Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguyên vật liệu tại công ty...74 - Cơ sở của giải pháp...74 - Cơ sở của giải pháp...74 Nội dung của giải pháp...74 Nội dung của giải pháp..
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô giáo và ban giám hiệu nhà trường Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Nhà trường đã tạo môi trường và điều kiện học tập tốt cho sinh viên, các thầy cô luôn nhiệt tình giảng dạy và hướng dẫn tận tình trong quá trình học tập tại trường để tôi có thể hoàn thành khóa học và khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thảnh cảm ơn ban giám đốc cùng toàn thể cán bộ nhân viên Công ty cổ phần May và dịch vụ Hưng Long đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực tập tại công ty, trên cơ sở đó đã giúp tôi tiếp cận tình hình thực tế và hình thành đề tài nghiên cứu.
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Ths Hoàng Sĩ Thính Thầy đã nhiệt tình hướng dẫn để em hoàn thành tốt bài khóa luận này.
Do thời gian nghiên cứu có hạn, kiến thức bản thân còn hạn chế nên không thể tránh được những thiếu xót trong quá trình thực hiện nghiên cứu này Chính vì vậy rất mong sự đóng góp ý kiến từ thầy cô và các bạn để bài khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Mai Hương
Trang 2MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC BẢNG viii
PHẦN I 1
PHẦN I 1
MỞ ĐẦU 1
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối Tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Kết quả nghiên cứu dự kiến 3
PHẦN II 4
PHẦN II 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
Trang 32.1.1 Các thuật ngữ và khái niệm 4
Vật liệu phụ 10
Vật liệu phụ 10
Mục tiêu quản lý NVL 14
Mục tiêu quản lý NVL 14
2.1.2 Nội dung của công tác quản lý NVL trong doanh nghiệp 16
2.2 Cơ sở thực tiễn 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 27
PHẦN III 29
PHẦN III 29
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Khái quát địa điểm thực tập 29
Lịch sử hình thành và phát triển của công ty Cổ phần may và dịch vụ Hưng Long 29
3.2 Khái quát tình hình tài chính công ty 36
3.2.1 Tình hình kết quả kinh doanh 36
3.2.2 Phân tích một số đặc điểm kinh tế kỹ thuật của công ty ảnh hưởng tới công tác quản lý nguyên vật liệu 39
3.2.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong những năm gần đây .44
Tỷ lệ giá vốn trên doanh thu của năm 2012 tăng 6.64 % so với năm 2012 2011 cho thấy công tác quản lý sản xuất và tính giá của doanh nghiệp không thực sự hiệu quả, tuy nhiên của năm 2013 đã giảm 2.23% so với năm 2012 đã làm tỷ lệ lợi nhuận tăng đáng kể 45
Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu năm 2012 giảm 13.88% so với năm 2011
do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, đến năm 2013 tình hình sản
Trang 4xuất ổn định nên tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu tăng 5.78% so với
năm 2012 45
3.3 Thực trạng công tác quản lý NVL tại công ty 45
3.3.1 Đặc điểm và phân loại nguyên vật liệu tại Công ty 45
3.3.1.2 Phân loại NVL 47
3.3.1.2 Phân loại NVL 47
Sơ đồ 3.2 Phân loại nguyên vật liệu 47
Sơ đồ 3.2 Phân loại nguyên vật liệu 47
3.3.2 Thực trạng công tác quản lý NVL của công ty 48
Số tiền bằng chữ: hai trăm hai tám triệu, bốn trăm tám ba nghìn, hai trăm đồng 57
Số tiền bằng chữ: hai trăm hai tám triệu, bốn trăm tám ba nghìn, hai trăm đồng 57
Người mua hàng Người bán hàng Thủ trưởng đơn vị 57
Người mua hàng Người bán hàng Thủ trưởng đơn vị 57
(Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên) 57
(Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên) 57
PHIẾU XUẤT KHO 63
PHIẾU XUẤT KHO 63
Sau mỗi quá trình sản xuất, công ty phải tiến hành đánh giá việc sử dụng nguyên vật liệu để xác định hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu đã được tối ưu hay chưa? và tìm ra những hạn chế còn tồn tại để có biện pháp kịp thời khắc phục 66
3.4 Đánh giá công tác quản lý NVL tại công ty 68
Trang 53.4.1 Đánh giá chung tình hình quản lý NVL tại công ty 68
3.4.2 Những kết quả đạt được 69
3.4.3 Những hạn chế yếu kém trong công tác quản lý NVL 70
3.4.4 Nguyên nhân của những hạn, chế yếu kém 71
3.5 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nguyên vật liệu tại công ty Cổ phần may và dịch vụ Hưng Long 72
3.5.1 Định hướng phát triển của công ty Cổ phần may và dịch vụ Hưng Long 72
3.5.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguyên vật liệu tại công ty 74
- Cơ sở của giải pháp 74
- Cơ sở của giải pháp 74
Nội dung của giải pháp 74
Nội dung của giải pháp 74
Cùng với việc các công ty lớn trong ngành may mặc đã áp dụng phương pháp này cho việc xác định định mức nguyên vật liệu cho sản xuất nên cũng là một cơ hội thực tiễn giúp công ty học hỏi và trao đổi kinh nghiệm từ hiệp hội các công ty sản xuất và gia công may mặc tham gia và các hiệp hội, diễn đàn 80
Cùng với việc các công ty lớn trong ngành may mặc đã áp dụng phương pháp này cho việc xác định định mức nguyên vật liệu cho sản xuất nên cũng là một cơ hội thực tiễn giúp công ty học hỏi và trao đổi kinh nghiệm từ hiệp hội các công ty sản xuất và gia công may mặc tham gia và các hiệp hội, diễn đàn 80
Nội dung của giải pháp 80
Nội dung của giải pháp 80
Tính khả thi của giải pháp 82
Trang 6PHẦN IV 83
PHẦN IV 83
83 83 KẾT LUẬN 83
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT STT Từ viết tắt Ý nghĩa
1 KCS Kiểm tra chất lượng
3 NVL Nguyên vật liệu
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Bảng biểu các mặt hàng chủ yếu và thị trường hiện
tại của công ty 30
Bảng 3.2 Phân bố diện tích công ty Cổ phần May và Dịch vụ Hưng long .31
Bảng 3.3 Danh mục máy móc thiết bị của công ty Hưng Long năm 2013 .31
Bảng 3.4: Cơ cấu lao động Công ty Cổ phần May và Dịch vụ Hưng Long năm 2013 32
Bảng 3.5 Báo cáo kết quả kinh doanh trong những năm gần đây 36
Bảng 3.6 Bảng báo cáo về sản lượng sản phẩm sản xuất 39
Bảng 3.7 Thị trường theo khu vực của công ty Hưng Long 41
Bảng 3.8 Bảng phân tích tỷ lệ tài chính khác 44
Bảng 3.9 Thị trường nhập nguyên, phụ liệu để sản xuất 46
Bảng 3.10 Lệnh sản xuất 50
Bảng 3.11 Kế hoạch NVL chính dùng cho phân xưởng T12/ 2013 52
Bảng 3.12 Tình hình thực hiện kế hoạch NVL chính tháng 12/2013 66
Bảng 3.13 Số lượng phế liệu, phế phẩm thu hồi của một số NVL 67
Trang 10Trong các doanh nghiệp sản xuất, NVL liên quan trực tiếp đến hế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, là đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh, chi phí nguyên vật liệu chếm một tỷ lệ lớn trong cơ cấu giá thành sản phẩm, chất lượng NVL ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp Xuất phát từ vai trò quan trọng của NVL đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng, quản lý nguyên vật liệu một cách hợp lý, chặt chẽ ở tất cả các khâu từ quá trình thu mua vận chuyển liên quan tới việc dự trữ vật tư, đấy chính là một biện pháp chủ yếu không những hạ giá thành sản phẩm để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp mà còn nâng cao được chất lượng sản phẩm bán ra thị trường.
Công ty Cổ phần may và dịch vụ Hưng Long là một doanh nghiệp hoạt động sản xuất hàng may mặc phục vụ xuất khẩu Được thành lập từ năm 2001, công ty đã trải qua 13 năm hoạt động và phát triển, bằng những nỗ lực không ngừng của ban giám đốc cùng toàn thể cán bộ công nhân viên Công ty Cổ phần may và dịch vụ Hưng Long đã có thương hiệu trên thị trường quốc tế, đặc biệt
là thị trường Châu Âu Công ty sử dụng NVL đầu vào rất phong phú đa dạng
về chủng loại, số lượng Do vậy công tác quản lý NVL của công ty là rất quan
Trang 11trọng, nó đã giúp công ty giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến thu mua, nhập – xuất, bảo quản và sử dụng NVL trong quá trình sản xuất Nhận thức được sự cần thiết về công tác quản lý NVL và qua tính hình thực tập tại công ty, tôi nhận thấy rằng công ty cần phải có những giải pháp nâng cao công tác quản lý NVL hơn nữa đề có thế tiết kiệm một cách tối đa chi phí sản xuất
Vì vậy, tôi đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài khóa luận: “Công tác quản lý NVL tại công ty Cổ phần may và dịch vụ Hưng Long”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu tổng quát của luận văn là tìm hiểu thực trạng quản lý nguyên vật vật liệu tại công ty may Hưng Long để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý NVL tại công ty
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Nhằm đạt được mục tiêu tổng quát trên, chúng ta phải hoàn thành các mục tiêu cụ thể sau:
- Tìm hiểu những vấn đề mang tính chất lý luận về NVL, quản lý NVL
- Nghiên cứu thực trạng tình hình công tác quản lý NVL tại Công ty Cổ phần may và dịch vụ Hưng Long
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý NVL tại Công ty Cổ phần may và dịch vụ Hưng Long
1.3 Đối Tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của là thực trạng công tác quản lý NVL của Công ty
Cổ phần may và dịch vụ Hưng Long
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Tình hình công tác quản lý NVL tại công ty may
Trang 12- Phạm vi không gian: Công ty Cổ phần may và dịch vụ Hưng Long, km
24 – Quốc lộ 5A – Dị Sử - Mỹ Hào – Hưng Yên
- Phạm vi thời gian: Phạm vi về thời gian số liệu năm 2011, năm 2012 và năm 2013 Thời gian nghiên cứu đề tài từ ngày 14/7/2014 đến 30/10/2014
1.4 Kết quả nghiên cứu dự kiến
- Đề tài sau khi nghiên cứu sẽ đánh giá được tình hình sản xuất kinh doanh
của công ty qua 3 năm 2011, 2012 và 2013
- Thực trạng quản lý nguyên vật liệu tại công ty
- Đánh giá ưu, nhược điểm công tác quản lý NVL tại công ty và đưa ra một số giải pháp nhằm khắc phục yếu kém trong việc quản lý NVL của công ty
Trang 13NVL là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, giá trị NVL tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh tạo nên giá trị của sản phẩm dịch vụ tuỳ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp sản xuất thì giá trị NVL chiếm tỷ trọng lớn và chủ yếu trong giá trị sản phẩm [3].
2.1.1.2 Đặc điểm của nguyên vật liệu
- Nguyên vật liệu là những tài sản lưu động thuộc nhóm hàng tồn kho, vật liệu tham gia giai đoạn đầu của quá trình sản xuất kinh doanh để hình thành nên sản phẩm mới, chúng rất đa dạng và phong phú về chủng loại
- Nguyên vật liệu là cơ sở vật chất hình thành nên thực thể sản phẩm trong mỗi quá trình sản xuất vật liệu không ngừng chuyển hoá và biến đổi về mặt giá trị và chất lượng
- Giá trị nguyên vật liệu được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm mới được tạo ra
- Về mặt kỹ thuật, nguyên vật liệu là những tài sản vật chất tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, phức tạp vì đời sống lý hoá nên dễ bị tác động của thời
Trang 14- Trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng cao trong tài sản lưu động và tổng chi phí sản xuất, để tạo ra sản phẩm thì nguyên vật liệu cũng chiếm tỷ trọng đáng kể.
- Chất lượng nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm
Nguyên vật liệu có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nguyên vật liệu có đảm bảo chất lượng, đúng quy cách, đúng chủng loại thì chất lượng của sản phẩm mới được đảm bảo, phục vụ tốt nhu cầu tiêu dùng của xã hội cũng như đảm bảo hơn điều kiện cạnh tranh cho doanh nghiệp trong cơ chế thị trường Điều đó dẫn đến phải tăng cường công tác quản lý và sử dụng nguyên vật liệu hợp lý trong các doanh nghiệp sản xuất [3]
Nhìn chung thì NVL được phân chia theo các cách sau đây:
Phân loại theo vai trò và tác dụng của NVL trong sản xuất kinh doanh vật liệu:
- NVL chính: Là đối tượng lao động chính trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp Nguyên vật liệu chính là vật chất chủ yếu tạo nên thực thể của sản phẩm Nguyên vật liệu chính phụ thuộc vào từng doanh nghiệp cụ thể, sản
Trang 15phẩm cụ thể như sắt thép trong Nhà máy chế tạo cơ khí, bông trong Nhà máy dệt… [3]
- Vật liệu phụ: Là những loại vật liệu tham gia vào quá trình sản xuất, không cấu thành thực thể chính của sản phẩm Vật liệu phụ chỉ tác dụng phụ trong quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm như làm tăng chất lượng vật liệu chính và sản phẩm, phục vụ cho công tác quản lý, phục vụ thi công, cho nhu cầu công nghệ kỹ thuật bao gói sản phẩm Trong ngành dệt may gồm có thuốc nhuộm, thuốc tẩy, băng keo phục vụ quá trình sản xuất.[3]
- Nhiên liệu: Là những thứ được sử dụng cho công nghệ sản xuất sản phẩm cho các phương tiện vật chất, máy móc thiết bị trong quá trình sản xuất kinh doanh.[3]
- Phụ tùng thay thế: Là các chi tiết phụ tùng dùng để thay thế sữa chữa và thay thế cho máy móc, thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải.[3]
- Thiết bị xây dựng cơ bản: Bao gồm vật liệu và thiết bị cần lắp, không cần lắp, vật kết cấu khác doanh nghiệp phục vụ mục đích đầu tư xây dựng cơ bản
- Vât liệu khác: Là toàn bộ vật liệu còn lại trong quá trình sản xuất chế tạo
ra sản phẩm hoặc phế liệu thu hồi từ thanh lý tài sản cố định.[3]
Việc phân chia vật liệu một cách tỷ mỉ chi tiết trong doanh nghiệp sản xuất được thực hiện trên cơ sở xây dựng và lập sổ danh điểm vật liệu Trong
đó, vật liệu được chia thành các loại nhóm thứ bằng hệ thống ký hiệu các chữ
số để thay thế cho tên gọi nhãn hiệu, quy cách vật liệu Những ký hiệu đó được gọi là danh điểm vật liệu và được áp dụng thống nhất trong phạm vi toàn doanh nghiệp, giúp cho các bộ phận trong doanh nghiệp phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý vật liệu.[3]
Mỗi loại vật liệu có thể sử dụng một số trong danh điểm vật liệu, sổ danh điểm vật liệu được xây dựng trên cơ sở số liệu của từng nhóm và đặc tính công dụng của chúng Tuỳ theo nhóm, thứ vật liệu mà kết cấu số liệu gồm 1,2, hoặc
Trang 16 Phân loại theo nguồn gốc NVL.[3]
NVL mua ngoài
NVL tự chế hoặc thuê ngoài gia công chế biến
NVL nhận vốn góp liên doanh của các đơn vị khác hoặc được cấp phát biếu tặng
NVL thu hồi vốn góp liên doanh
NVL khác như kiểm kê thừa, vật liệu không dùng hết
Phân loại theo mục đích và nội dung NVL
NVL trực tiếp dùng vào sản xuất kinh doanh
NVL dùng cho các nhu cầu khác phục vụ ở quản lý phân xưởng, tổ đội sản xuất, cho nhu cầu bán hàng quản lý doanh nghiệp
2.1.1.4 Vai trò của NVL trong sản xuất kinh doanh
Vai trò của NVL trong quá tình sản xuất: NVL là yếu tố đầu vào không thể thiếu được với mọi quá trình sản xuất hay nói cách khác không có NVL sẽ không có sản xuất Bởi thực chất quá trình sản xuất là việc chế biến NVL thành sản phẩm với những thuộc tính mong muốn Chính vì vậy một doanh nghiệp muốn ổn định sản xuất không muốn rơi vào tình trạng đình trệ thì phải luôn đảm bảo nguồn cung ứng NVL cho doanh nghiệp của mình Cũng chính vì vai trò quan trọng của NVL đối với quá trình sản xuất như vậy mà trong nhiều trường hợp thị trường khan hiếm NVL xảy ra tình trạng ép giá đẩy giá NVL lên cao khủng khiếp khiến nhiều doanh nghiệp sản xuất không có khả năng thanh toán
Vai trò của NVL trong quá trình kinh doanh: Một doanh nghiệp kinh doanh bao giờ cũng muốn bán được nhiều hàng thu được nhiều lợi nhuân Để làm được điều này phải tạo được uy tín của mình trên thị trường Muốn vậy doanh nghiệp phải có sản phẩm có chất lượng tốt, đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng Doanh ngiệp sẽ không thể có sản phẩm tốt nếu NVL dùng trong sản xuất không được đảm bảo, chất lượng không cao Mặt khác doanh nghiệp cũng khó thu được lợi nhuận nếu chi phí sử dụng NVL quá cao, khiến giá thành bị
Trang 17đẩy lên Như vậy yêu cầu đặt ra đối với các nhà kinh doanh là làm sao có được sản phẩm tốt mà phải vừa hạ được giá thành sản phẩm.
Giá trị NVL thường chiếm một tỉ trọng lớn từ 50-60% tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp Do vậy đòi hỏi doanh nghiệp cần phải có sự quản lý chặt chẽ trong việc thu mua dự trữ và sử dụng NVL nhằm đảm bảo NVL cho quá trình sản xuất, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.[3]
2.1.1.5 Khái quát chung về NVL may
Vật liệu may dùng trong may mặc rất phong phú và đa dạng về số lượng cũng như chất lượng Dựa vào đặc điểm và vai trò của từng NVL đối với sản xuất may mặc mà người ta chia vật liệu may thành những nhóm chính sau:
- Vật liệu chính: Dùng để may mặc loại quần áo mặc ngoài, mặc lót (chiếm khoảng 80% vật liệu may) bao gồm các loại vải như vải dệt thoi, vải dệt kim, vải không dệt, lông tự nhiên, lông hóa học [1]
- Vật liệu phụ: Bao gồm các loại vật liệu để giữ nhiệt, liên kết, vật liệu dựng, gài và vật liệu trang trí.[1]
Vật liệu chính
A NVL dệt
• Khái niệm về sợi dệt
Sợi dệt là các vật thể được tạo ra từ các xơ dệt bằng phương pháp xe, xoắn hoặc dính kết các xơ lại với nhau Về mặt kích thước các loại sợi đều có kích thước chiều dài lớn, kích thước ngang nhỏ, chiều dài của các con sợi được xác định bằng chiều dài của các sợi cuộn trong các ống sợi Ngoài ra cũng như xơ dệt, sợi dệt cũng có tính chất dẻo, đàn hồi và dãn nở tốt phụ thuộc vào các loại xơ.[1]
• Phân loại sợi dệt
- Sợi con: là loại sợi chủ yếu và phổ thông nhất, chiếm khoảng 85% loại sợi sản xuất trên thế giới Sợi con được tạo lên từ xơ cùng loại hoặc pha trộn
Trang 18giữa các loại xơ khác nhau Sợi con được phân chia thành sợi đơn giản và sợi kiểu Sợi đơn giản có kết cấu và màu sắc giống nhau trên khắp chiều dài sợi Sợi kiểu (hoa) được tạo lên bằng nhưng phương pháp khác nhau, làm cho sợi kết cấu không đồng đều trên suốt chiều dài sợi, tạo thành những vòng sợi hoặc những chỗ dày mỏng khác nhau, mang nhiều màu sắc khác nhau.[1]
- Sợi phức (sợi ghép): Ngoài sợi tơ tằm (tơ thiên nhiên), tất cả các loại sợ phức đều là sợi hóa học Sợi phức bao gồm sợi cơ bản, thường có độ dày trung bình hoặc nhỏ.[1]
- Ngoài ra tùy thuộc vào thành phần xơ tham gia trong đó mà sợi lại được phânnh chia thành hai loại;
- Sợi đồng nhất: tạo lên từ một loại xơ, bông, len, lanh…
- Sợi không đồng nhất: tạo lên từ hai hay nhiều loại xơ, thường ở dạng sợi (len với bông, vitxco với axetat…) [1]
B Vải
• Phân loại theo thành phẩm xơ, sợi
Tùy thuộc vào thành phần xơ cấu tạo nên mà chế phẩm dệt có thể thuộc loại đồng nhất, không đồng nhất hay thuộc loại hỗn hợp Chế phẩm đồng nhất được tạo lên từ cùng một loại xơ, như vải bông, vải len, vải tơ tằm,… Loại chế phẩm không đồng nhất được tạo lên từ một phần sợi đồng nhất và một phần sợi không đồng nhất khác (có thành phần xơ không giống thành phần ban đầu), như loại vải này tạo lên từ hệ thống sợi là bông còn hệ thống khác là len hoặc sợi hóa học Loại chế phẩm hỗn hợp là loại vải được tạo lên từ sự pha trộn giữa các loại sơ với nhau, như bông pha với vitxco, bông pha với polieste, len pha với acrylic… Theo thành phần xơ chứa trong vải mà phân chia thành vải bông, vải len, vải lanh, vải tơ, vải sợi hóa học và vải pha.[1]
• Phân loại theo công dụng
Tùy theo công dụng của từng loại chế phẩm và phân chia thành loại vải may mặc dùng để may các loại quần áo và dùng trong sinh hoạt hằng ngày (vải treo cửa, vải trang trí, vải phủ bàn…) Vải phục vụ dân dụng (vải kỹ thuật: vải
Trang 19lọc hóa chất, vải dù, vải bạt…) vải dùng trong công nghiệp (quốc phòng,luyện kim, hóa chất, mỏ…) [1]
• Phân loại theo phương thức sản xuất
Vải thường có nhiều loại và thường được phân chia thành các loại vải như vải mộc, vải mặt nhãn, vải xù lông, vải hai mặt, vài nhiều lớp, vải in hoa,
…
- Vải mộc: là loại vải được lấy ra trược tiếp từ máy dệt, vải này thường cứng, độ thẩm thấu kém, có nhiều tạp chất, hình dáng bên ngoài không đẹp cho lên ít được sử dụng Để có vải chất lượng tốt hơn người ta tiến hành tách tạp chất ra khỏi vải và bằng phương pháp lý hóa làm cho vải trắng và đẹp hơn gọi
là tẩy trắng [1]
- Vải xù lông: là loại vải tạo lên bằng cách thêm một hệ thống sợi do các sợi hoặc các đầu sợi được cắt ngắn, hoặc có các lớp sơ mịn che phủ các đường dệt trên mặt vải như vải dạ, vải nỉ,…
- Vải mặt nhẵn: là loại vải khác với vải lông xu trên bề mặt không có sơ min che phủ các đương dệt hay mặt vải Mặt vải trơn, nhẵn, bong
- Vải nhiều lớp: là loại vải ngoài hệ thống sợi dọc và sợi ngang còn bổ sung thêm một hệ thống sợi nữa làm tăng độ dày, độ bền chắc cho vải [1]
Theo thành phần nguyên liệu chỉ may được phân loại ra các loại sau:
- Chỉ từ xơ thiên nhiên
- Chỉ từ xơ hóa học: chỉ lõi, chỉ phức, chỉ textua, chỉ nilon đơn, chỉ từ các
Trang 20Phân loại vật liệu dựng:
- Dựng dính
Dựng dính hay còn gọi là mex, được tạo thành từ hai bộ phận: bộ phận đế
và nhựa dính Khi là dưới sức nóng của bàn là sẽ làm lớp nhựa dính nóng chảy
và dính vào mặt trái của vải may Khi sử dụng dựng dính cần chú ý dùng vải đệm lót khi là để bảo vệ được bàn là và cung cấp được nhiều nhiệt hơn Tùy thuộc vào loại đế mà mex được chia thành mex vải và mex giấy [1]
- Dựng không dính
Dựng không dính bảo gồm vải dựng, xốp, tấm bông…Giữ vai trò nâng đỡ trong hầu hết trang phục Lớp dựng này được đặt năm trong vải may, dùng để tạo hình và dựng đứng các chi tiêt như: cổ áo, tay áo, nẹp cạp quần, miệng túi
và ve áo khoác ngoài…[1]
C Vật liệu cài
Gồm có khóa kéo, cúc và một số vật liệu phụ khác [1]
2.1.1.6 Khái quát chung về quản lý
Khái niệm về quản lý
Trình độ phát triển khoa học kỹ thuật công nghệ càng cao quy mô sản xuất công nghệ càng lớn, chuyên môn hóa lao động càng sâu Trong điều kiện đó muốn đạt được hiệu quả cao thì càng đòi hỏi phải có một loại hoạt động đặc biệt có nhiệm vụ tạo lập và kết nối một cách khôn khéo các hoạt động đa dạng phức tạp của tổ chức thành một hành động chung có hiệp tác thống nhất ăn khớp đồng bộ nhịp nhàng.Hoạt động nói trên được gọi là quản lý Có thể nói: Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản
Trang 21lý nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức Hay nói cách khác quản lý là một loại hình hoạt động xã hội quan trọng của con người trong cộng đồng nhằm tổ chức thực hiện được mục tiêu mà con người hoặc xã hội đặt ra Hoạt động này được thể hiện thông qua sự tác động qua lại giữa người lãnh đạo, quản lý và cá nhân, tập thể dưới quyền, chịu sự lãnh đạo quản lý Quản lý vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật.[8]
Có thể nói quản lý là khoa học, là nghệ thuật và phải gắn liền với tổ chức
và mục tiêu của nó Quá trình quản lý bao gồm nhiều bước từ xác định mục tiêu dự toán, lập kế hoạch triển khai thực hiện và ghi chép kết quả thực hiện để kiểm tra đánh giá Tất cả các công việc đó cuối cùng đều phục vụ cho việc ra quyết định
Nhiệm vụ cơ bản của quản lý
- Hoạch định: xác định mục tiêu, quyết định những công việc cần làm trong tương lai (ngày mai, tuần tới, tháng tới, năm sau, trong 5 năm sau ) và lên các
Chức năng của quản lý
Chức năng quản lý là các công việc khác nhau mà các nhà quản lý phải thực hiện trong quá trình quản lý một tổ chức Quản lý có những chức năng cơ bản sau:
Trang 22- Chức năng hoạch định: Là tiến trình nghiên cứu kết quả quá khứ để ra quyết định trong hiện tại về những công việc phải làm trong tương lai như: Xây dựng các chiến lược, kế hoạch.
- Chức năng bố trí nhân sự: Là tiến trình tìm người phù hợp để giao phó một chức vụ hay một cương vị nào đó
- Chức năng lãnh đạo, điều hành: Là tiến trình điều khiển và tác động lên người khác để thúc đẩy họ hoặc để họ tự nguyện làm tốt công việc được giao nhằm hoàn thành các mục tiêu đã định
- Chức năng kiểm soát: Là quá trình đo lường và chấn chỉnh việc thực hiện nhằm đảm bảo cho các mục tiêu, kế hoạch của doanh nghiệp đã đang hoàn thành một cách có hiệu quả
- Chức năng ra quyết định: Nhà quản lý khi nhận được các thông tin từ cấp dưới cung cấp Sau khi phân tích, xử lý thông tin nhà quản lỳ sẽ đưa ra các quyết định để thực hiện tốt nhất quá trình sản xuất kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.[8]
2.1.1.7 Quản lý NVL
Khái niệm quản lý NVL
Quản lý NVL cũng giống như bất kì một hoạt động quản lý nào, nó cũng tuân theo những quy trình quản lý chung Có thể tiếp cận hoạt động quản lý NVL theo hai mặt:
- Theo quy trình quản lý: quản lý NVL là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra về sử dụng NVL nhằm thực hiện tốt những mục tiêu về NVL đã đề ra
- Theo các hoạt động chính: quản lý NVL là quá trình quản lý các hoạt động dự trữ, mua sắm, bảo quản, cấp phát và sử dụng NVL nhằm đem lại hiệu quả mong muốn.[4]
Quản lý NVL là các hoạt động liên quan đến việc quản lý dòng vật liệu ra vào, ra của doanh nghiệp Đó là quá trình phân nhóm theo chức năng và quản
lý theo chu kì hoàn thiện của dòng NVL, từ việc mua và kiểm soát bên trong
Trang 23các NVL sản xuất đến kế hoạch và kiểm soát bên trong các NVL sản xuất đến
kế hoạch và kiểm soát công việc trong quá trình lưu chuyển của vật liệu đến công tác kho tàng vận chuyển và phân phối thành phẩm NVL là yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất, nó là yếu tố cấu thành chủ yếu trong tổng chi phí sản xuất, do vậy hoạt động quản lý NVL trong các doanh nghiệp là hết sức cần thiết.[4]
Mục tiêu quản lý NVL
Mục tiêu tổng quát của quản lý NVL là đảm bảo hiệu quả trong việc
sử dụng NVL, tránh những thất thoát và lãng phí nhưng vẫn thỏa mãn tốt nhất nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp Quản lý NVL đặt ra những mục tiêu cụ thể sau:
- Đảm bảo số lượng khi doanh nghiệp cần: sản xuất là một quá trình liên tục, do vậy NVL cũng phải thường xuyên được cung ứng kịp thời cho quá trình
ấy nếu không muốn nó bị gián đoạn Số lượng NVL cung ứng phải được tính toán dựa trên các đơn đặt hàng nếu là doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng
và dựa trên nhu cầu thị trường kết hợp với khả năng sản xuất của doanh nghiệp nếu là doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.[4]
- Có tất cả chủng loại NVL khi doanh nghiệp cần tới và phải đảm bảo chất lượng: NVL mua về phải phù hợp với nhu cầu của khách hàng Chất lượng NVL quyết định trực tiếp đến chất lượng sản phẩm Đảm bảo chất lượng ở đây không có nghĩa là luôn phải sử dụng những NVL tốt nhất mà phải sử dụng NVL phù hợp với yêu cầu của khách hàng về chất lượng sản phẩm Trong ngành may mặc, chỉ nói đến NVL chính là vải cũng đã có rất nhiều chủng loại mặt hàng khác nhau, đòi hỏi khi sử dụng chủng loại NVL nào phải dựa trên yêu cầu đơn đặt hàng hoặc dựa trên tính năng của sản phẩm cần sản xuất.[4]
- Đảm bảo yêu cầu về thời hạn: NVL phải được cung cấp cho quá trình sản xuất đúng thời điểm để doanh nghiệp có thể sản xuất, giao sản phẩm cho khách hàng theo đúng thời hạn đã kí kết trong đơn đặt hàng Như vậy cần phải
Trang 24tính toán thời điểm thu mua NVL cho hợp lý, tránh tình trạng mua về nhưng chưa đến kì sản xuất hoặc đến lúc cần để sản xuất nhưng lại chưa có NVL.[4]
- Giảm thiểu chi phí: vấn đề về chi phí bao giờ cũng là mối quan tâm hàng đầu trong mỗi doanh nghiệp Nhiệm vụ đặt ra cho hoạt động quản lý NVL ở đây là làm thế nào đảm bảo được các mục tiêu trên nhưng vẫn có khả năng giảm thiểu được những chi phí về NVL Mục tiêu giảm chi phí NVL liên quan trực tiếp đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bởi giảm chi phí là giảm giá bán để giành được thị trường, tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp.[3]
Yêu cầu của công tác quản lý NVL
Xuất phát từ vị trí, đặc điểm của vật liệu trong quá trình sản xuất kinh
doanh Để quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một cách liên tục thì phải đảm bảo cung cấp NVL kịp thời về mặt số lượng, chất lượng cũng như chủng loại vật liệu do nhu cầu sản xuất ngày càng phát triển đòi hỏi vât liệu ngày càng nhiều để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất sản phẩm và kinh doanh có lãi là mục tiêu mà các Doanh nghiệp hướng tới Vì vậy, quản lý tốt ở khâu thu mua, dự trữ
và sử dụng NVL là điều kiện cần thiết để đảm bảo chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành, tăng lợi nhuận của Doanh nghiệp
- NVL là tài sản dự trữ cho sản xuất thường xuyên biến động Do vậy, các Doanh nghiệp cần giám sát chặt chẽ quá trình thu mua, bảo quản và sử dụng vật liệu 1 cách có hiệu quả
- Ở khâu thu mua: Đảm bảo cung cấp đầy đủ kịp thời NVL cho sản xuất sản phẩm về mặt số lượng, chủng loại, chất lượng, giá cả hợp lý phản ánh đầy
đủ chính xác giá thực tế của vật liệu (giá mua, chi phí thu mua).[3]
- Khâu bảo quản: Doanh nghiệp phải tổ chức hệ thống kho hợp lý, đúng chế độ bảo quản với từng loại vật liệu để tránh hư hỏng, thất thoát, hao hụt, mất phẩm chất ảnh hướng đấn chất lượng sản phẩm.[3]
- Khâu dự trữ: Để đảm bảo cho quá trình sản xuất tiến hành, không bị ngừng trệ, gián đoạn Doanh nghiệp phải dự trữ vật liệu đúng định mức tối đa,
Trang 25tối thiểu đảm bảo cho sản xuất liên tục bình thường không gây ứ đọng (do khâu
dự trữ quá lớn) tăng nhanh vòng quay vốn.[3]
- Trong khâu sử dụng vật liệu: Sử dụng vật liệu theo đúng định mức tiêu hao, đúng chủng loại vật liệu, nhằm phát huy hiệu quả sử dụng vật liệu nâng cao chất lượng sản phẩm, chi phí vật liệu trong giá thành sản phẩm vì vậy đòi hỏi tổ chức tốt việc ghi chép, theo dõi phản ánh tình hình xuất vật liệu Tính toán phân bổ chính xác vật liệu cho từng đối tượng sử dụng theo phương pháp thích hợp, cung cấp số liệu kịp thời chính xác cho công tác tính giá thành sản phẩm Đồng thời thường xuyên hoặc định kỳ phân tích tình hình thu mua, bảo quản dự trữ và sử dụng vật liệu, trên cơ sở đề ra những biện pháp cần thiết cho việc quản lý ở từng khâu, nhằm giảm mức tiêu hao vật liệu trong sản xuất sản phẩm, là cơ sở để tăng thêm sản phẩm cho xã hội.[3]
2.1.2 Nội dung của công tác quản lý NVL trong doanh nghiệp
2.1.2.1 Xây dựng định mức tiêu dùng NVL
Khái niệm: Định mức tiêu dùng NVL là lượng vật liệu tiêu dùng lớn nhất cho phép để sản xuất một đơn vị sản phẩm, hoặc để hoàn thiện một công việc nào đó trong điều kiện tổ chức và điều kiện kỹ thuật nhất định.[4]
Việc xây dựng định mức tiêu dùng vật liệu chính xác và đưa mức đó vào
áp dụng trong sản xuất là biện pháp quan trọng nhất để thực hành tiết kiệm vật liệu có cơ sở quản lý chặt chẽ việc sử dụng NVL Mức tiêu dùng NVL còn là căn cứ để tiến hành kế hoạch hoá cung ứng và sử dụng vật liệu tạo điều kiện cho việc thực hiện hạch toán kinh tế và thúc đẩy phong trào thi đua lao động xuất sắc và thực hành tiết kiệm trong doanh nghiệp.[4]
Phương pháp xây dựng định mức tiêu dùng NVL: Phương pháp xây dựng định mức tiêu dùng vật liệu có ý nghĩa quyết định đến chất lượng các mức đã được xác định Tuỳ theo những đặc điểm kinh tế kỹ thuật và điều kiện
cụ thể của từng doanh nghiệp mà lựa chọn phương pháp xây dựng ở mức thích
Trang 26hợp Trong thực tế có các phương pháp xây dựng định mức tiêu dùng vật liệu sau:[2]
- Phương pháp định mức theo thống kê kinh nghiệm: Là việc dựa vào số liệu thống kê về mức tiêu dùng NVL cho một đơn vị sản phẩm ở những năm trước để định mức tiêu hao cho năm sau
- Phương pháp thực nghiệm: Là việc xác định mức tiêu hao vật tư cho một đơn vị sản phẩm trong điều kiện của phòng thí nghiệm
- Phương pháp phân tích: Là việc xác định mức tiêu hao vật tư cho một đơn vị sản phẩm dựa vào NVL cần để sản xuất ra một sản phẩm, lượng NVL hao hụt cho phép và lượng tiêu hao cho sản phẩm hỏng
2.1.2.2 Bảo đảm NVL trong sản xuất doanh nghiệp
A Xác định lượng NVL cần dùng
Lượng NVL cần dùng là lượng NVL cần thiết để sản xuất ra một khối lượng lớn sản phẩm theo kế hoạch một cách hợp lý và tiết kiệm nhất Lượng NVL cần dùng phải đảm bảo hoàn thành kế hoạch sản xuất sản phẩm cả về mặt hiện vật và giá trị, đồng thời doanh nghiệp cũng cần phải tính đến nhu cầu vật liệu để chế thử sản phẩm mới, tự trang, tự chế, sửa chữa máy móc thiết bị Lượng NVL cần dùng không thể tính chung chung mà phải tính cho từng loại NVL theo chủng loại, quy cách Tính toán NVL phải dùa trên cơ sở định mức tiêu dùng NVL của mỗi loại sản phẩm, nhiệm vụ sản xuất, chế thử sản phẩm mới và sửa chữa trong kỳ kế hoạch
Để tính toán lượng NVL cần dùng ta có thể áp dụng công thức tính toán sau [4]:
Vcđ= [Si x Dvi) + (Pi x Dvi) - Pdi]
Trong đó:
Vcđ: là lượng NVL cần dùng
Si: Là số lượng sản phẩm i kỳ kế hoạch
Dvi: Định mức tiêu dùng NVL cho một đơn vị sản phẩm i kỳ kế hoạch
Trang 27Pi: Số lượng phế phẩm cho phép của sản phẩm i kỳ kế hoạch
Pdi: Lượng phế phẩm dùng lại của sản phẩm i
B Xác định lượng NVL cần dự trữ
Để đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục, đạt hiệu quả kinh tế cao cần có một lượng NVL dự trữ hợp lý Lượng NVL dự trữ hợp lý vừa đảm bảo sự liên tục cho quá trình sản xuất vừa tránh ứ đọng vốn ảnh hưởng đến tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả sử dụng vốn Dự trữ NVL hợp
lý cũng có ý nghĩa là tiết kiệm chi phí về bảo quản nhà kho, bến bãi; chi phí phát sinh do chất lượng NVL giảm, do giá thị trường giảm Lượng NVL dự trữ
là NVL liệu tồn kho hợp lý được quy định trong kế hoạch để đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục, bình thường căn cứ vào công dụng tính chất của NVL được chia làm 3 loại.[4]
Vc: Lượng NVL cần mua Vcd: Lượng NVL cần dùng Vcd1: Lượng NVL dự trữ đầu kỳ Vcd2: Lượng NVL dự trữ cuối kỳ
Trang 282.1.2.3 Xây dựng kế hoạch mua sắm NVL
Sau khi xác định được lượng NVL cần dùng, cần dự trữ và cần mua trong năm, chúng ta phải xây dựng kế hoạch mua sắm NVL Xây dựng kế hoạch này nghĩa là xác định số lượng, chất lượng, thời điểm mua của mỗi lần xác định số lần mua trong năm Khi kế hoạch tiền độ mua NVL được xác định hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp không bị ứ đọng vốn, đảm bảo dự trữ hợp lý về số lượng, chất lượng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
2.1.2.4 Tổ chức thu mua và tiếp nhận NVL
Ký hợp đồng: Ký hợp đồng là một công việc quan trọng trong công tác mua sắm NVL Hợp đồng phải được ký kết theo đúng quy định của pháp luật Phải có đầy đủ các điều khoản, các thoả thuận, nội dung hợp đồng phải rõ ràng, chính xác về số lượng, chủng loại, chất lượng vật tư, phương thức vận chuyển, giao nhận, thanh toán… Hợp đồng sau khi đã ký là một văn bản mang tính pháp lý để quy định trách nhiệm khi có phát sinh tranh chấp do vậy cần ký kết một hợp đồng phải thận trọng, phải có những người có trình độ xem xét và quyết định ký.[3]
Trang 29nhận tốt sẽ giúp cho thủ kho nắm chắc được số lượng, chất lượng và chủng loại NVL, phát hiện kịp thời tình trạng của NVL, hạn chế nhẫnlại tham ô, thất thoát
Tổ chức tiếp nhận phải thực hiện tốt hai nhiệm vụ sau:
- Tiếp nhận chính xác số lượng, chủng loại và chất lượng nguyên vật liệu theo đúng quy định trong hợp đồng, hoá đơn, phiếu giao hàng, phiếu vận chuyển và thời gian giao hàng.[6]
- Đảm bảo chuyển nhanh chóng NVL từ điểm tiếp nhận vào kho tránh hư háng, mất mát Để thực hiện tốt hai nhiệm vụ đó khi tiếp nhận phải thực hiện đầy đủ các thủ thục sau: Khi NVL tiếp nhận phải có đủ các giấy tờ hợp lệ Mọi nguyên vật liệu phải qua thủ tục kiểm nhận và kiểm nghiệm xác định chính xác
số lượng (cân, đo, đong, đếm) Chất lượng, chủng loại sau khi kiểm tra phải có biên bản xác nhận khi tiếp nhận thủ kho phải ghi rõ số thực nhận theo đúng chủng loại, kích cỡ, chất lượng của từng loại vật tư, cùng với người giao hàng
ký vào phiếu nhập kho và bộ phận ký vào sổ giao chứng từ.[6]
2.1.2.5 Tổ chức bảo quản NVL
Để đảm bảo toàn vẹn về số lượng, chất lượng NVL ngăn chặn mất mát, hư hỏng, cần phải tập trung dự trữ NVL trước khi đi vào sản xuất Nơi tập trung
dự trữ đó là kho Kho không chỉ là nơi dự trữ bảo quản nguyên vật liệu mà còn
là nơi dự trữ thiết bị máy móc trước khi sản xuất, tập trung thành phẩm trước khi tiêu thụ, chính vì vậy trong doanh nghiệp có nhiều loại kho khác nhau để phù hợp với từng đối lượng dự trữ
Nếu căn cứ vào công dụng của kho chia thành Kho nguyên vật liệu chính, kho nguyên vật liệu phụ, kho nhiên liệu, kho của thành phẩm, kho công
cụ dụng cụ… Nếu căn cứ vào địa điểm và phương pháp bảo quản chia thành: Kho trong nhà và kho ngoài trời, bên cạnh đó doanh nghiệp còn có thể có các kho đi thuê ngoài để dự trữ, tập trung vật liệu máy móc… Đối với các kho đi thuê này cần phải ký hợp đồng với người cho thuê về các mặt như giá cả, về
Trang 30việc trong coi, bảo quản cần quan tâm đến chất lượng nhà kho sao cho không gây ảnh hưởng đến chất lượng NVL [8]
Người làm công tác quản lý NVL cần quan tâm đến hệ thống kho hàng bến bãi, xác định vị trí đặt kho hợp lý sao cho chi phí vận chuyển đến nơi sản xuất là tối ưu nhất, đảm bảo hạ thấp chi phí bảo quản toàn vẹn về số lượng, chất lượng NVL, nắm vững lượng NVL trong kho tại mọi thời điểm, sẵn sàng cấp phát kịp thời phục vụ sản xuất, đảm bảo việc xuất, nhập, kiểm kê Để đảm bảo tốt công tác trên, nội dung chủ yếu của công tác bảo quản là:
- Cán bộ quản lý kho phải có hệ thống sổ sách theo dõi rõ ràng, luôn luôn nắm vững số lượng, chất lượng đối với từng loại NVL để làm cơ sở cho việc lập kế hoạch tiến độ mua.[4]
- Bảo đảm nguyên vật liệu: nguyên vật liệu sau khi sắp xếp phải bảo quản theo đúng quy định.[4]
- Xây dựng và thực hiện tốt nội quy bảo quản, nội quy về nhập xuất NVL, nội quy về an toàn trong bảo quản.[4]
2.1.2.6 Tổ chức cấp phát NVL
Cấp phát nguyên vật liệu nghĩa là chuyển nguyên vật liệu từ nơi bảo quản, dự trữ hoặc trực tiếp sau khi mua kịp thời cho các bộ phận sản xuất có thể tận dụng triệt để, tận dụng hiệu quả công suất thiết bị và thời gian lao động của công nhân, cấp phát nguyên vật liệu kịp thời góp phần nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm NVL dẫn đến hạ giá thành sản phẩm Không chỉ vậy, tổ chức công tác cấp phát NVL còn là điều kiện tốt
để thực hiện chế độ trả lương theo sản phẩm và chế độ hạch toán kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp.[4]
Có 2 hình thức tổ chức cấp phát NVL như sau:
- Cấp phát theo yêu cầu của bộ phận sản xuất: theo hình thức này các phân xưởng và bộ phận sản xuất gửi yêu cầu về lượng vật tư lên phòng vật tư Đối chiếu theo yêu cầu đó và lượng vật tư trong kho dựa trên hệ thống định mức và
Trang 31nhiệm vụ được giao, phòng vật tư lập phiếu cấp phát cho các bộ phận sản xuất lên kho lĩnh NVL [4]
- Cấp phát theo hạn mức (theo tiến độ kế hoạch): Căn cứ vào định mức tiêu dùng NVL, căn cứ vào số lượng, chủng loại sản phẩm đã xác định trong kế hoạch và tiến độ sản xuất, phòng vật tư lập phiếu hạn mức giao cho các bộ phận sản xuất.[4]
2.1.2.7 Tổ chức thanh quyết toán NVL
Khái niệm: Thanh quyết toán là bước chuyển giao trách nhiệm giữa các
bộ phận sử dụng và bộ phận quản lý vật tư, thực chất của việc thanh quyết toán
là thực hiện việc hạch toán và đánh giá tình hình sử dụng vật tư.[4]
Do đó, thanh quyết toán là sự đối chiếu và so sánh giữa lượng nguyên vật liệu mà các đơn vị nhận về với lượng sản phẩm để biết được kết quả của việc
sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên vật liệu, đảm bảo việc hạch toán đầy đủ, chính xác nguyên vật liệu và giá thành.[4]
Khi tiến hành thanh quyết toán phải tính riêng cho từng loại nguyên vật liệu, thời gian tiến hành thanh quyết toán tùy thuộc vào độ dài của chu kỳ sản xuất Nội dung của biểu thanh quyết toán phải phản ánh được[4] :
- Lượng nguyên vật liệu nhận trong kỳ
- Lượng nguyên vật liệu sản xuất ra sản phẩm
- Lượng nguyên vật liệu làm ra sản phẩm hỏng hoặc kém phẩm chất
- Lượng nguyên vật liệu còn tồn đọng
- Lượng nguyên vật liệu mất mát, hao hụt
- Đánh giá chung tình hình sử dụng nguyên vật liệu
2.1.2.8 Tổ chức thu hồi các phế liệu, phế phẩm
Đối với một doanh nghiệp sản xuất như công ty hay bất cứ một doanh nghiệp sản xuất nào thì mục tiêu hàng đầu là làm sao giảm bớt được chi phí Trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thì chi phí NVL là một trong những yếu tố quan trọng trong giá thành sản phẩm Định kỳ cứ sau một quá trình sản xuất kinh doanh hoặc sau một quý một năm thì doanh nghiệp lại
Trang 32lên kế hoạch tổ chức thu hồi phế liệu, phế phẩm của một quá trình sản xuất kinh doanh trước.[4]
Vì vậy việc tổ chức thu hồi phế liệu phế phẩm cũng là một yếu tố rất cần thiết, bởi vì lượng phế liệu phế phẩm dư thừa mà không tổ chức thu hồi thì sẽ ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh lần kế tiếp sau Tất yếu trong một doanh nghiệp nào thì sau một quá trình sản xuất kinh doanh cũng có một lượng phế liệu phế phẩm dư thừa, lượng phế liệu phế phẩm này được doanh nghiệp thu hồi lại sau đó bán đi hoặc cho vào tái sản xuất lại phục vụ cho nhu cầu khác
2.1.3 Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới công tác quản lý NVL trong doanh
nghiệp
Để nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng NVL thì việc tính toán các nhân
tố ảnh hưởng tới tình hình quản lý NVL là tất yếu:
* Nhân tố về chính sách của nhà nước
Mọi cá nhân thành phần kinh tế đều có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật vì vậy các chính sách của nhà nước luôn là kim chỉ nam cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà nước quản lý vĩ mô mọi hoạt động của nền kinh tế Chính vì vậy, mọi chính sách có liên quan của nhà nước đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động cuả doanh nghiệp nói chung và việc quản lý nguyên vật liệu nói riêng: Ví dụ: Những mặt hàng những nguyên vật liệu cấm nhập khẩu của một loại sản phẩm do nhà nước quy định sẽ ảnh hưởng đến việc tổ chức quản lý sử dụng NVL…[8]
* Nhân tố về tài nguyên thiên nhiên
Nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú sẽ tạo điều kiện cho sản xuất phát triển, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Vì vậy lượng nguyên vật liệu
xa hay gần, nhiều hay ít đều ảnh hưởng đến việc định vị doanh nghiệp và việc cung ứng NVL cho hoạt động của doanh nghiệp[8]
* Trình độ đạo đức của cán bộ quản lý NVL
Trang 33Trình độ đạo đức của cán bộ làm công tác quản lý nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý vật tư ở tất cả mọi khâu Nhiều doanh nghiệp ở nước ta hiện nay do việc xem nhẹ các hoạt động quản lý liên quan tới nguồn đầu vào của doanh nghiệp cho nên ảnh hưởng rất lớn tới kết quả kinh doanh Một trong những yếu tố của việc xem nhẹ này là việc đánh giá không đúng tầm quan trọng của yếu tố đầu vào (đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước) do trình độ của cán bộ quản lý còn hạn chế, số lượng đào tạo chính quy rất ít, phần lớn làm theo kinh nghiệm và thói quen Mặt khác là do những yếu kém của cơ chế cũ để lại làm cho một số doanh nghiệp hoạt động không năng động còn trông chờ [8]
* Các nhân tố về trình độ tay nghề, ý thức kỷ luật của người lao động
Con người luôn luôn là chủ thể, là trung tâm của mọi hoạt động, để sử dụng hợp lý, tiết kiệm NVL không chỉ là nhiệm vụ của cán bộ quản lý mà còn chịu ảnh hưởng của trình độ tay nghề, ý thức của người công nhân trực tiếp sản xuất Chính vì vậy, người làm công tác quản lý cần quan tâm đến việc giáo dục, bồi dưỡng cho người lao động không chỉ về chuyên môn nghiệp vụ mà còn về
ý thức trách nhiệm, kỷ luật lao động
Ngoài những nhân tố nói trên, tuỳ thuộc vào tính chất sản xuất của mỗi doanh nghiệp mà việc quản lý NVL còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác như: Khí hậu, lạm phát, sự xuất hiện của các vật liệu thay thế.'
2.2 Cơ sở thực tiễn
Quản lý NVL được nhắc nhiều trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa, thương mại hay tiêu thụ Đối với doanh nghiệp sản xuất việc quản lý nguyên vật liệu một cách khoa học và hiệu quả là sự đòi hỏi cấp bách Hiện nay, nguyên vật liệu không còn là khan hiếm và không còn phải dự trữ nhiều như trước nhưng vấn đề đặt ra là phải cung cấp đầy đủ, kịp thời để đảm bảo cho quá trình sản
Trang 34gây ứ đọng vốn kinh doanh Trong những năm qua đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu về quản lý NVL tại doanh nghiệp.
Nguyễn Minh Đức (2012), “Công tác quản lý nguyên vật liệu ở công ty quản lý và sửa chữa đường bộ 240” Khóa luận tốt nghiệp đại học, trường đại
học Giao thông vận tải Mục đích của đề tài là tìm hiểu thực trạng quản lý NVL tại công ty, đưa ra ưu nhược điểm trong công tác quản lý để từ đó đánh giá và đưa ra ý kiến nhằm hoàn thiện công tác quản lý NVL
Tác giả có đưa ra được một số đánh giá về tình hình quản trị NVL tại công
ty Công ty có đội ngũ kỹ sư, công nhân lành nghề nên ngay từ khâu xuất nhập, cung ứng đã được kiểm tra chính xác về số lượng, chất lượng, NVL được sử dụng tiết kiệm, hợp lý Khâu bảo quản, dự trữ NVL luôn đạt hiệu quả cao, luôn đảm bảo cung ứng đủ cho quá trình thi công, NVL rất ít bị thất thoát Công ty còn sử dụng phương pháp dự trữ thường xuyên và dự trữ theo mùa nên dù có những biến động tức thời cũng không ảnh hưởng đến công việc Ngoài ra công
ty còn một số thiếu sót đó là: NVL không được phân bổ đều ra các kho nên khi
sử dụng nhiều khi lại phải vận chuyển NVL trái chiều dẫn đến chi phí tăng cao, ngoài ra các nhà kho cũng chưa đủ diện tích chứa những NVL như tuýp sắt, nhựa, một số máy móc phải để ngoài trời Tác giả đưa ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện những thiếu sót của công ty đó là Công ty cần chú trọng hơn trong việc bảo quản NVL, mỗi chủng loại cần được ngăn kho riêng biệt, ngoài ra cần thành lập một đội chuyên làm công tác kiểm tra NVL, cần phải hoàn thiện hơn nữa trong việc lập sổ điểm danh và phân loại NVL
Lê Khánh Toàn (2008), “Hoàn thiện công tác quản lý nguyên vật liệu tại công ty sản xuất kinh doanh và đầu tư dịch vụ Việt Hà” Khóa luận tốt nghiệp
đại học trường Đại học Kinh tế Thái Nguyên Mục đích của đề tài là tìm hiểu thực trạng quản lý nguyên vật liệu tại công ty, từ đó đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý NVL tại công ty Công ty Việt Hà chủ yếu tập chung vào sản xuất bia hơi và từng bước đưa sản phẩm nước khoáng vào thị
Trang 35trường Đặc điểm nguyên vật liệu của công ty là chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất nhất định và trong chu kỳ sản xuất đó nguyên vật liệu sẽ bị tiêu hao toàn bộ hoặc bị biến đổi hình thái vật chất ban đầu để cấu thành thực thể của sản phẩm Về mặt giá trị, do chỉ tham gia vào 1 chu kỳ sản xuất nhất định nên khi tham gia vào sản xuất, giá trị của nguyên vật liệu được tính hết 1 lần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ Đề tài nghiên cứu cho thấy việc lập định mức trong Công ty Việt Hà rất được quan tâm Hệ thống định mức sử dụng vật tư được xây dựng
và điều chỉnh theo sự biến động của vật liệu xuất dùng thực tế cho nhà máy cho nên đảm bảo được tính phù hợp, tính xác thực và tính khoa học từ làm tăng hiệu quả của việc quản lý nguyên vật liệu theo định mức Cơ sở vật chất kho tàng bảo quản nguyên vật liệu của Công ty Việt Hà là rất tốt và đảm bảo chất lượng Thủ kho và các cán bộ quản lý kho là những người có kinh nghiệm lâu năm và có trách nhiệm, tận tuỵ với công việc Quá trình thu mua vật liệu được tiến hành căn cứ vào định mức kế hoạch nên vật liệu nhập kho đảm bảo đúng đủ về
số lượng, chất lượng, kịp thời, giúp cho quá trình sản xuất được nhịp nhàng không gián đoạn Tuy nhiên công tác quản lý NVL còn một số tồn tại Công tác quản lý nguyên vật liệu hiện nay ở công ty về mặt hiện vật còn lỏng lẻo, ở phòng kế toán không tổ chức theo dõi các nguyên vật liệu đã xuất dùng về mặt hiện vật
mà giao cho nhà máy sử dụng nguyên vật liệu theo dõi Như vậy, công ty không quản lý tình hình hiện có của nguyên vật liệu đang sử dụng Công ty Việt Hà lại không hề tiến hành lập bất cứ một khoản dự phòng nào, không phải chỉ với hàng tồn kho Về việc lập định mức dự trữ NVL: Công ty không tiến hành phân tích tình hình dự trữ nguyên vật liệu trong đơn vị mặc dù có xác định loại hình dự trữ là dự trữ theo thời vụ Tác giả đưa ra một số kiến nghị:
- Để quản lý vật liệu được tốt hơn, kế toán có thể lập một sổ chi tiết về các vật liệu luân chuyển, đã xuất dùng, đặc biệt cần theo dõi lượng vật tư còn lại tại phân xưởng sản xuất nhưng cuối tháng chưa sử dụng
Trang 36- Công ty nên tiến hành lập dự phòng giảm giá NVL để bù đắp chi phí NVL tăng đột ngột gây ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh trong kỳ
- Kế toán trưởng cần tiến hành phân tích thêm các chỉ tiêu về dự trữ nguyên vật liệu nhằm cung cấp cho Ban giám đốc những thông tin đầy đủ hơn
về tình hình nguyên vật liệu trong doanh nghiệp
- Tích cực xây dựng định mức dự trữ nguyên vật liệu:
- Tổ chức tốt công tác kiểm kê và xử lý tốt kết quả kiểm kê: Công ty Việt
Hà nên tổ chức kiểm kê kho thường xuyên hơn, ví dụ như 6 tháng một lần, đồng thời đánh giá lại toàn bộ vật tư tồn kho, thường xuyên đối chiếu số liệu giữa kế toán với thủ kho
2.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu:
Đề tài nghiên cứu chỉ sử dụng dữ liệu thứ cấp được thu thập bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
+ Số liệu thứ cấp: dữ liệu thứ cấp bên trong doanh nghiệp như sơ đồ cơ cấu tổ chức, báo cáo kết quả kinh doanh, quá trình hình thành và phát triển của công ty, cơ cấu lao động, số liệu về công tác quản lý NVL Dữ liệu thứ cấp bên ngoài doanh nghiệp như các tập sách, bài báo nói về tình hình phát triển ngành may, xu thế phát triển ngành Những lý luận cơ bản về NVL, về công tác quản
lý NVL được thu thập từ sách báo chính thống, mạng internet
- Phương pháp xử lý số liệu:
+ Số liệu thứ cấp: Chọn lọc số liệu về tình hình sản xuất kinh doanh qua 3 năm và lập bảng, sử dụng máy vi tính, máy tính cầm tay tính toán tốc độ phát triển, so sánh các chỉ tiêu số liệu thu thập qua các năm để thấy được sự thay đổi
và phát triển, mức độ biến động của các chỉ tiêu và đánh giá tình hình biến động Chọn lọc các khái niệm liên quan đến những lý luận cơ bản về NVL, lý quản trị thuyết quản trị NVL để làm cơ sở lý luận
Trang 37- Phương pháp phân tích
+ Phương pháp thống kê mô tả: Sử dụng các phép tính và các chỉ số thống
kê thông thường (tốc độ phát triển, số tương đối) để so sánh đưa ra đánh giá về tình hình kinh doanh của công ty
Trang 38PHẦN III
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Khái quát địa điểm thực tập
Lịch sử hình thành và phát triển của công ty Cổ phần may và dịch vụ Hưng Long
Tên công ty: Công ty Cổ phần May và Dịch vụ Hưng Long
Tên giao dịch và đối ngoại: Hung Long Garment and Service Stock CompanyGiấy phép kinh doanh số: 0503000001 do Tỉnh Hưng Yên cấp ngày 16/02/2001Trụ sở chính: đặt tại Km24 – Quốc lộ 5A – xã Dị Sử - huyện Mỹ Hào – tỉnh Hưng Yên
Tên viết tắt: HUNG LONG ST.Co
ty cổ phần may và dịch vụ Hưng Long Đến tháng 01/2001 công ty chính thức
đi vào hoạt động với tên gọi Công Ty Cổ Phần May và Dịch Vụ Hưng Long
Hoạt động kinh doanh của công ty là: Sản xuất kinh doanh hàng may mặc, xuất nhập khẩu trực tiếp hàng may mặc, dịch vụ, xây dựng và kinh doanh xưởng sản xuất, văn phòng làm việc, xuất nhập khẩu kinh doanh nguyên liệu, phụ liệu ngành may, kinh doanh và cho thuê các loại thiết bị, phụ tùng máy may công nghiệp
Trang 39Ra đời trong bối cảnh ngành dệt đang có những bước chuyển mình to lớn, bên cạnh những thuận lợi là những khó khăn không dễ vượt qua Giờ đây với một đội ngũ công nhân tay nghề cao, máy móc thiết bị chuyên ngành hiện đại, công ty đã có một nguồn hàng ổn định, niềm tin của khách hàng về Hưng Long ngày càng được mở rộng và uy tín Giờ đây, các sản phẩm của Hưng Long đã đáp ứng được những tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng sản phẩm cũng như về mẫu mã và kiểu dáng Sản phẩm của công ty đã có mặt trên các thị trường lớn như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Tây Ban Nha, Pháp, Bỉ,…
Sau hơn 10 năm hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần công ty đã đứng vững trên thị trường và phát triển một cách vững chắc, quy mô và năng lực sản xuất của công ty ngày càng phát triển theo hướng đa dạng hóa công nghệ, tự chú trọng sản xuất kinh doanh kết hợp đầu tư dịch vụ sau này
- Sản phẩm chính của công ty
Bảng 3.1 Bảng biểu các mặt hàng chủ yếu và thị trường hiện
tại của công ty
1 Áo Jăcket, áo khoác các loại Nhật, EU, Hàn Quốc, Thụy Sĩ
4 Sơ mi nam nữ Hà Lan, EU, Nhật, Czech
5 Quần các loại Nhật, EU, Hong Kong
9 Quần áo tắm các loại Mỹ, Canada, Nhật, Hàn Quốc, Đức
Trang 40- Bố trí mặt bằng sản xuất
Công ty cổ phần May và Dịch vụ Hưng Long có diện tích khá rộng, trong
đó bao gồm cả khu vực hành chính và khu vực sản xuất Tổng diện tích 50.000
m2 được phấn bổ như sau:
Bảng 3.2 Phân bố diện tích công ty Cổ phần May và Dịch vụ Hưng long
Khuc vực Diện tích (m 2 ) Khu vực
Diện tích (m 2 )
Kho thành phẩm 5.000 Khuôn viên và đường đi 13.600
(Nguồn: Phòng Hành Chính Công ty Cổ phần May và Dịch vụ Hưng Long
Máy thùa đầu tròn 17 Máy tra tay điện tử 6