1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tóm tắt luận án tiến sĩ nông nghiệp nghiên cứu nguyên liệu tạo bầu ươm và quản lý dinh dưỡng khoáng đối với cây giống trong bầu

14 329 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 469,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Xác định các mối quan hệ và mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố tự nhiên, môi trường, cấu tạo chà đến sự tập trung của cá tại chà cố định sử dụng trong nghề vây xa bờ tỉnh Bình Thuận..

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LƯƠNG THANH SƠN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ TẬP TRUNG CỦA CÁ TẠI CHÀ CỐ ĐỊNH

SỬ DỤNG TRONG NGHỀ VÂY XA BỜ

TỈNH BÌNH THUẬN

Chuyên ngành: Khai thác thuỷ sản

Mã số: 62.62.80.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT

Nha Trang – Năm 2008

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Người hướng dẫn khoa học:

1 TS HOÀNG HOA HỒNG

2 PGS.TS NGUYỄN VĂN ĐỘNG

Phản biện 1: TS Hồ Thọ

Cơ quan công tác: Bộ Thuỷ sản

Phản biện 2: TS Nguyễn Văn Lục

Cơ quan công tác: Viện Hải dương học Nha Trang

Phản biện 3: TS Nguyễn Viết Vĩnh

Cơ quan công tác: Trung tâm Bảo tồn nguồn lợi thuỷ sản

Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước

họp tại Trường Đại học Nha Trang vào lúc:

08 giờ, ngày 26 tháng 7 năm 2008

Có thể tìm hiểu luận án tại:

1 Thư viện Trường đại học Nha Trang

2 Thư viện Quốc gia

CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN

1 Lương Thanh Sơn (2001), Nghiên cứu biện pháp nâng cao hiệu quả thả chà tập trung cá tại Bình Thuận, Đề tài

cấp tỉnh Bình Thuận

2 Lương Thanh Sơn (2002), “Cơ sở sinh học của nghề khai thác cá bằng thả chà ở vùng nước ven bờ tỉnh Bình Thuận”, Báo cáo Hội nghị khoa học

Biển Đông

3 Lương Thanh Sơn (2003), Khảo sát điều chỉnh quy hoạch vùng chà tỉnh Bình Thuận đến năm 2010,

Báo cáo đề án của tỉnh Bình Thuận

4 Lương Thanh Sơn (2006), “Phát triển bền vững nghề chà tại Bình Thuận”, Tạp chí Thông tin Khoa học

Công nghệ và Kinh tế Thuỷ sản, Trung tâm Tin học Bộ Thuỷ sản, Số 5/2006

5 Lương Thanh Sơn (2006), “Nghiên cứu xác định sự phân bố, biến động vùng chà tỉnh Bình Thuận”,

Tạp chí Khoa học công nghệ Thuỷ sản, Trường Đại học Thuỷ sản, Số 3/2006

6 Lương Thanh Sơn (2006), “Đánh giá ảnh hưởng của động thực vật phù du đến sự tập trung của cá quanh chà tại vùng biển Bình Thuận”, Tạp chí

Khoa học công nghệ Thuỷ sản, Trường Đại học Thuỷ sản, số 3/2006

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận án:

Chà là một trong những công cụ quan trọng trợ giúp đắc lực cho nghề vây tập trung được các đàn cá nổi, giảm bớt thời gian, chi phí đi lại tìm kiếm đàn cá Việc nghiên cứu ứng dụng chà trong nghề vây đã được nhiều nước trên thế giới triển khai và thu được nhiều kết quả khả quan, có nước đã thật sự tạo được bước ngoặc trong lịch sử phát triển nghề cá của mình Đối với Việt Nam, chà đã được ngư dân ứng dụng vào khai thác cá từ khá lâu và liên tục tồn tại cho đến ngày nay Đặc biệt đối với các thuyền khai thác nghề vây của tỉnh Bình Thuận, chà sử dụng rất phổ biến và là công cụ không thể thiếu được nhằm nâng cao hiệu quả khai thác trên biển Tại tỉnh Bình Thuận, sản lượng khai thác của nghề vây hàng năm đạt từ 45.000 – 60.000 tấn, chiếm khoảng (30 ÷ 40) % tổng sản lượng khai thác hải sản toàn tỉnh Đối tượng khai thác của nghề vây chủ yếu là các loài cá nổi như: Nục, Bạc má, Ngân, Trích, Chỉ vàng,

Mặc dù chà có tầm quan trọng và được ngư dân sử dụng trong thời gian dài để khai thác cá, nhưng cho đến nay, những hiểu biết về sử dụng chà trong khai thác cá hầu hết đều dựa vào tập quán, kinh nghiệm, thói quen của từng cá nhân trong quá trình đánh bắt nên trong thực tế có nhiều quan điểm rất khác nhau về sử dụng chà Hàng năm, tại vùng biển của tỉnh Bình Thuận đã có một số lượng lớn chà thả ra nhưng hiệu quả tập trung cá kém, gây lãng phí thời gian, công sức, tiền của cho việc thả chà và khai thác cá Chính vì vậy việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự tập trung của cá tại chà cố định là đòi hỏi bức thiết của thực tiễn sản xuất và của giới khoa học nghề cá

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Trang 4

- Xác định các mối quan hệ và mức độ ảnh hưởng của một số

yếu tố tự nhiên, môi trường, cấu tạo chà đến sự tập trung của cá tại

chà cố định sử dụng trong nghề vây xa bờ tỉnh Bình Thuận

- Đề xuất những giải pháp xác định vị trí thả chà và thiết lập

cấu tạo chà thích hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng chà trong nghề

vây xa bờ tỉnh Bình Thuận

3 Đối tượng nghiên cứu:

Một số các yếu tố về điều kiện tự nhiên, môi trường vùng biển

và đặc điểm cấu trúc chà (nhiệt độ nước biển, tốc độ dòng chảy, độ

sâu, chất đáy, địa hình đáy, động thực vật phù du,vật liệu chà, số

lượng tàu dừa, thời gian sử dụng vị trí thả chà, mức độ bổ sung

chà., ) có quan hệ với sự tập trung của các đối tượng cá nổi nhỏ

khai thác tại chà cố định (cá Nục, Chỉ vàng, Bạc má, Chim, )

4 Phạm vi nghiên cứu:

- Vùng biển thả chà tỉnh Bình Thuận có độ sâu từ (18- 80) m

- Chà cố định sử dụng trong nghề vây

5 Bố cục của luận án:

Luận án được trình bày trong 130 trang, 28 bảng số liệu và

60 hình vẽ đồ thị Ngoài phần mở đầu 4 trang và kết luận 3 trang,

luận án được bố cục thành 4 chương: Chương 1: Tổng quan (36

trang); Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu (16 trang);

Chương 3: Phân tích, xác định yếu tố nghiên cứu và khảo sát số liệu

(29 trang); Chương 4: Đánh giá tác động của các yếu tố ảnh hưởng

đến sự tập trung của cá tại chà (39 trang) Ngoài ra, luận án còn có

phần phụ lục Luận án sử dụng 70 tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt

và tiếng Anh

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án:

2.3 Mở rộng các kết quả ứng dụng phương pháp, công nghệ

mới như hệ thống thông tin địa lý (GIS), phân tích ảnh viễn thám, trong nghiên cứu về môi trường, nguồn lợi, quản lý, phát triển nghề khai thác cá có sử dụng chà tại Bình Thuận và các vùng biển nước ta có điều kiện tương tự

Trang 5

tại Bình Thuận, tạo cơ sở khoa học để nâng cao hiệu quả thả chà khai

thác cá trong thực tiễn sản xuất của nghề vây xa bờ tỉnh Bình Thuận

1.5 Đã xác định được mô hình quan hệ giữa sản lượng cá

khai thác tại chà vào chính vụ phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt

độ nước biển tầng mặt, động vật phù du và số lượng tàu dừa

làm chà: log Y = 4,522 – 1,153 log X 2 + 0,185 log X 7 + 0,075 log

X 8 (Với: R2 = 0,857; 5,5 tấn/tháng ≤ Y ≤ 8,6 tấn/tháng; 25,2 0C ≤

X2 ≤ 27,5 0C ; 37,3 mg/m3 ≤ X7 ≤ 75,6 mg/m3; 150 tàu dừa ≤ X8 ≤

650 tàu dừa ); mô hình quan hệ giữa sản lượng cá khai thác tại

chà vào đầu vụ phụ thuộc chủ yếu vào động vật phù du, số

lượng tàu dừa và thời gian sử dụng vị trí thả chà: log Y = -

4,522 + 0,2log X 7 + 0,29 log X 8 + 0,08 log X 10 (Với: R2 = 0,67; 2

tấn/tháng ≤ Y ≤ 5,4 tấn/tháng; 38,1 mg/m3 ≤ X7 ≤ 72,8 mg/m3; 150

tàu dừa ≤ X8 ≤ 600 tàu dừa; 1 năm ≤ X10 ≤ 14 năm )

1.6 Đã đề xuất ý kiến để nâng cao hiệu quả thả chà khai

thác cá và phục vụ công tác quy hoạch phát triển nghề chà tại vùng

biển Bình Thuận

2 Khuyến nghị:

2.1 Định kỳ điều tra khảo sát bổ sung, đánh giá biến động các

mối quan hệ giữa yếu tố môi trường với đặc điểm cấu trúc chà và sự

tập trung của cá tại chà cố định sử dụng ở vùng biển tỉnh Bình

Thuận

2.2 Mở rộng nghiên cứu sự tương quan giữa các yếu tố sinh

học, vật lý, hoá học tại vùng biển thả chà khai thác cá của Bình

Thuận và điều kiện kinh tế xã hội của địa phương nhằm xác định kế

hoạch phát triển nghề khai thác cá có sử dụng chà một cách hợp lý,

có cơ sở khoa học, đảm bảo hiệu quả kinh tế và bền vững về nguồn

lợi

- Luận án đã khảo sát tương đối toàn diện, đồng bộ mối quan

hệ các yếu tố môi trường, cấu trúc chà đến sự tập trung của cá ở vùng đặt chà cố định sử dụng trong nghề lưới vây xa bờ tỉnh Bình Thuận

- Trên cơ sở kết quả điều tra, khảo sát, bằng phương pháp phân tích logic thông tin và phương pháp thống kê toán học, luận án đã xác định được mức độ và tính quy luật tác động của 11 yếu tố môi trường, cấu trúc chà đến sự tập trung của cá tại chà cố định

- Luận án đã đề xuất các giải pháp ứng dụng kết quả nghiên cứu vào nâng cao hiệu quả của nghề lưới vây kết hợp chà cố định ở vùng biển tỉnh Bình Thuận, đồng thời mở ra khả năng ứng dụng vào các vùng biển nước ta có điều kiện môi trường và nghề vây sử dụng chà tương tự

Chương 1: TỔNG QUAN

1.1 Tình hình nghiên cứu, sử dụng chà trên thế giới:

Từ lâu, chà đã được ngư dân nhiều nước trên thế giới sử dụng

để khai thác cá, trong đó nhiều nhất là các nước trong khu vực Đông Nam Á và đã mang lại hiệu quả thiết thực

Đến những năm 1970, khi nghề lưới vây phát triển, những kiểu chà truyền thống đã dần được thay thế bằng các kiểu chà nổi khác nhau để khai thác các loài cá nổi có kích thước lớn sống vùng khơi như cá Ngừ, cá Thu Hiện nay, phần lớn cá ngừ của thế giới khai thác được nhờ sử dụng chà Những kiểu chà hiện đại có thể đặt ở độ sâu trên 2000 m và thời gian tồn tại có thể lên đến 5 năm

Một số quốc gia có nghiên cứu sử dụng chà nhiều là: Mỹ, Nhật, Úc, Pô-li-nê-xia thuộc Pháp, Phi-líp-pin, Xri-Lan-ca, In-đô-nê-xia , Những nghiên cứu của họ về chà được thực hiện chủ yếu thông

Trang 6

qua việc thử nghiệm các kiểu chà trong thực tiễn sản xuất để dần tìm

ra kiểu chà phù hợp

Các hoạt động nghiên cứu về cơ chế tác động của các yếu tố

môi trường ngoài và đặc điểm cấu trúc chà trong mối quan hệ với tập

tính sinh lý của cá ít được đề cập

Tại Nhật và In-đô-nê-xia, đã triển khai một số khảo sát, nghiên

cứu về ảnh hưởng của các yếu tố như: thành phần tỷ lệ các loài cá bị

hấp dẫn đối với chà, ảnh hưởng của độ sâu và khoảng cách từ vị trí

thả chà đến bờ, kích cỡ loài cá bị hấp dẫn, bán kính hấp dẫn cá của

các loại chà, ảnh hưởng của quy mô chà và thời điểm khác nhau

trong ngày, các thông số về vật liệu và độ bền sử dụng của từng vật

liệu sử dụng làm chà, Tuy nhiên kết quả phản ánh cũng khác nhau,

tuỳ thuộc vào điều kiện của môi trường và đối tượng khai thác cụ thể

ở từng vùng biển

1.2 Tình hình nghiên cứu, sử dụng chà ở Việt Nam và tỉnh Bình

Thuận:

Ở Việt Nam, chà cũng đã được ngư dân các địa phương: Bình

Thuận, Bà Rịa Vũng Tàu, Tiền Giang, Bến Tre, Nghệ An, Ninh

Thuận, sử dụng để khai thác cá cách đây khá lâu Trong đó, Bình

Thuận và Bà Rịa Vũng Tàu là 2 địa phương có ngư dân sử dụng chà

để khai thác cá nhiều nhất

Chà sử dụng trong khai thác cá ở Việt Nam thuộc kiểu chà cố

định dạng dây, được làm từ các vật liệu tự nhiên sẵn có như: Tre, đá,

lá dừa, thả ở vùng nước nông gần bờ để thu hút các loài cá nổi có

kích thước nhỏ: Cá Nục, Chỉ vàng, Ngân, Bạc má,

Các nghề khai thác sử dụng chà bao gồm: Nghề vây rút chì,

câu, mành

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1 Kết luận:

1.1 Hiện tượng cá tập trung tại chà là kết quả của một quá

trình tác động tổng hợp của nhiều yếu tố tự nhiên môi trường, đặc điểm cấu trúc chà tạo nên trên một cơ chế sinh lý thích nghi của cơ thể cá với môi trường Việc nghiên cứu xác định các mối quan hệ và mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến sự tập trung của các tại chà có ý nghĩa khoa học và thực tiễn để nâng cao hiệu quả sử dụng chà trong khai thác cá

1.2 Luận án đã phân tích xác định được 11 yếu tố điều kiện tự

nhiên môi trường và đặc điểm cấu tạo chà để đi sâu khảo sát toàn diện các mối quan hệ của chúng với sự tập trung của cá tại chà cố định sử dụng trong nghề vây xa bờ tỉnh Bình Thuận Mười một yếu

tố đó là: Độ sâu thả chà, nhiệt độ nước biển tầng mặt, dòng chảy tầng mặt, địa hình đáy biển, chất đáy, thực vật phù du, động vật phù du,

số lượng tàu dừa, mức độ bổ sung chà, thời gian sử dụng vị trí thả chà, vật liệu làm chà

1.3 Kết quả nghiên cứu cho thấy, cả 11 yếu tố nghiên cứu đều

có ảnh hưởng đến sự tập trung của cá tại chà cố định sử dụng trong nghề vây xa bờ tỉnh Bình Thuận Trong phạm vi nghiên cứu đó, 8 yếu tố có tác động mạnh cần quan tâm là: Nhiệt độ nước biển tầng mặt, động vật phù du, địa hình đáy, chất đáy, vật liệu làm chà, mức

độ bổ sung chà, số lượng tàu dừa và thời gian sử dụng vị trí thả chà

Ba yếu tố có mức độ tác động yếu là: Độ sâu thả chà, dòng chảy tầng mặt và thực vật phù du

1.4 Đã xác định tính quy luật tác động của cả 11 yếu tố nghiên

cứu đến sự tập trung của cá tại chà cố định sử dụng trong nghề vây

Trang 7

Trong đĩ nên chọn các giá trị: Nhiệt độ nước biển tầng mặt

25,20C≤X2≤26,590C; khối lượng động vật phù du 60 ≤X7≤75,6

mg/m3; số lượng tàu dừa 250≤X8≤600 tàu dừa

Vào đầu vụ:

log Y = - 4,522 + 0,2log X 7 + 0,29 log X 8 + 0,08 log X 10

Trong đĩ nên chọn các giá trị: Khối lượng động vật phù du 60

≤X7≤75,6 mg/m3; số lượng tàu dừa 250≤X8≤600 tàu dừa; thời gian

sử dụng vị trí thả chà 5 ≤ X10 ≤ 14 năm

4.5.2 Cải tiến vật liệu làm chà:

Yêu cầu của vật liệu làm chà là phải sẵn cĩ, chi phí thấp, chịu

được điều kiện sĩng giĩ của mơi trường biển và phù hợp với tập tính

sinh lý của cá biển Hạn chế lớn của việc sử dụng chà hiện nay là

phải thay thế, bổ sung chà nhiều lần trong năm do sự mục nát, hư

hỏng của lá dừa dùng làm bộ phận quyến rũ cá của chà Chính vì vậy

cần thiết cĩ những nghiên cứu thử nghiệm về sử dụng vật liệu mới

với đặc điểm hình dáng, màu sắc phù hợp để thay thế việc sử dụng lá

dừa làm bộ phận quyến rũ cá của chà

- Vật liệu đề xuất nghiên cứu thử nghiệm: Cao su hoặc nhựa

tổng hợp

- Đặc điểm cấu tạo hình dáng: Tương tự như tàu dừa, trên đĩ

cĩ tạo sẵn một số đối tượng cá giả thường tập trung quanh chà như:

Cá Nục, Chỉ vàng, Bạc má, Chim,

- Màu sắc: Cĩ màu sắc giống hoặc gần giống với màu sắc tự

nhiên của lá dừa và màu da của các đối tượng cá Nục, Chỉ vàng, Bạc

má, Chim

Cho đến nay, việc nghiên cứu cải tiến sử dụng chà trong khai thác cá tại Việt Nam được thực hiện chủ yếu bởi ngư dân Từ những năm 1998 trở lại đây cĩ một vài nghiên cứu của Trường đại học Thuỷ sản Nha Trang, Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phịng và Sở Thuỷ sản Bình Thuận về sử dụng chà nổi để khai thác cá ngừ Tuy nhiên kết quả cịn hạn chế do tình trạng mất chà xảy ra khá phổ biến Bình Thuận được xem là địa phương tiêu biểu về sử dụng chà trong khai thác cá của Việt Nam Hầu hết các thuyền nghề lưới vây của tỉnh đều cĩ sử dụng chà để khai thác cá Độ sâu vùng biển thả chà từ 15 đến 80 m dọc theo ven biển của tỉnh Thành phần đối tượng khai thác gồm: Cá Nục chiếm khoảng 50 %, cá Chỉ vàng chiếm 11

%, cá Bạc Má 10 %, cá Ngân 10 %, cá Chim 3 %, Mực 3 %, các lồi khác 13 %

1.3 Các đặc điểm cơ bản về tập tính sinh học và mối quan hệ giữa cá với mơi trường:

Các lồi cá nổi nhỏ chính tập trung quanh chà cố định tại vùng biển Bình Thuận là cá Nục thuơn (Decapterus lajang) và cá Nục sị (Decaptertus maruadsi); cá Chỉ vàng (Selaroides leptolepis); cá Bạc

má (Rastrelliger kanagurta); cá Chim đen (Formio niger)

11o N

11o

10o 40'

10o 20'

10o 00'

9o 40' N

107 40'E o 108 00'o 108 20'o 108 40'o 109 00'Eo

M Cà Ná Cà Ná M.Sừng Trâu Vĩnh Hảo Tuy Phong Hòn Lao

M La Gàn Phan Rí Mũi Gió Mũi Rom Mũi Né PHAN THIẾT

M Kê Gà Hàm Tân

Đảo Phú Quý

Kilômét

BIỂN ĐÔNG

TỈNH BÌNH THUẬN

Bạch Hổ - Rồng

Mỏ Hồng Ngọc

Mỏ Rạng Đông Mỏ Sư Tử Đen

Hình 1.3: Phân bố 555 vị trí đặt chà tại vùng biển Bình Thuận năm 2003

Trang 8

Chúng có đặc tính chung là thuộc loài cá nổi nhỏ, sống ở vùng

gần bờ, có tính tạo đàn, di cư và hướng quang Thích tập trung ở nơi

có giá thể trôi nổi

Theo các tài liệu nghiên cứu về hải dương học nghề cá thì các

yếu tố của điều kiện môi trường bên ngoài như: Nhiệt độ nước biển,

ánh sáng, hải lưu, sóng và thuỷ triều, nồng độ muối, nồng độ ôxy hoà

tan, địa hình và địa chất đáy biển, sinh vật phù du, sinh vật đáy, có

ảnh hưởng đến tập tính sinh lý, sinh thái của cá biển, ngay cả trong

quá trình phát triển của trứng và ấu trùng

1.4 Một số vấn đề tồn tại cần nghiên cứu trong sử dụng chà khai

thác cá:

- Bên cạnh việc nghiên cứu phát triển kiểu chà nổi đánh bắt

các đối tượng cá nổi lớn ở vùng biển khơi, cần quan tâm nghiên cứu

nâng cao hiệu quả tập trung cá của kiểu chà truyền thống ven bờ để

khai thác các loài cá nổi nhỏ

- Nghiên cứu tổng quát, đồng bộ các yếu tố môi trường và

đặc điểm cấu trúc chà trong mối quan hệ với tập tính sinh lý của cá

- Xác định yếu tố ảnh hưởng chủ yếu và tính quy luật của sự

tác động đến hiệu quả tập trung cá

- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng chà phục vụ

cho sản xuất, quản lý và phát triển nghề cá

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nội dung nghiên cứu:

- Nghiên cứu tình hình sử dụng chà trên thế giới và Việt Nam

4.5 Đề xuất ý kiến nâng cao hiệu quả thả chà cố định khai thác

cá tại vùng biển Bình Thuận:

4.5.1 Xác định thuộc tính phù hợp của các yếu tố ảnh hưởng:

- Để xác định vị trí thả chà và cấu tạo chà thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chà trong khai thác cá nên chọn các thuộc tính của các yếu tố có mức độ tác động mạnh như sau:

Vật liệu làm chà: Sử dụng vật liệu tre, đá, lá dừa kết hợp với các loại vật liệu khác như bụi me, bụi dứa, xác tàu cũ, để làm chà

Mức độ bổ sung chà: Bổ sung chà 1 ÷2 lần/tháng

Số lượng tàu dừa: Sử dụng từ 250 ÷ 600 tàu dừa/chà

Thời gian sử dụng vị trí thả chà: Sử dụng vị trí thả chà từ

5÷14 năm

Chất đáy nơi thả chà: Chọn nơi thả chà có chất đáy là sỏi lẫn

vỏ sò hoặc cát bùn

Địa hình đáy nơi thả chà: Chọn nơi thả chà có địa hình đáy nghiêng

Động vật phù du: Chọn nơi thả chà có khối lượng động vật

phù du từ 60÷75,6 mg/m3

Nhiệt độ nước biển tầng mặt: Chọn nơi thả chà có nhiệt độ

nước biển tầng mặt từ 25,2÷ 26,59 0C

Độ sâu thả chà: Vào đầu vụ: Sử dụng chà ở độ sâu từ 30÷77

m Vào chính vụ:Sử dụng chà ở độ sâu từ 18÷30 m

- Trong thời gian chính vụ và đầu vụ, sử dụng mô hình quan hệ

để xác định vị trí thả chà và cấu tạo chà thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác cá tại chà:

Trong thời gian chính vụ:

log Y = 4,522 – 1,153 log X 2 + 0,185 log X 7 + 0,075 log X 8

Trang 9

nước biển tầng mặt (X2); số lượng tàu dừa (X8); thời gian sử

dụng vị trí thả chà (X10)

Kết quả xây dựng mơ hình quan hệ vào chính vụ và đầu vụ

như sau:

-Trong thời gian chính vụ:

log Y = 4,522 – 1,153 log X 2 + 0,185 log X 7 + 0,075 log X 8

(Trong đĩ: R2 = 0,857; Khoảng dao động của giá trị tính tốn:

5,5 tấn/tháng ≤ Y ≤ 8,6 tấn/tháng; 25,2 0C ≤ X2 ≤ 27,5 0C; 37,3

mg/m3 ≤ X7 ≤ 75,6 mg/m3; 150 tàu dừa ≤ X8 ≤ 650 tàu dừa)

- Vào đầu vụ:

log Y = - 1,59 + 0,2log X 7 + 0,29 log X 8 + 0,08 log X 10

(Trong đĩ: R2 = 0,67; Khoảng dao động của giá trị tính tốn:

2 tấn/tháng ≤ Y ≤ 5,4 tấn/tháng; 38,1 mg/m3 ≤ X7 ≤ 72,8 mg/m3;

150 tàu dừa ≤ X8 ≤ 600 tàu dừa; 1 năm ≤ X10 ≤ 14 năm )

- Phân tích, xác định và điều tra khảo sát một số yếu tố liên quan đến sự tập trung của cá tại chà sử dụng trong nghề vây ở vùng biển Bình Thuận

- Phân tích đánh giá tổng hợp các mối quan hệ và mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng

- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng chà trong khai thác cá

2.2 Tài liệu nghiên cứu:

- Các báo cáo khoa học của các nước tham dự hội thảo về chà

do Uỷ ban nghề cá Thái Bình dương và Ấn Độ dương tổ chức vào tháng 5 –1990

- Các tài liệu nghiên cứu về hải dương học nghề cá

- Các cơng trình nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, mơi trường nguồn lợi đã triển khai tại vùng biển Bình Thuận

- Các báo cáo về chương trình chà ở Bình Thuận

2.3 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, xác định

những yếu tố ảnh hưởng đưa vào khảo sát nghiên cứu

0

2

4

6

8

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20

Mẫu chà khảo sát

Sản lượng tính tốn theo mơ hình dự báo Sản lượng thực tế khảo sát

Hình 4.16: So sánh phân bố giá trị sản lượng thực tế và dự đốn của mơ hình trong thời gian chính vụ

0

1

2

3

4

5

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20

Mẫu chà khảo sát

Sản lượng tính tốn theo mơ hình dự báo Sản lượng thực tế khảo sát

Hình 4.17: So sánh phân bố giá trị sản lượng thực tế và dự đốn của mơ hình vào đầu vụ

M Cà Ná Cà Ná M.Sừng Trâu Vĩnh Hảo Tuy Phong Hòn Lao

M La Gàn Phan Rí

Mũi Gió Mũi Rom Mũi Né PHAN THIẾT

M Kê Gà Hàm Tân

Đảo Phú Quý

11o 20' N

11o 00'

10o 40'

10o 20'

10o 00'

9o 40' N

Kilômét

TỈNH BÌNH THUẬN

sát mơi trường vào tháng 7/2000

Trang 10

- Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Xác định các thông số:

Vật liệu quy mô của chà, thời gian sử dụng vị trí thả chà, mức độ bổ

sung chà, toạ độ vị trí thả chà, sản lượng cá khai thác tại chà trong

tháng điều tra,

- Phương pháp khảo sát, đo đạc thực tế: Xác định các thông

số: Nhiệt độ, dòng chảy, chất đáy, độ sâu, động thực vật phù du,

Các thiết bị, phương tiện, quy trình khảo sát, đo đạc thực tế

được thực hiện theo quy phạm điều tra môi trường hải dương học

- Phương pháp xử lý số liệu: Dùng phương pháp phân tích

logic thông tin và các phương pháp thông kê toán học để xác định

mức độ và tính quy luật tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến sự

tập trung của cá tại chà cố định

Chương 3: PHÂN TÍCH, XÁC ĐỊNH YẾU TỐ

NGHIÊN CỨU VÀ KHẢO SÁT SỐ LIỆU

3.1 Phân tích, xác định các yếu tố nghiên cứu:

Qua phân tích, luận án xác định 11 yếu tố đưa vào

khảo sát nghiên cứu chi tiết ảnh hưởng đến sự tập trung của

cá tại chà cố định gồm:

a/ Độ sâu thả chà: Đặc trưng cho sự thay đổi các tính chất của

môi trường vùng biển theo độ sâu và sự thích nghi của các loài cá

theo sự thay đổi của môi trường biển

b/ Nhiệt độ nước biển tầng mặt: Đặc trưng cho sự thay đổi của

nhiệt độ nước biển tầng mặt

c/ Dòng chảy tầng mặt: Đặc trưng cho sự thay đổi của các yếu

tố hải lưu, gió và thủy triều

- Vào đầu vụ:

Trong khoảng giá trị nhiệt độ nước biển tầng mặt khảo sát từ 27,5-29,5 0C, tác động của nhiệt độ là rất yếu (I(v,x) = 0,098; r = 0,239) và xảy ra theo xu hướng: Nơi đặt chà có nhiệt độ nước biển tầng mặt cao hơn, khả năng sẽ cho sản lượng cá khai thác tại chà cao

hơn

Ở nơi đặt chà có nhiệt độ nước biển tầng mặt từ 27,5- 28,5 0C, sản lượng cá khai thác tại chà đạt từ 2-3 tấn/tháng;

Ở nơi đặt chà có nhiệt độ nước biển tầng mặt từ 28,51- 28,8

0C, sản lượng cá khai thác tại chà đạt từ 2,6-3 tấn/tháng;

Ở nơi đặt chà có nhiệt độ nước biển tầng mặt từ 28,81- 29,5

0C, sản lượng cá khai thác tại chà đạt từ 3,1-5,4 tấn/tháng;

* Độ sâu thả chà(X 1 ): Mức độ tác động của yếu tố độ sâu

vào chính vụ và đầu vụ là rất yếu và không đảm bảo độ tin cậy ở mức 95 % vào thời gian chính vụ

* Tốc độ dòng chảy tầng mặt (X 3 ): Mức độ tác động của

yếu tố dòng chảy vào chính vụ và đầu vụ là rất yếu và không đảm bảo độ tin cậy ở mức 95 % vào thời gian chính vụ

* Thực vật phù du (X 6 ): Mức độ tác động của yếu tố thực

vật phù du vào chính vụ và đầu vụ rất yếu Tính quy luật tác động là: Trong khoảng giá trị khối lượng thực vật phù du khảo sát từ 7,5-40,9 ml/l, chà có khối lượng thực vật phù cao hơn, khả năng sẽ cho sản lượng cá khai thác tại chà ít hơn

4.4 Xây dựng mô hình hồi quy:

Dựa trên kết quả phân tích, luận án đưa 4 yếu tố nghiên cứu có mức độ tác động mạnh đến sự tập trung của các tại chà cố định vào xây dựng mô hình quan hệ gồm: Động vật phù du (X7); nhiệt độ

Ngày đăng: 25/12/2014, 17:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.16: So sánh phân bố giá  trị sản lượng thực tế và dự đoán   của mô hình  trong thời gian  chính vụ - tóm tắt luận án tiến sĩ nông nghiệp nghiên cứu nguyên liệu tạo bầu ươm và quản lý dinh dưỡng khoáng đối với cây giống trong bầu
Hình 4.16 So sánh phân bố giá trị sản lượng thực tế và dự đoán của mô hình trong thời gian chính vụ (Trang 9)
Hình 4.1: Biểu diễn chỉ số truyền thông tin của các yếu tố đến hiện - tóm tắt luận án tiến sĩ nông nghiệp nghiên cứu nguyên liệu tạo bầu ươm và quản lý dinh dưỡng khoáng đối với cây giống trong bầu
Hình 4.1 Biểu diễn chỉ số truyền thông tin của các yếu tố đến hiện (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm