởng toàn bộ khoản thu nhập sau thuế Như vậy nếu họ điều hành hoat động sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì thu nhập mà họ
có được là cao và ngược lại họ là người thua thiệt nếu việc điều hành sản xuất kinh
Trang 39doanh của họ yếu kém Hơn nữa, theo quy định của pháp luật Thuế thu nhập cá nhân ở nước ta hiện nay thì thu nhập từ hoạt động kinh doanh của các cá nhân chịu trách nhiệm vô hạn hoặc liên đới chịu trách nhiệm vô hạn trong kinh doanh không thuộc diện nộp Thuế thu nhập cá nhân và do quy định này nhằm hạn chế tình trạng các doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp doanh khai tăng khoản chi này với mục đích giảm nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp.
Mặc dù có sự giải thích như vậy cho quy định trên nhưng ở đây rõ ràng có sự phân biệt giữa doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh với loại hình doanh nghiệp khác khi tính chi phí tiền công, tiền lương vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế (đối với loại hình doanh nghiệp khác thì khoản chi cho cá nhân làm việc trong doanh nghiệp bao gồm khoản tiền lương, tiền công, phụ cấp phải trả đều được tính vào chi phí hợp lý) Một sự không công bằng nảy sinh là, nếu một người góp vốn cùng người khác để kinh doanh với hình thức là công ty trách nhệm hữu hạn và tham gia điều hành, quản lý công ty đó thì tiền lương, tiền công của anh ta được tính vào chi phí hợp lý Xét về bản chất tiền lương, tiền công trong cả hai trường hợp trên đều là khoản thù lao trả cho sức lao động mà người chủ sở hữu bỏ
ra để điều hành, quản lý doanh nghiệp và điều đó tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp,
do vậy nó được tính vào chi phí hợp lý, chỉ có điều để đảm bảo yêu cầu quản lý, chống giả mạo thì cần có quy định khống chế Vì vậy, để đảm bảo công bằng và khuyến khích sự phát triển của mọi loại hình doanh nghiệp thì nên cho phép tính vào chi phí hợp lý khoản chi phí này đối với cả doanh nhiệp tư nhân kèm theo một điều kiện về định mức, chẳng hạn nó không cao quá một số tiền ấn định nào đó tùy thuộc tình hình kinh tế xã hội và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp16
@ Chi trả lãi tiền vay vốn tương ứng với phần vốn điều lệ còn thiếu;
@ Số thuế giá trị gia tăng nộp theo phương pháp khấu trừ; số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp hoặc tạm nộp
@ Phần chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, chi tiếp tân, khách tiết, chi hoa hồng môi giới, chi phí hội nghị; chi phí hỗ trợ tiếp thị, chi hỗ trợ chi phí, chi phí chiết khấu thanh toán; chi báo biếu, báo tặng của các cơ quan báo chí liên quan trực
tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ vượt quá 10% tổng số
chi phí được trừ không bao gồm các khoản chi thuộc diện khống chế nêu trên Đối với hoạt động thương nghiệp, tổng số chi phí để xác định mức khống chế không bao gồm giá mua của hàng hoá bán ra
16 Sv Nguyễn Thị Bích Phượng – Luận văn Nghiên cứu về các căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp – trang 66,67
Trang 40Một trong những điều khoản trong dự luật bị “phản đối” mạnh mẽ nhất là khoản 12, điều 8 quy định về các khoản chi không được khấu trừ khi xác định thu nhập chịu thuế Theo đó, “Chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, chi tiếp tân, khánh tiết, chi hoa hồng môi giới, chi phí hội nghị, chi phí hỗ trợ tiếp thị không được vượt quá 10% tổng số chi phí” Mức khống chế 10% của dự luật không thay đổi so với luật thuế TNDN hiện nay và bị coi là “chỉ phù hợp với thời kinh tế bao cấp”, thời mà doanh nghiệp “không cần quan tâm đến quảng cáo, tiếp thị và khuyến mại” Luật sư Trương Thanh Đức nói: “Ngày nay, bán hàng là bán thương hiệu, mà 10% thì sẽ giật gấu vá vai để xây dựng thương hiệu”.Các ngân hàng thương mại cho biết, giới hạn này là rất bất hợp lý, vì chi phí quảng cáo, tiếp thị là một phần trong kinh doanh của họ, đề ra giới hạn 10% sẽ gây trở ngạy cho họ Hậu quả của mức khống chế 10% là rất lớn, vì nó ảnh hưởng tiêu cực đến cả nền kinh tế Việt Nam, khả năng thu hút đầu tư, hoạt động của doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng17.
Việt Nam là nước duy nhất trong khu vực không cho phép khấu trừ toàn bộ chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại dù có hóa đơn, chứng từ đầy đủ và hợp lệ Thương hiệu là nhân tố quan trọng để doanh nghiệp khẳng định vị trí và đẳng cấp của mình, bởi giá trị của thương hiệu là doanh nghiệp và cũng là thước đo sự sing trường của doanh nghiệp Quan trọng là vậy song theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại bị khống chế tối đa không quá 10% tổng chi phí; đối với hoạt động thương nghiệp, tổng số chi phí để xác định mức khống chế không bao gồm giá mua hàng hóa bán ra
Việc Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định mức khống chế này của chi phí quảng cáo, tiếp thị là hạn chế quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp Bởi lẽ, chi phí quảng cáo, tiếp thị là một trong những khoản chi phí thật sự cần thiết cho việc quảng bá, chiếm lĩnh và mở rộng thị phần của doanh nghiệp, nhằm thực hiện chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần tạo ra cho doanh thu , thu nhập cho doanh nghiệp Hơn nữa, xét ở góc độ bài toán kinh tế thì thực tế không phải lúc nào khoản chi này cũng tỷ lệ thuận với tổng chi phí, do vậy nếu cần khống chế, thì phải khống chế theo tỷ lệ doanh thu, thu nhập hoặc theo hiệu quả hoạt động tại đơn
vị sẽ là hợp lý hơn Mặt khác, quy định tỷ lệ khống chế là chưa thật phù hợp với quan điểm tôn trọng tính tự chủ, tự quyết của doanh nghiệp mà dẫn đến hệ quả sai lệch thuế suất thực tế của Thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng bất lợi cho doanh nghiệp nếu trong trường hợp chi phi phí quảng cáo, tiếp thị thực tế cao hơn chi phí được tính, trừ khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp Trong đó quảng cáo trên
17 http://www.vnmedia.vn