Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau khi điều trị bệnh viêm tử cung Bảng 4.11.. - Giai đoạn trước động dục: đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ tính,kéo dài 1-2 ngày, là thờ
Trang 1Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo cùng toàn thể công nhân Trang trại lợn Ngọc Minh trực thuộc công ty JAPFA COMFEED VIỆT NAM đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đề tài thực tập tốt nghiệp của mình.
Cuối cùng tôi xin chúc toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa Thú Y Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ban lãnh đạo cùng toàn thể anh chị
-em công nhân Trang trại lợn Ngọc Minh trực thuộc công ty JAPFA COMFEED VIỆT NAM, cùng gia đình và bạn bè sức khỏe, đạt được nhiều thành tích cao trong công tác.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà nội, ngày 10 tháng 11 năm 2014
Sinh viên
Bùi Thị Ngọc
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Chẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung
Bảng 4.1 Số lượng và cơ cấu đàn lợn nái của trại Ngọc Minh
Bảng 4.2 Lịch tiêm phòng bệnh bằng vaccine và thuốc tại Trại lợn
Ngọc Minh
Bảng 4.3 Tình hình bệnh xảy ra trên đàn lợn nái
Bảng 4.4 Tình hình mắc các bệnh sinh sản ở đàn lợn nái nuôi tại trại
Ngọc Minh
Bảng 4.5 Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở lợn nái theo giốngBảng 4.6 Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở lợn nái theo lứa đẻBảng 4.7 Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở lợn nái được nuôi ở
các dãy chuồng khác nhau
Bảng 4.8 Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở lợn nái vào các tháng
khác nhau
Bảng 4.9 Kết quả điều trị một số bệnh sinh sản bằng 2 phác đồ
Bảng 4.10 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau khi điều trị
bệnh viêm tử cung
Bảng 4.11 Kết quả hạch toán chi phí sử dụng thuốc trong điều trị
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 4.1 Tình hình mắc các bệnh sinh sản ở đàn lợn nái nuôi tại trại
Ngọc Minh
Hình 4.2 Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở lợn nái theo giống
Hình 4.3 Tình hình mắc một số bệnh sinh sản ở lợn nái theo lứa đẻ
Trang 5Phần I
MỞ ĐẦU 1.1 MỞ ĐẦU
Việt Nam là một nước nông nghiệp, cuộc sống của người nông dân gắnliền với trồng trọt và chăn nuôi Trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dânthì ngành chăn nuôi chiếm một vị trí quan trọng, đặc biệt là ngành chăn nuôilợn Đây là ngành đã có truyền thống từ lâu đời, nhiều kinh nghiệm quý báu
đã được tích luỹ, lưu truyền và luôn được khuyến khích phát triển ở nước ta
Những năm gần đây, do áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật ngành chănnuôi gia súc nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng ngày càng phát triển.Đàn lợn nước ta đã và đang ngày càng tăng nhanh cả về số lượng lẫn chấtlượng, không những cung cấp một lượng lớn thực phẩm có giá trị dinh dưỡngcao cho tiêu dùng trong nước và ngoài nước, ngoài ra chăn nuôi lợn còn cungcấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt
Bên cạnh những tiến bộ mới về cải tạo giống, nâng cao chất lượng thức
ăn, việc mở rộng quy mô sản xuất tập trung với cường độ ngày càng cao thìđồng thời cũng làm tăng nguy cơ bệnh tật, ảnh hưởng đến tăng trọng và có thểtăng tỷ lệ chết trong chăn nuôi lợn, gây thiệt hại lớn về kinh tế và ảnh hưởngsức khoẻ của người tiêu dùng
Trong chăn nuôi lợn, đàn lợn nái có vai trò đặc biệt quan trọng trongviệc làm tăng số lượng cũng như nâng cao chất lượng đàn lợn Tuy nhiên, lợnnái thường hay mắc một số bệnh về sinh sản làm giảm năng suất sinh sản vàchất lượng đàn con Các bệnh sinh sản trên đàn lợn nái rất hay xảy ra và để lạihậu quả lâu dài, trường hợp nặng có thể gây mất khả năng sinh sản
Để góp phần giúp người chăn nuôi tìm ra hướng giải quyết phù hợptrong vấn đề phòng và trị một số bệnh sinh sản cho đàn lợn nái một cách có
Trang 6hiệu quả chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu tình hình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại lợn Ngọc Minh, Thái Sơn, Hiệp Hòa, Bắc Giang và sử dụng một số phác đồ điều trị”.
Trang 7PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 CÁC CƠ QUAN THUỘC HỆ SINH DỤC LỢN CÁI
2.1.1 Buồng trứng
Buồng trứng của lợn gồm một đôi treo ở trước dây chằng rộng, nằmtrong xoang chậu Hình dáng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn cóhình bầu dục hoặc hình ovan dẹt, không có lõm rụng trứng Buồng trứng củalợn hình chum dâu, có màu hồng vân, vị trí nằm ở hai bên bang quang, trướccửa xoang chậu
Buồng trứng có hai chức năng cơ bản là nơi phát triển của namg trứng vàtiết các hormone: oestrogen, progesterone Các hormone mày tham gia vàođiều khiển chu kỳ của lợn cái Eostrogen cần thiết cho sự phát triển của tửcung và hệ thống ống dẫn của tuyến vú Progesteron do thể vàng tiết ra giúpduy trì sự mang thai do nó kích thích sự phân tiết của tử cung để nuôi dưỡngthai, ức chế sự co thắt của tử cung và phát triển nang tạo sữa của tuyến vú.Oxytocin được tiết chủ yếu ở phần sau của tuyến yên nhưng cũng được tiếtbởi thể vàng của buồng trứng khi thú gần sinh, nó làm co thắt cơ tử cungtrong lúc đẻ và làm co thắt cơ trơn tuyến vú để thải sữa Ở lợn, relaxin do thểvàng tiết ra gây giãn nở xương chậu, làm giãn và mềm cổ tử cung, do đó mởrộng đường sinh dục khi gần sinh Inhibin có tác dụng ức chế sự phân tiếtkích noãn tố (FSH) từ tuyến yên, do đó ức chế sự phát triển của nang noãntheo chu kỳ (Trần Thị Dân, 2004)
Ở bề mặt buồng trứng có một tổ chức liên kết được bao bọc bởi lớp nhu
mô hình lập phương Bên dưới lớp này là lớp vỏ có chứa các noãn nang, thểvàng, thể bạch (thể vàng thoái hóa) Phần tủy của buồn trứng nằm ở giữa,gồm mạch máu, dây thần kinh, mạch bạc huyết và mô liên kết Miền vỏ có tácdụng về sinh dục vì ở đó xảy ra quá trình trứng chin và trứng rụng Trên
Trang 8buồng trứng có từ 70.000-100.000 noãn bào ở các giai đoạn khác nhau, tầngngoài cũng là các noãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong là cácnoãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bào chin sẽ nổi lên bề mặt buồngtrứng (Khuất Tiến Dũng, 2005).
2.1.2 Ống dẫn trứng
Ống dẫn trứng (vòi Fapllops) gồm có phễu, phần rộng và phần eo Phễu
mở để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để gia tăng diện tích tiếpxúc với buồng trứng khi xuất noãn Ở lợn loa kèn phủ toàn bộ buồng trứng.Phễu tiếp nối với phần rộng Phần rộng tiếp nối với ½ chiều dài của ống dẫntrứng , đường kính tương đối lớn và mặt trong có nhiều nếp gấp với tế bàobiểu mô có lông nhỏ Phần eo tiếp nối với sừng tử cung, có thành dày hơnphần rộng và ít nếp gấp hơn
Cấu tạo ống dẫn trứng được chia thành ba lớp:
Trên đường di hành trong ống dẫn trứng, tế bào trứng có thể bị đứng lại
ở các đoạn khác nhau do những chỗ hẹp của ống dẫn trứng Khi có tinh trùngvào đường sinh dục của gia súc cái, tế bào trứng được thụ tinh Quá trình thụtinh đó thường xảy ra ở ống dẫn trứng Đường kính của ống dẫn trứng: 0.2-0.4mm
Vai trò của ống dẫn trứng là vận chuyển noãn và tinh trùng đến nơi thụtinh của ống dẫn trứng (1/3 phía trên của ống dẫn trứng) tiết ra các chất để
Trang 9nuôi dưỡng noãn, duy trì sự sống và gia tăng khả năng thj tinh của tinh trùng,tiết các chất nuôi dưỡng phôi cho mấy ngày trước khi phôi đi vào tử cung.Nơi tiếp giáp giữa phần eo và tử cung có vai trò điều khiển sự di chuyển củatinh trùng đến phần rộng của ống dẫn trứng hoặc di chuyển của phôi vào tửcung Ở lợn, sự co thắt ở nơi tiếp giáp eo-tử cung tạo thành cái cản đối vớitinh trùng để không có quá trình tinh trùng đi đến phần rộng, nhờ đó tránhđược hiện tượng nhiều tinh trùng xâm nhập vào.\
2.1.3 Tử cung
Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bang quang và niệuđạo trong xoang chậu, hai sừng tử cung ở phần trước xoang chậu Tử cungđược giữ tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và nhờ vào dâychằng do các gấp nếp phúc mạc tạo thành
Các nếp phúc mạc đó chính là do tổ chức dưới phúc mạc( sợi lien kết,sợi cơ, sợi đàn hồi), tổ chức này ở giữa hai lá của dây chằng
- Dây chằng rộng: chum lên cả mặt trên và dưới sừng, thân tử cung kéođến thành bên chậu hông Dây chằng rộng ở giữa hai lá phúc mạc nên rấtquan trọng, có nhiều mạch quản và thần kinh
- Dây chằng tròn: nhỏ, như một gấp nếp kéo từ sừng tử cung đến vùngbẹn, có nhiều mạch quản và thần kinh
Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm hai sừng thong với mộtthân và cổ tử cung Sừng tử cung: Dài 50-100cm hình ruột non, thong với ốngdẫn trứng Thân tử cung: Dài 3-5 cm Cổ tử cung: dài 10-18 cm, có thành dầy,hình trụ, có các cột thịt xếp thaeo kiểu cài răng lược, thong với âm đạo
Vách tử cung gồm ba lớp từ ngoài vào trong: Lớp tương mạc, lớp cơ trơn
và lớp nội mạc
- Lớp tương mạc: là lớp màng sợi, dai, chắc phủ mặt ngoài tử cung vànối tiếp vào các hệ thống các dây chằng
Trang 10- Lớp cơ trơn: Gồm cơ vòng rất dày ở trong, cơ dọc mỏng hơn ở ngoài.Giữa 2 tầng cơ chứa tổ chức lien kết sơi đàn hồi và mạch quản, đặc biệt lànhiều tĩnh mạch lớn Ngoài ra, các bó sợi cơ trơn đan vào nhau theo mọihướng làm thành mạng vừa dày vừa chắc Cơ trơn là lớp cơ dầy và khỏe nhất
cơ thể Do vậy nó có đặc tính co thắt (Đặng Đình Tín, 1986)
Theo Trần Thị Dân (2004), trương lực cơ càng cao (tử cung trở nêncứng) khi có nhiều oestrogen trong máu và trương lực co giãn (tử cung mềm)thì có nhiều progesterone trong máu Vai trò cơ tử cung là góp phần cho sự dichuyển của tinh trùng và chất nhày trong tử cung, đồng thời đẩy thai ra ngoàikhi sinh đẻ Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụngcủa progesterone, nhờ vậy phoi tai có thể bám chắc vào tử cung
- Lớp nội mạc tử cung: là lớp niêm mạc màu hồng được phủ bởi một lớpbiểu mô hình trụ xen kẽ có các ống đổ của các tuyến nhày tử cung
Nhiều tế bào biểu mô kéo dài thành lông nhung, khi lông nhung rộng thìgạt chất nhày tiết ra từ phía tử cung Trên niêm mạc có các gấp nếp
Lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào long tử cung đểgiúp phôi thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian dichuyển đến ống dẫn trứng Dưới ảnh hưởng của oestrogen, các tuyến tử cungphát triển từ lớp màng nhày xâm nhập vào lớp dưới màng nhày và cuộn lại.Tuy nhiên các tuyến chỉ đạt khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng củaprogesterone Sự phân tiết của tuyến tử cung thay đổi tùy theo giai đoạn củachu kỳ lên giống
2.1.4 Âm đạo
Âm đạo có hình ống nối tiếp với tử cung, phía sau ngăn cách với âm hộbởi tiền đình âm đạo Âm đạo là nơi tiếp nhận dương vật con đực khi giaophối hoặc để cho thai đi ra ngoài khi đẻ
-Cấu tạo:
Trang 11+ Ngoài là màng tổ chức sợi liên kết.
+Giữa là lớp cơ trơn mỏng hơn cơ tử cung, cơ vòng ở trong, cơ dọc ởngoài
+ Trong cùng là lớp niêm mạc màu hồng nhạt có nhiều gấp nếp dọc.+Tiền đình âm đạo là phần ngăn cách với âm hộ gồm có:
Gấp nếp màng trinh: là gấp nếp niêm mạc nằm ngang
Lỗ đái là nơi thoát nước tiể ra ngoài
Hành tiền đình là thể cương cứng nằm hai bên lỗ đái
Tuyến tiền đình nằm hai bên và phía sau hành tiền đình tiết dịch nhờn đổvào âm đạo làm trơn khi giao phối
2.1.5 Âm hộ
Âm hộ nằm ở dưới hậu môn Bên ngoài chứa hai môi Nối liền hai môibằng mép Bờ trên của hai môi có các sắc tố đen, nhiều tuyến chất nhờn màutrắng và tuyến tiết mồ hôi
Âm vật
Âm vật của con cái giống như dương vật của con đực tu nhỏ lại, bêntrong có thể hồng Trên thể hồng có các nếp da tạo ra mu âm vật, ở giữa âmvật xuống là chỗ tập trung của nhiều đầu mút thần kinh
+Lỗ niệu đạo ở sau và dưới màng trinh
+Hành tiền đình là hai tạng cương ở hai bên lỗ niệu đạo Cấu tạo giống
tể hồng ở bao dương vật của con đực
Trang 12+Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hang chéo,huwnowngs quay về âm vật.
2.1.6 Bầu vú
-Thực chất bầu vú là tổ chức tuyến gọi là tuyến vú Khi cơ thể còn nonthì bầu vú của con đực và con cái như nhau Sau khi con gia súc cái đến tuổitrưởng thành do tác dụng của oestrogen kích thích làm cho tuyến vú pháttriển
Lợn có 8-16 vú
-Cấu tạo của bầu vú:
+Ngoài là một lớp da mịn, có lông mịn, tiếp đó là tổ chức liên kết đànhồi đi vào trong bầu vú và chia ngăn bầu vú ra có tính chất đọc lập
+Tiếp đó là mô tuyến phân ra thành nhiều chùm, tụ hợp ở các đầu ốngtiết sữa
+Mỗi tuyến vú là tập hợp gồm 10-15 chùm tuyến Gọi đó là tuyến sữa cónhiều tế bào chế tiết để tiết sữa Các ống dẫn được hướng từ tuyến sưa và đổvào bể sữa
+Sưa từ bể sữa theo ống dẫn ở đầu các núm vú và đưa ra ngoài
+Giữa các thùy tuyến thì có các mô mỡ đệm, đi đến bầu vú thì có dàyđặc các hệ thống mao mạch và thần kinh
2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH DỤC CỦA LỢN
2.2.1 Chu kỳ tính
Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của lợn đượcdiễn ra liên tục và có tính chu kỳ Các noãn bào trên buồng trứng pháttriển, lớn dần, chín và nổi cộm trên bề mặt buồng trứng gọi là nang Graff.Khi nang Graff vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng Mỗi lần trứng rụng concái có những biểu hiện ra bên ngoài gọi là động dục Do rụng trứng có tínhchu kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ
Trang 13Chu kỳ tính được bắt đầu từ khi lợn đã thành thục về tính, tiếp tục xuấthiện và chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể già yếu Nó đã tạo ra hàng loạt các điềukiện cần thiết để tiến hành giao phối, thụ tinh và phát triển bào thai Khi giasúc đã đến tuổi thành thục sẽ có những biểu hiện của tính dục như: cơ quansinh dục tăng cường hoạt động, bên trong buồng trứng có quá trình noãn baothành thục chín và rụng, niêm dịch trong đường sinh dục cũng phân tiết Sốlượng trứng rụng trong một lần động dục của lợn thường là 17- 25 quả
Chu kỳ tính ở những loài khác nhau là khác nhau và ở giai đoạn đầu mớithành thục về tính thì chu kì chưa ổn định mà phải 2-3 chu kỳ tiếp theo mới
ổn định Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002), lợn động dục không theomùa, chu kỳ sinh dục của lợn cái dao động trong khoảng từ 18-22 ngày, trungbình là 21 ngày và được chia thành 4 giai đoạn: giai đoạn trước động dục, giaiđoạn động dục, giai đoạn sau động dục, giai đoạn yên tĩnh
- Giai đoạn trước động dục: đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ tính,kéo dài 1-2 ngày, là thời gian chuẩn bị đầy đủ cho đường sinh dục của lợn cáiđón nhận tinh trùng, cũng như đảm bảo các điều kiện cho trứng và tinh trùnggặp nhau để thụ thai Trong giai đoạn này các noãn bao phát triển mạnh,thành thục và nổi rõ trên bề mặt buồng trứng, kích thước noãn bao thay đổi rấtnhanh, đầu giai đoạn này noãn bao có đường kính là 4mm, cuối giai đoạnnoãn bao có đường kính 10-12mm Các tế bào vách ống dẫn trứng tăng cườngsinh trưởng, số lượng lông nhung tăng, đường sinh dục bắt đầu sung huyếtnhanh, hệ thống tuyến, âm đạo tăng tiết dịch nhày, niêm dịch ở cổ tử cungtăng tiết ra làm cổ tử cung hé mở Các bao chín, tế bào trứng tách khỏi noãnbao Tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở ra niêm dịch chảy nhiều Con vậtbắt đầu xuất hiện tính dục, âm hộ sưng lên, hơi mở có màu hồng tươi, cuốigiai đoạn có dịch nhờn chảy ra Do hàm lượng Progesteron giảm xuống đột
Trang 14ngột nên con vật giảm ăn, hay kêu rống, thích nhảy lên lưng con khác nhưngkhông cho con khác nhảy lên lưng mình
- Giai đoạn động dục: đây là giai đoạn gia súc có biểu hiện tính dục vàthường kéo dài từ 2- 3 ngày, tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noãn bao Giaiđoạn này các biến đổi của cơ quan sinh dục rõ nét nhất, niêm mạc âm hộ sunghuyết, phù thũng rõ rệt và chuyển sang màu mận chín Tử cung hé mở rồi mởrộng, co bóp mạnh, niêm dịch từ âm đạo chảy ra nhiều, từ trong, loãng chuyểnsang keo dính đặc hơn có tác dụng bôi trơn đường sinh dục và ngăn cản sựxâm nhập của vi khuẩn Nhiệt độ âm đạo tăng từ 0,3 - 0,7oC, PH hạ hơn trước.Con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, đứng ngồi không yên, phá chuồng,
ăn uống giảm, hoặc bỏ ăn, kêu rống trong trạng thái ngẩn ngơ, thích nhảy lênlưng con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình Lúc đầu chưa cho conđực nhảy lên lưng sau đó đứng yên cho con đực nhảy Lợn thích gần đực, khigần đực thì luôn đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực, đuôi cong lên và lệch sangmột bên, 2 chân sau dạng ra và hơi khụy xuống sẵn sàng chịu đực
Nếu ở giai đoạn này, tế bào trứng gặp tinh trùng và xảy ra quá trình thụtinh tạo thành hợp tử thì chu kỳ sinh dục ngừng lại, gia súc cái ở giai đoan cóthai, đến khi đẻ xong một thời gian nhất định tùy loài gia súc thì chu kỳ sinhdục mới lại bắt đầu Nếu không xảy ra quá trình trên thì lợn cái sẽ chuyểnsang giai đoạn tiếp theo của chu kỳ tính
- Giai đoạn sau động dục: giai đoạn này kéo dài khoảng 2 ngày, toàn bộ
cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng dần trở lại trạng thái sinh lýbình thường Trên buồng trứng, thể hồng dần chuyển thành thể vàng, đườngkính lên tới 7-8mm và bắt đầu tiết Progesteron Progesteron tác động lên vùngdưới đồi theo cơ chế điều hòa ngược làm giảm tiết Oestrogen, từ đó làm giảmtính hưng phấn thần kinh, con vật dần chuyển sang trạng thái yên tĩnh, chịukhó ăn uống hơn, niêm mạc toàn bộ đường sinh dục tăng sinh, các tuyến ở cơ
Trang 15quan sinh dục ngừng tiết dịch, cổ tử cung đóng lại Hoạt động sinh dục đãgiảm rõ rệt, âm hộ teo dần tái nhạt, không muốn gần con đực, không cho conkhác nhảy lên lưng, lợn ăn uống tốt hơn, con vật dần trở lại trạng thái bìnhthường
- Giai đoạn yên tĩnh: giai đoạn này đặc trưng bởi sự tồn tại của thể vàng,
là giai đoạn dài nhất kéo dài 12-14 ngày, bắt đầu từ ngày thứ 4 sau khi trứngrụng không được thụ tinh và kết thúc khi thể vàng tiêu hủy Giai đoạn này, thểvàng thành thục, hoạt động tiết Progesteron, Progesteron ức chế FSH và LHlàm cho noãn bao không chín và rụng từ đó dẫn đến lợn cái hoàn toàn không
có phản xạ với lợn đực, âm hộ teo nhỏ và trắng nhạt, lợn ăn uống bìnhthường Đây là giai đoạn giúp con vật nghỉ ngơi và phục hồi chức năng cơquan sinh dục cũng như cơ thể để chuẩn bị cho chu kỳ tiếp theo Sau đó thểvàng thoái hóa, giai đoạn tiền động của chu kỳ tiếp theo bắt đầu Nếu trứngđược thụ tinh thì giai đoạn này được thay thế bằng thời kỳ mang thai và đẻ Trong quá trình động dục, nếu trứng được thụ tinh thì thể vàng tồn tại suốt2/3 thời gian mang thai và tiết ra Progesteron có tác dụng an thai, ức chế quá trìnhtrứng rụng, kích thích tuyến vú phát triển Thời kỳ yên tĩnh lúc này chính là giaiđoạn mang thai và thời kỳ sau đẻ Ở giai đoạn nuôi con dưới tác dụng dưới tácdụng của Prolacxin, Oxytoxin, Progesteron,… làm cho quá trình rụng trứng bịđình trệ, hiện tượng động dục không xảy ra Thường sau khi cai sữa thì chu kỳtính dần được khôi phục và xuất hiện trở lại sau cai sữa 4 - 8 ngày
Chu kỳ động dục của lợn nội trung bình là 18,7 ngày, dao động từ 16-25ngày Chu kỳ động dục của lợn lai và lợn ngoại thường dài hơn lợn nái nội.Trung bình là 21 ngày, thời gian rụng trứng kéo dài 4 - 6h Các giống khácnhau thì số lượng trứng rụng cũng khác nhau Sự khác nhau này là do mức độ
di truyền và nồng độ hormone điều khiển
Trang 162.2.2 Sinh lý mang thai và sinh lý đẻ.
Sinh lý mang thai
Chửa là hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể cái, nó được bắt đầu từ khithụ tinh có kết quả đến lúc đẻ xong Nói cách khác chửa là thời gian mangthai và phát triển phôi thai trong tử cung gồm hai giai đoạn:
-Giai đoạn phôi thai: Bắt đầu từ lúc thụ tinh và kết thúc vào khoảng 1/3
thời gian chửa Trong giai đoạn này hình thành ba lá phôi để phân hóa thànhcác cơ quan của cơ thể
-Giai đoạn thai: Bắt đầu từ cuối thời kỳ phôi tới khi đẻ Đây la thời kỳ
sinh trưởng và phát triển bào thai hoàn chỉnh thành con non
Thời gian mang thai của lợn là 114 ngày và trong chăn nuôi để thuận lợicho việc chăm sóc lợn nái chửa người chăn nuôi đã chia thời gian mang thailàm hai thời kỳ: Chửa kỳ 1 (84 ngày đầu) và chửa kỳ 2 (30 ngày cuối)
Sinh lý đẻ
Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002), gia súc cái mang thai trong mộtthời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, dướitác động của hệ thần kinh – thể dịch, con mẹ xuất hiện những cơn rặn để đẩybào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi làquá trình đẻ
Khi gần đẻ con cái sẽ có những biểu hiện: trước khi đẻ 1-2 tuần, nútniêm dịch ở cổ tử cung, đường sinh dục lỏng, sánh dính và chảy ra ngoài.Trước khi đẻ 1-2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đầu có những thay đổi:
âm môn phù to, nhão ra, xung huyết nhẹ, đầu núm to, bầu vú căng to, sữa bắtđầu tiết
Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định giasúc đẻ:
- Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra sữa trong
Trang 17- Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt được sữa đầu
- Trước khi đẻ 1/2 ngày hàng vú trước vắt được sữa đầu
- Trước khi đẻ 2-3h, hàng vú sau vắt được sữa đầu
+ Đối với lợn nái phối giống trực tiếp, khi sử dụng lợn đực mà cơ quansinh dục bị bệnh hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tửcung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khỏe
+ Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng các thủ thuật gây tổn thương niêmmạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát.+ Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lí không triệt để dẫn đến viêm tử cung.+ Viêm bàng quang (bọng đái) do không cho lợn nái uống nước đầy đủ.Khi lợn nái mang thai, khối thai lớn chèn ép gây ứ đọng nước tiểu trongbàng quang, tạo điều kiện cho các vi khuẩn sinh sôi, phát triển gây viêm Đặcbiệt, trường hợp lợn nái uống nước không đầy đủ, hoặc uống nước bẩn thìviêm bàng quang càng dễ xảy ra Lúc lợn nái sinh cổ tử cung sẽ mở ra, vikhuẩn nhanh chóng lọt vào tử cung gây viêm
Trang 18+ Lợn nái trong thời gian mang thai không được vận động thườngxuyên: khi lợn nái mang thai, khối thai lớn chèn ép sẽ làm giảm nhu động ruộtgây ra tình trạng táo bón Vi khuẩn trong phân có điều kiện sinh sôi, cùng vớicác độc tố trong phân đi xuyên qua thành ruột vào máu, đến tử cung gâyviêm.
+ Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm,phó thương hàn, bệnh lao … gây viêm
+ Do vệ sinh chuồng đẻ kém, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước vàsau đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ, cổ tử cung mở, vi sinh vật có điềukiện để xâm nhập vào gây viêm
Ngoài các nguyên nhân kể trên viêm tử cung còn có thể là biến chứngnhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập trong thời gian động đực (vì lúc đó cổ tửcung mở), vi khuẩn xâm nhập vào cổ tử cung theo đường máu và viêm tửcung là một trong những triệu chứng lâm sàng chung (Lê Văn Nam và cs,1997)
Theo F.Madec và C.Neva (1995), bệnh viêm tử cung và các bệnh ởđường tiết niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũngphát triển trong âm đạo và việc gây nhiễm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra.Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một
cơ quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bịchưa phối nhưng đã bị viêm tử cung
2.3.2 Hậu quả của bệnh viêm tử cung.
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinhdục của lợn cái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnhhưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng phát triểncủa lợn con
Trang 19Đánh giá được hậu quả của viêm tử cung nên đã có rất nhiều nhà khoahọc nghiên cứu về bệnh và đưa ra các nhận xét có ý nghĩa rất lớn choquá trình chẩn đoán, phòng và điều trị bệnh.
Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002) và Trần Thị Dân (2004) khi lợnmắc viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
+ Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sẩy thai
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự cothắt của cơ tử cung giảm nhờ có tác dụng của progesterone, vì vậy phôi có thểbám chặt vào tử cung
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cungtiết nhiều Prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân hủy thể vàng ở buồngtrứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây comạch hoặc thoái hóa các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đếnthể vàng Thể vàng bị phá hủy, không tiết Progesrerone nữa, do đó hàm lượngprogesterone trong máu sẽ giảm đi làm cho tính trương lực co của cơ tử cungtăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai
+ Lợn mẹ bị viêm tử cung, thai phát triển kém hoặc thai chết lưu
Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung đểgiúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượngProgesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cunggiảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ
mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu
+ Gây ảnh hưởng trên đàn lợn con theo mẹ: lợn không đủ sữa bú, giảmtăng trưởng và tăng tỷ lệ chết ở lợn con theo mẹ
Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt
của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết
kích tố tạo sữa Prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa
Trang 20Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêuchảy, còi cọc.
+ Lợn nái bị viêm tử cung mạn tính sẽ không có khả năng động dục trởlại
Nếu tử cung bị viêm mạn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thểvàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết progesterone, ức chế thùy trước tuyến yêntiết ra LH Do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nênlợn nái không thể động dục trở lại được và không thải trứng được
Viêm tử cung là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hội chứng M.M.A ở lợn,ảnh hưởng rất lớn tới năng suất sinh sản của lợn nái sau này Tỷ lệ phối giốngkhông đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ
Hiên tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau lànguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêmbàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng
Vì vậy từ những hiểu biết về bệnh viêm tử cung, người chăn nuôi có thểđưa ra những biện pháp phòng bệnh thích hợp để nâng cao năng suất sinh sảncủa lợn nái
2.3.3 Các thể viêm tử cung
Theo Đặng Đình Tín (1986) bệnh viêm tử cung được chia làm 3 thể :viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung
Viêm nội mạc tử cung
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đằng Phong (2000), sau khi đẻ, nhất là
đẻ khó phải can thiệp hoặc bị sát nhau, niêm mạc tử cung bị xây sát dễ bị vitrùng xâm nhập, gây ra viêm nội mạc tử cung Bệnh lao, bệnh sảy thai truyềnnhiễm hoặc phó thương hàn cũng thường gây ra viêm tử cung hoặc viêm nộimạc tử cung
Trang 21Viêm cơ tử cung
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2009), viêm cơ tử cungthường kế phát từ viêm nội mạc tử cung Niêm mạc tử cung bị thấm dịchthẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bịphân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làmlớp cơ của tử cung bị hoại tử Nếu bệnh nặng, can thiệp chậm có thể dẫn tớinhiễm trùng toàn thân
Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002), gia súc biểu hiện triệu trứngtoàn thân rõ: thân nhiệt lên cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, sản lượng sữagiảm hay mất hẳn Con vật kế phát chướng bụng đầy hơi, viêm vú, viêm phúcmạc gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dụcluôn chảy ra qua ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu lợn cợn mủ và những mảnh tổchức thối rữa nên có mùi tanh, thối Kiểm tra qua âm đạo bằng mỏ vịt thấy cổ
tử cung mở, hỗn dịch chảy ra ngoài nhiều hơn, phản xạ đau của con vật càng
rõ hơn Khám qua trực tràng thì tử cung to hơn bình thường, hai sừng tử cungnhỏ không đều nhau, thành tử cung dày và cứng Khi kích thích lên tử cung,con vật rất mẫn cảm, đau nên càng rặn mạnh hơn, hỗn dịch trong tử cung thải
ra ngoài nhiều
Thể viêm này thường ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thụ thai và sinh đẻlần sau Có trường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc vô sinh
Viêm tương mạc tử cung (Perimestritis pueperali)
Viêm tương mạc tử cung là viêm tầng ngoài cùng của tử cung và thường
kế phát từ viêm cơ tử cung Thể viêm này thường phát triển cấp tính với cáctriệu chứng cục bộ và toàn thân rất điển hình Lúc đầu lớp tương mạc tử cung
có màu hồng, sau chuyển thành màu đỏ sẫm rồi chở nên sần sùi mất tính trơnbóng Các tế bào bị hoại tử, bong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết Trường hợpviêm nặng, lớp tương mạc dính với các tổ chức xung quanh dẫn tới viêm mô
Trang 22tử cung (parametritis), viêm phúc mạc, thân nhiệt tăng cao, mạch nhanh Convật ủ rũ, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn, lượng sữacòn rất ít hay mất hẳn, thường kế phát viêm vú Con vật luôn bị đau đớn khóchịu, lưng cong, đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ chảy ra ngoài rất nhiều hỗndịch lẫn mủ với nhiều tổ chức hoại tử, màu nâu rỉ sắt, mùi thối khắm Kiểmtra qua trực trực tràng thấy thành tử cung dày, hai sừng tử cung mất cân đối,khi bị kích thích con vật biểu hiện đau rõ rệt, rặn mạnh hơn Trường hợp một
số vùng của tương mạc dính với các bộ phận xung quanh có thể phát hiệnđược vì vị trí và hình dáng của tử cung bị thay đổi Có khi không tìm thấy mộthoặc cả hai buồng trứng Viêm tương mạc thường dẫn đến kế phát viêm phúcmạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ
Trên tiêu bản bệnh lý quan sát thấy: tổn thương bệnh lý chủ yếu của thểviêm tương mạc tử cung là: tụ máu, chảy máu ở lớp tương mạc, tương mạcthấm dịch, sưng dày Một số vùng tế bào bị hoại tử làm cho màng tương mạctrở nên sần sùi, tương ứng với những nốt loét sần sùi ở ngoài thành tử cung lànhững nốt hoại tử sâu trong lòng tử cung
•Chẩn đoán viêm tử cung.
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức
độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái
Để chẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung, người ta dựa vào nhữngtriệu chứng cục bộ và toàn thân Việc chẩn đoán phân biệt các thể viêm tửcung có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng những phác đồ điều trị thíchhợp với từng thể viêm, nhằm đạt hiệu quả điều trị cao Thời gian điều trịngắn, chi phí điều trị thấp, đảm bảo khả năng sinh sản cho gia súc cái nóichung và lợn nái sinh sản nói riêng sau khi khỏi bệnh (Nguyễn Văn Thanh và
cs, 2004)
Trang 23Bảng 2.1 Chẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung.
Sốt rất cao(40,5-41,5oC)Dịch viêm Màu trắng xám,
mùi tanh
Màu hồng, mùitanh thối
Màu nâu rỉ sắt,mùi thối khắm
viêm phúc mạcPhản ứng co cơ
tử cung
Phản ứng cogiảm
Theo Nguyễn Như Pho (2002), nguyên nhân gây viêm vú hay gặp nhất
là trầy xước vú do sàn hoặc nền chuồng nhám, vi khuẩn xâm nhập vào tuyến
sữa Hai loại vi khuẩn chính gây bệnh là Staphylococcus aureus và Streptococcus agalactiae Ngoài ra còn có nhiều nguyên nhân khác gây viêm
vú như:
+ Viêm đường tiểu, viêm thận, viêm bàng quang,viêm tử cung mãn tính
do không điều trị hết hẳn bệnh Đây là “cái ổ” của những vi khuẩn gây bệnh.Chỉ cần có sự suy yếu về sức khỏe, hoặc một cơ hội thuận lợi nào đó các vikhuẩn sẽ nhanh chóng sinh sôi và đi vào máu đến vú gây ra bệnh viêm vú.+ Số con quá ít không bú hết lượng sữa sản xuất, hoặc do kỹ thuật cạnsữa không hợp lý trong trường hợp cai sữa sớm
+ Vệ sinh chuồng trại kém: nếu chuồng trại không được dọn rửa kỹ, nhất
là chỗ thoát phân thì vi khuẩn trong phân, nước tiểu tồn đọng lại sẽ có điềukiện xâm nhập vào bầu vú qua các ống dẫn sữa hoặc các vết thương
+ Kế phát từ viêm tử cung nặng, lợn mẹ sát nhau
Trang 24+ Lợn con khi đẻ ra không được bấm răng nanh, khi bú làm trầy xước da
vú mẹ tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm
+ Do khẩu phần ăn không cân đối, lợn mẹ ăn quá nhiều thức ăn có hàmlượng dinh dưỡng cao làm lượng sữa tiết ra nhiều, ứ đọng lại trong vú tạođiều kiện cho vi khuẩn sinh sôi nảy nở, phát triển mạnh mẽ về số lượng vàđộc lực
+ Lợn mẹ chỉ cho con bú một hàng vú, hàng còn lại sữa đọng lại nhiềulàm căng tuyến sữa, vi khuẩn xâm nhập phát triển gây viêm
+ Lợn mẹ không được vận động thường xuyên: khi lợn mẹ mang thai,khối thai lớn chèn ép sẽ làm giảm nhu động ruột gây ra tình trạng táo bón Vikhuẩn trong phân sẽ có điều kiện sinh sôi, cùng với các độc tố gây viêm trongphân đi xuyên qua thành ruột vào máu, đến vú và gây viêm
+Stress: lợn mẹ mang thai sắp đến ngày sinh thường hay bị stress Stresslàm giảm sức khỏe, sức đề kháng của lợn nái chống các vi khuẩn gây bệnh,tạo cơ hội cho chúng phát triển
Trong trường hợp bệnh viêm vú chủ yếu xuất hiện trên một vài bầu vú,các vú khác vẫn tiết sữa bình thường là do tổn thương cơ học tác động lênhoặc do lợn con bú không hết sữa Mặt khác nếu toàn bộ bầu vú bị viêm thìnguyên nhân chỉ là do kế phát từ bệnh viêm tử cung
2.3.4.2 Triệu chứng
Biểu hiện rõ nhất tại vú bị viêm với các đặc điểm: bầu vú căng cứng,nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, vắt những vú sưngthấy sữa vón cục Sau 1- 2 ngày thấy có mủ, lợn mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốtcao 40 - 41,5OC
+ Tùy số lượng vú bị viêm, lợn mẹ sẽ có biểu hiện khác nhau:
Trang 25- Trường hợp 1: vài bầu vú bị viêm, lợn mẹ sốt nhẹ, ăn ít, lượng sữagiảm.
- Trường hợp 2: nhiều bầu vú bị viêm hoặc toàn bộ vú bị viêm, lợn mẹsốt cao, bỏ ăn, nằm sấp không cho con bú
2.4 MỘT SỐ HIỂU BIẾT VỀ THUỐC SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI
Để giảm bớt thiệt hại do bệnh viêm tử cung và viêm vú ở lợn nái gây racho người chăn nuôi, nhiều tác giả đã nghiên cứu sử dụng các loại kháng sinhkhác nhau Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng hai loại thuốc
VETRIMOXIN.L.A và MD PENI STREP để điều trị hai bệnh viêm tử cung vàviêm vú
* VETRIMOXIN.L.A
Thuốc do công ty của Pháp sản xuất
Thành phần: Trong 1ml dung dịch Vetrimoxin.L.A có 150 mgAmoxycillin (dạng muối trihydrate)
Cơ chế tác dụng: Amoxicillin là kháng sinh thuộc nhóm β - lactam nên
có cơ chế tác dụng giống với các kháng sinh trong nhóm Amoxicillin có tácdụng diệt khuẩn bằng cách ngăn cản sự tổng hợp vách tế bào vi khuẩn, phá vỡtình trạng nguyên vẹn của vách tế bào, nó gắn vào enzym ái penicillin thamgia vào giai đoạn cuối trong tổng hợp vách tế bào vi khuẩn, làm cho sự tạothành vách tế bào vi khuẩn không đầy đủ, không ổn định về tính thẩm thấu, tếbào vi khuẩn thường bị chết do sự tự phân huỷ
Amoxycillin tác động trên cả vi khuẩn Gram (-) và Gram (+) như: E.coli, Salmonella, Staphylococcus, Streptococcus, Clostridium, Erysipelothiix
Khi vào cơ thể đông vật, Amoxycillin phân bố rộng và nhanh chóng vàocác mô (Tissue), kể cả những vùng máu ít đến như khớp
Amoxycillin ít bị biến hoá, nên khi bài thải qua thận vẫn còn ở dạng hoạtchất
Trang 26Vetrimoxin.L.A có tác dụng kéo dài đến 48 giờ
* MD PENI STREP
Thuốc do công ty TNHH thuốc Thú y - Thuỷ sản Minh Dũng sản xuấtĐịa chỉ: Thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Thành phần trong 1ml gồm:Procaine Penicillin G, Streptomycin
Sulphate, tá dược vừa đủ
Penicillin G có tác dụng chủ yếu trên các loại vi khuẩn Gram (+) Dođược chế dưới dạng Procaine Penicillin G nên thời gian bán thải của thuốckéo dài hơn trong khoảng từ 24 - 48 giờ Khi khi tiêm vài phút thuốc đã xuấthiện trong máu và giữ nồng độ cao trong máu từ 2 - 3 giờ Khoảng 20% lượngthuốc được kết hợp với protein huyết tương Khoảng 50% - 90% thuốc đượcbài thải ra ngoài dưới dạng con nguyên hoạt lực
Streptomycin là kháng sinh thuộc nhóm Aminoglycosid Thuốc có tácdụng chủ yếu trên các loại vi khuẩn Gram (-) Thường hay sử dụng thuốcdưới dạng Streptomycin Sulphate Thuốc sau khi hấp thu được phân bố hầunhư khắp các dịch tố chức 1/3 thuốc được kết hợp với protein huyết thanh.Khi tiêm có khoảng 50 - 60% lượng thuốc được thải ra ngoài qua nước tiểudưới dạng nguyên vẹn sau 24 giờ Streptomycin có tác dụng tốt trong điều trịcác bệnh viêm nhiễm do vi khuẩn gây ra
Trang 27PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại lợn Ngọc Minh, xã Thái Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
-Tình hình tổ chức chăn nuôi tại trang trại.
-Đánh giá hiệu quả quy trình phòng bệnh của trang trại
- Tình hình mắc các bệnh sinh sản ở đàn lợn nái nuôi tại trại
- So sánh hiệu quả điều trị của các phác đồ điều trị bệnh
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
-Phương pháp điều tra hồi cứu thu thập số liệu thứ cấp dựa vào sổ theodõi của công ty
-Phương pháp theo dõi quan sát triệu chứng lâm sàng
-Đánh giá hiệu quả của quy trình phòng bệnh viêm tử cung, viêm vúthông qua các chỉ tiêu: tỷ lệ mắc, thời gian động dục trở lại cũng như tỷ lệ thụthai
-Các chỉ tiêu theo dõi:
+ Thời gian điều trị
+ Kết quả điều trị (tỷ lệ nái điều trị khỏi)
+ Chi phí sử dụng thuốc
+ Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau khi điều trị
-Phương pháp sử lý số liệu
Toàn bộ số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu được tổng hợp
và xử lý theo phương pháp thống kê sinh học sử dụng các phần mềmMicrosoft Exel trên máy tính
Trang 28- Tỷ lệ mắc bệnh
Tỷ lệ mắc bệnh (%) = Số con mắc bệnh x100
Số con theo dõi
- Thời gian điều trị trung bình
Thời gian điều trị trung bình (ngày/con) = ∑ thời gian điều trị từng con
∑ số con nái phối giống
- Thời gian động dục trở lại trung bình
Thời gian động dục trở lại trung
bình (ngày/con) =
∑ thời gian động dục trở lại từng con
∑ số con theo dõi