1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đặc tính tâm lí-phương pháp khắc phục của căn bệnh trầm cảm ở phụ nữ và trẻ em

25 568 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 51,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi thực hiện đề tài này với mong ước đóng góp một phần nhỏ của mình đểgiúp đỡ cho những người phụ nữ những em nhỏ để họ có cuộc sống khỏe sống tốt,biết trở thành những người phụ nữ hạnh

Trang 1

TRƯỜNG THPT CHU VĂN AN – TÂY HỒ

Lĩnh vực: Khoa học xã hội – hành vi.

Trang 2

Mục lục

I, Lí do lựa chọn đề tài: Trang 3

1 Lí do chủ quan:

2 Lí do khách quan:

II, Tổng quan vấn đề và điểm mới, tính sáng tạo của đề tài Trang 4 1 Tổng quan vấn đề:

a Khái niệm và lí thuyết vấn đề:

b Thực trạng vấn đề:

2 Điểm mới tính sáng tạo của đề tài:

III, Quá trình nghiên cứu và kết quả: Trang 5 1 Nguyên nhân và biểu hiện:

2 Các hình thái biểu hiện lâm sàng của bệnh:

3 Phương pháp chăm sóc, điều trị cho bệnh nhân:

3.1:Tổng quan phương pháp: 3.2: Áp dụng trường hợp cụ thể ở đối tượng nghiên cứu: 4 Tổng kết kinh nghiệm cả nhân của người viết: a Áp dụng đối với phụ nữ: b Áp dụng đối với các bận phụ huynh: 5 Hướng phát triển của đề tài:

IV, Kết luận: Trang 24 Tài liệu tham khảo Trang 25

Trang 3

I, Lí do lựa chọn đề tài:

1 Lí do chủ quan:

- Tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu về đặc tính tâm lí và phương pháp khắc phục củabệnh trầm cảm ở phụ nữ và trẻ em là bởi tôi có một hứng thú đặc biệt trong việctìm hiểu về những vấn đề liên quan tới tâm lí, thứ hai là hai đối tượng mà tôi đanghướng tới trong đó có mẹ và em gái tôi

- Việc phải chứng kiến cả quá trình tiến triển của căn bệnh từ mẹ và em gái với tôi

đó là cả nỗi đau đớn khi bản thân lại chẳng thể làm gì cho chính những người màmình thương yêu nhất Tôi không phải là một bác sĩ, tôi chỉ là một học sinh lớp 10tôi không thể dùng những phương pháp đặc hiệu của một bác sĩ tâm lí nhưng tôi cóthể dùng phương pháp của riêng mình để giúp đỡ mẹ và em Và đó chính là độnglực duy nhất và mạnh nhất đối với tôi lúc này để tôi đi đến quyết định là sẽ làm đềtài nghiên cứu về căn bệnh trầm cảm để tìm ra những phương pháp điều trị hữuhiệu nhất để giúp mẹ và em mau chóng bình phục

- Bài nghiên cứu này chính là cây cầu để tôi có thể kết nối với mẹ với em gái, kếtnối với những tâm tư, suy nghĩ, tình cảm của họ, với cuộc sống khép kín của họ

2 Lí do khách quan:

- Hiện nay, xã hội càng phát triển thì số lượng người mắc bệnh trầm cảm càng tăng

rõ rệt, càng ngày càng có nhiều người ở mọi lứa tuổi mắc chứng rối loạn trầm cảm

và số người chết do tự tử ở người bệnh trầm cảm đã lên tới 15% Đây cũng chính

là một trong những lí do dẫn đến việc tôi lựa chọn đề tài này

- Tôi muốn bài nghiên cứu này cũng có thể giúp tôi kết nối với mọi phụ nữ và trẻ

em trên toàn Việt Nam, trên toàn thế giới - giống như một lời gửi gắm, một lờikhuyên chân thành Những người phụ nữ, những đứa trẻ nhỏ, họ có thể là mộtngười bình thường nhưng cũng có thể là một bệnh nhân trầm cảm rất cần sự giúp

đỡ Tôi thực hiện đề tài này với mong ước đóng góp một phần nhỏ của mình đểgiúp đỡ cho những người phụ nữ những em nhỏ để họ có cuộc sống khỏe sống tốt,biết trở thành những người phụ nữ hạnh phúc và thành đạt, trở thành những ông bố

bà mẹ lí tưởng luôn sát cánh bên con, bảo vệ con nhưng không áp lực không kìmkẹp, v.v… Bài nghiên cứu này sẽ là một đóng góp nhỏ cho việc định hướng điềutrị, giúp đỡ những người bị bệnh trầm cảm

Trang 4

II, Tổng quan vấn đề và điểm mới, tính sáng tạo của đề tài:

1 Tổng quan vấn đề:

a Lí thuyết và khái niệm vấn đề:

- Các rối loạn tâm thần rất phổ biến và đa dạng, trong số gần 300 loại rối loạn tâm

thần thì các rối loạn liên quan tới Stress có số người mắc nhiều nhất Và trong số rối loạn liên quan đến Stress thì rối loạn trầm cảm là vấn đề càng ngày càng phổ

biến, cần được phát hiện và điều trị Trầm cảm là một trạng thái cảm xúc buồn rầu,chán nản khác với phản ứng buồn chán nhất thời của người bình thường Trầm cảm

có nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh phức tạp, biểu hiện lâm sàng triệu chứng đặctrưng về tâm thần là giảm khí sắc và kèm theo nhiều triệu chứng về cơ thể

b Thực trạng vấn đề:

- Ngày nay trầm cảm gặp ở mọi lứa tuổi, nhìn chung phụ nữ bị trầm cảm nhiều hơnnam giới từ 2-3 lần, số người bị mắc bệnh trầm cảm ngày càng gia tăng Ngoài ratrầm cảm còn là nguyên nhân hàng đầu gây ra tự sát Khoảng 75% các trường hợp

tự sát là do trầm cảm và cần nhớ rằng 15% số người bị mắc bệnh trầm cảm sẽ chết

vì tự sát Nhưng do chưa có sự hiểu biết về trầm cảm nên bệnh nhân thường bịchuẩn đoán sai, dẫn đến điều trị không hiệu quả hoặc người mắc bệnh trầm cảmhay đến với các chuyên khoa khác và dễ bị bỏ sót chẩn đoán

2 Điểm mới, tính sáng tạo của đề tài:

- Ở các bài nghiên cứu đã có các tác giả chưa đề cập kĩ về căn bệnh này mà chỉdừng lại ở phạm vi rối loạn cảm xúc, đối tượng và phạm vi nghiên cứu cũng rấtrộng, chính vì vậy mà những nguyên nhân, biểu hiện của trầm cảm được đề cậpđến chỉ mang tính khách quan Ở bài nghiên cứu của tôi, đối tượng và phạm vi chỉchú trọng vào cô Nguyễn Minh Nguyệt và em Nguyễn Nguyệt Anh, vừa có sự họchỏi từ các bản đã có nhưng còn có sự đi sâu hơn vào tâm lí, phản ứng của từng đốitượng nghiên cứu, từ đó rút ra các nguyên nhân, biểu hiện của căn bệnh ở cả haiphương diện là chủ quan và khách quan Về phần phương pháp điều trị, các tác giảchỉ dừng lại ở các phương pháp chung nhất phù hợp với mọi đối tượng nhưngtrong bản nghiên cứu của tôi không chỉ có các phương pháp điều trị chung nhấtcho mọi đối tượng mà còn từ quan sát, kinh nghiệm của bản thân để tự đưa ranhững phương pháp điều trị theo quan điểm của riêng mình, đồng thời kếp hợp với

sự can thiệp của yếu tố tình cảm và tâm lí gia đình

Trang 5

III, Quá trình nghiên cứu và kết quả:

1 Nguyên nhân và biểu hiện của bệnh trầm cảm:

1.1 : Phương pháp nghiên cứu:

- Tìm hiểu từ các bản nghiên cứu đã có, đồng thời thực hiện bảng quan sát sinh tháiđối với từng đối tượng nghiên cứu, từ đó thu được các nguyên nhân và biểu hiệncủa bệnh trầm cảm như dưới đây:

1.2 : Nguyên nhân dẫn đến căn bệnh trầm cảm:

- Trầm cảm có nhiều nguyên nhân phức tạp, các yếu tố đan xen, cộng dồn lại… vàbùng phát khi có sự cố bất lợi nào đó

a Nguyên nhân trầm cảm được chia làm 3 loại:

+ Trầm cảm phản ứng: là trầm cảm xuất hiện sau sự cố sang chấn, căng thẳng kéo

dài

* Đây chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến căn bệnh trầm cảm của côNguyễn Minh Nguyệt Cô chia sẻ rằng: “ Tôi là một người phụ nữ nhưng lại phảigánh vác hết mọi công việc lớn nhỏ trong gia đình cộng hưởng với áp lực côngviệc quá lớn nhưng lại không nhận được sự giúp đỡ đồng hành của người chồng –người bạn đời của mình Hơn nữa ngay cả khi tôi mang thai hai đứa con, từ lúcmang thai cho đến lúc đẻ rồi nuôi nấng đều rất vất vả vì các con bẩm sinh thể lực

vô cùng yếu, hay ốm đau bệnh tật khiến tôi vô cùng mệt mỏi, đã áp lực nay lạicàng áp lực hơn nhưng tôi cũng không nhận được sự giúp đỡ động viên từ chồng.Người ta hay nói nhàn cư vi bất thiện, do mọi việc đều do tôi gánh vác nên chồngsinh ra cái tính rượu chè, không có chí tiến thủ làm ăn, đầu óc do bia rượu chi phối

mà không được minh mẫn dấn đến những hành động, lời nói xúc phạm nặng nềđến nhân phẩm của tôi Mỗi lần bị như thế tôi đều có những suy nghĩ ấm ức, ứcchế nhưng lại không thể nói ra, cộng hưởng với những cơn dau nhói ở tim, trốngngực, cảm thấy không thể thở nổi và thần kinh thì căng thẳng cực độ Rồi tôi thành

ra không ăn được, không ngủ được liền ốm”

=> Chốt lại trường hợp của cô Nguyễn Minh Nguyệt đó chính là sự căng thẳng áplực kéo dài kết hợp với tình trạng không có người cùng sẻ chia, đồng cảm nên sinh

ra trầm cảm

* Xét trường hợp của cô NT Ngọc: Lúc lấy chồng và sinh con thì mẹ chồng lại vôcùng khắc nghiệt, tước đi quyền nuôi con của cô, không cho phép cô lại gần con và

Trang 6

không để cô được cho chăm sóc được cho con bú dù cô không hề bị bệnh gì kể cả

về thể lực lẫn tâm thần Cùng lúc đó, cô lại biết tin chồng mình ngoại tình và đã cócon riêng bên ngoài Tất cả những ấm ức, áp lực, đau đớn dồn nén dẫn đến việc cô

bị bệnh trầm cảm và đã có hành vi tự sát như: chuẩn bị nhảy cầu Long Biên nhưngmay mắn là có người tốt cứu giúp nhưng một thời gian sau thì xuất hiện hành virạch cổ tay nhưng gia đình nhanh chóng phát hiện ra và đưa đi cấp cứu

=> Đây là tình trạng bệnh trầm cảm nặng vì đã có những hành vi tự sát chứ khôngđơn thuần chỉ là có ý tưởng tự sát

+ Trầm cảm thực tổn: là trầm cảm xuất hiện trên nền tảng có tổn thương ở não

hoặc các bệnh lí cơ thể ngoài não, ảnh hưởng đén chức năng hoạt động của não

+ Trầm cảm nội sinh: là trầm cảm do mất cân bằng các chất dẫn truyền thần kinh

cảm xúc, các amin sinh học như serotonin, noradrenalin, dopamine

b Yếu tố di truyền: các nghiên cứ gia đình cho thấy, 50% số bệnh nhân rối loạn

cảm xúc có ít nhất một người cha hoặc mẹ mắc rối loạn cảm xúc thường là trầmcảm

* Đây có thể coi là nguyên nhân cơ bản dẫn đến chứng trầm cảm lầm sàng ở

em Nguyễn Nguyệt Anh Trong thời kì mang thai, không nên để cho mẹ của bé bịảnh hưởng bởi các căng thẳng hay stress quá mức hoặc nổi nóng, tức giận vì nó sẽảnh hưởng đến thai nhi khiến bé sợ hãi, tác động xấu đến thể lực và tâm lí của békhi sinh ra Nhưng trong thời kì mang thai em, cô Nguyệt Minh Nguyệt đã chịunhững áp lực vô cùng lớn từ công việc cho đến gia đình lại không có sự chia sẻgiúp đỡ từ chồng

=> Ảnh hưởng đến tâm lí của cả mẹ và bé từ đó cho đến khi lớn lên phải chứngkiến những cảnh ba mẹ cãi vã to tiếng với nhau, hoặc những trách mắng nho nhỏ từphía ba mẹ hay cô giáo trên lớp cũng khiến em có những phản ứng kích động nhưkhóc lớn, nôn khan

* Xét lại trường hợp của cô NT Ngọc: Trong gia đình cô, từ cụ ngoại đãxuất hiện những hành vi lệch chuẩn qua các hành động kích động như vác gậyđánh con cháu mà không vì lí do gì( trầm cảm loạn khí sắc ), tiếp tục đến cha của

cô là ông NX Dần đã có tình trạng trầm cảm sững sờvà luôn luôn có hành vi tự sát

như rạch cổ tay, đến khi được đưa vào bệnh viện thì cũng tìm đủ mọi cách để tự tử

Trang 7

nhưng ngay sau đó thì ông đột nhiên bị tai biến và chết vào một khoảng thời giansau đó, đến anh của cô là NX Tùng cũng xuất hiện những biểu hiện của việc kích động khó kiểm soát được hành động hoặc cơn tức giận của mình( trầm cảm loạnkhí sắc) và đến cháu của cô là NX Vũ thì có tình trạng tự kỉ trong giao tiếp, ít nóikhông giao lưu với người ngoài ( chứng trầm cảm lâm sàng ở trẻ em).

=> Có thể coi đây là do gen di truyền từ đời trước tới các con, các cháu

* Nhưng kết hợp với phần trầm cảm phản ứngthì ta thấy ở đối tượng NT Ngọc

xuất hiện hai nguyên nhân từ các tác động của môi trường và từ trong gen di truyềncủa gia đình Có thể nói về mặt gen di truyền thì nó đã tiềm ẩn sẵn trong con người

và khi bị tác động từ các tác nhân tiêu cực ngoài môi trường thì góp phần khiếncho những tiềm ẩn đó bùng phát trở thành trầm cảm nặng

c Cơ chế dẫn chuyền thần kinh: Theo giả thuyết này các nhà nghiên cứu cho

thấy có tổn thương hệ thống dẫn truyền thần kinh ở các vùng khác nhau của nãogây ra các rối loạn trầm cảm

d Giả thuyết về nor-epinephrin, giả thuyết vầ dopamine: Theo tác giả Blows,

serotonin và noradrenaline ảnh hưởng rát lớn đến hành vi về tâm thần, trong khi đódopamine chỉ ảnh hưởng đến vận động

e Nhân cách, các sự kiện cuộc sống ( Stress): Bệnh nhân trầm cảm thường trải

qua các stress mạnh trong thời gian trước đó Người ta cho rằng, stress có thể lànguyên nhân hoặc yếu tố thúc đấy giai đoạn trầm cảm nhẹ, hoặc làm trầm trọngthêm các yếu tố trầm cảm nặng

* Ở phần này thì cả hai đối tượng cô Nguyễn Minh Nguyệt và cô NT Ngọc đềuxuất hiện tình trạng bị stress mạnh trong khoảng thời gian trước đó và dẫn tới việc

từ trầm cảm nhẹ sang vừa ở cô Nguyễn Minh Nguyệt và từ trầm cảm vừa sangnặng ở cô NT Ngọc

f Các yếu tố nguy cơ làm gia tăng tỉ lệ mắc trầm cảm:

+ Các bệnh mãn tính như: Bệnh tuyến giáp, bệnh tiểu đường, đau mạn tính, độtquỵ, suy timvà các bệnh thần kinh khác, rối loạn giấc ngủ và mất ngủ

+ Các yếu tố cá nhân: ở phụ nữ: Các yếu tố nội tiết : Kinh nguyệt, tiền mãn kinh vàmãn kinh, mang thai và sinh sản

(Đối với nam giới: do nam giới hay sử dụng rượu làm phương thức che dấu tình trạng trầm cảm của mình nên sinh ra tình trạng làm dụng rượu, các chất gây nghiên hoặc các hành vi bốc đồng, dẫn đến số liệu thống kê ít hơn sô với tình trạng trầm cảm thực tế.)

Trang 8

+ Các yếu tố hành vi:

* Hút thuốc lá: đối với những người dễ bị trầm cảm có nguy cơ đối mặt với 25% trở nên nhàm chán sau khi bỏ hút, hoặc những người có tiền sử bị trầm cảm đượckhuyến cáo là không nên tiếp tục dùng thuốc lá vì họ không có khả năng cai thuốc( khoảng 6% cai thuốc thành công sau 1 năm), hơn nữa còn phải theo dõi sát về sựtái phát trầm cảm sau khi họ ngừng hút thuốc

* Áp lực công việc: công việc căng thẳng, làm quá sức quá thời gian, môi trườnglàm việc không tốt, quan hệ xã hội không được thuận lợi, lương tháng thưởng phạt,hoặc phải đối mặt với vấn đề có nguy cơ bị mất việc,… Đều là nguyên nhân củastress, tái diễn nhiều lần sẽ dẫn đến trầm cảm

* Yếu tố về thu nhập gia đình: theo nghiên cứu của Laura A Pratt và Debro J.Brody cho thấy những người có thu nhập ở mức nghèo có nguy cơ bị mắc trầmcảm nhiều hơn những người có thu nhập cao hơn

* Yếu tố tâm lí: những người tâm lí nhạy cảm, ít bạn bè, sống nội tâm, có khả năngchịu stress yếu thường dễ có khả năng bị trầm cảm

1.3 : Biểu hiện của bệnh trầm cảm ở người trưởng thành:

a Các triệu chứng đặc trưng:

- Cảm thấy mệt mỏi uể oải, giảm năng lượng đặc biệt là về buổi sáng, buổi chiều

có đỡ hơn nhưng vẫn còn rõ rệt

-

Mất mọi quan tâm, thích thú trong sinh hoạt, công việc hoặc giải trí : Các sở thích

trước đây đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng

- Khí sắc giảm: cảm giác buồn rầu, hoặc bực bội, khó chịu, luôn có cảm giác buồn

bã với tất cả mọi việc, luôn cáu gắt với mọi người vì những chuyện rất nhỏ

b Các triệu chứng phổ biến khác:

- Chán ăn, ăn không ngon, từ đó dẫn đến gầy sút, có thể sút 1kg/tháng

- Luôn có ý nghĩ chán nản, buông xuôi mọi thứ, cho mình là vô dụng

- Thường xuyên có các rối loạn: như đau đầu, đau bụng, đau ngực, đánh trốngngực, đau cơ, ra nhiều mồ hôi…

- Cảm thấy lời nói của bị ức chế

- Ham muốn tình dục có triệu chứng giảm sút hoặc gần như không còn cảm giác

- Tình trạng khó đi vào giấc ngủ, đang ngủ thì tỉnh dậy sau đó rất khó ngủ lại và

Trang 9

thức rất sớm hoặc lờ mờ ngủ nhiều hơn bình thường.Hoặc khi ngủ, tình trạng gặpphải ác mộng rất nhiều lần và liên tục.

- Khó khăn khi tập trung vào một việc gì đó: như đọc sách, nghe giảng, xem ti-vi không thể tập trung chú ý vào một việc cụ thể, do đó không thể ghi nhớ được ,khó

có thể ngồi yên một chỗ được một lúc, luôn trong tâm trạng lo lắng vô cớ vớinhững lý do không đâu

* Đối với cô Nguyễn Minh Nguyệt: xuất hiện hai biểu hiện đặc trưng đầu tiên là

cảm thấy mệt mỏi uể oải, giảm năng lượng và khí sắc giảm, điều này thể hiện vô

cùng rõ qua trạng thái trong khoảng thời gian làm việc thì cô luôn phả dừng lại đểnghỉ ngơi liên tục, hoặc khi sáng thức giấc sẽ thấy cơ thể mệt mỏi, đầu choángváng khi ngồi dậy và thường xuyên dễ dàng cáu gắt với mọi người dù những sựviệc đó là vô cùng nhỏ

1.4 : Các dấu hiệu thường gặp đối với trầm cảm ở trẻ em:

- Buồn rầu, khóc lóc, tuyệt vọng trường diễn, quá nhạy cảm khi bị từ chối,thất bại

- Khó chịu, bực bội hay giận dữ ngày càng gia tăng

- Không nhiệt tình, năng nổ, uể oải, mệt mỏi mạn tính, hay đổi lớn trong thói quen

ăn uống, ngủ nghỉ (ví dụ sụt cân mạnh, mất ngủ)

- Khó khăn trong xây dựng các mối quan hệ xã hội

- Thường xuyên phàn nàn về sức khỏe như đau đầu, đau dạ dày

- Thường xuyên bỏ học hoặc học kém, không quyết đoán, thiếu khả năng tập trung,hay quên, nói về chuyện bỏ nhà hay đã tìm cách bỏ nhà

- Thường xuyên nghĩ về cái chết hay có ý định tự tử, tự hủy hoại cơ thể

- Cô lập, thu mình khỏi các hoạt động từng được ưa chuộng, không nhiệt tình, năng

nổ, tự ti, mặc cảm tội lỗi quá mức

* Trong trường hợp của em Nguyễn Nguyệt Anh thì xuất các biểu hiện:

- Cô lập, thu mình khỏi các hoạt động từng được ưa chuộng

- Khó chịu, bực bội hay giận dữ ngày càng gia tăng

- Không nhiệt tình, năng nổ

- Quá nhạy cảm khi bị từ chối hay thất bại

- Khó khăn trong xây dựng các mối quan hệ xã hội

- Không quyết đoán, thiếu khả năng tập trung, hay quên

- Tự ti, mặc cảm tội lỗi quá mức

Trang 10

- Trường hợp của em Nguyễn Nguyệt Anh, căn bệnh trầm cảm này có thể coi là

do yếu tố di truyền như tôi đã đề cập ở trên nhưng cũng phần nào kết hợp với lí do

là từ suy nghĩ của mẹ em: không cho em ra ngoài vì thể lực và tâm thần của em rấtyếu Đây là sự bảo vệ đương nhiên vô cùng tốt nhưng đồng thời nó cũng tạo ra sựcách li cuộc sống bên ngoài đối với em.Từ đó tạo cho em suy nghĩ về sự không tồntại của thế giới bên ngoài hoặc những tiêu cực, tệ nạn đáng sợ đến từ môitrường.Từ những suy nghĩ đó khiến em bị thụt lùi trong sự cố gắng phát triển nhậnthức, không còn mong muốn được ra ngoài để tìm hiểu về thế giới xung quanh, thuhẹp chính mình Dù có được sự khen thưởng khuyến khích kịp thời nhưng donhững suy nghĩ đã có sẵn từ trước nên trong em vẫn có xuất hiện những cảm giác

tự ti và các mối quan hệ trong phạm vi rộng ra ngoài môi trường, bạn bè cũng bịthu hẹp rất nhiều Như ngày đâu tiên em đi học giữa giờ ra chơi ngày hôm đó em

đã khóc và đi khắp sân trường để tìm mẹ và không chịu đi học trong nhữn buổi tiếptheo nên mẹ em đã phải đứng xếp hàng cùng em trong vòng 1 tháng Em xuất hiệnnhững phản ửng chống đối với thầy cô giáo, không giao tiếp với các bạn cùng lớp,mọi người đều nghĩ rằng em là một đứa ngang bướng chứ không hề ghĩ rằng em bịbệnh trầm cảm Ngay sau đó, mẹ em đã phải gặp trực tiếp cô giáo để nhờ sự trợgiúp từ cô và bạn bè cùng lớp để em làm quen với môi trường mới Hoặc như khi

bị ai đó trêu đùa em sẽ có những phản ứng kích động như gào thét tức giận gầnnhư không một ai có thể khuyên được, hay phải nghe bố mẹ to tiếng với nhau ở em

sẽ xuất hiện tình trạng ôm đầu khóc lớn, mặt tái và nôn khan

2 Các hình thái biểu hiện lâm sàng của bệnh trầm cảm:

* Phương pháp nghiên cứu:

- Đọc tài liệu, tìm gặp bác sĩ tâm lí tại bệnh viện 354 Hà Nội, tìm hiểu về các hình

thái biểu hiện lâm sàng của bệnh trầm cảm:

2.1: Trầm cảm suy nhược

- Trên nền khí sắc giảm, biểu hiện đầu tiên đó là suy nhược mệt mỏi, uể oải, bệnh nhân cảm giác không còn sinh lực

Trang 11

- Mất thích thú, không còn ham muốn thông thường kể cả về dục năng, thờ ơ lạnh nhạt với xung quanh, thiểu lực cả về thể chất lẫn tâm thần Đây là một trạng thái lâm sàng hay gặp.

2.2 : Trầm cảm vật vã

- Đây là tình trạng khí sắc giảm không kèm theo ức chế vận động

- Bệnh nhân thường đứng ngồi không yên, cầu xin, rên rỉ, than vãn về tình trạng khó ở của mình

- Tự phê phán bản thân, sợ hãi, hoảng sợ, cầu cứu sự giúp đỡ kẻo những tai vạ khó lường sắp xảy ra với chính mình hoặc người thân

- Trong cơn xung động, bệnh nhân trầm cảm sẽ có hành động tự kết liễu nếu không

có sự xử lí và can thiệp kịp thời

Hình thái biểu hiện lâm sàng trầm cảm vật vã này thể hiện rõ ràng nhất ở cô

NT Ngọc.

2.3: Trầm cảm mất cảm giác tâm thần

- Bệnh nhân than vãn mình không còn cảm giác, không còn nhận được tình cảm của người thân, không còn biết đau buồn, vui sường, mất phản ứng cảm giác thích hợp

- Bệnh nhân khẳng định rằng họ không có được cảm xúc gì và đau khổ về tình trạng đó

2.4 : Trầm cảm với hoang tưởng tự buộc tội

- Bệnh nhân tự quở trách bản thân rằng họ có nhiều khuyết điểm, có nhiều hành động xấu xa ( đồi bại, ăn bám, giả tạo, …)

- Người bênh thường xám hối về các tội lỗi đó và xin được trừng phạt

- Trong một số trường hợp, sự sai phạm trong ý tưởng tự buộc tội có liên quan tới những sự việc có thực, nhưng thường có xu hướng bị thổi phồng, nói quá lên trong tình trạng bệnh lí

2.5 : Trầm cảm loạn khí sắc

- Khí sắc giảm nhẹ nhưng bệnh nhân thường kích thích càu nhàu đi đôi với cảm giác buồn bực, không hài lòng với mọi người xung quanh

- Có khuynh hướng cáu bẳn, cục cằn, công kích thô bạo

- Tình trạng này thường bị bỏ sót trong chẩn đoán trầm cảm

Trang 12

2.7 : Trầm cảm lo âu

- Khí sắc trầm, buồn rầu, kềm theo lo âu

- Bệnh nhân thường lo lắng với mọi chủ để kể cả không mang tính thời sự, lo lắng chờ đợi rủi ro, bất hạnh, không gắn với bất kì một sự kiện nào đặt ra trong đời

- Thường kèm theo nhiều rối loạn thực vật nội tạng như đáng trống ngực, ớn lạnh, rét run, …

2.8 : Trầm cảm với hoang tưởng mở rộng

- Đây là tình trạng trầm cảm với hoang tưởng phủ định rộng lớn

- Bệnh nhân khẳng định thế giới, vũ trụ đang đổ vỡ, không tồn tại

- Khẳng định chính mình bị người ta ghép những lỗi nặng nề, hoặc phải gánh chịu những tội lỗi, sự tra tấn hàng nghìn năm

- Khẳng định các cơ quan lục phủ ngũ tạng bị thối rữa

- Khẳng định mình bị mất hết nhà cửa, gia đình và những người mình yêu thương (hội chứng Cotard).Tình trạng này ngày nay rất ít gặp

2.9 : Trầm cảm với hoang tưởng điển hình

- Bệnh nhân xuất hiện nhiều hoang tưởng với nhiều nội dung khác nhau như bị theo dõi, bị truy hại, bị đầu độc, bị buộc tội…

- Khi rối loạn nặng có thể kèm theo rối loạn ý thức, kiểu mê mộng với nội dung trầm cảm kèm theo nhiều ảo giác thật hoặc giả với nội dung chê bai, nói xấu, bình phẩm

2.10 : Trầm cảm rối loạn cơ thể và thần kinh thực vật

- Tình trạng bệnh thường gặp là các rối loạn cơ thể thực vật nội tạng, suy nhược, loạn cảm giác bản thể như: đáng trống ngực, dao động huyết áp, ngoại tâm thu, vã

mồ hôi, chân tay lạnh, nôn, kém ăn, sợ sệt,…

(ngoại tâm thu là tình trạng loạn nhịp tim hay nhịp tim không đều )

Ngày đăng: 25/12/2014, 22:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w