BÁO CÁO ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN NĂM 2014 TÊN ĐỀ TÀI: “ Điều tra hiện trạng nuôi xen ghép một số đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế ở huyện Phong Điền và huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế ” Giáo viên hướng dẫn: TS. GVC Tôn Thất Chất Bộ môn: Nuôi trồng thủy sản HUẾ, THÁNG 11 NĂM 2014 LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, chúng em xin cảm ơn quý thầy cô khoa Thủy Sản trường đại học Nông Lâm Huế, những người đã trực tiếp giảng dạy chúng em, truyền đạt những kiến thức bổ ích, đó chính là nền tảng kiến thức cho chúng em thực hiện đề tài này. Đặc biệt, chúng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS.Tôn Thất Chất, là người trực tiếp hướng dẫn chúng em thực hiện đề tài này. Cảm ơn thầy đã tận tình, quan tâm, giúp đỡ chúng em trong thời gian thực hiện đề tài, giải đáp những thắc mắc của chúng em trong qua trình thực hiện, nhờ đó chúng em mới hoàn thành được bài báo cáo này Bên cạnh đó chúng em xin cảm ơn phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Phong Điền, huyện Phú Vang ủy ban nhân dân và hộ dân nuôi trồng thủy sản ở các xã: Phong An, Điền Hải, Điền Lộc, của huyện Phong Điền; xã Phú Mỹ, Phú Đa, Phú Xuân… của Huyện Phú Vang đã dành thời gian giúp đỡ cho chúng em, tạo điều kiện thuận lợi cho chúng em hoàn thành đề tài này Trong quá trình thực hiện đề tài và làm báo cáo chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót. Kính mong nhận được sự góp ý, nhận xét từ quý thầy cô để kiến thức của chúng em ngày càng hoàn thiện hơn và chúng em có thể rút ra được những kinh nghiệm cho thời gian sau này. Chúng em xin chân thành cảm ơn Nhóm sinh viên thực hiện đề tài
Trang 2Trang 3
KHOA THỦY SẢN
❧•❧
BÁO CÁO
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN NĂM 2014
Bộ môn: Nuôi trồng thủy sản
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, chúng em xin cảm ơn quý thầy cô khoa Thủy Sản trường đại
học Nông Lâm Huế, những người đã trực tiếp giảng dạy chúng em, truyền đạt
những kiến thức bổ ích, đó chính là nền tảng kiến thức cho chúng em thực hiện
đề tài này Đặc biệt, chúng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS.Tôn Thất
Chất, là người trực tiếp hướng dẫn chúng em thực hiện đề tài này Cảm ơn thầy
đã tận tình, quan tâm, giúp đỡ chúng em trong thời gian thực hiện đề tài, giải đáp
những thắc mắc của chúng em trong qua trình thực hiện, nhờ đó chúng em mới
hoàn thành được bài báo cáo này Bên cạnh đó chúng em xin cảm ơn phòng nông nghiệp và phát triển nông
thôn huyện Phong Điền, huyện Phú Vang ủy ban nhân dân và hộ dân nuôi trồng
thủy sản ở các xã: Phong An, Điền Hải, Điền Lộc, của huyện Phong Điền; xã
Phú Mỹ, Phú Đa, Phú Xuân… của Huyện Phú Vang đã dành thời gian giúp đỡ
cho chúng em, tạo điều kiện thuận lợi cho chúng em hoàn thành đề tài này Trong quá trình thực hiện đề tài và làm báo cáo chắc chắn sẽ không tránh
khỏi những sai sót Kính mong nhận được sự góp ý, nhận xét từ quý thầy cô để
kiến thức của chúng em ngày càng hoàn thiện hơn và chúng em có thể rút ra được những kinh nghiệm cho thời gian sau này.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Nhóm sinh viên thực hiện đề tài
Trang 5
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, nghề NTTS của nước ta đã có những bước phát
triển vượt bậc Ở tỉnh Thừa Thiên Huế ngành NTTS rất được chú trọng phát triển
và đã đạt được những thành tựu đáng kể Cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế
, ngành nuôi trồng thủy sản đã có những bước nhảy vọt Phát triển thủy sản đã và
đang được coi là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát
triển kinh tế của quốc gia, góp phần giải quyết việc làm cho đại đa số người dân
ven biển, tăng hiệu quả thu nhập, đem lại nguồn ngoại tệ lớn. Ngày nay, nhiều mô hình nuôi trồng thủy sản đã được nhân rộng khắp
nước ta và nhiều giải pháp khác nhau nhằm nâng cao sản lượng nuôi trồng cao
hơn khi đứng trước nhiều thách thức lớn như: con giống, dịch bệnh, chậm phát
triển,… Để khắc phục hậu quả việc nuôi chuyên canh tôm, cũng như nâng cao hiệu
quả của việc nuôi trồng nhiều biện pháo kỹ thuật mới như mô hình nuôi ghép,
nuôi luân canh đã được nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn Trong đó thì mô
hình nuôi xen ghép là mô hình phù hợp với mức độ đầu tư không cao, số lượng
Trang 6ao ít, có thể giúp người dân tận dụng nguồn thức ăn sẵn có trong ao nuôi, loại bỏ
các chất gây ô nhiễm Việc kết hợp một số đối tượng nuôi nhằm cải thiện môi trường ao nuôi,
giảm một số dịch bệnh thường xảy ra trong ao nuôi và mang lại hiệu quả kinh tế
cũng là mô hình được nhân rộng trong xu hướng nuôi an toàn hiện nay Nuôi xen
ghép không chỉ biết đến ở các vùng đầm phá mà hiện nay ở các ao nước ngọt hay
các vùng trồng lúa không đem lại hiệu quả kinh tế người dân cũng đã chuyển đổi
sang nuôi xen ghép các đối tượng cá nước ngọt, nuôi cá và ếch, trồng sen nuôi
cá… “Phong Điền ngày càng có nhiều hộ lựa chọn mô hình trồng sen, xen cá là
vì, huyện và chính quyền địa phương có chủ trương và luôn tạo điều kiện để giúp
bà con chuyển đổi một số diện tích trồng lúa không mấy hiệu quả sang trồng các
loại cây trồng khác có hiệu quả hơn” ( ông Hồ Đôn, Chủ tịch UBND xã Phong
An cho biết ) Mô hình nuôi xen ghép ngày càng phổ biến và đa dạng xuất phát từ vấn đề
trên, nhóm sinh viên chúng em đã thực hiện đề tài: “Điều tra hiện trạng nuôi
xen ghép một số đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế ở huyện Phong Điền và
huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế” với mục tiêu tổng quát là thông qua
điều tra để nắm được hiện trạng nuôi xen ghép một số đối tượng thủy sản có giá
trị kinh tế ở huyện Phong Điền và Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế góp phần đa
dạng đối tượng, loại hình nuôi, giúp nuôi trồng thủy sản phát triển bền vững. 1.2 Mục tiêu cụ thể của đề tài: Tình hình nuôi xen ghép các đối tượng ở huyện Phong Điền và Phú Vang, tỉnh TT Huế
Trang 7 Xác định hiê ̣ n trạng, góp phần phát triển mô hình này đạt hiê ̣ u quả cao,
bền vững, có thể nhân rô ̣ng ở nhiều địa phương trong tỉnh. PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vài nét về điều kiện tự nhiên ở huyện Phong Điền và huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế 1.1. Tình hình nuôi trồng thủy sản tại Thừa Thiên Huế Thừa thiên huế là vùng đất có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển nuôi trồng
thủy sản với đường bờ biển dài 126 km với 5.754,4 ha diện tích mặt nước nuôi
trồng thủy sản trong đó có 3.884,6 ha nước mặn, lợ và 1.909,8 ha nước ngọt và
đặc biệt có hệ đầm phá Tam Giang Cầu Hai với diện tích 22.000 ha mặt nước trải
dài qua 5 huyện (Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Phú Lộc). Theo quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản vùng ven biển và đầm phá
đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020, tỉnh Thừa Thiên Huế huy động tổng
nguồn vốn đầu tư 709 tỷ đồng phát triển nuôi trồng thủy sản đạt 19.516 tấn vào
năm 2015 và đạt 24.116 tấn vào năm 2020. Tình hình NTTS ở Huế 8 tháng đầu năm: Mặc dù trong những ngày giữa tháng 5 đến tháng 7 có những đợt nắng
nóng kéo dài, có ngày nhiệt độ ngoài trời lên đến trên 40oC, nguy cơ dịch bệnh
xảy ra cao nhưng với sự chủ động phòng bệnh của người nuôi, sự quan tâm chỉ
đạo của các cấp các ngành nên đến nay tình hình dịch bệnh có xảy ra nhưng
không đáng kể chỉ bằng 71,9% so với năm 2013 (Diê ̣ n tích dịch bênh: 71,83ha;
trong đó: tôm sú: 61ha, tôm chân trắng 10,83ha), nuôi trồng thuỷ sản 8 tháng đầu năm vẫn đạt được một số kết quả nhất định.
Trang 8Tổng diện tích thả nuôi toàn Tỉnh: 6.447ha đạt 98 % so với kế hoạch và
tăng 4,0 % so với cùng kỳ năm 2013 Trong đó: Diện tích nuôi nước lợ, mặn:
4.384ha đạt 101% so với kế hoạch, tăng 4,0 % so với cùng kỳ năm trước Diện
tích nuôi chuyên tôm ao hồ: 442,6ha (tôm sú : 223,6 ha, tôm chân trắng : 219ha).
Diện tích nuôi xen ghép, chuyên cá là: 3.941,4 ha (nuôi xen ghép ao hồ là 2.978,8
ha; nuôi xen ghép chắn sáo ở đầm Sam Chuồn huyện Phú Vang 946,6 ha; nuôi
chuyên cá ao hồ 16 ha).Diện tích nuôi nước ngọt : 2.063 ha đạt 94,5 % kế hoạch,
tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2013. Nuôi cá lồng: 4.189 lồng, đạt 99,1% so kế hoạch, tăng 0,3 % so với cùng
kỳ năm 2013 Trong đó: Lồng lợ: 2.259 lồng, Lồng ngọt: 1.930 lồng Sản lượng
thu hoạch đến nay: 8.904,4 tấn Trong đó:Sản lượng nước lợ, mặn là 5.435,5 tấn
tổng các loại (tôm chân trắng, tôm sú, cua, cá…) tăng 33,7 % so với cùng kỳ năm
2013 tập trung tại huyện Phú Vang, Phong Điền, Phú Lộc, Quảng Điền và thị xã
Hương Trà. Năm nay, người nuôi đã chấp hành khung lịch thời vụ khá tốt Ngoài ra,
người dân đã thâ ̣ n trọng hơn trong chọn thời điểm thả nuôi thích hợp nên viê ̣ c thả
giống tôm sú nuôi chuyên được đánh giá là muô ̣ n hơn so với năm trước Một số
diện tích bà con đưa vào nuôi xên ghép nhiều đối tượng nên diện tích nuôi
chuyên năm nay giảm Nuôi xen ghép có tăng hơn do diện tích nuôi chắn sáo của
đầm Sam Chuồng có sự rà soát thống kê lại và tăng lên so với cùng kỳ năm 2013. Lượng cá giống phục vụ nuôi xen ghép năm nay được các địa phương ương
và nhâ ̣ p về khá phong phú về chủng loại, số lượng nên bà con có cơ hô ̣ i trong
viê ̣c chọn đối tượng nuôi phù hợp với vùng và nguồn lực của mình.Vì vâ ̣ y, chưa
có hiê ̣ n tượng áp lực thiếu hụt giống cho nuôi xen ghép (cua, cá đối mục, cá
dìa…) Tuy nhiên, năm nay nguồn giống cá kình xuất hiện muộn và ít hơn so với
Trang 9cùng kỳ năm 2013 nhưng vẫn đủ giống để thả nuôi.Tôm chân trắng là đối tượng
chủ lực, diện tích nuôi trên cát năm 2013 gối sang năm 2014 được thu hoạch
muô ̣n nên tiến đô ̣ thả nuôi đến nay mới chỉ đạt 70,8 % so với kế hoạch 2014.
Theo kinh nhiệm các năm trước vào thời điểm tháng 57 dương lịch thường hay
xảy ra dịch bệnh đốm trắng, nên ngành đã khuyến cáo bà con giãn ra và không
nuôi vào thời gian này Hiê ̣ n nay bà con xác định vụ thu đông là chính, nên đang
tích cực cải tạo ao, chọn giống tốt để thả nuôi kịp thu hoạch và bán vào dịp tết
nguyên Đáng (đã thả nuôi vụ thu đông là 48,1ha), dự kiến vụ này thả nuôi khoảng
230ha (trong đó tâ ̣ p đoàn CP của Thái Lan đưa vào nuôi thêm mới vụ đầu tiên
khoảng 80ha ở Điền Hương). Nuôi cá lồng nước lợ tiếp tục được người dân phát huy, năm nay người
nuôi tăng số lượng thả giống hồng mỹ, cá mú, vẫu, giò, cá chim trắng vây vàng
và giảm tỷ lê ̣ thả giống cá chẽm do chất lượng giống của cá chẽm trong những
năm trước được đánh giá không tốt, tỷ lê ̣ hao hụt lớn, khó tiêu thụ và hiê ̣ u quả
thấp. Nuôi cá nước ngọt tiếp tục phát triển ổn định, thu hút nhiều địa phương tham gia,
nhất là các vùng có mặt nước ngọt, ruộng trũng như Hương Thuỷ, Phong Điền,
Quảng Điền, Phú Lộc, Phú Vang Nhiều địa phương phát triển tốt nghề nuôi cá
lồng trên các loại mặt nước đầm phá có nồng độ muối thấp (Quảng Điền), sông
hồ. Kết quả sơ bô ̣ cho thấy, đối với các hình thức và phương thức nuôi đều có lãi, rất
ít hô ̣ lỗ và hòa vốn Hy vọng kết quả nuôi cả về năng suất, sản lượng, hiê ̣ u quả
kinh tế năm nay sẽ cao hơn năm 2013. 1.2 Vị trí địa lý huyện Phong Điền và huyện Phú Vang – tỉnh Thừa Thiên
Huế:
Trang 10Phong Điền là huyện nằm ở cửa ngõ phía bắc tỉnh Thừa Thiên Huế, rộng 953,751 km2, gần bằng 1/5 diện tích tự nhiên của tỉnh
+ Phía Đông và Đông Nam giáp hai huyện Quảng Điền và Hương Trà Phía Đông Bắc giáp biển Đông với đường bờ thẳng tắp theo hướng tây bắc đông nam trên chiều dài gần 16km
+ Phía Tây, Tây Nam và phía Nam giáp hai huyện Đakrông và A Lưới
+ Phía Bắc giáp huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị.
Hình 1: Bản đồ vị trí địa lý huyện Phong Điền – Thừa Thiên Huế 1.3 Vị trí địa lý huyện Phú Vang – Thừa Thiên Huế:
+ Phía Đông giáp Biển Đông.
+ Phía Tây giáp thành phố Huế và thị xã Hương Thủy.
+ Phía Nam giáp huyện Phú Lộc.
+ Phía Bắc giáp huyện Hương Trà.
Trang 11Hình 2: Bản đồ vị trí địa lý huyện Phú Vang – Thừa Thiên Huế
1.4 Điều kiện tự nhiên của 2 huyện:
1.4.1: điều kiện tự nhiên huyện Phong Điền
a. Khí hậu:
Huyện Phong Điền mang đặc điểm khí hậu tỉnh Thừa Thiên Huế, có nền
tảng chung với khí hậu cả nước Đó là khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Tuy nhiên
do tác động chắn gió của địa hình Trường Sơn mà khí hậu Phong Điền Thừa
Thiên Huế có những nét độc đáo, không giống, thậm chí còn lệch hẵn với khí hậu
cả phía Bắc lẫn phía Nam. b. Chế độ nhiệt Phong Điền Thừa Thiên Huế có nền nhiệt độ cao Nhiệt độ trung bình năm
trên đại bộ phận lãnh thổ đạt 2025 oC, trung bình tháng lạnh nhất (tháng giêng) là
Trang 121920oC, tháng nóng nhất (tháng bảy) là 29,4 oC Nhiệt độ cao nhất vào mùa hè
đạt 4041oC, thấp nhất vào mùa Đông xuống 89oC. c. Chế độ mưa Phong Điền là huyện có lượng mưa trung bình năm gần 3.000 mm, tăng
dần từ đông sang tây, từ đồng bằng lên vùng núi Lượng mưa trong năm tập trung
chủ yếu vào mùa mưa chính từ tháng 9 đến tháng 12, chiếm đến 7275% lượng
mưa năm Tám tháng còn lại chỉ chiếm 2530% Đây là nguyên nhân chủ yếu gây
tình trạng ngập lụt vào mùa mưa và thiếu nước, khô hạn vào mùa hè. d. Gió bão, dông Phong Điền chịu ảnh hưởng của bão nhiều nhất vào tháng 9 (35%), tháng
10 (28%) và tháng 8 (18%) Có năm không có cơn bão nào, nhưng có năm 34
cơn liên tiếp Nhìn chung số lượng bão không nhiều nhưng thiệt hại gây ra rất
nghiêm trọng vì gió mạnh kèm theo mưa to và rất to, gây lũ lụt lớn và sạt lở bờ
biển. Ngoài bão còn có dông là hiện tượng phóng điện (sấm sét) thường xảy ra từ
tháng 4 đến tháng 9, nhiều nhất là tháng 5 Dông thường kèm theo mưa rào, đôi
khi có gió mạnh Vào mùa Hè cũng thường có lốc nhất là khi có gió tây khô
nóng Nhiều cơn lốc có sức gió mạnh cấp 10 cuốn phăng cây cối, nhà cửa, gây
nhiều thiệt hại không kém gì bão. Sương mù cũng là hiện tượng phổ biến ở Phong Điền Có ba loại : sương mù
bình lưu hình thành khi không khí ấm và ẩm tràn qua mặt đất, mặt nước sông
biển, ao hồ lạnh; sương mù bức xạ do bức xạ mặt đất hình thành khắp nơi trong
các làng mạc, đồng ruộng, rừng cây, bãi cỏ; và sương mù hổn hợp là sương mù kết hợp của hai loại trên.
e. thủy văn:
Trang 13Phong Điền có Ô Lâu là dòng sông chính của huyện, kế đó là sông Bồ (ranh
giới chung với Hương Trà) với hai phụ lưu nằm trong lãnh thổ của huyện là rào
Tràng và sông Ô Hô. Sông Ô Lâu khởi nguồn từ ngọn Ô Lâu trên vùng núi phía tây, chảy về phía
đông và đông bắc qua vùng núi đồi Phong Mỹ, Phong Thu về thị trấn Phong
Điền Sau khi qua khỏi cầu Phò Trạch chuyển hướng tây bắc men theo phía đông
quốc lộ 1A về Hội Kỳ, rồi lượn thành một khúc uốn bao quanh ba mặt làng
Phước Tích Qua khỏi cầu Phước Tích, nhập với sông Thác Mã (tức sông Mỹ
Chánh) chính thức thành sông Ô Lâu, chảy xuống Vân Trình theo hướng đông
bắc, là ranh giới Thừa Thiên Huế và Quảng Trị Từ Vân Trình, sông đổi hướng
đông nam để vào phá Tam Giang. Lưu vực sông Ô Lâu có diện tích 900km 2, sông chính dài 66km, độ cao đầu
nguồn 900m trên mực nước biển, dộ dốc trung bình 13,1m/km Ô Lâu là sông có
nhiều nước, hằng năm đổ vào phá Tam Giang một lượng trung bình 576 triệu
m3 nước, trong đó bốn tháng mùa mưa lũ chiếm 424 triệu m 3 (73,6%) và tám
tháng còn lại chỉ 152 triệu m3 (26,4%). Sông Bồ là một nhánh lớn của sông Hương, bắt nguồn từ vùng núi phía nam
huyện A Lưới trên độ cao 900m chảy về phía bắc rồi đông bắc qua vùng rừng núi
A Lưới, Hương Trà và Phong Điền Qua khỏi cầu An Lỗ vào địa phận Quảng
Điền, sông đổi hướng đông nam, uốn khúc quanh co trên đồng ruộng Quảng
Điền, Hương Trà rồi nhập vào sông Hương ở ngã ba Sình cách Huế 9km về phía
bắc. Sông có chiều dài 94km, diện tích lưu vực 938km2. Rào Tràng là nhánh tả ngạn sông Bồ, bắt nguồn từ đỉnh Trường Sơn ở độ cao
1.360m chảy về đông nam rồi đổ vào sông Bồ Có chiều dài 27km, diện tích lưu
Trang 14vực 147km 2, độ dốc rất lớn đến 48,6m/km Là nhánh sông có nhiều nước vì nằm
trong tâm mưa của tỉnh, hằng năm đổ vào sông Bồ đến 20% tổng lượng nước
sông này cung cấp cho sông Hương. Sông Ô Hô cũng là nhánh tả ngạn sông Bồ, nhưng nằm ở địa hình đồi trước
núi Sông bắt nguồn ở cao độ 25m trên mực biển, có chiều dài 19km, diện tích
lưu vực rộng 583km 2 Ô Hô cũng là sông ở vùng mưa nhiều, hằng năm cung cấp
một lượng nước hàng chục triệu m 3 Tuy vậy, do lưu vực sông là nơi dân cư, làng
mạc tập trung đông đúc nên dân sinh thường bị ảnh hưởng trực tiếp bởi lũ lụt
mùa mưa và khan hiếm nước vào mùa Hè khi mực nước bị rút xuống quá thấp. Khe, suối, hói, bàu, hồ, trằm : cũng là những dạng cung cấp nước phân bố
hầu như khắp nơi trong huyện Khe A Đong, suối nước nóng Thanh Tân…ở
Phong Mỹ, Phong Xuân, Phong Sơn Hói Hiền Lương ở Phong Hiền và các hói ở
Phong Hòa, Phong Bình…Hồ Hòa Mỹ ở Phong Mỹ Trằm mỹ Xuyên, trằm Ô
Môi, trằm Niêm, trằm Thiềm ở Phong Hòa; trằm Hóa Chăm, trằm Bàu Bàng ở
Phong Bình…là các địa chỉ tiêu biểu. 2. Phá Tam Giang : Phá Tam Giang đại bộ phận nằm trong lãnh thổ huyện Quảng Điền, ở Phong
Điền chỉ có một dải hẹp ven bờ đông thuộc địa phận Điền Hòa và Điền Hải,
chiếm một diện tích khiêm tốn chưa đầy 1.00ha so với diện tích 5.200ha của toàn
phá Tuy nhiên vì đây là vùng cửa sông Ô Lâu, nơi tiếp nhận nguồn phù sa phong
phú, thuận lợi về môi trường sinh sống và phát triển, nên tài nguyên động thực vật khá dồi dào và đa dạng.
1.4.2. Điều kiện tự nhiên huyện Phú Vang
a. Khí hậu:
Trang 15Khí hậu thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, mang tính chuyển tiếp từ á xích
đạo đến nội chí tuyến gió mùa, chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp giữa miền
Bắc và miền Nam nước ta. b. Chế độ nhiệt Toàn huyện có mùa khô nóng và mùa mưa ẩm lạnh Nhiệt độ trung bình
hàng năm vùng đồng bằng khoảng 24°C 25°C. + Mùa nóng: từ tháng 5 đến tháng 9, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam nên
khô nóng, nhiệt độ cao Nhiệt độ trung bình các tháng nóng là từ 27°C 29°C,
tháng nóng nhất (tháng 5, 6) nhiệt độ có thể lên đến 38°C 40°C. + Mùa lạnh: Từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió
mùa Đông bắc nên mưa nhiều, trời lạnh Nhiệt độ trung bình về mùa lạnh ở vùng
đồng bằng là 20°C 22°C. Chế độ nhiệt có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống thuỷ sinh vật Chính sự dao
động lớn về biên độ nhiệt (cao nhất từ 3840 0C và thấp nhất từ 912 0C) đã gây
ảnh hưởng xấu đến quá trình trao đổi chất của thuỷ sinh vật. c. Chế độ mưa Lượng mưa trung bình khoảng 2500 3000mm/năm Mùa mưa bắt đầu từ
tháng 9 đến tháng 2 năm sau, tháng 11 có lượng mưa lớn nhất, chiếm tới 30%
lượng mưa cả năm. d. Nắng Do nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa nên lượng bức xạ mặt trời khá
lớn Bình quân cả năm bức xạ 7085Kcal/cm 2/năm, số giờ chiếu sáng trung bình
2000 giờ/năm Các tháng mùa nóng có lượng bức xạ chiếm 6364% tổng lượng
bức xạ cả năm, có giờ chiếu sáng trung bình 170250 giờ/tháng Các tháng còn lại
có lượng bức xạ từ 36 37%, số giờ chiếu sáng khoảng 60100giờ/tháng.
Trang 16Chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính:
+ Gió mùa Tây Nam: Bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8, gió khô nóng, bốc hơi mạnh
gây khô hạn kéo dài. + Gió mùa Đông Bắc: Bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, gió thường kèm
theo mưa làm cho khí hậu lạnh, ẩm, dễ gây lũ lụt. + Bão thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 9 10 thường gây hiện tượng lũ lụt
(nguồn UBND huyện Phú Vang). 2 Tình hình nuôi trồng thủy sản tại huyện Phong Điền và huyện Phú Vang 2.1. Tình hình nuôi trồng thủy sản tại huyện Phong Điền Cho đến nay, thời gian xuất hiện nghề nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn
Phong Điền vẫn chưa được xác định một cách chính xác Tuy nhiên nghề này có
lẽ đã được hình thành sau nghề đánh bắt thuỷ sản Trong suốt thời kì phong kiến
và thực dân, vùng đất Phong Điền có mức độ tập trung dân số chưa đông, tình
hình chính trị xã hội có nhiều biến động Đặc điểm tự nhiên của vùng đất Phong
Điền có nhiều ao hồ, bàu, trằm đã cung cấp nguồn thuỷ sản tự nhiên dồi dào cho
nhu cầu của nhân dân. Do vậy, chưa có động lực thúc đẩy nghề nuôi trồng thuỷ
sản phát triển Tuy nhiên, phần lớn dân cư Phong Điền đều có nguồn gốc từ các
làng chài ven sông, biển Bắc Trung Bộ nên đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm
nuôi trồng thuỷ sản Thời gian gần đây, ngành nuôi trồng thuỷ sản đã có xu
hướng phát triển nhanh là nhờ một phần vào kinh nghiệm nuôi trồng thuỷ sản đã
tích luỹ được từ trước của dân cư Trước đây, nhân dân trong huyện mới chỉ nuôi
Trang 17được thuỷ sản nước ngọt nhưng hiện nay đã phát triển thêm nghề nuôi trồng thuỷ
sản nước lợ ở khu vực phá Tam Giang. Nghề nuôi trồng thuỷ sản thực sự mới được phát triển trong khoảng vài
chục năm gần đây và trở thành một hoạt động kinh tế cung cấp thực phẩm và tạo
ra nguồn thu nhập cho nhân dân Đến năm 2004, diện tích nuôi trồng thuỷ sản của
huyện Phong Điền đã đạt 225 ha Các xã khu vực ven biển, đầm phá Tam Giang
và xã Phong An, Phong Chương có diện tích nuôi trồng thuỷ sản lớn nhất. Số hộ
gia đình tham gia nuôi trồng thuỷ sản trong toàn huyện là 816 hộ với tổng số lao
động là 1.002 người Hình thức nuôi trồng phong phú bao gồm nuôi trồng thuỷ
sản nước ngọt ở ao hồ, lồng bè ở sông Ô Lâu và nuôi tôm, cua, rong câu ở nước
lợ Giá trị kinh tế của nuôi trồng thuỷ sản năm 2003 đạt 5.937 triệu đồng Tốc độ
tăng trưởng của nghề nuôi trồng thuỷ sản tương đối nhanh Năm 1996 tốc độ tăng
về giá trị của nghề nuôi trồng là 2,17%, năm 1999 là 3,99%, năm 2001 là 10,1%,
năm 2002 30,9% và năm 2003 là 33,9%.( báo Thừa Thiên Huế ) a. Nuôi thuỷ sản nước ngọt Việc nuôi trồng thuỷ sản ban đầu được nhân dân thực hiện ở các ao hồ tự
tạo và sử dụng nguồn giống tự nhiên Sự phân bố hoạt động nuôi trồng lúc này
còn mang tính chất tự phát theo quy mô hộ gia đình Một số hộ gia đình ở các xã
Phong Mỹ, Phong Xuân, Phong An, Phong Chương, Phong Bình đã tổ chức đào
ao đắp bờ, giữ nước để nuôi cá Các ao nuôi cá thường được bố trí trong phạm vi
khu vườn, gần nơi ở và có quy mô nhỏ Sản phẩm nuôi trồng gồm có các loài
thuỷ sản nước ngọt nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và tạo nguồn thu phụ cho
gia đình Các loại cá tự nhiên được nuôi chủ yếu như: cá chép, cá tràu, cá rô Dần
dần, các giống cá tự nhiên đã được thay thế bằng các giống lai tạo như cá trắm, cá
mè, cá rô phi… Trong suốt thời gian dài trước đây, các bàu và trằm không được
Trang 18tận dụng để nuôi trồng thuỷ sản Từ sau năm 1975, nhờ sự thành lập các hợp tác
xã nông nghiệp đã tập hợp được những người lao động có kinh nghiệm nghề ngư
tạo nên các tổ, nhóm nuôi trồng thuỷ sản Hình thức nuôi trồng thuỷ sản đã có sự
thay đổi đáng kể Ngoài hình thức nuôi trồng riêng lẻ theo hộ gia đình đã hình
thành các tổ nhóm Việc thành lập các tổ nhóm nuôi trồng có sự trợ giúp của hợp
tác xã đã tiến hành khai thác diện tích mặt nước ở các bàu, trằm để mở rộng địa
bàn Các bàu, trằm nước ngọt: bàu Mỹ Xuyên, trằm Niêm, bàu Sen, bàu Bàng,
bàu Co, trằm Bàu Lầy, hồ Hoà Mỹ đã được sử dụng một phần để nuôi trồng
thuỷ sản nước ngọt Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản trong những năm 19751993
trực thuộc sự quản lí của các hợp tác xã nông nghiệp Từ sau năm 1993, với việc
triển khai nghị định 64CP đã thực hiện giao khoán diện tích ruộng đất, mặt nước
cho hộ nông dân nên hoạt động nuôi trồng thuỷ sản đã thay đổi Các hộ nông dân
đã có quyền chủ động phát triển ngành nuôi trồng thuỷ sản Toàn bộ diện tích
nuôi trồng thuỷ sản hiện nay trên địa bàn huyện đều thuộc về các hộ cá thể Phần
lớn diện tích các ao hồ, bàu, trằm tự nhiên trong huyện đã được khai thác để phát
triển nuôi trồng thuỷ sản Diện tích nuôi trồng và sản lượng cá tăng tương đối
nhanh Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt của huyện năm 2000 là
35,5ha; năm 2004 là 161,9 ha. Việc nuôi cá nước ngọt ở Phong Điền bao gồm hai hình thức: Hình thức nuôi cá
ở ao, hồ, bàu, trằm và hình thức nuôi cá lồng trên sông. Nuôi cá trong các ao hồ, bàu, trằm Phong Điền là huyện có thế mạnh về diện tích mặt nước khá rộng lớn
khoảng 4065 ha bao gồm sông, suối, ao hồ và đầm phá Tính cho đến năm 2004
chỉ mới sử dụng được 320,11ha để nuôi trồng thuỷ sản Các khu vực nuôi trồng
thuỷ sản tập trung chủ yếu ở các xã như Phong An 39 ha, Phong Chương 28,9 ha,
Trang 19Điền Lộc 28,5 ha, Điền Môn 14,5 ha, Phong Bình 10,7 ha, Phong Xuân 8,3 ha.
Các xã còn lại chỉ nuôi với quy mô nhỏ dưới 5 ha Diện tích mặt nước chưa được
sử dụng để nuôi trồng thuỷ sản còn rất lớn, trong đó có nhiều nơi rất thuận lợi
như các bàu nước ngọt tự nhiên và các hồ thuỷ lợi ở Phong Chương, Phong Mỹ,
Phong An, Phong Xuân Tổng sản lượng cá nuôi của huyện Phong Điền chưa ổn
định, có năm đạt 50 tấn nhưng có năm chỉ đạt vài chục tấn. Để thực hiện việc nuôi cá, người ta chọn các ao, hồ, bàu có nguồn nước ổn
định Đây là những nơi không bị khô hạn vào mùa khô và ngập lũ vào mùa mưa.
Công việc đầu tiên là phải nạo vét ao, đắp bờ giữ nước Nguồn cá giống thả vào
ao có thể đánh bắt từ sông hồ và nguồn cá giống nhân tạo mua từ các nơi khác.
Nguồn thức ăn cho cá chủ yếu là các loại sản phẩm phụ của sản xuất nông nghiệp
bao gồm cám gạo, bột bắp, bã sắn, cỏ và một số loại lá cây Một số địa phương
còn áp dụng mô hình kết hợp chăn nuôi lợn, gia cầm và nuôi cá Người ta xây
dựng các chuồng nuôi lợn trên các ao cá nhằm tận dụng nguồn phân hữu cơ để
làm thức ăn cho cá. Trong những năm gần đây, nhờ sản xuất lương thực phát triển đã cung cấp đủ
nhu cầu lương thực nên một số ruộng lúa nước có năng suất thấp đã được chuyển
sang nuôi cá Tổng diện tích ruộng nước đã chuyển sang nuôi cá trên địa bàn
huyện đến năm 2003 là 20,8ha (Phong Chương 5ha, Phong Bình 1,8ha; Điền Hải
14ha) Việc nuôi cá ở phần diện tích này không ổn định, vào thời kì mùa khô
(khoảng từ tháng 5 đến tháng 8) đã làm cho một số ruộng bị khô cạn. Hình thức nuôi cá bằng lồng Hình thành chủ yếu ở các làng ven sông Ô Lâu và sông Bồ thuộc các xã
Phong Hoà, Phong Chương, Phong An Số lồng nuôi cá trên sông Ô Lâu và sông
Bồ đã có lúc đạt 220 lồng Lồng để nuôi cá có hình dạng giống như một cái hộp
Trang 20lớn với kích thước: chiều rộng 2 – 3m, chiều dài khoảng 4 – 5m và chiều cao
khoảng 1,5 – 2m Vật liệu để làm lồng nuôi cá chủ yếu bằng tre, mây có rất nhiều
ở trong vùng Để làm lồng nuôi cá người ta chọn những cây tre thẳng, chắc để
đóng khung lồng theo dạng hình hộp Các bề mặt của hình hộp được làm bởi các
tấm sáo kết bằng tre Bề mặt phía trên của lồng được làm không cố định, có thể
đóng hoặc mở được Có hai loại lồng để nuôi cá, loại lồng dày dùng để ương cá
giống, lồng thưa để nuôi cá thịt Khi tiến hành nuôi cá lồng, người ta đặt lồng
xuống ở những nơi có dòng chảy yếu và thả cá giống để nuôi Lồng được đặt sao
cho chiều cao của nó nhô lên khỏi mặt nước khoảng 0,2 – 0,4m và được giữ cố
định bằng các cọc cắm xuống lòng sông và dây néo Thông thường lồng để nuôi
cá ở sông có dạng hình hộp chữ nhật có chiều dài theo hướng dòng chảy nhằm
hạn chế lực cản dòng chảy Địa điểm nuôi cá lồng thuận lợi thường ở hạ lưu có
dòng chảy chậm và các vực nước ven sông Việc nuôi cá lồng chủ yếu dựa vào
nguồn thức ăn tự nhiên Nghề nuôi cá lồng là do các hộ gia đình thực hiện, hiện
nay các tổ chức đã có nhiều hoạt động giúp đỡ nghề này phát triển Các cấp chính
quyền xã, huyện đã tạo điều kiện cho các hộ ngư dân vay các nguồn vốn ưu đãi
như vốn xoá đói giảm nghèo, vốn ODA Ngoài ra còn tạo điều kiện để vay vốn
tín dụng, trợ giúp kĩ thuật, hỗ trợ nguồn giống Sản lượng cá do các lồng nuôi
cung cấp hàng năm khoảng 20 đến 30 tấn. Nghề nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt ở Phong Điền chủ yếu vẫn dựa vào
kinh nghiệm truyền thống Năng suất nuôi cá chưa cao vì chất lượng cá giống và
nguồn thức ăn còn hạn chế Hiện nay trên địa bàn huyện chưa có các cơ sở sản
xuất cá giống, nguồn giống phải mua từ các địa phương khác ngoài huyện và dựa
vào tự nhiên Việc nuôi thuỷ sản nước ngọt chịu ảnh hưởng rất lớn bởi chế độ khí
hậu, thời tiết Ở Phong Điền, vào khoảng tháng 10, 11 có hiện tượng mưa tập