1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG NUÔI XEN GHÉP Ở HUYỆN PHÚ VÀNG VÀ PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ NĂM 2013

41 840 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÁO CÁO ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN NĂM 2014 TÊN ĐỀ TÀI: “ Điều tra hiện trạng nuôi xen ghép một số đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế ở huyện Phong Điền và huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế ” Giáo viên hướng dẫn: TS. GVC Tôn Thất Chất Bộ môn: Nuôi trồng thủy sản HUẾ, THÁNG 11 NĂM 2014 LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, chúng em xin cảm ơn quý thầy cô khoa Thủy Sản trường đại học Nông Lâm Huế, những người đã trực tiếp giảng dạy chúng em, truyền đạt những kiến thức bổ ích, đó chính là nền tảng kiến thức cho chúng em thực hiện đề tài này. Đặc biệt, chúng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS.Tôn Thất Chất, là người trực tiếp hướng dẫn chúng em thực hiện đề tài này. Cảm ơn thầy đã tận tình, quan tâm, giúp đỡ chúng em trong thời gian thực hiện đề tài, giải đáp những thắc mắc của chúng em trong qua trình thực hiện, nhờ đó chúng em mới hoàn thành được bài báo cáo này Bên cạnh đó chúng em xin cảm ơn phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Phong Điền, huyện Phú Vang ủy ban nhân dân và hộ dân nuôi trồng thủy sản ở các xã: Phong An, Điền Hải, Điền Lộc, của huyện Phong Điền; xã Phú Mỹ, Phú Đa, Phú Xuân… của Huyện Phú Vang đã dành thời gian giúp đỡ cho chúng em, tạo điều kiện thuận lợi cho chúng em hoàn thành đề tài này Trong quá trình thực hiện đề tài và làm báo cáo chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót. Kính mong nhận được sự góp ý, nhận xét từ quý thầy cô để kiến thức của chúng em ngày càng hoàn thiện hơn và chúng em có thể rút ra được những kinh nghiệm cho thời gian sau này. Chúng em xin chân thành cảm ơn Nhóm sinh viên thực hiện đề tài

Trang 2

 

Trang 3

KHOA THỦY SẢN 

❧•❧ 

 BÁO CÁO 

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA   HỌC SINH VIÊN NĂM 2014 

  

      Bộ môn: Nuôi trồng thủy sản 

   

 

Trang 4

  LỜI CẢM ƠN 

Lời đầu tiên, chúng em xin cảm ơn quý thầy cô khoa Thủy Sản trường đại       

học Nông Lâm Huế, những người đã trực tiếp giảng dạy chúng em, truyền đạt       

những kiến thức bổ ích, đó chính là nền tảng kiến thức cho chúng em thực hiện       

đề tài này Đặc biệt, chúng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS.Tôn Thất       

Chất, là người trực tiếp hướng dẫn chúng em thực hiện đề tài này Cảm ơn thầy       

đã tận tình, quan tâm, giúp đỡ chúng em trong thời gian thực hiện đề tài, giải đáp       

những thắc mắc của chúng em trong qua trình thực hiện, nhờ đó chúng em mới       

hoàn thành được bài báo cáo này  Bên cạnh đó chúng em xin cảm ơn phòng nông nghiệp và phát triển nông       

thôn huyện Phong Điền, huyện Phú Vang ủy ban nhân dân và hộ dân nuôi trồng       

thủy sản ở các xã: Phong An, Điền Hải, Điền Lộc, của huyện Phong Điền; xã       

Phú Mỹ, Phú Đa, Phú Xuân… của Huyện Phú Vang đã dành thời gian giúp đỡ       

cho chúng em, tạo điều kiện thuận lợi cho chúng em hoàn thành đề tài này  Trong quá trình thực hiện đề tài và làm báo cáo chắc chắn sẽ không tránh       

khỏi những sai sót Kính mong nhận được sự góp ý, nhận xét từ quý thầy cô để       

kiến thức của chúng em ngày càng hoàn thiện hơn và chúng em có thể rút ra        được những kinh nghiệm cho thời gian sau này. 

Chúng em xin chân thành cảm ơn! 

Nhóm sinh viên thực hiện đề tài 

   

 

Trang 5

 

 

 

 

PHẦN I: MỞ ĐẦU  1.1 Tính cấp thiết của đề tài 

Trong những năm gần đây, nghề NTTS của nước ta đã có những bước phát       

triển vượt bậc Ở tỉnh Thừa Thiên Huế ngành NTTS rất được chú trọng phát triển       

và đã đạt được những thành tựu đáng kể Cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế       

, ngành nuôi trồng thủy sản đã có những bước nhảy vọt Phát triển thủy sản đã và       

đang được coi là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát       

triển kinh tế của quốc gia, góp phần giải quyết việc làm cho đại đa số người dân       

ven biển, tăng hiệu quả thu nhập, đem lại nguồn ngoại tệ lớn.   Ngày nay, nhiều mô hình nuôi trồng thủy sản đã được nhân rộng khắp       

nước ta và nhiều giải pháp khác nhau nhằm nâng cao sản lượng nuôi trồng cao       

hơn khi đứng trước nhiều thách thức lớn như: con giống, dịch bệnh, chậm phát       

triển,…  Để khắc phục hậu quả việc nuôi chuyên canh tôm, cũng như nâng cao hiệu       

quả của việc nuôi trồng nhiều biện pháo kỹ thuật mới như mô hình nuôi ghép,       

nuôi luân canh đã được nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn Trong đó thì mô       

hình nuôi xen ghép là mô hình phù hợp với mức độ đầu tư không cao, số lượng       

Trang 6

ao ít, có thể giúp người dân tận dụng nguồn thức ăn sẵn có trong ao nuôi, loại bỏ       

các chất gây ô nhiễm  Việc kết hợp một số đối tượng nuôi nhằm cải thiện môi trường ao nuôi,        

giảm một số dịch bệnh thường xảy ra trong ao nuôi và mang lại hiệu quả kinh tế       

cũng là mô hình được nhân rộng trong xu hướng nuôi an toàn hiện nay Nuôi xen       

ghép không chỉ biết đến ở các vùng đầm phá mà hiện nay ở các ao nước ngọt hay       

các vùng trồng lúa không đem lại hiệu quả kinh tế người dân cũng đã chuyển đổi       

sang nuôi xen ghép các đối tượng cá nước ngọt, nuôi cá và ếch, trồng sen nuôi       

cá… “Phong Điền ngày càng có nhiều hộ lựa chọn mô hình trồng sen, xen cá là       

vì, huyện và chính quyền địa phương có chủ trương và luôn tạo điều kiện để giúp       

bà con chuyển đổi một số diện tích trồng lúa không mấy hiệu quả sang trồng các       

loại cây trồng khác có hiệu quả hơn” ( ông Hồ Đôn, Chủ tịch UBND xã Phong       

An cho biết )  Mô hình nuôi xen ghép ngày càng phổ biến và đa dạng xuất phát từ vấn đề       

trên, nhóm sinh viên chúng em đã thực hiện đề tài: “Điều tra hiện trạng nuôi      

xen ghép một số đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế ở huyện Phong Điền và      

huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế” với mục tiêu tổng quát là thông qua            

điều tra để nắm được hiện trạng nuôi xen ghép một số đối tượng thủy sản có giá       

trị kinh tế ở huyện Phong Điền và Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế góp phần đa       

dạng đối tượng, loại hình nuôi, giúp nuôi trồng thủy sản phát triển bền vững.    1.2 Mục tiêu cụ thể của đề tài:  ­ Tình hình nuôi xen ghép các đối tượng ở huyện Phong Điền và Phú Vang,         tỉnh  TT Huế 

Trang 7

­ Xác định hiê ̣      n trạng, góp phần phát triển mô hình này đạt hiê ̣      u quả cao,     

bền vững, có thể nhân rô ̣ng ở nhiều địa phương trong tỉnh.    PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU  1. Vài nét về điều kiện tự nhiên ở huyện Phong Điền và huyện Phú Vang­  tỉnh Thừa Thiên Huế  1.1. Tình hình nuôi trồng thủy sản tại Thừa Thiên Huế  Thừa thiên huế là vùng đất có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển nuôi trồng       

thủy sản với đường bờ biển dài 126 km với 5.754,4 ha diện tích mặt nước nuôi       

trồng thủy sản trong đó có 3.884,6 ha nước mặn, lợ và 1.909,8 ha nước ngọt và       

đặc biệt có hệ đầm phá Tam Giang Cầu Hai với diện tích 22.000 ha mặt nước trải       

dài qua 5 huyện (Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Phú Lộc).  Theo quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản vùng ven biển và đầm phá       

đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020, tỉnh Thừa Thiên ­ Huế huy động tổng       

nguồn vốn đầu tư 709 tỷ đồng phát triển nuôi trồng thủy sản đạt 19.516 tấn vào       

năm 2015 và đạt 24.116 tấn vào năm 2020.  Tình hình NTTS ở Huế 8 tháng đầu năm:  Mặc dù trong những ngày giữa tháng 5 đến tháng 7 có những đợt nắng       

nóng kéo dài, có ngày nhiệt độ ngoài trời lên đến trên 40oC, nguy cơ dịch bệnh       

xảy ra cao nhưng với sự chủ động phòng bệnh của người nuôi, sự quan tâm chỉ       

đạo của các cấp các ngành nên đến nay tình hình dịch bệnh có xảy ra nhưng       

không đáng kể chỉ bằng 71,9% so với năm 2013 (Diê ̣      n tích dịch bênh: 71,83ha;     

trong đó: tôm sú: 61ha, tôm chân trắng 10,83ha), nuôi trồng thuỷ sản 8 tháng đầu        năm vẫn đạt được một số kết quả nhất định. 

Trang 8

Tổng diện tích thả nuôi toàn Tỉnh:  6.447ha đạt 98 % so với kế hoạch và       

tăng 4,0 % so với cùng kỳ năm 2013 Trong đó: Diện tích nuôi nước lợ, mặn:       

4.384ha đạt 101% so với kế hoạch, tăng 4,0 % so với cùng kỳ năm trước Diện       

tích nuôi chuyên tôm ao hồ: 442,6ha (tôm sú : 223,6 ha, tôm chân trắng : 219ha).        

Diện tích nuôi xen ghép, chuyên cá là: 3.941,4 ha (nuôi xen ghép ao hồ là 2.978,8       

ha; nuôi xen ghép chắn sáo ở đầm Sam Chuồn huyện Phú Vang 946,6 ha; nuôi       

chuyên cá ao hồ 16 ha).Diện tích nuôi nước ngọt : 2.063 ha đạt 94,5 % kế hoạch,       

tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2013.  Nuôi cá lồng: 4.189 lồng, đạt 99,1% so kế hoạch, tăng 0,3 % so với cùng       

kỳ năm 2013 Trong đó: Lồng lợ: 2.259 lồng, Lồng ngọt: 1.930 lồng Sản lượng       

thu hoạch đến nay: 8.904,4 tấn Trong đó:Sản lượng nước lợ, mặn là 5.435,5 tấn       

tổng các loại (tôm chân trắng, tôm sú, cua, cá…) tăng 33,7 % so với cùng kỳ năm       

2013 tập trung tại huyện Phú Vang, Phong Điền, Phú Lộc, Quảng Điền và thị xã       

Hương Trà.  Năm nay, người nuôi đã chấp hành khung lịch thời vụ khá tốt Ngoài ra,       

người dân đã thâ ̣      n trọng hơn trong chọn thời điểm thả nuôi thích hợp nên viê ̣      c thả   

giống tôm sú nuôi chuyên được đánh giá là muô ̣      n hơn so với năm trước Một số       

diện tích bà con đưa vào nuôi xên ghép nhiều đối tượng nên diện tích nuôi       

chuyên năm nay giảm Nuôi xen ghép có tăng hơn do diện tích nuôi chắn sáo của       

đầm Sam Chuồng có sự rà soát thống kê lại và tăng lên so với cùng kỳ năm 2013.  Lượng cá giống phục vụ nuôi xen ghép năm nay được các địa phương ương       

và nhâ ̣  p về khá phong phú về chủng loại, số lượng nên bà con có cơ hô ̣      i trong   

viê ̣c chọn đối tượng nuôi phù hợp với vùng và nguồn lực của mình.Vì vâ ̣      y, chưa   

có hiê ̣  n tượng áp lực thiếu hụt giống cho nuôi xen ghép (cua, cá đối mục, cá       

dìa…) Tuy nhiên, năm nay nguồn giống cá kình xuất hiện muộn và ít hơn so với       

Trang 9

cùng kỳ năm 2013 nhưng vẫn đủ giống để thả nuôi.Tôm chân trắng là đối tượng       

chủ lực, diện tích nuôi trên cát năm 2013 gối sang năm 2014 được thu hoạch       

muô ̣n nên tiến đô ̣       thả nuôi đến nay mới chỉ đạt 70,8 % so với kế hoạch 2014.       

Theo kinh nhiệm các năm trước vào thời điểm tháng 5­7 dương lịch thường hay       

xảy ra dịch bệnh đốm trắng, nên ngành đã khuyến cáo bà con giãn ra và không       

nuôi vào thời gian này Hiê ̣      n nay bà con xác định vụ thu đông là chính, nên đang       

tích cực cải tạo ao, chọn giống tốt để thả nuôi kịp thu hoạch và bán vào dịp tết       

nguyên Đáng (đã thả nuôi vụ thu đông là 48,1ha), dự kiến vụ này thả nuôi khoảng       

230ha (trong đó tâ ̣      p đoàn CP của Thái Lan đưa vào nuôi thêm mới vụ đầu tiên       

khoảng 80ha ở Điền Hương).  Nuôi cá lồng nước lợ tiếp tục được người dân phát huy, năm nay người       

nuôi tăng số lượng thả giống hồng mỹ, cá mú, vẫu, giò, cá chim trắng vây vàng       

và giảm tỷ lê ̣       thả giống cá chẽm do chất lượng giống của cá chẽm trong những       

năm trước được đánh giá không tốt, tỷ lê ̣       hao hụt lớn, khó tiêu thụ và hiê ̣      u quả   

thấp.    Nuôi cá nước ngọt tiếp tục phát triển ổn định, thu hút nhiều địa phương tham gia,       

nhất là các vùng có mặt nước ngọt, ruộng trũng như Hương Thuỷ, Phong Điền,       

Quảng Điền, Phú Lộc, Phú Vang Nhiều địa phương phát triển tốt nghề nuôi cá       

lồng trên các loại mặt nước đầm phá có nồng độ muối thấp (Quảng Điền), sông       

hồ.  Kết quả sơ bô ̣       cho thấy, đối với các hình thức và phương thức nuôi đều có lãi, rất       

ít hô ̣       lỗ và hòa vốn Hy vọng kết quả nuôi cả về năng suất, sản lượng, hiê ̣      u quả   

kinh tế năm nay sẽ cao hơn năm 2013.  1.2 Vị trí địa lý huyện Phong Điền và huyện Phú Vang – tỉnh Thừa Thiên      

Huế: 

Trang 10

Phong Điền là huyện nằm ở cửa ngõ phía bắc tỉnh Thừa Thiên Huế, rộng       953,751 km2, gần bằng 1/5 diện tích tự nhiên của tỉnh 

+ Phía Đông và Đông Nam giáp hai huyện Quảng Điền và Hương Trà Phía Đông       Bắc giáp biển Đông với đường bờ thẳng tắp theo hướng tây bắc ­ đông nam trên       chiều dài gần 16km 

+  Phía Tây, Tây Nam và phía Nam giáp hai huyện Đakrông và A Lưới  

+  Phía Bắc giáp huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị. 

  

Hình 1: Bản  đồ vị trí địa lý huyện Phong Điền – Thừa Thiên Huế  1.3 Vị trí địa lý huyện Phú Vang – Thừa Thiên Huế: 

+ Phía Đông giáp Biển Đông. 

+ Phía Tây giáp thành phố Huế và thị xã Hương Thủy. 

+ Phía Nam giáp huyện Phú Lộc. 

+ Phía Bắc giáp huyện Hương Trà.  

Trang 11

Hình 2: Bản  đồ vị trí địa lý huyện Phú Vang – Thừa Thiên Huế 

 

1.4 Điều kiện tự nhiên của 2 huyện: 

1.4.1: điều kiện tự nhiên huyện Phong Điền 

a. Khí hậu: 

Huyện Phong Điền mang đặc điểm khí hậu tỉnh Thừa Thiên Huế, có nền       

tảng chung với khí hậu cả nước Đó là khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Tuy nhiên            

do tác động chắn gió của địa hình Trường Sơn mà khí hậu Phong Điền ­Thừa       

Thiên Huế có những nét độc đáo, không giống, thậm chí còn lệch hẵn với khí hậu        

cả phía Bắc lẫn phía Nam.  b. Chế độ nhiệt  Phong Điền ­Thừa Thiên Huế có nền nhiệt độ cao Nhiệt độ trung bình năm       

trên đại bộ phận lãnh thổ đạt 20­25      oC, trung bình tháng lạnh nhất (tháng giêng) là       

Trang 12

19­20oC, tháng nóng nhất (tháng bảy) là 29,4      oC Nhiệt độ cao nhất vào mùa hè       

đạt 40­41oC, thấp nhất vào mùa Đông xuống 8­9oC.  c. Chế độ mưa    Phong Điền là huyện có lượng mưa trung bình năm gần 3.000 mm, tăng       

dần từ đông sang tây, từ đồng bằng lên vùng núi Lượng mưa trong năm tập trung       

chủ yếu vào mùa mưa chính từ tháng 9 đến tháng 12, chiếm đến 72­75% lượng       

mưa năm Tám tháng còn lại chỉ chiếm 25­30% Đây là nguyên nhân chủ yếu gây       

tình trạng ngập lụt vào mùa mưa và thiếu nước, khô hạn vào mùa hè.  d. Gió bão, dông    Phong Điền chịu ảnh hưởng của bão nhiều nhất vào tháng 9 (35%), tháng       

10 (28%) và tháng 8 (18%) Có năm không có cơn bão nào, nhưng có năm 3­4       

cơn liên tiếp Nhìn chung số lượng bão không nhiều nhưng thiệt hại gây ra rất       

nghiêm trọng vì gió mạnh kèm theo mưa to và rất to, gây lũ lụt lớn và sạt lở bờ       

biển.       Ngoài bão còn có dông là hiện tượng phóng điện (sấm sét) thường xảy ra từ       

tháng 4 đến tháng 9, nhiều nhất là tháng 5 Dông thường kèm theo mưa rào, đôi       

khi có gió mạnh Vào mùa Hè cũng thường có lốc nhất là khi có gió tây khô       

nóng Nhiều cơn lốc có sức gió mạnh cấp 10 cuốn phăng cây cối, nhà cửa, gây       

nhiều thiệt hại không kém gì bão.       Sương mù cũng là hiện tượng phổ biến ở Phong Điền Có ba loại : sương mù        

bình lưu hình thành khi không khí ấm và ẩm tràn qua mặt đất, mặt nước sông       

biển, ao hồ lạnh; sương mù bức xạ do bức xạ mặt đất hình thành khắp nơi trong       

các làng mạc, đồng ruộng, rừng cây, bãi cỏ; và sương mù hổn hợp là sương mù        kết hợp của hai loại trên. 

e. thủy văn: 

Trang 13

     Phong Điền có Ô Lâu là dòng sông chính của huyện, kế đó là sông Bồ  (ranh       

giới chung với Hương Trà) với hai phụ lưu nằm trong lãnh thổ của huyện là rào       

Tràng và sông Ô Hô.      ­Sông Ô Lâu  khởi nguồn từ ngọn Ô Lâu trên vùng núi phía tây, chảy về phía                

đông và đông bắc qua vùng núi đồi Phong Mỹ, Phong Thu về thị trấn Phong       

Điền Sau  khi qua khỏi cầu Phò Trạch chuyển hướng tây bắc men theo phía đông       

quốc lộ 1A về Hội Kỳ, rồi lượn thành một khúc uốn bao quanh ba mặt làng       

Phước Tích Qua khỏi cầu Phước Tích, nhập với sông Thác Mã (tức sông Mỹ       

Chánh) chính thức thành sông Ô Lâu, chảy xuống Vân Trình theo hướng đông       

bắc, là ranh giới Thừa Thiên Huế và Quảng Trị Từ Vân Trình, sông đổi hướng       

đông nam để vào phá Tam Giang.       Lưu vực sông Ô Lâu có diện tích 900km      2, sông chính dài 66km, độ cao đầu       

nguồn 900m trên mực nước biển, dộ dốc trung bình 13,1m/km Ô Lâu là sông có       

nhiều nước, hằng năm đổ vào phá Tam Giang một lượng trung bình 576 triệu       

m3 nước, trong đó bốn tháng mùa mưa lũ chiếm 424 triệu m      3 (73,6%) và tám     

tháng còn lại chỉ 152 triệu m3 (26,4%).       ­Sông Bồ  là một nhánh lớn của sông Hương, bắt nguồn từ vùng núi phía nam        

huyện A Lưới trên độ cao 900m chảy về phía bắc rồi đông bắc qua vùng rừng núi       

A Lưới, Hương Trà và Phong Điền Qua khỏi cầu An Lỗ vào địa phận Quảng       

Điền, sông đổi hướng đông nam, uốn khúc quanh co trên đồng ruộng Quảng       

Điền, Hương Trà rồi nhập vào sông Hương ở ngã ba Sình cách Huế 9km về phía       

bắc. Sông có chiều dài 94km, diện tích lưu vực 938km2.       ­Rào Tràng là nhánh tả ngạn sông Bồ, bắt nguồn từ đỉnh Trường Sơn ở độ cao        

1.360m chảy về đông nam rồi đổ vào sông Bồ Có chiều dài 27km, diện tích lưu       

Trang 14

vực 147km  2, độ dốc rất lớn đến 48,6m/km Là nhánh sông có nhiều nước vì nằm       

trong tâm mưa của tỉnh, hằng năm đổ vào sông Bồ đến 20% tổng lượng nước       

sông này cung cấp cho sông Hương.       ­Sông Ô Hô  cũng là nhánh tả ngạn sông Bồ, nhưng nằm ở địa hình đồi trước          

núi Sông bắt nguồn ở cao độ 25m trên mực biển, có chiều dài 19km, diện tích       

lưu vực rộng 583km      2 Ô Hô cũng là sông  ở vùng mưa nhiều, hằng năm cung cấp       

một lượng nước hàng chục triệu m      3 Tuy vậy, do lưu vực sông là nơi dân cư, làng       

mạc tập trung đông đúc nên dân sinh thường bị ảnh hưởng trực tiếp bởi lũ lụt       

mùa mưa và khan hiếm nước vào mùa Hè khi mực nước bị rút xuống quá thấp.      ­Khe, suối, hói, bàu, hồ, trằm : cũng là những dạng cung cấp nước phân bố            

hầu như khắp nơi trong huyện Khe A Đong, suối nước nóng Thanh Tân…ở       

Phong Mỹ, Phong Xuân, Phong Sơn Hói Hiền Lương ở Phong Hiền và các hói ở       

Phong Hòa, Phong Bình…Hồ Hòa Mỹ ở Phong Mỹ Trằm mỹ Xuyên, trằm Ô       

Môi, trằm Niêm, trằm Thiềm ở Phong Hòa; trằm Hóa Chăm, trằm Bàu Bàng ở       

Phong Bình…là các địa chỉ tiêu biểu.      2. Phá Tam Giang :      Phá Tam Giang đại bộ phận nằm trong lãnh thổ huyện Quảng Điền, ở Phong       

Điền chỉ có một dải hẹp ven bờ đông thuộc địa phận Điền Hòa và Điền Hải,       

chiếm một diện tích khiêm tốn chưa đầy 1.00ha so với diện tích 5.200ha của toàn       

phá Tuy nhiên vì đây là vùng cửa sông Ô Lâu, nơi tiếp nhận nguồn phù sa phong       

phú, thuận lợi về môi trường sinh sống và phát triển, nên tài nguyên động thực        vật khá dồi dào và đa dạng. 

1.4.2. Điều kiện tự nhiên huyện Phú Vang 

a. Khí hậu: 

Trang 15

Khí hậu thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, mang tính chuyển tiếp từ á xích       

đạo đến nội chí tuyến gió mùa, chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp giữa miền       

Bắc và miền Nam nước ta.   b. Chế độ nhiệt  Toàn huyện có mùa khô nóng và mùa mưa ẩm lạnh Nhiệt độ trung bình       

hàng năm vùng đồng bằng khoảng 24°C ­ 25°C.   + Mùa nóng: từ tháng 5 đến tháng 9, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam nên              

khô nóng, nhiệt độ cao Nhiệt độ trung bình các tháng nóng là từ 27°C ­ 29°C,       

tháng nóng nhất (tháng 5, 6) nhiệt độ có thể lên đến 38°C­ 40°C.  + Mùa lạnh: Từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió        

mùa Đông bắc nên mưa nhiều, trời lạnh Nhiệt độ trung bình về mùa lạnh ở vùng       

đồng bằng là 20°C ­ 22°C.  Chế độ nhiệt có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống thuỷ sinh vật Chính sự dao       

động lớn về biên độ nhiệt (cao nhất từ 38­40      0C và thấp nhất từ 9­12      0C) đã gây     

ảnh hưởng xấu đến quá trình trao đổi chất của thuỷ sinh vật.  c. Chế độ mưa    Lượng mưa trung bình khoảng 2500­ 3000mm/năm Mùa mưa bắt đầu từ       

tháng 9 đến tháng 2 năm sau, tháng 11 có lượng mưa lớn nhất, chiếm tới 30%       

lượng mưa cả năm.  d. Nắng  Do nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa nên lượng bức xạ mặt trời khá       

lớn Bình quân cả năm bức xạ 70­85Kcal/cm      2/năm, số giờ chiếu sáng trung bình       

2000 giờ/năm Các tháng mùa nóng có lượng bức xạ chiếm 63­64% tổng lượng       

bức xạ cả năm, có giờ chiếu sáng trung bình 170­250 giờ/tháng Các tháng còn lại       

có lượng bức xạ từ 36­ 37%, số giờ chiếu sáng khoảng 60­100giờ/tháng. 

Trang 16

  Chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính: 

+ Gió mùa Tây Nam: Bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8, gió khô nóng, bốc hơi mạnh            

gây khô hạn kéo dài.  + Gió mùa Đông Bắc: Bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, gió thường kèm          

theo mưa làm cho khí hậu lạnh, ẩm, dễ gây lũ lụt.  + Bão thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 9 ­10 thường gây hiện tượng lũ lụt        

(nguồn UBND huyện Phú Vang).    2 Tình hình nuôi trồng thủy sản tại huyện Phong Điền và huyện Phú Vang  2.1. Tình hình nuôi trồng thủy sản tại huyện Phong Điền  Cho đến nay, thời gian xuất hiện nghề nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn       

Phong Điền vẫn chưa được xác định một cách chính xác Tuy nhiên nghề này có       

lẽ đã được hình thành sau nghề đánh bắt thuỷ sản Trong suốt thời kì phong kiến       

và thực dân, vùng đất Phong Điền có mức độ tập trung dân số chưa đông, tình       

hình chính trị xã hội có nhiều biến động Đặc điểm tự nhiên của vùng đất Phong       

Điền có nhiều ao hồ, bàu, trằm đã cung cấp nguồn thuỷ sản tự nhiên dồi dào cho       

nhu cầu của nhân dân.  Do vậy, chưa có động lực thúc đẩy nghề nuôi trồng thuỷ       

sản phát triển Tuy nhiên, phần lớn dân cư Phong Điền đều có nguồn gốc từ các       

làng chài ven sông, biển Bắc Trung Bộ nên đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm       

nuôi trồng thuỷ sản Thời gian gần đây, ngành nuôi trồng thuỷ sản đã có xu       

hướng phát triển nhanh là nhờ một phần vào kinh nghiệm nuôi trồng thuỷ sản đã       

tích luỹ được từ trước của dân cư Trước đây, nhân dân trong huyện mới chỉ nuôi       

Trang 17

được thuỷ sản nước ngọt nhưng hiện nay đã phát triển thêm nghề nuôi trồng thuỷ       

sản nước lợ ở khu vực phá Tam Giang.  Nghề nuôi trồng thuỷ sản thực sự mới được phát triển trong khoảng vài       

chục năm gần đây và trở thành một hoạt động kinh tế cung cấp thực phẩm và tạo       

ra nguồn thu nhập cho nhân dân Đến năm 2004, diện tích nuôi trồng thuỷ sản của       

huyện Phong Điền đã đạt 225 ha Các xã khu vực ven biển, đầm phá Tam Giang       

và xã Phong An, Phong Chương có diện tích nuôi trồng thuỷ sản lớn nhất.  Số hộ       

gia đình tham gia nuôi trồng thuỷ sản trong toàn huyện là 816 hộ với tổng số lao       

động là 1.002 người Hình thức nuôi trồng phong phú bao gồm nuôi trồng thuỷ       

sản nước ngọt ở ao hồ, lồng bè ở sông Ô Lâu và nuôi tôm, cua, rong câu ở nước       

lợ Giá trị kinh tế của nuôi trồng thuỷ sản năm 2003 đạt 5.937 triệu đồng Tốc độ       

tăng trưởng của nghề nuôi trồng thuỷ sản tương đối nhanh Năm 1996 tốc độ tăng       

về giá trị của nghề nuôi trồng là 2,17%, năm 1999 là 3,99%, năm 2001 là 10,1%,       

năm 2002 ­30,9% và năm 2003 là 33,9%.( báo Thừa Thiên Huế )  a. Nuôi thuỷ sản nước ngọt  Việc nuôi trồng thuỷ sản ban đầu được nhân dân thực hiện ở các ao hồ tự       

tạo và sử dụng nguồn giống tự nhiên Sự phân bố hoạt động nuôi trồng lúc này       

còn mang tính chất tự phát theo quy mô hộ gia đình Một số hộ gia đình ở các xã       

Phong Mỹ, Phong Xuân, Phong An, Phong Chương, Phong Bình đã tổ chức đào       

ao đắp bờ, giữ nước để nuôi cá Các ao nuôi cá thường được bố trí trong phạm vi       

khu vườn, gần nơi ở và có quy mô nhỏ Sản phẩm nuôi trồng gồm có các loài       

thuỷ sản nước ngọt nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và tạo nguồn thu phụ cho       

gia đình Các loại cá tự nhiên được nuôi chủ yếu như: cá chép, cá tràu, cá rô Dần       

dần, các giống cá tự nhiên đã được thay thế bằng các giống lai tạo như cá trắm, cá       

mè, cá rô phi… Trong suốt thời gian dài trước đây, các bàu và trằm không được       

Trang 18

tận dụng để nuôi trồng thuỷ sản Từ sau năm 1975, nhờ sự thành lập các hợp tác       

xã nông nghiệp đã tập hợp được những người lao động có kinh nghiệm nghề ngư       

tạo nên các tổ, nhóm nuôi trồng thuỷ sản Hình thức nuôi trồng thuỷ sản đã có sự       

thay đổi đáng kể Ngoài hình thức nuôi trồng riêng lẻ theo hộ gia đình đã hình       

thành các tổ nhóm Việc thành lập các tổ nhóm nuôi trồng có sự trợ giúp của hợp       

tác xã đã tiến hành khai thác diện tích mặt nước ở các bàu, trằm để mở rộng địa       

bàn Các bàu, trằm nước ngọt: bàu Mỹ Xuyên, trằm Niêm, bàu Sen, bàu Bàng,       

bàu Co, trằm Bàu Lầy, hồ Hoà Mỹ đã được sử dụng một phần để nuôi trồng       

thuỷ sản nước ngọt Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản trong những năm 1975­1993       

trực thuộc sự quản lí của các hợp tác xã nông nghiệp Từ sau năm 1993, với việc       

triển khai nghị định 64CP đã thực hiện giao khoán diện tích ruộng đất, mặt nước       

cho hộ nông dân nên hoạt động nuôi trồng thuỷ sản đã thay đổi Các hộ nông dân       

đã có quyền chủ động phát triển ngành nuôi trồng thuỷ sản Toàn bộ diện tích       

nuôi trồng thuỷ sản hiện nay trên địa bàn huyện đều thuộc về các hộ cá thể Phần       

lớn diện tích các ao hồ, bàu, trằm tự nhiên trong huyện đã được khai thác để phát       

triển nuôi trồng thuỷ sản Diện tích nuôi trồng và sản lượng cá tăng tương đối       

nhanh Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt của huyện năm 2000 là       

35,5ha; năm 2004 là 161,9 ha.   Việc nuôi cá nước ngọt ở Phong Điền bao gồm hai hình thức: Hình thức nuôi cá       

ở ao, hồ, bàu, trằm và hình thức nuôi cá lồng trên sông.  ­  Nuôi cá trong các ao hồ, bàu, trằm  Phong Điền là huyện có thế mạnh về diện tích mặt nước khá rộng lớn       

khoảng 4065 ha bao gồm sông, suối, ao hồ và đầm phá Tính cho đến năm 2004       

chỉ mới sử dụng được 320,11ha để nuôi trồng thuỷ sản Các khu vực nuôi trồng       

thuỷ sản tập trung chủ yếu ở các xã như Phong An 39 ha, Phong Chương 28,9 ha,       

Trang 19

Điền Lộc 28,5 ha, Điền Môn 14,5 ha, Phong Bình 10,7 ha, Phong Xuân 8,3 ha.       

Các xã còn lại chỉ nuôi với quy mô nhỏ dưới 5 ha Diện tích mặt nước chưa được       

sử dụng để nuôi trồng thuỷ sản còn rất lớn, trong đó có nhiều nơi rất thuận lợi       

như các bàu nước ngọt tự nhiên và các hồ thuỷ lợi ở Phong Chương, Phong Mỹ,       

Phong An, Phong Xuân Tổng sản lượng cá nuôi của huyện Phong Điền chưa ổn       

định, có năm đạt 50 tấn nhưng có năm chỉ đạt vài chục tấn.  Để thực hiện việc nuôi cá, người ta chọn các ao, hồ, bàu có nguồn nước ổn       

định Đây là những nơi không bị khô hạn vào mùa khô và ngập lũ vào mùa mưa.       

Công việc đầu tiên là phải nạo vét ao, đắp bờ giữ nước Nguồn cá giống thả vào       

ao có thể đánh bắt từ sông hồ và nguồn cá giống nhân tạo mua từ các nơi khác.       

Nguồn thức ăn cho cá chủ yếu là các loại sản phẩm phụ của sản xuất nông nghiệp       

bao gồm cám gạo, bột bắp, bã sắn, cỏ và một số loại lá cây Một số địa phương       

còn áp dụng mô hình kết hợp chăn nuôi lợn, gia cầm và nuôi cá Người ta xây       

dựng các chuồng nuôi lợn trên các ao cá nhằm tận dụng nguồn phân hữu cơ để       

làm thức ăn cho cá.  Trong những năm gần đây, nhờ sản xuất lương thực phát triển đã cung cấp đủ       

nhu cầu lương thực nên một số ruộng lúa nước có năng suất thấp đã được chuyển       

sang nuôi cá Tổng diện tích ruộng nước đã chuyển sang nuôi cá trên địa bàn       

huyện đến năm 2003 là 20,8ha (Phong Chương 5ha, Phong Bình 1,8ha; Điền Hải       

14ha) Việc nuôi cá ở phần diện tích này không ổn định, vào thời kì mùa khô       

(khoảng từ tháng 5 đến tháng 8) đã làm cho một số ruộng bị khô cạn.  ­  Hình thức nuôi cá bằng lồng  Hình thành chủ yếu ở các làng ven  sông Ô Lâu và sông Bồ thuộc các xã       

Phong Hoà, Phong Chương, Phong An Số lồng nuôi cá trên sông Ô Lâu và sông       

Bồ đã có lúc đạt 220 lồng Lồng để nuôi cá có hình dạng giống như một cái hộp       

Trang 20

lớn với kích thước: chiều rộng 2 – 3m, chiều dài khoảng 4 – 5m và chiều cao       

khoảng 1,5 – 2m Vật liệu để làm lồng nuôi cá chủ yếu bằng tre, mây có rất nhiều       

ở trong vùng Để làm lồng nuôi cá người ta chọn những cây tre thẳng, chắc để       

đóng khung lồng theo dạng hình hộp Các bề mặt của hình hộp được làm bởi các       

tấm sáo kết bằng tre Bề mặt phía trên của lồng được làm không cố định, có thể       

đóng hoặc mở được Có hai loại lồng để nuôi cá, loại lồng dày dùng để ương cá       

giống, lồng thưa để nuôi cá thịt Khi tiến hành nuôi cá lồng, người ta đặt lồng       

xuống ở những nơi có dòng chảy yếu và thả cá giống để nuôi Lồng được đặt sao       

cho chiều cao của nó nhô lên khỏi mặt nước khoảng 0,2 – 0,4m và được giữ cố       

định bằng các cọc cắm xuống lòng sông và dây néo Thông thường lồng để nuôi       

cá ở sông có dạng hình hộp chữ nhật có chiều dài theo hướng dòng chảy nhằm       

hạn chế lực cản dòng chảy Địa điểm nuôi cá lồng thuận lợi thường ở hạ lưu có       

dòng chảy chậm và các vực nước ven sông Việc nuôi cá lồng chủ yếu dựa vào       

nguồn thức ăn tự nhiên Nghề nuôi cá lồng là do các hộ gia đình thực hiện, hiện       

nay các tổ chức đã có nhiều hoạt động giúp đỡ nghề này phát triển Các cấp chính       

quyền xã, huyện đã tạo điều kiện cho các hộ ngư dân vay các nguồn vốn ưu đãi       

như vốn xoá đói giảm nghèo, vốn ODA Ngoài ra còn tạo điều kiện để vay vốn       

tín dụng, trợ giúp kĩ thuật, hỗ trợ nguồn giống Sản lượng cá do các lồng nuôi       

cung cấp hàng năm khoảng 20 đến 30 tấn.    Nghề nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt ở Phong Điền chủ yếu vẫn dựa vào       

kinh nghiệm truyền thống Năng suất nuôi cá chưa cao vì chất lượng cá giống và       

nguồn thức ăn còn hạn chế Hiện nay trên địa bàn huyện chưa có các cơ sở sản       

xuất cá giống, nguồn giống phải mua từ các địa phương khác ngoài huyện và dựa       

vào tự nhiên Việc nuôi thuỷ sản nước ngọt chịu ảnh hưởng rất lớn bởi chế độ khí       

hậu, thời tiết Ở Phong Điền, vào khoảng tháng 10, 11 có hiện tượng mưa tập       

Ngày đăng: 25/12/2014, 20:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Báo cáo “ Điều tra hiện trạng nuôi xen ghép một số đối tượng thủy sản có                                   giá trị kinh tế ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2013” của                               nhóm sinh viên khoa Thủy sản   Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra hiện trạng nuôi xen ghép một số đối tượng thủy sản có       giá trị kinh tế ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2013
3. Tôn Thất Chất. Bài giảng Kỹ thuật sản xuất giống và nuôi giáp xác, 2009 4. Tôn Thất Chất.       Báo cáo điều tra tình hình nuôi trồng thuỷ sản tại Thừa                        Thiên Huế, 2009.   Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Kỹ thuật sản xuất giống và nuôi giáp xác
Tác giả: Tôn Thất Chất
Năm: 2009
5. Đào Trọng Nghĩa, khóa luận thạc sĩ: “Thử nghiệm mô hình nuôi xen ghép                             một số đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế tại huyện Phú vang Tỉnh Thừa                                   Thiên Huế”  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm mô hình nuôi xen ghép một số đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế tại huyện Phú vang Tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả: Đào Trọng Nghĩa
1. Báo cáo tổng kết sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản 6 tháng đầu                               năm 2014 của các xã: Phong An, Điền Lộc, Điền Hải.  Khác
6. Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa                           Thiên Huế.       Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Bản  đồ vị trí địa lý huyện Phong Điền – Thừa Thiên Huế  1.3. Vị trí địa lý huyện Phú Vang – Thừa Thiên Huế: - ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG NUÔI XEN GHÉP Ở HUYỆN PHÚ VÀNG VÀ PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ NĂM 2013
Hình 1  Bản  đồ vị trí địa lý huyện Phong Điền – Thừa Thiên Huế  1.3. Vị trí địa lý huyện Phú Vang – Thừa Thiên Huế: (Trang 10)
Hình 2: Bản  đồ vị trí địa lý huyện Phú Vang – Thừa Thiên Huế - ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG NUÔI XEN GHÉP Ở HUYỆN PHÚ VÀNG VÀ PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ NĂM 2013
Hình 2  Bản  đồ vị trí địa lý huyện Phú Vang – Thừa Thiên Huế (Trang 11)
Bảng hỏi - ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG NUÔI XEN GHÉP Ở HUYỆN PHÚ VÀNG VÀ PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ NĂM 2013
Bảng h ỏi (Trang 28)
4.2. Hình thức, mật độ, mùa vụ nuôi - ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG NUÔI XEN GHÉP Ở HUYỆN PHÚ VÀNG VÀ PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ NĂM 2013
4.2. Hình thức, mật độ, mùa vụ nuôi (Trang 30)
Bảng 1: Mật độ nuôi các đối tượng xen ghép điều tra  tại một số xã của huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế  Tùy từng mô hình nuôi mà người dân có hình thức nuôi khác nhau, ở huyện Phong                   Điền chủ yếu người dân nuôi theo hình thức quảng canh  - ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG NUÔI XEN GHÉP Ở HUYỆN PHÚ VÀNG VÀ PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ NĂM 2013
Bảng 1  Mật độ nuôi các đối tượng xen ghép điều tra  tại một số xã của huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế  Tùy từng mô hình nuôi mà người dân có hình thức nuôi khác nhau, ở huyện Phong                   Điền chủ yếu người dân nuôi theo hình thức quảng canh (Trang 31)
Bảng 7: Tỷ lệ % số hộ điều tra thực hiện qui trình kỹ thuật cải tạo ao ở huyện - ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG NUÔI XEN GHÉP Ở HUYỆN PHÚ VÀNG VÀ PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ NĂM 2013
Bảng 7  Tỷ lệ % số hộ điều tra thực hiện qui trình kỹ thuật cải tạo ao ở huyện (Trang 33)
Bảng 8: Nguồn nước cấp và chất lượng nước các xã điều tra thuộc huyện Phong - ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG NUÔI XEN GHÉP Ở HUYỆN PHÚ VÀNG VÀ PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ NĂM 2013
Bảng 8  Nguồn nước cấp và chất lượng nước các xã điều tra thuộc huyện Phong (Trang 34)
Hình 9: Các loại thức ăn được sử dụng trong quá trình nuôi xen ghép ở các - ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG NUÔI XEN GHÉP Ở HUYỆN PHÚ VÀNG VÀ PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ NĂM 2013
Hình 9  Các loại thức ăn được sử dụng trong quá trình nuôi xen ghép ở các (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w