1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh biến đổi khí hậu ở Việt Nam

125 734 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài Thống kê biến đổi khí hậu sẽ thực hiện các nội dung chính sau: 1. Tổng quan về biến đổi khí hậu. 2. Nghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài và một số nước trên thế giới về hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh biến đổi khí hậu. 3. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh biến đổi khí hậu (theo nhóm chỉ tiêu để phản ánh thực trạng và tác động của BĐKH đối tới các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường). 4. Chuẩn hóa các chỉ tiêu (tên gọi; định nghĩa; phương pháp tính; phạm vi thu thập số liệu; nguồn số liệu; tần xuất thu thập số liệu; v.v... của hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh sự biến đổi khí hậu của Việt Nam). 5. Thu thập số liệu thử nghiệm đối với hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ảnh biến đổi khí hậu đã đề xuất. 6. Lộ trình thực hiện kết quả nghiên cứu.

Trang 1

Tổng cục thống kê

Báo cáo tổng hợp Kết quả nghiên cứu khoa học

đề tài cấp bộ

Đề tài: “nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu

thống kê phản ánh biến đổi khí hậu ở

việt nam”.

Đơn vị chủ trỡ: Viện Khoa học Thống kờ Đơn vị thực hiện: Vụ Thống kờ Xó hội và Mụi trường Chủ nhiệm: ThS Nguyễn Phong

Phú chủ nhiệm: CN Nguyễn Thị Việt Hồng Thư ký khoa học: CN Vũ Thị Thu Thuỷ Thư ký hành chớnh: CN Nguyễn Thanh Tỳ

HÀ NỘI, NĂM 2010

Trang 2

DANH SÁCH NHỮNG CÁ NHÂN THỰC HIỆN CHÍNH

1 ThS Nguyễn Phong, Vụ trưởng Vụ thống kê Xã hội và Môi trường (Chủ nhiệm đề tài);

2 CN Nguyễn Thị Việt Hồng, Trưởng phòng nghiên cứu, Viện Khoa học thống kê (Phó chủ nhiệm đề tài);

3 CN Vũ Thị Thu Thủy, chuyên viên Vụ thống kê Xã hội và Môi trường (Thư ký khoa học đề tài);

4 CN Nguyễn Thanh Tú, chuyên viên Vụ thống kê Xã hội và Môi trường (Thư ký hành chính đề tài);

5 ThS Ngô Doãn Thắng, chuyên viên Vụ thống kê Xã hội và Môi trường;

6 ThS Phạm Xuân Lượng, chuyên viên Vụ thống kê Xã hội và Môi trường;

7 PGS TS Bùi Xuân Thông, Nguyên Phó giám đốc Trung tâm Hải văn, Tổng cục Biển và Hải đảo, Bộ Tài nguyên và Môi trường;

8 PGS TS Trần Thục, Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng thủy văn và Môi trường;

9 TS Nguyễn Văn Thắng, Viện Khoa học khí tượng thuỷ văn và môi trường;

10 KS Ngô Sỹ Giai, Viện Khoa học khí tượng thuỷ văn và môi trường

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

DANH MỤC BẢNG 4

CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

TÓM TẮT 6

MỞ ĐẦU 8

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG XÂY DỰNG HỆ THỐNG THÔNG TIN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 13

1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu 13

1.2 Kinh nghiệm quốc tế 23

1.2.1 Các lĩnh vực nghiên cứu về BĐKH 23

1.2.2 Kinh nghiệm về xây dựng chỉ tiêu về BĐKH của các nước và các tổ chức 26

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM 31

2.1 Cơ sở lý luận xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH ở Việt Nam 32 2.1.1 Một số khái niệm về chỉ tiêu, hệ thống chỉ tiêu thống kê và hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH 32

2.1.2 Sự cần thiết của việc chuẩn hóa các chỉ tiêu thống kê 32

2.1.3 Yêu cầu của việc xây dựng hệ thống khái niệm, phương pháp tính các chỉ tiêu thống kê 37

2.1.4 Nguyên tắc xây dựng một hệ thống chỉ tiêu thống kê 39

2.2 Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng các chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH ở Việt Nam 42

2.2.1 Hiện trạng về số liệu liên quan đến BĐKH ở Việt Nam 42

2.2.2 Yêu cầu thực tế của việc nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH ở Việt Nam 44

CHƯƠNG III: XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM 45

3.1 Nhóm chỉ tiêu về khí tượng thuỷ văn và khí thải hiệu ứng nhà kính 46

3.2 Nhóm chỉ tiêu về hiệu ứng mực nước biển dâng và triều cường 48

3.3 Nhóm chỉ tiêu về hiệu ứng xâm nhập mặn và sa mạc hoá 50

3.4 Nhóm chỉ tiêu về thiệt hại do thiên tai 54

CHƯƠNG IV: XÂY DỰNG BIỂU MẪU VÀ CHUẨN HÓA CÁC CHỈ TIÊU TRONG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ PHẢN ÁNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM 62

4.1 Mẫu biểu thu thập số liệu 62

4.1.1 Yêu cầu của việc xây dựng biểu mẫu báo cáo các chỉ tiêu thống kê 62

4.1.2 Nội dung của việc xây dựng biểu mẫu báo cáo các chỉ tiêu thống kê 63

4.1.3 Kết quả của việc xây dựng biểu mẫu báo 63

4.2 Chuẩn hoá các chỉ tiêu 64

4.2.1 Nội dung chung của việc thực hiện chuẩn hóa các chỉ tiêu thống kê trong lĩnh vực BĐKH 64

4.2.2 Kết quả chuẩn hoá các chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH 65

4.3 Thu thập thử nghiệm và phân tích sơ bộ một số chỉ tiêu thống kê phán ánh BĐKH ở Việt Nam 94

Trang 4

DANH MỤC SẢN PHẨM ĐẠT ĐƢỢC 98 TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC 100

PHỤ LỤC 1: Mẫu biểu thu thập số liệu của các chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu thống

kê phản ánh BĐKH ở Việt Nam 101 PHỤ LỤC 2: Kết quả thu thập và phân tích sơ bộ số liệu khí tượng thủy văn và thiên tai trong hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH ở Việt Nam 113

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Biểu 1: Thay đổi của nhiệt độ và lượng mưa 50 năm qua ở các vùng khí hậu và trung bình cho cả nước (từ năm 1958 đến năm 2007) 17 Biểu 2: Hiện trạng số liệu thống kê về BĐKH ở Việt Nam 42 Biểu 3: Danh sách chỉ tiêu thống kê lĩnh vực khí tượng thuỷ văn và khí thải hiệu ứng nhà kính 47 Biểu 4: Danh sách chỉ tiêu thống kê lĩnh vực hiệu ứng mực nước biển dâng và triều cường 49 Biểu 5: Danh sách chỉ tiêu thống kê lĩnh vực hiệu ứng xâm nhập mặn và sa mạc hoá 53 Biểu 6: Danh sách chỉ tiêu thống kê lĩnh vực thiên tai 55 Biểu 7: Danh sách 42 chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH ở Việt Nam 57 Biểu 8: Danh mục các báo cáo chuyên đề 99

Trang 6

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCĐPCLBTW Ban Chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương

BĐKH Biến đổi khí hậu

DDC Trung tâm phân phối dữ liệu (Data Distribution Centre)

FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc

(Food and Agriculture Organization)

HTCTTKQG Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

IPCC Tổ chức Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (International

Panel on Climate Change) NN-PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

MNBD Mực nước biển dâng

TN-MT Tài nguyên và Môi trường

TCTK Tổng cục Thống kê

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc

(United Nations Educational Scientific and Cultural Organization)

UNFCCC Công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc

(United Nations Framework Convention on Climate Change)

UNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc (United Nations

Development Programme) UNSD Cơ quan thống kê Liên hợp quốc (United nations Statistics

Division)

Trang 7

TÓM TẮT

Đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh biến đổi khí hậu ở Việt Nam” do Thạc sĩ Nguyễn Phong, Vụ trưởng Vụ Thống kê Xã hội và Môi trường, Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì thực hiện là một đề tài nghiên cứu cấp Bộ về lĩnh vực thống kê môi trường

Đề tài này nhằm mục đích cung cấp công cụ phục vụ thu thập các thông tin phán ánh biến đổi khí hậu ở Việt Nam Bám sát mục tiêu và nội dung nghiên cứu của

đề tài, Ban chủ nhiệm đề tài đã đề xuất một hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh biến đổi khí hậu của Việt Nam với tổng số 42 chỉ tiêu thống kê thuộc 4 lĩnh vực Trong số

42 chỉ tiêu này có 21 chỉ tiêu đã và đang được thu thập từ Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia do Thủ tướng Chính phủ ban hành vào tháng 6/2010 và 21 chỉ tiêu được đề xuất bổ sung nhằm phản ánh đầy đủ các thông tin về biến đổi khí hậu thuộc 4 lĩnh vực tại Việt Nam 42 chỉ tiêu thống kê được đề xuất trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh biến đổi khí hậu ở Việt Nam gồm có 12 chỉ tiêu thuộc lĩnh vực khí tượng thủy văn

và khí thải gây hiệu ứng nhà kính, 6 chỉ tiêu phản ánh tình trạng nước biển dâng và triều cường, 11 chỉ tiêu về sa mạc hóa và 11 chỉ tiêu về tình hình thiên tai

Cùng với việc xây dựng các chỉ tiêu thống kê phản ánh biến đổi khí hậu ở Việt Nam đề tài này cũng đã nghiên cứu chuẩn hóa các chỉ tiêu thông qua các thông tin về: Mục đích, ý nghĩa; Khái niệm, nội dung, phương pháp tính; Phân tổ và Nguồn số liệu của mỗi chỉ tiêu Nhóm nghiên cứu đã thu thập và phân tích sơ bộ một số chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu thống kê về biến đổi khí hậu ở Việt Nam trong vòng 5 năm gần đây Đề tài đã đưa ra một số khuyến nghị về lộ trình thực hiện thu thập các số liệu đáp ứng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh biến đổi khí hậu ở Việt Nam, xây dựng cơ sở

dữ liệu về các chỉ tiêu đó với chuỗi số liệu ít nhất là 10 năm và hướng nghiên cứu tiếp theo về chủ đề này

Ngoài phần Mở đầu; Kết luận, kiến nghị và Phụ lục, kết cấu đề tài gồm các phần:

Chương I: Tổng quan về biến đổi khí hậu và kinh nghiệm quốc tế trong xây dụng hệ thống thông tin về biến đổi khí hậu

Trang 8

Chương II: Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Chương III: Xây dựng Hệ thống chỉ tiêu phản ánh biến đổi khí hậu ở Việt Nam Chương IV: Xây dựng biểu mẫu thu thập số liệu và chuẩn hóa các chỉ tiêu trong

hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh biến đổi khí hậu ở Việt Nam” được thực hiện trong vòng 15 tháng, từ tháng 1/2010 đến tháng 3/2011 Kinh phí thực hiện Đề tài do Viện Khoa học Thống kê, Tổng cục Thống kê phê duyệt và phân bổ Tổng kinh phí thực hiện đề tài là 89.996.400 đồng

Trang 9

MỞ ĐẦU

Sự cần thiết của đề tài

Hàng năm, biến đổi khí hậu (BĐKH) cướp đi mạng sống của 300.000 người và ảnh hưởng đến cuộc sống của 300 triệu người trên Trái Đất Ước tính thiệt hại do BĐKH lên tới 125 tỷ USD/năm Dự báo đến năm 2030, BĐKH sẽ làm cho 500.000 người chết mỗi năm, ảnh hưởng đến cuộc sống của 600 triệu người và thiệt hại sẽ vào khoảng 300 tỷ USD mỗi năm (Báo cáo ngày 29/05/2009 của tổ chức Global Humanitarian Forum)

Việt Nam là một trong những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH Theo ước tính của Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), những thiệt hại

mà Việt Nam sẽ phải gánh chịu do ảnh hưởng của BĐKH ước vào khoảng 17 tỷ USD mỗi năm và đẩy 17 triệu người vào tình trạng mất nhà cửa

Kịch bản về BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam đã được Bộ Tài Nguyên

và Môi trường xây dựng và công bố tháng 9 năm 2009 đã chỉ ra rằng khí hậu trên tất

cả các vùng của Việt Nam sẽ có nhiều biến đổi Vào cuối thế kỷ 21 nhiệt độ trung bình năm của nước ta sẽ tăng khoảng 2,3 độ C; tổng lượng mưa năm và lượng mưa mùa tăng trong khi lượng mưa mùa khô lại giảm; mực nước biển dâng khoảng 75 cm so với trung bình thời kỳ 1980-1999

Nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của BĐKH đối với sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới, các tổ chức quốc tế và các Chính phủ đã và đang tích cực hợp tác nhằm đối phó với tình trạng BĐKH, một trong những hoạt động

đó là cung cấp thông tin giúp định hướng đánh giá tác động của BĐKH và xây dựng

kế hoạch hành động ứng phó Tại Việt Nam, Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 12/2008 với mục tiêu chính là đánh giá mức độ tác động của BĐKH và xây dựng kế hoạch ứng phó đối với những tác động đó Do vậy, kết quả của đề tài sẽ góp phần xây dựng và hoàn thiện thống kê chính thức về BĐKH đáp ứng thông tin cho mục tiêu quốc gia về ứng phó BĐKH của Việt Nam

Tại Việt Nam, mặc dù có các nghiên cứu đã gián tiếp đề xuất nhu cầu thông tin

về BĐKH, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề thiết lập hệ thống thông tin đánh giá BĐKH một cách toàn diện và có hệ thống Hậu quả là:

Trang 10

+ Một số số liệu liên quan đến BĐKH là ước tính, có độ tin cậy chưa cao + Số số liệu liên quan đến BĐKH nằm rải rác ở các cơ quan Bộ/ngành mà chưa

có cơ quan làm đầu mối thu thập và tổng hợp, do vậy việc công bố và phổ biến số liệu

về BĐKH giúp cho việc đánh giá chương trình ứng phó, xây dựng chính sách dựa trên bằng chứng gặp khó khăn trong tiếp cận số liệu

+ Các số liệu, các chỉ tiêu thống kê về BĐKH chưa được hệ thống hoá, tiêu chuẩn hoá Do vậy dẫn tới số liệu thống kê về BĐKH chưa phải là những thống kê chính thức

Với những nhu cầu thống kê chính thức về BĐKH và các hạn chế hiện tại về cung cấp thông tin về BĐKH, đề tài này sẽ là điểm khởi đầu phục vụ cho việc xây dựng hệ thống thống kê chính thức về BĐKH ở Việt Nam

Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến BĐKH Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề thiết lập hệ thống thông tin đánh giá biến đổi khí hậu một cách toàn diện và có hệ thống Tại Việt Nam hiện nay chưa xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê chính thức và riêng biệt về BĐKH

Nước ta đã có nhiều chính sách, cam kết liên quan đến việc bảo vệ môi trường cũng như ngăn chặn, khắc phục hậu quả của BĐKH, điển hình như: Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị (Khoá IX) đã ban hành ngày 15/11/2004 “về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước”; Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 8 khoá XI năm 2005; Chỉ thị số 29-CT/TW của Ban Bí thư ban hành ngày 21/01/2009 “về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị”; Quyết định số 158/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 02/12/2008 phê duyệt “Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu”, với 9 nhiệm vụ và giải pháp, từ năm 2009 – 2015

Cục Khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu, trong khuôn khổ Chương trình mục tiêu quốc gia về BĐKH, đang thực hiện xây dựng các bộ chỉ số đánh giá hoạt động của Chương trình mục tiêu quốc gia, bộ chỉ số theo dõi và đánh giá đối với tác động của Chương trình mục tiêu Các chỉ số đánh giá tác động của BĐKH được xem xét như các chỉ tiêu tham khảo cho Chương trình mục tiêu quốc gia

Tổng cục Thống kê và một số Bộ/ngành (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn; Bộ Xây dựng; Bộ Công thương; Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Tài nguyên Môi

Trang 11

trường; Bộ Y tế; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Lao động Thương binh và Xã hội…) đã xây dựng Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và các Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Trong các hệ thống chỉ tiêu thống kê này, một số chỉ tiêu thống kê về môi trường nói chung và chỉ tiêu về thống kê BĐKH nói riêng đã được xây dựng, tuy nhiên, số lượng chỉ tiêu phản ánh BĐKH ở trong các hệ thống chỉ tiêu này chưa đủ đại diện ở các lĩnh vực mà BĐKH có thể tác động đến

Trên bình diện quốc tế, mặc dù đã có công ước Liên hợp quốc về BĐKH và nghị định thư Kyoto về phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính đã được thông qua nhưng

Cơ quan thống kê Liên hợp quốc (UNSD) chưa có hướng dẫn về phương pháp luận thống kê biến đổi khí hậu: chưa có hệ thống chỉ tiêu thống kê và sách hướng dẫn nghiệp vụ Từ tháng 4/2008 đến nay, UNSD đã tổ chức 3 cuộc họp quốc tế liên quan đến thống kê chính thức về BĐKH Các cuộc họp này đã kết luận rằng: Nhu cầu thông tin thống kê BĐKH là rất cần thiết và ngày càng tăng; Cần đưa các thông tin thống kê

về BĐKH thành các thông tin thống kê chính thức của quốc gia; Cơ quan thống kê quốc gia cần nắm rõ phương pháp luận tính toán và phân tổ chuẩn các chỉ tiêu về BĐKH; Cơ quan thống kê quốc gia cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu và chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu thống kê về BĐKH (chuẩn hóa khái niệm, cách tính toán, phân tổ, lập biểu…) Việt Nam là một trong những nước có tham gia 2 trong số 3 hội nghị kể trên

và là một trong hầu hết các nước đang phát triển chưa có hệ thống chỉ tiêu thống kê về biến đổi khí hậu Để đáp ứng nhu cầu dùng tin và thực hiện chức năng thống kê chính thức về biến đổi khí hậu, đề tài này sẽ là điểm khởi đầu phục vụ cho việc xây dựng hệ thống thống kê chính thức về BĐKH ở Việt Nam

Tại một số nước, hệ thống thống kê về môi trường nói chung và thống kê về BĐKH nói riêng và đã được thiết lập như Thụy Điển, Úc, Nhật Bản, Hà Quốc, Ấn Độ Những hệ thống thống kê về BĐKH đã được xây dựng tại các nước đã phát triển

sẽ là nguồn tham chiếu hữu ích cho đề tài nghiên cứu này

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu, xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê về BĐKH ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu theo dõi, giám sát và đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường ở Việt Nam

Với mục đích cung cấp một bộ công cụ thu thập số liệu sử dụng để đánh giá

Trang 12

này sẽ nghiên cứu đề xuất một hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH ở Việt Nam bao gồm: i) Danh mục tên các chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH; ii) Bảng biểu sử dụng để ghi chép thông tin; iii) Chuẩn hóa các chỉ tiêu đã được đề xuất trong hệ thống (gồm Mục đích, ý nghĩa; Khái niệm, nội dung, phương pháp tính; Phân tổ và Nguồn số liệu); iv) Thu thập và phân tích sơ bộ một số chỉ tiêu đề xuất trong hệ thống chỉ tiêu phản ánh BĐKH ở Việt Nam

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các hiện tượng BĐKH trong nước và toàn cầu ảnh hưởng tới Việt Nam và các nhu cầu nắm bắt thông tin về các hiện tượng BĐKH đó được thể hiện qua hệ thống các chỉ tiêu thống kê về biến đổi khí hậu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là lĩnh vực thống kê về BĐKH ở Việt Nam trong một khoảng thời gian dài tính bằng thập kỷ

Phương pháp nghiên cứu

- Tham khảo tài liệu của UNFCCC, IPCC và các nước về thống kê BĐKH

- Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến biến đổi khí hậu của các Bộ/ngành có liên quan

và nghiên cứu đề xuất Hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH ở Việt Nam

- Thu thập số liệu thử nghiệm và phân tích sơ bộ một số chỉ tiêu được đề xuất trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ảnh BĐKH ở Việt Nam

- Hội thảo lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia để hoàn thiện Hệ thống chỉ tiêu

Nội dung kết quả nghiên cứu của đề tài:

Đề tài Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH ở Việt Nam sẽ thực hiện các nội dung chính sau:

1 Tổng quan về biến đổi khí hậu

2 Nghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài và một số nước trên thế giới về hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH

3 Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH (theo nhóm chỉ tiêu để phản ánh thực trạng và tác động của BĐKH đối tới các lĩnh vực kinh tế, xã hội

và môi trường)

4 Chuẩn hóa các chỉ tiêu (tên gọi; định nghĩa; phương pháp tính; phạm vi thu thập số liệu; nguồn số liệu; tần suất thu thập số liệu; v.v của hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH của Việt Nam)

Trang 13

5 Thu thập và phân tích sơ bộ một số chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ảnh BĐKH đã đề xuất

6 Lộ trình thực hiện kết quả nghiên cứu

Triển vọng áp dụng kết quả nghiên cứu

Việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH ở Việt Nam sẽ là điểm khởi đầu cho việc hình thành thống kê chính thức về BĐKH ở Việt Nam Đây sẽ

là công cụ hữu ích trong việc thu thập số liệu nhằm cung cấp thông tin một cách chính thức, đầy đủ, chính xác, cập nhật về BĐKH trong mối liên quan với con người, môi trường, kinh tế, xã hội Các dữ liệu thống kê về BĐKH sẽ là bằng chứng, là cơ sở khoa học cho các cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế trong việc đánh giá, đề ra luật pháp, chính sách, đường lối liên quan đến môi trường, kinh tế, xã hội của Việt Nam cũng như thế giới

Trang 14

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG XÂY DỰNG HỆ THỐNG

THÔNG TIN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu

BĐKH là một vấn đề phức hợp, vừa mang tính cấp bách trước mắt, vừa mang tính lâu dài, tác động tới tất cả các lĩnh vực, từ tự nhiên đến kinh tế - xã hội và môi trường trên phạm vi toàn cầu Trong mấy chục năm qua BĐKH là nguyên nhân chính gây ra bão lũ, thiên tai, triều cường, mực nước biển dâng, xâm nhập mặn, sa mạc hóa trên thế giới ngày càng trở lên khốc liệt hơn, trở thành thảm họa, gây rủi ro, thiệt hại lớn cho phát triển kinh tế, xã hội hoặc xóa đi những thành quả nhiều năm phát triển của thế giới Nguyên nhân chính gây ra BĐKH là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, chủ yếu từ các nguồn nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt) và các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác BĐKH đang là vấn đề được đưa ra nhiều trên bàn nghị sự của các quốc gia trên thế giới để cùng tìm các giải pháp khắc phục, trong đó phiên họp thứ 39 và 40 của UNSD đã đề xuất đưa thống kê BĐKH vào thống kê chính thức nhằm cung cấp thông tin cho hoạch định các chính sách liên quan

Theo Báo cáo lần thứ 4 của Tổ chức Liên Chính phủ về BĐKH (IPCC) năm

2007 cho thấy nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 0,740C trong khoảng thời gian 1906 – 2005 Tốc độ tăng nhiệt độ trong vòng 50 năm gần đây gấp đôi so với 50 năm trước đó, nhiệt độ trên phần lục địa tăng nhanh hơn so với ở đại dương Cũng trong 100 năm qua lượng mưa có xu hướng tăng ở vùng vĩ độ cao hơn 300 Mặt khác các kết quả quan trắc cũng chỉ ra rằng lượng mưa giảm ở các vùng nhiệt đới từ những năm 70 trở lại đây, tuy nhiên lại xuất hiện mưa lớn ở nhiều khu vực khác trên thế giới Trong báo cáo lần thứ 4 của IPCC cũng chỉ ra rằng trong thế kỷ 20 mực nước biển đã tăng với tốc độ lớn Số liệu quan trắc mực nước toàn cầu trong chuỗi 1961 – 2003 cho thấy mực nước biển đã tăng trung bình năm là 1,8mm với sai số  0,5 mm Hệ quả của BĐKH là hiệu ứng mực nước biển dâng (MNBD) đã được xác định có cơ sở khoa học cao trên qui mô toàn cầu (Kịch bản Biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam, 2009) Tác động của MNBD dẫn đến hiệu ứng xâm nhập mặn (XNM) và từ hiệu ứng XNM lại là một nguyên nhân quan trọng của quá trình hoang mạc hóa (HMH),

Trang 15

giai đoạn đầu tiên của sa mạc hóa (SMH) Các hệ quả XNM và HMH - SMH xảy ra với các quy mô khu vực và địa phương ở khắp nơi trên thế giới, ở những mức độ khác nhau có quan hệ tương hỗ với BĐKH Như vậy giữa BĐKH, XNM và HMH tồn tại mối quan hệ tương hỗ và có tính hoàn ngược

Các quan trắc mới nhất về nhiệt độ nước biển cho thấy từ năm 1961 đến nay nhiệt độ nước biển tầng sâu 3000m nhiệt độ đã gia tăng khi đại dương hấp thụ tới 80% nhiệt từ khí quyển Sự ấm lên trong lòng đại dương dẫn đến sự giãn nở của nước biển đóng góp vào sự tăng lên của mực nước biển Các quan trắc khác của IPCC cho thấy lớp phủ băng tuyết ở 2 cực đã giảm cũng như sự hao hụt các sông băng ở đảo Greenland và ở Nam Cực cũng là những đóng góp làm gia tăng mực nước biển toàn cầu Mực nước biển toàn cầu theo chuỗi số liệu 1961 – 2003 tăng lên với tốc độ trung bình năm là 1,8 mm /năm Từ 1880 cho đến 2000, mực nước biển dâng lên khoảng 200mm (Nguồn: Wiki)

Chỉ tính riêng ở Nam Cực chiếm giữ khoảng 70% lượng nước và 90% tổng số băng tuyết trên Trái Đất Chính vì vậy, lượng băng tan ở hai đầu cực sẽ khiến mực nước biển dâng cao là điều hiển nhiên Trong vòng 120 năm tính từ 1880 cho đến

2000, mực nước biển đã dâng lên khoảng 200mm, tức là tốc độ tăng khoảng gần 2mm mỗi năm (con số mới nhất do IPCC công bố năm 2007 là 1,8mm/ năm - sai số 0,2mm) Tuy nhiên, bước sang thế kỷ 21 thì mực nước biển dâng với mức độ nhanh hơn, ước tính tốc độ tăng khoảng 7 - 10mm/năm Các đánh giá này là có tính đến lượng băng tan ở 2 cực Nam và Bắc Bán Cầu

IPCC ước tính cho đến cuối thế kỷ 21, mực nước biển sẽ dâng khoảng từ 0,2m cho đến 0,6m Trong khi đó, trong một báo cáo khoa học mới đây được công bố trên tạp chí Science Magazine cho biết mực nước biển dâng thực sự có thể lên đến gấp 3,5 lần con số do IPCC ước tính, tức là khoảng 0,8 – 2,0m tính cho đến năm 2100

Trong Báo cáo tổng hợp lần thứ 4 của IPCC năm 2007 đã đề cập đến các tác động của BĐKH đặc biệt đối với vùng ven biển và đất thấp với các lý do như sau Vùng ven biển là vùng chịu nhiều rủi ro, bất lợi do thường xuyên bị đe dọa bởi các thiên tai như bão tố, xâm nhập mặn, hoang mạc hóa, bồi, xói lở, sụt lún do cấu trúc bất

ổn định địa chất vùng Vùng ven bờ còn bị các áp lực phát triển kinh tế biển, trong đó

có hiện trạng khai thác quá tải các nguồn thủy sản dẫn đến phá hủy các hệ sinh thái

Trang 16

trường Toàn cầu, Trường Đại học East Anglia Anh quốc đã đưa ra mô hình đánh giá

về kinh tế của BĐKH trên cơ sở phân tích tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và chi phí lợi ích thông qua các bước phân tích: Xây dựng các kịch bản về MNBD cho vùng; Phân tích mối quan hệ tương quan giữa MNBD với các dạng thiên tai trong vùng; Phân chia các vùng nhỏ theo tần suất tác động của các dạng thiên tai; Thống kê các dạng tài sản có trong vùng; Thống kê các dạng công trình bảo vệ hiện có, lượng hóa đánh giá hiệu quả các công trình này đối với từng dạng thiên tai trong vùng; Xác định các giải pháp ứng phó, thích ứng với các dạng thiên tai và tài sản có trong vùng; Tính toán các giá trị kinh tế của các chi phí và lợi ích của các phương pháp thích ứng

Theo Tài liệu của Hội nghị toàn cầu lần 4 về biển, đảo và đại dương diễn ra tại

Hà Nội năm 2008 (4th

Global Conference on Oceans, Coasts, and Islands, Ha Noi, 2008), tác động của MNBD có thể tổng kết trong các lĩnh vực như sau: Sản xuất nông nghiệp (đối với toàn khu vực châu Á thu hoạch nông nghiệp sẽ giảm từ 2,5 – 10% tính đến năm 2030 và từ 5 đến 30% vào năm 2050; Nguồn nước (toàn bộ châu Á có tới 120 triệu đến 1,2 tỷ người thiếu nước vào năm 2020 và vào năm 2050 số người thiếu nước

sẽ là 185 triệu đến 981 triệu người; Các dải ven bờ biển châu Á (dự báo MNBD sẽ gây

ra thảm họa trầm trọng về ngập lụt, xâm nhập mặn, mất các rạn san hô ước tính vào khoảng 24% trong 10 năm tới và mất 30% vào 30 năm tới); Sức khỏe con người (các bệnh tả ở các vùng bờ Nam châu Á, số người chết bị dịch tả sẽ tăng ở các vùng Đông, Nam và Đông Nam châu Á)

Những tác hại trước mắt là những vùng biển thấp hiện đang bị xâm thực sẽ trở nên trầm trọng hơn, mức độ tàn phá của MNBD do bão, triều cường, xâm nhập mặn tại các vùng ven biển sẽ trở nên tồi tệ hơn, mực nước biển dâng cao sẽ khiến nhiều vùng bị nhiễm mặn, giảm đất đai trồng trọt, tăng mức độ hoang mạc hóa, tăng lượng chua phèn trong đất, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp, những vùng đầm lầy ven biển sẽ bị ngập nước biển vĩnh viễn và mực nước biển dâng cao dẫn đến chi phí cho các công trình bảo vệ bờ, bãi cũng tăng theo

Việt Nam là một trong số khoảng 10 quốc gia được xem là sẽ bị ảnh hưởng nặng nề khi mực nước dâng lên 1m, khi đó vựa lúa của miền Nam sẽ bị ảnh hưởng nặng nề vì khu vực này sẽ mất đi khoảng 15 - 20% sản lượng nông nghiệp Theo đánh giá của Ủy ban Liên Chính phủ về BĐKH, ở Việt Nam khu vực bị ảnh hưởng lớn nhất

sẽ là khu vực đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Theo thống kê đã

Trang 17

chỉ ra 10,8 % dân số Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng khi MNBD ở mức 1 mét, đây là tỷ lệ lớn nhất trong số 84 quốc gia (Ai Cập tiếp theo với 10,56 %) Dân số Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng đến 35% với MNBD ở mức 5m Ngoài những nghiên cứu nêu trên, gần đây nhất “Kịch bản biến đổi khí hậu , nước biển dâng cho Việt Nam” do Bộ Tài nguyên và môi trường công bố năm 2009 cho thấy vào giữa thế kỷ 21 mực nước biển có thể dâng thêm khoảng 30cm và đến cuối thế kỷ 21 mực nước biển có thể dâng thêm khoảng 75cm (Kịch bản thấp: 65cm; Kịch bản cao: 100cm) so với thời kỳ 1980 – 1999 Đây là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn nữa để góp phần ứng phó với BĐKH giảm thiểu những tác động tiêu cực do chúng gây nên

Ở Việt Nam, những lĩnh vực/đối tượng được đánh giá là dễ bị tổn thương do BĐKH bao gồm: tài nguyên nước, nông nghiệp và an ninh lương thực, sức khỏe, nơi

cư trú tại các vùng ven biển và miền núi BĐKH làm tăng tính ác liệt của thiên tai cả

về cường độ lẫn tần suất Theo các số liệu quan trắc của Tổng cục Khí tượng thủy văn nhiệt độ không khí và lượng mưa trong vòng 50 năm có sự biến động trên các vùng của cả nước Bảng số liệu dưới đây là thống kê về thay đổi của nhiệt độ và lượng mưa trong vòng 50 năm qua ở các vùng của Việt Nam

Trang 18

Biểu 1: Thay đổi của nhiệt độ và lượng mưa 50 năm qua ở các vùng khí hậu và trung bình cho cả nước (từ năm 1958 đến năm 2007)

Thời kỳ 11- 4

Thời kỳ 5- 10

Tổng lượng mưa năm

(Nguồn: Trần Thục, Báo cáo chuyên đề Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống

kê phản ánh BĐKH ở Việt Nam)

Kết quả phân tích các số liệu khí hậu cho thấy biến đổi của các yếu tố khí hậu

có những điểm đáng lưu ý Trong khoảng 50 năm qua (1958 - 2007), nhiệt độ trung bình năm ở nước ta tăng lên khoảng từ 0,50

C đến 0,70

C; nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè và nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơn ở các vùng khí hậu phía Nam Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây (1961 - 2000)

Trang 19

cao hơn trung bình năm của 3 thập kỷ trước đó (1931 - 1960) Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991 - 2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 - 1940 lần lượt là 0,80

C; 0,40C và 0,60

C Năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 -

1940 là 0,80

C - 1,30C và cao hơn thập kỷ 1991 - 2000 là 0,40

C - 0,50C (chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008)

Xu thế biến đổi của lượng mưa trung bình trong 9 thập kỷ vừa qua (1911 - 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác nhau, có giai đoạn tăng lên

và có giai đoạn giảm xuống Lượng mưa năm giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu phía Nam Tính trung bình trong cả nước, lượng mưa năm trong 50 năm qua (1958 - 2007) đã giảm khoảng 2% Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam giảm đi rõ rệt trong 2 thập kỷ qua Tuy nhiên các biểu hiện khác thường lại thường xuất hiện mà rõ nhất là rét đậm, rét hại kéo dài ở Bắc Bộ Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần ở thập kỷ 1981 - 1990 và chỉ còn gần một nửa (15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây (Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu, 2003)

Tại Việt Nam, trong hơn 1 thập kỷ qua đất nước đã phải chịu ảnh hưởng của các loại thiên tai như: áp thấp nhiệt đới; bão; động đất; lốc; lũ; mưa to kéo dài; ngập lụt; rét đậm, rét hại; sạt lở đất; sét đánh; triều cường và các loại hình thiên tai khác

Trang 20

chưa liệt kê Lốc và mưa lũ là các loại thiên tai hay xảy ra nhất trong những năm gần đây Tần suất thiên tai xảy ra tại các tỉnh/thành phố tăng theo từng năm Theo báo cáo của các Cục Thống kê tỉnh/thành phố, năm 1999, có 36 tỉnh/thành phố chịu ảnh hưởng của 96 đợt thiên tai xảy ra trong năm, trung bình mỗi tỉnh chịu ảnh hưởng của 2,7 đợt thiên tai xảy ra trong năm Số liệu tương ứng các năm 2000, 2001, 2002, 2003 là: số tỉnh chịu ảnh hưởng: 48, 53, 37, 52; Trung bình số trận thiên tai xảy ra tại mỗi tỉnh bị ảnh hưởng: 2,7; 3; 2,2; 2,8 Năm 2001 là năm có số tỉnh chịu ảnh hưởng của thiên tai nhiều nhất và cũng là năm mỗi tỉnh chịu ảnh hưởng của nhiều đợt thiên tai nhất Tuy nhiên, thiệt hại về người và tài sản do thiên tai gây ra năm 2001 không phải là lớn nhất trong vòng 10 năm qua Từ năm 2004 đến năm 2009 thiên tai xảy ra tăng cả về phạm

vi lẫn tần suất xảy ra thiên tai Thiệt hại về người nhiều nhất trong năm 1999 và thiệt hại về tài sản lớn nhất là năm 2009 Từ năm 1999 đến 2009, thiên tai đã làm hơn 5,5 nghìn người chết và mất tích Năm 1999 là năm có số người chết và mất tích nhiều nhất, 990 người, gấp 4,14 lần so với năm 2004 (năm có số người chết và mất tích ít nhất, 239 người), chiếm 18% tổng số người chết và mất tích do thiên tai trong 11 năm

Trong số các loại hình thiên tai, ngập lụt và bão gây thiệt hại về người nhiều nhất và tương đương nhau, chiếm lần lượt 28,66% và 28,64% trong tổng số người chết

và mất tích do các loại thiên tai Năm 1999, số người bị chết và mất tích do ngập lụt là nhiều nhất trong số các năm Cũng trong năm 1999, số người chết và mất tích do ngập lụt chiếm 66% tổng số người chết và mất tích do các loại hình thiên tai gây ra trong năm Ngoài ra, lũ cũng là loại hình thiên tai gây thiệt hại nặng nề về người Số người chết và mất tích do lũ chiếm gần 26% trong tổng số người chết vì thiên tai trong hơn

10 năm qua Bão, lũ và ngập lụt là các loại hình thiên tai có tần suất xảy ra thấp hơn so với một số loại hình thiên tai khác như lốc, mưa to… Tuy nhiên, tổng giá trị thiệt hại ước tính lại nhiều nhất Từ năm 1999 đến 2009, ước tính giá trị thiệt hại do bão gây ra

là trên 53,56 nghìn tỷ đồng (chiếm trên 60% tổng giá trị thiệt hại của các loại hình thiên tai); do lũ là trên 14,6 nghìn tỷ đồng (chiếm trên 16,4% so với tổng giá trị thiệt hại); và do ngập lụt là gần 14,2 nghìn tỷ đồng (chiếm gần 15,9% so với tổng giá trị thiệt hại) So với các năm, bão xảy ra vào năm 2009 gây thiệt hại nhiều nhất so với các cơn bão khác xảy ra trong vòng 10 năm từ 1999 đến 2008 Riêng thiệt hại do bão gây

ra năm 2009 ước tính gần 21,8 nghìn tỷ đồng, chiếm gần 40,7% giá trị thiệt hại về bão trong 10 năm Các cơn bão trong năm 2009 cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất về giá trị

Trang 21

thiệt hại ước tính do thiên tai xảy ra trong năm, chiếm gần 94% giá trị ước thiệt hại của cả năm Lũ năm 2007 gây thiệt hại nhiều nhất so với các đợt lũ khác xảy ra trong vòng 10 năm từ 1999 đến 2009 Năm 2007, thiệt hại do lũ gây ra chiếm gần 61% thiệt hại do các đợt lũ xảy ra trong 11 năm Tính riêng năm 2007, thiệt hại do lũ gây ra chiếm trên 76,8% thiệt hại do thiên tai xảy ra trong năm

Năm 1999 là năm ngập lụt gây thiệt hại nặng nề nhất gây ra trong vòng hơn 10 năm Giá trị thiệt hại ước tính do ngập lụt gây ra năm 1999 chiếm 32% giá trị thiệt hại

do ngập lụt từ năm 1999 đến 2009 Riêng năm 1999, thiệt hại do ngập lụt gây ra chiếm trên 92,7% tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong năm Trong vòng 10 năm qua, tại Việt Nam xảy ra hai đợt dư chấn động đất vào năm 2001 và năm 2003 làm 3 người chết (năm 2003) và 2 người bị thương (năm 2001) Không có thiệt hại lớn về vật chất

Trong vài năm gần đây, từ năm 2006 đến 2009 xảy ra hiện tượng triều cường tại một số tỉnh phía Nam đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh, Bình Thuận Mặc dù mức độ thiệt hại vật chất gây ra từ triều cường không nhiều nhưng hiện tượng này gây ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt và sức khỏe của người dân Triều cường cùng với việc tác động đến dòng chảy và sự xuống cấp của hệ thống thoát nước đô thị gây khó khăn trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, giao thông và gia tăng ô nhiễm môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng

Theo báo cáo công bố ở hội nghị về chống sa mạc hoá ở Việt Nam tổ chức ngày 28/6/2007, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết ở nước ta vẫn còn khoảng 9,3 triệu ha đất liên quan tới SMH và HMH (chiếm khoảng 28% tổng diện tích đất đai trên toàn quốc), trong đó có 5,06 triệu ha đất trống trọc chưa sử dụng, khoảng 2 triệu ha đất đang được sử dụng đã bị thoái hóa nặng và hơn 2 triệu ha đang có nguy cơ thoái hóa cao Nguyên nhân chính dẫn đến HMH là do diện tích rừng bị giảm khiến hệ sinh thái bị suy thoái, gây ra lũ lụt và hạn hán, độ phì nhiêu của đất đang bị giảm xuống do xói mòn, rửa trôi, đá ong hoá, chua mặn hoá Ngoài ra còn do nạn cát bay, cát chảy và tình trạng đất trống bị xói mòn, nhiễm mặn, nhiễm phèn, hạn hán Đến nay Việt Nam đã xác định 4 địa bàn ưu tiên chống sa mạc hóa, gồm Duyên hải Miền Trung, Tây Bắc, Tứ giác Long Xuyên và Tây Nguyên Tài nguyên rừng cũng bị suy giảm đáng kể Nếu như năm 1943 Việt Nam có tỷ lệ che phủ của rừng là 43% thì sau nhiều nỗ lực khắc phục các nguyên nhân mất rừng suốt 60 năm qua, tỷ lệ che phủ năm

Trang 22

1976-1990 Rừng bị mất đã làm tăng diện tích đất hoang hoá, kéo theo sự giảm sút đáng kể các hệ sinh thái, làm suy thoái vùng đầu nguồn Cũng tại hội nghị này Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết theo thống kê sơ bộ, mỗi năm Việt Nam mất khoảng 20 ha đất nông nghiệp do quá trình sa mạc hóa và hiện có khoảng 20 triệu dân đang phải chịu ảnh hưởng của quá trình này

Hiện nay, Việt Nam đã xuất hiện hiện tượng SMH cục bộ ở các dải cát hẹp trải dài dọc theo bờ biển miền Trung, tập trung ở 10 tỉnh thành, từ Quảng Bình đến Bình Thuận với diện tích khoảng 419.000 ha, nơi có những chỉ tiêu khí hậu cực đoan nhất

cả nước và ở đồng bằng sông Cửu Long với diện tích 43.000 ha Thời tiết các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ đặc biệt khô nóng vào mùa khô, lượng mưa trung bình hàng năm ở một số nơi chỉ đạt khoảng 700 mm như Ninh Thuận và Bình Thuận, khiến cho những vùng cát trắng có nguy cơ lan rộng Ước tính hàng năm có khoảng 10-20 ha đất

bị HMH do cát bay, cát chảy làm ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng triệu người dân Kết quả nghiên cứu cho thấy ở Ninh Thuận và Bình Thuận tồn tại 4 dạng hoang mạc (cát bay, cát chảy, cát trượt lở); hoang mạc đá lộ - lăn lở; hoang mạc đất cằn trơ sạn sỏi, đất bạc mầu thoái hóa và hoang mạc muối tàn dư ở xa biển và ven biển Bên cạnh

đó, tại các tỉnh miền núi phía Bắc, nơi còn nhiều vùng đồi núi trọc đang bị mưa lũ làm

lở đất, xói mòn và suy thoái đến khô cằn hoang mạc Đây là những vấn đề đáng lo ngại, là thách thức lớn đối với nền nông nghiệp của nước ta hiện nay

Theo thống kê trên bản đồ của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) và Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO), Việt Nam có khoảng 462.000 ha cát ven biển (chiếm khoảng 1,4% tổng diện tích tự nhiên toàn quốc) và 87.800 ha trong số này là các đụn cát, đồi cát lớn di động Trong gần 40 năm qua, quá trình hoang mạc hoá do cát di động rất nghiêm trọng Mỗi năm có khoảng 10-20 ha đất canh tác bị lấn bởi cát di động Tính chất sa mạc ở các tỉnh duyên hải miền trung rất khốc liệt, đất có chỗ bị bào mòn cạn kiệt, có chỗ bị lấp thành cồn cát, cồn sỏi, rất khó khăn cho công việc cải tạo Những cánh đồng, bờ bãi bị sa mạc hóa sau lũ là tình trạng chung của các vùng nằm hai bên bờ dòng Ngàn Phố (Hương Sơn), Ngàn Sâu (Hương Khê, Vũ Quang), Ngàn Trươi (Vũ Quang), sông La (Đức Thọ), Sông Trí (Kỳ Anh) Sau lũ, cả tỉnh Hà Tĩnh có hàng ngàn hecta ruộng vườn đã bị sa mạc hóa, có nguy cơ trở thành cánh đồng chết

Trang 23

Ở Việt Nam do hậu quả của việc chặt phá rừng, đốt rừng bừa bãi, sử dụng đất không bền vững, qua nhiều thế hệ (du canh, du cư, độc canh, quảng canh) nên đất bị thoái hóa nghiêm trọng, nhiều nơi mất khả năng sản xuất và xu hướng hoang mạc hóa ngày càng phát triển, nhất là ở các vùng đất trống đồi núi trọc Quá trình SMH và thoái hoá đất ở Việt Nam là kết quả của xói mòn đất, đá ong hoá, hạn hán, cát bay/cát chảy, đất nhiễm mặn, nhiễm phèn Việt Nam có sa mạc cục bộ Trong tổng số khoảng 9,34 triệu hecta đất hoang hoá, 7.550.000 ha đang chịu tác động mạnh bởi sa mạc hoá Ước tính quá trình SMH mỗi năm làm mất khoảng 20 ha đất nông nghiệp do nạn cát bay, cát chảy và hàng trăm nghìn hecta đất tiếp tục bị thoái hoá Tác động tổng hợp của các điều kiện tự nhiên và hoạt động kinh tế xã hội của con người là hai quá trình đồng hành và làm xuất hiện các quá trình dẫn đến hoang mạc hóa ở Việt Nam:

Nhận thức về tác động của BĐKH đối với đời sống kinh tế, xã hội, Chính phủ

đã quan tâm và phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố kịch bản BĐKH, mực nước biển dâng Trong xã hội xuất hiện nhiều tổ chức, nhiều hoạt động tuyên truyền về BĐKH Cơ quan chức năng nghiên cứu, quan trắc về khí hậu và các cơ quan quản lý Nhà nước được đầu tư để kiểm soát và kịp thời đánh giá tác động của BĐKH

Theo kịch bản BĐKH do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố thì Việt Nam

là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của hiện tượng BĐKH Thực tế đã cho thấy, hiện tượng biến BĐKH đã bắt đầu tác động đến nước ta Nhiều hiện tượng thiên nhiên trái với quy luật đã diễn ra Triều cường, mưa bão xảy ra nhiều hơn tại thành phố Hồ Chí Minh Miền Trung liên tục trải qua những đợt nắng nóng kéo dài Những cơn bão, lũ quét ở các vùng núi phía Bắc diễn ra bất ngờ với sức tàn phá ngày càng ác liệt Hiện tượng SMH cát xảy ra nhiều tại các tỉnh miền trung như Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận

Do vậy, việc cung cấp thông tin thống kê đáp ứng nhu cầu đánh giá tác động của BĐKH trên lãnh thổ Việt Nam là một trong các vấn đề mang tính cấp thiết Tuy nhiên, cho đến nay công tác thống kê chưa phản ánh một cách đầy đủ, liên tục những tác động của BĐKH đến đời sống kinh tế - xã hội và môi trường ở nước ta Việt Nam vẫn chưa thiết lập được hệ thống thông tin thống kê đánh giá tác động của sự BĐKH một cách toàn diện và có hệ thống Sự thiếu hụt thông tin này thể hiện trong công tác

Trang 24

thống kê thường xuyên và định kỳ của Tổng cục Thống kê và các Bộ, ngành có liên quan

1.2 Kinh nghiệm quốc tế

1.2.1 Các lĩnh vực nghiên cứu về BĐKH

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn các

hệ thống thông tin về BĐKH, trong đó có thể chọn ra một số lĩnh vực chủ yếu như sau:

(i) Nghiên cứu thống kê đối với hiệu ứng xâm nhập mặn

Phương pháp điều tra cơ bản: Quan trắc độ mặn tại các trạm hải văn và thủy văn theo các giờ quan trắc định kỳ và quan trắc độ mặn theo các đợt khảo sát vào các

kỳ con nước triều

Phương pháp thống kê xác định các cực trị độ mặn và giá trị trung bình theo thống kê số học

Phương pháp mô phỏng số trị: giải các hệ phương trình truyền triều và truyền mặn xác định phân bố độ mặn và khoảng cách xâm nhập mặn

(ii) Nghiên cứu thống kê đối với hiệu ứng sa mạc hóa (SMH)

Hiện có khá nhiều phương pháp đánh giá khả năng hạn hán và SMH theo khuyến cáo của các tổ chức khoa học quốc tế như UNESCO, UNEP, FAO Có thể lấy

ví dụ phương pháp tính chỉ số khô hạn của UNESCO (1979), trong đó bao gồm các chỉ số khí tượng và thuỷ văn (Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn đã áp dụng công thức này để xác định chỉ số hạn hạn cho các tỉnh khu vực nam Trung Bộ, khu vực Tây Nguyên) Chỉ tiêu hạn hán người ta phân thành 3 nhóm chính: Chỉ tiêu hạn khí tượng, nhóm chỉ tiêu hạn nông nghiệp và nhóm chỉ tiêu hạn thủy văn

Nhóm chỉ tiêu hạn khí tượng xác định hạn theo lượng mưa, độ ẩm, lượng bốc hơi, bức xạ và chỉ tiêu hạn phức hợp

Trang 25

+ Chỉ số hạn Palmer

Chỉ số hạn Palmer được ứng dụng rộng rãi ở Mỹ từ năm 1965

Z = Kid = Ki (P - p) = Ki [ P- (i PE + PR + i PRO - i PL)]

Trong đó Z chỉ số dị thường ẩm, d lượng nước thiếu hụt, P lượng nước thực tế,

p lượng nước trung bình khí hậu, Ki hệ số đặc trưng cho giai đoạn thứ i, PE, PR, PRO,

PL là các đại lượng đặc trưng cho bốc hơi, lượng nước hút được từ đất, lượng nước từ dòng chảy và lượng nước tổn thất

i , i, i là các hệ số kèm theo các thành phần trong phương trình

Căn cứ vào chỉ số Palmer để xác định mức độ hạn Hạn nặng và hạn nghiêm trọng kho chỉ số han Palmer nằm trong khoảng -3 đến -4

Nhóm chỉ tiêu hạn thủy văn được hiểu là sự suy giảm dòng chảy sông và thiếu hụt nguồn nước mặt và nước ngầm

D chỉ tiêu về nước của cây trồng cuối thời kỳ cây trồng

P lượng mưa thời kỳ sinh trưởng của cây

R0 lượng nước thấm xuống đất

Rg lượng nước ngầm cung cấp cho cây trồng

0 lượng nước trong đất có dễ cây đầu thời kỳ sinh trưởng

n lượng nước chứa trong đất đủ cho cây trồng

p lượng nước được tăng lên khi lượng mưa tăng 1mm

Hạn hán xuất hiện khi chỉ số nước của cây trồng D  0,5

Trang 26

Chỉ số tổn thương của các hiệu ứng BĐKH đối với các lĩnh vực kinh tế, xã hội Đây là một phương pháp đánh giá định lượng tác động của BĐKH đối với môi trường

và đời sống xã hội nói chung (phương pháp này mới, hầu như chưa được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam do tính phức tạp và nguồn thông tin nói chung chưa đảm bảo)

(iii) Nghiên cứu thống kê đối với hiệu ứng mực nước biển dâng và triều cường

Như tổng kết của IPCC hiện nay hầu hết các nước trên thế giới các kịch bản BĐKH chủ yếu tập trung các kịch bản liên quan đến nhiệt độ không khí, lượng mưa và mực nước biển dâng Sở dĩ như vậy vì: i) Bản thân các loại số liệu về nhiệt, mưa và một số yếu tố khí tượng khác cũng như số liệu mực nước biển có các hệ thống quan trắc đảm bảo, đủ tiêu chuẩn đánh giá biến động theo không gian và thời gian; ii) Các yếu tố về nhiệt và mực nước biển dâng có quan hệ tương quan cao nhất với các hiệu ứng nóng lên của khí quyển do các khí nhà kính và sự ấm lên của nước biển, đại dương, và băng tan; iii) Các kịch bản này có tính phổ biến thực hiện trên qui mô toàn cầu

Trong từng khu vực, lãnh thổ các kịch bản quốc gia, vùng thực tế có ý nghĩa hơn Ở từng khu vực, vùng có thể xây dựng các kịch bản về hiệu ứng XNM vì họ nhận thấy rằng quá trình XNM có tính quyết định đến sản xuất và đời sống xã hội của khu vực đó Trong khi đó ở các vùng, khu vực khác hiệu ứng HMH đang có xu hướng gia tăng vì vậy họ tập trung xây dựng các kịch bản về hiệu ứng SMH và HMH

Nghiên cứu thống kê về MNBD nói riêng và mực nước nói chung, ngoài các tham số thống kê khác về các cực trị, trung bình…thì phân tích xu thế biến động mực nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để mô tả tác động của BĐKH

Phương pháp phân tích xu thế (trend) được sử dụng để xác định tốc độ biến thiên theo thời gian (dâng lên hoặc hạ xuống) của mực nước biển Theo phương pháp này, người ta xác định mối liên hệ giữa mực nước y và thời gian x dưới dạng một

phương trình hồi quy tuyến tính (ya xb ) Trong phương trình trên hệ số a có ý

nghĩa là tốc độ biến thiên của mực nước y trong một đơn vị thời gian x Nếu chuỗi phân tích là giá trị mực nước năm, hệ số a là tốc độ dâng lên (hay hạ xuống) của mực nước trong một năm Nếu phân tích mực nước tháng, hệ số a là tốc độ dâng lên (hay

hạ xuống) của mực nước trong một tháng

Trang 27

Phương pháp phân tích điều hòa để xác định dao động mực nước triều được dùng trong nghiên cứu thống kê đối với hiệu ứng triều cường Sử dụng các phương pháp thống kê về mực nước biển xác định các cực trị và giá trị trung bình và phương pháp điều tra vệt nước triều cường

Tóm lại, xu thế chung toàn cầu về BĐKH là rõ ràng, điều này đã được khẳng định thông qua các quan trắc mới đây nhất về sự nóng lên của nhiệt độ không khí Sự dâng cao của mực nước biển đã được khẳng định từ các chuỗi quan trắc nhiều năm về mực nước ở các vị trí khác nhau trên Trái Đất Sự dâng cao mực nước biển có nguyên nhân từ sự ấm lên của nước biển, đó cũng là kết quả từ các quan trắc mới nhất về nhiệt

độ nước biển đại dương MNBD còn có nguyên nhân từ hiện tượng băng tan xảy ra tại các cực và các sông băng

1.2.2 Kinh nghiệm về xây dựng chỉ tiêu về BĐKH của các nước và các tổ chức

(i) IPCC

Cơ sở dữ liệu về BĐKH của IPCC do Trung tâm phân phối dữ liệu của IPCC (tiếng Anh là The IPCC Data Distribution Center, DDC- IPCC) được coi là đầy đủ và chi tiết nhất Trong đó, một hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH gồm 685 chỉ tiêu thuộc 10 lĩnh vực đã được thiết lập và thu thập số liệu gồm:

+ Hệ sinh thái ven biển và biển (46 chỉ tiêu);

+ Tài nguyên nước và hệ sinh thái nước ngọt (36 chỉ tiêu);

+ Khí hậu và khí quyển (36 chỉ tiêu);

+ Dân số, y tế và sức khoẻ con người (137 chỉ tiêu);

+ Kinh tế, kinh doanh và môi trường (99 chỉ tiêu);

+ Năng lượng và tài nguyên (55 chỉ tiêu);

+ Đa dạng sinh học và các khu vực được bảo vệ (55 chỉ tiêu);

+ Nông nghiệp và thực phẩm (73 chỉ tiêu);

+ Rừng, đồng cỏ và vùng đất khô hạn (82 chỉ tiêu);

+ Quản lý môi trường và các tổ chức (66 chỉ tiêu);

Như vậy, tổng số là 685 chỉ tiêu thống kê phản ánh 10 lĩnh vực BĐKH, nhiều nhất là lĩnh vực dân số, y tế và sức khoẻ con người với 137 chỉ tiêu phản ánh hậu quả của BĐKH đối với cuộc sống của người dân (chi tiết về các chỉ số trong trang web: http://www.ipcc-data.org)

Trang 28

Các chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH của Thụy Điển được xây dựng dựa trên các mục tiêu về môi trường quốc gia do Quốc hội đề ra và các Thỏa thuận quốc tế về vấn đề bảo vệ môi trường Mục tiêu chung của Thụy Điển về vấn đề môi trường là

“Mục tiêu chính quan trọng nhất là chuyển giao cho các thế hệ con cháu mai sau một

xã hội mà các vấn đề môi trường đã được giải quyết”, Quốc hội Thụy Điển, 1999 Các Hiệp định của Liên hợp quốc về môi trường bao gồm: Công ước về biến đổi khí hậu; Công ước về ô nhiễm không khí liên biên giới dài hạn; Mục tiêu phát triển thiên niên

kỷ Các thỏa thuận của Châu Âu về vấn đề môi trường mà Thụy Điển đã cam kết gồm: Khung chỉ thị về nước; Quy chế về thống kê liên quan đến nước; Chất lượng không khí Trong tổng số 16 mục tiêu cụ thể về môi trường của Thụy Điển đến năm 2020 có

1 mục tiêu trực tiếp về giảm tác động của biến đổi khí hậu (mục tiêu đến năm 2050), các chỉ tiêu phản ánh biến đổi khí hậu nằm rải rác trong các mục tiêu còn lại Các mục tiêu về môi trường của Thụy Điển được xây dựng dựa trên tiêu chí SMART, mỗi mục tiêu cần đáp ứng 5 tiêu chí là: cụ thể/chính xác (Từ viết tắt đầu tiên S: Specific); Có thể đo lường được (Từ viết tắt thứ hai M: Measurable); Có thể đạt được (Từ viết tắt thứ ba: Achievable); Có liên quan (Từ viết tắt thứ tư: Relevant); Thời gian cụ thể (Từ viết tắt cuối cùng: Timebased)

Trang 29

Cục Thống kê Thụy Điển đã phối hợp với các cơ quan quốc gia xây dựng 80 chỉ số để theo dõi, đánh giá thực hiện 16 chỉ tiêu quốc gia môi trường nói trên Việc xây dựng các chỉ số này dựa trên mô hình DPSIR, là mô hình động lực (Từ viết tắt đầu tiên D: Driving forces); Áp lực (Từ viết tắt thứ hai P: Pressure); Thực trạng (Từ viết tắt thứ ba S: State); Tác động (Từ viết tắt thứ tư I: Impact) và Hưởng ứng (Từ viết tắt cuối cùng R: Response) Các chỉ tiêu trong mô hình này được xây dựng dựa trên các yêu cầu:

• Có liên quan đến các chính sách

• Dựa trên hệ thống thu thập số liệu sẵn có

• Có chuỗi số liệu theo thời gian

• Dễ hiểu và đơn giản

• Khái niệm và phương pháp luận rõ ràng

• Kịp thời

• Được tư liệu hóa và có thể đánh giá về chất lượng

Trong đó các chỉ tiêu đánh giá Mục tiêu giảm tác động của BĐKH đã được xây dựng dựa trên mô hình DPSIR với các tiêu chí xây dựng chỉ tiêu như trên, cụ thể:

– Hiệu quả năng lượng

• Mức độ tập trung năng lượng (Energy intensity)

• Các công cụ kinh tế và tài chính

Việc xây dựng chỉ tiêu thống kê theo tiêu chí SMART và bảy yêu cầu nêu trên

là cách tiếp cận khoa học nhằm đảm bảo chỉ tiêu xây dựng nhằm đáp ứng các nhu cầu

Trang 30

là một mô hình thông dụng được nhiều tổ chức và nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng

để thiết lập hệ thống chỉ tiêu thống kê môi trường nói chung và hệ thống chỉ tiêu thống

kê về BĐKH nói riêng Mô hình này giúp xây dựng các chỉ tiêu thống kê môi trường phản ánh toàn diện về các nguyên nhân, hậu quả/thực trạng và tác động nhằm phản ánh bức tranh toàn cảnh về vấn đề môi trường Tuy nhiên, trong khuôn khổ nghiên cứu này, sẽ chỉ tập trung vào nhóm chỉ tiêu phản ánh BĐKH và một số chỉ tiêu liên quan đến ảnh hưởng trực tiếp của BĐKH đối với đời sống con người Hay nói cách khác, chỉ tiêu thực trạng (S: State) và chỉ tiêu tác động (I: Impact) là các chỉ tiêu sẽ được sử dụng trong nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH ở Việt Nam

(iii) Úc

Các chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH của Úc được tổng hợp và thu thập từ nhiều nguồn số liệu khác nhau và chia làm hai loại nhóm chỉ tiêu: Nhóm chỉ tiêu phản ánh BĐKH và Nhóm chỉ tiêu phản ánh cơ hội giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính Cụ thể:

 Nhóm chỉ tiêu phản ánh BĐKH gồm:

- Nhiệt độ trung bình năm (Cục Khí tượng thủy văn)

- Khí thải gây hiệu ứng nhà kính (Cơ quan về Biến đổi khí hậu)

- Lượng khí thải CO2 tương đương bình quân đầu người và trên 1 đơn vị GDP (Cục Thống kê)

- Lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính theo các lĩnh vực (cơ quan về BĐKH)

- Sử dụng nhiên liệu để sản xuất điện (Cục Nông nghiệp và nguồn lực kinh tế)

 Nhóm chỉ tiêu phản ánh cơ hội giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính:

- Sử dụng đất trong nông nghiệp

- Giao thông vận tải

Trang 31

(iv) Ấn Độ

Số liệu về BĐKH của Ấn Độ do các Bộ, các tổ chức và các cơ quan khác nhau thu thập và tổng hợp gồm các số liệu phản ánh BĐKH và tác đọng BĐKH Cục Khí tượng thủy văn làm đầu mối thu thập số liệu liên quan đến cảnh báo và giám sát bão, lốc Trung tâm Kiểm soát ô nhiễm quốc gia chịu trách nhiệm thu thập số liệu quan trắc

về ô nhiễm không khí và khí thải gây hiệu ứng nhà kính Ủy ban về nước cung cấp thông tin về lũ lụt và khả năng cấp nước sạch Bộ Nông nghiệp cung cấp thông tin về đất, sử dụng đất, tình trạng hạn hán Cơ quan Thống kê sản xuất ấn phẩm thống kê hàng năm, từ năm 1997 đến nay, “Số liệu thống kê môi trường” trong đó có nhiều chỉ

số phản ánh BĐKH, đây là kết quả của Khung phát triển thống kê môi trường do UNSD khởi xướng năm 1984, gồm các số liệu thống kê về đa dạng sinh học, khí hậu, đất, nước và con người

Trang 32

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG

HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở

VIỆT NAM

BĐKH Trái Đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định từ tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm Sự biến đổi có thể là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình Sự biến đổi khí hậu có thể giới hạn trong một vùng nhất định hay có thể xuất hiện trên toàn Địa Cầu Trong những năm gần đây, đặc biệt trong ngữ cảnh chính sách môi trường, BĐKH thường đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện tại, được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu Nguyên nhân chính làm BĐKH trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác

BĐKH không phải là việc sẽ xảy ra trong tương lai, mà BĐKH đã và đang diễn

ra trong hiện tại, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày chúng ta Là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH, Việt Nam đang quan tâm đến vấn đề BĐKH cũng như biện pháp làm giảm thiểu tác động tiêu cực của BĐKH Để thực hiện việc này, điều cần thiết là phải có những số liệu phản ánh BĐKH và tác động của BĐKH như thế nào Hiện nay tại nước ta, việc thu thập số liệu thống kê trong lĩnh vực này đang tiến hành, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế do phương pháp, nguồn lực, mức

độ phổ biến rộng rãi các thông tin thống kê Các số liệu thống kê thu thập được nằm rải rác tại nhiều nơi mà chưa tập trung lại một chỗ hình thành một hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh sự BĐKH Do đó cần thiết phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống

kê phản ánh BĐKH cũng như những hậu quả trực tiếp của BĐKH gây ra cho môi trường và đời sống xã hội Ngoài ra, các số liệu thống kê cũng cần được quy tụ vào những đầu mối phù hợp để công bố rộng rãi cho những người có nhu cầu sử dụng

Trang 33

2.1 Cơ sở lý luận xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH ở Việt Nam

2.1.1 Một số khái niệm về chỉ tiêu, hệ thống chỉ tiêu thống kê và hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH

Điều 3, Luật thống kê qui định, chỉ tiêu thống kê là tiêu chí mà biểu hiện bằng

số của nó phản ánh quy mô, tốc độ phát triển, cơ cấu, quan hệ tỷ lệ của hiện tượng kinh tế- xã hội trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể Hệ thống chỉ tiêu thống

kê là tập hợp những chỉ tiêu thống kê do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành

Theo từ điển thống kê, Hệ thống chỉ tiêu thống kê là tập hợp những chỉ tiêu thống kê nhằm phản ánh bản chất của lĩnh vực nghiên cứu Trong thống kê kinh tế xã hội có nhiều loại hệ thống chỉ tiêu thống kê: hệ thống chỉ tiêu thống kê của từng ngành, từng lĩnh vực, và hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia chung cho nhiều lĩnh vực

Hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH ở Việt Nam là một trong những hệ thống chỉ tiêu thống kê về lĩnh vực môi trường, sử dụng cho việc cung cấp thông tin phản ánh hiện trạng về biến đổi khí hậu đang diễn ra tại Việt Nam Hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh BĐKH ở Việt Nam được đề cập trong nghiên cứu này là tập hợp các chỉ tiêu dùng để lượng hoá và đánh giá thực trạng thay đổi của môi trường không khí, nước, nước biển và ảnh hưởng của thiên tai

2.1.2 Sự cần thiết của việc chuẩn hóa các chỉ tiêu thống kê

Chuẩn hóa các chỉ tiêu thống kê xuất phát từ các vấn đề chủ yếu sau đây:

(1) Xuất phát từ tính tất yếu về lý luận, phương pháp luận

Theo lý luận và phương pháp luận của thống kê học, nghiên cứu thống kê được chia thành ba giai đoạn chính là giai đoạn thu nhập thông tin thống kê, giai đoạn tổng hợp thống kê và giai đoạn phân tích thống kê

Giai đoạn thu nhập thông tin thống kê là giai đoạn đầu tiên của quá trình nghiên cứu thống kê Không làm tốt giai đoạn đầu tiên thì không thể có giai đoạn tổng hợp thống kê và giai đoạn phân tích thống kê, do đó quá trình nghiên cứu thống kê coi như không được hoàn thành Trong giai đoạn này có nhiều công việc phải tiến hành, như xác định hệ thống chỉ tiêu thống kê cần thu nhập, phương pháp thu thập (như thu thập

Trang 34

qua điều tra, thu nhập qua chế độ báo cáo, thu thập qua hồ sơ ghi chép hành chính, hay kết hợp giữa các phương thức trên) và tiến hành thu thập

Như vậy, việc xác định hệ thống chỉ tiêu thống kê là công việc đầu tiên của giai đoạn thu thập thông tin Nếu không xác định được hệ thống chỉ tiêu thống kê cần thu nhập thì không có căn cứ để xác định lựa chọn phương thức thu nhập, cũng không thể biết thu thập cái gì Nếu thừa chỉ tiêu thì vừa không cần thiết, vừa gây lãng phí công sức, tiền của, trong khi điều tra thống kê, nhất là điều tra toàn bộ thường rất tốn kém Nếu thiếu chỉ tiêu thì kết quả nghiên cứu cũng như việc phân tích thống kê sẽ không đầy đủ, sâu sắc

Có được hệ thống chỉ tiêu cần thu nhập là rất quan trọng Nhưng nếu chỉ tiêu không được chuẩn hoá về khái niệm nội dung và phương pháp tính, về các phân tổ chủ yếu, về nguồn số liệu thì sẽ dẫn đến tình trạng:

- Không hiểu hoặc hiểu không đúng, hiểu không đầy đủ về chỉ tiêu làm cho các thông tin thu thập được không phản ánh được hoặc phản ánh không đúng, không đầy

- Người sử dụng thông tin sẽ không tin cậy thông tin đã thu thập

Vì vậy, việc thực hiện chuẩn các chỉ tiêu thống kê là một đòi hỏi về mặt lý luận

và phương pháp luận của quá trình nghiên cứu thống kê

(2) Xuất phát từ yêu cầu pháp lý

Luật Thống kê đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2004 đã quy định 7 nguyên tắc cơ bản của hoạt động thống kê, trong đó có những nguyên tắc cơ bản sau đây:

- Bảo đảm tính trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời trong hoạt động thống kê Nguyên tắc này đòi hỏi việc thu thập, tổng hợp và tính toán các chỉ tiêu thống kê phải bảo đảm đúng quy định về nội dung, phương pháp tính, nguồn số liệu

Trang 35

một cách chặt chẽ và thống nhất Bởi cùng một chỉ tiêu thống kê, nếu quan niệm khác nhau, phương pháp thu thập, tính toán khác nhau và có nguồn thu thập khác nhau sẽ dẫn đến kết quả khác nhau

- Bảo đảm tính độc lập khách quan về chuyên môn nghiệp vụ thống kê Để thực hiện nguyên tắc này, các chủ thể trong hoạt động thống kê phải thực hiện đúng quy định về nội dung, phương pháp tính và nguồn số liệu, bởi có như vậy mới nâng cao được trình độ chuyên môn, nghiệp vụ trong việc thu thập, tổng hợp, tính toán, cũng như mới vững vàng trong việc bảo vệ sự khách quan, chính xác của thông tin thống kê trước các nguồn thông tin khác nhau hoặc tư tưởng thành tích tạo mọi sức ép đối với các thông tin thống kê Cũng vì vậy khái niệm, nội dung, phương pháp tính và nguồn

số liệu của chỉ tiêu được chuẩn hoá sẽ là một trong những tiền đề để bảo đảm tính độc lập về chuyên môn nghiệp vụ

- Thống nhất về chỉ tiêu, biểu mẫu, phương pháp tính, bảng phân loại, đơn vị đo lường, niên độ thống kê và bảo đảm so sánh quốc tế Nguyên tắc này đòi hỏi từ các Vụ tổng hợp đến các Vụ chuyên ngành, từ TCTK đến các Bộ, ngành, các Cục Thống kê tỉnh/thành phố, các phòng thống kê huyện/quận/thị xã/thành phố, thống kê các xã/ phường/thị trấn, thống kê ở các đơn vị cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp cùng những tổ chức và cá nhân có liên quan đều phải thực hiện việc cung cấp, thu thập, tổng hợp, tính toán theo đúng quy định về nội dung, phương pháp tính, nguồn số liệu của từng chỉ tiêu thống kê

- Không trùng lắp, chồng chéo giữa các cuộc điều tra thống kê, các chế độ báo cáo thống kê Nguyên tắc này đòi hỏi phải có sự quy định thống nhất về nguồn số liệu thống kê Xét theo kênh thu thập, nguồn số liệu thống kê được thu thập từ 2 kênh, đó

là kênh Bộ, ngành và kênh hệ thống tổ chức thống kê tập trung (ngành dọc) Xét theo hình thức thu thập, nguồn số liệu thống kê bao gồm các thông tin từ điều tra thống kê

và các thông tin thống kê từ báo cáo thống kê Xét theo nơi phát sinh thông tin, nguồn

số liệu thống kê bao gồm các thông tin thống kê từ sản xuất kinh doanh, từ khu vực hộ gia đình và các thông tin tổng hợp từ hồ sơ và báo cáo hành chính Việc quy định rõ nguồn số liệu thống kê để bảo đảm không có sự trùng, chéo giữa nguồn số liệu thống

kê, vừa giảm gánh nặng cho người trả lời, vừa tránh được sự lãng phí cũng như sự khác biệt về kết quả thu thập thông tin cũng như nâng cao hiệu quả của hoạt động

Trang 36

(3.2) Xây dựng hệ thống khái niệm, phương pháp tính các chỉ tiêu thống kê là căn cứ để giải thích nội dung, phương pháp tính và nguồn số liệu của báo cáo thống kê tổng hợp do Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành áp dụng đối với các Cục Thống kê tỉnh/thành phố; giải thích nội dung, phương pháp tính, nguồn số liệu các chỉ tiêu trong chế độ báo cáo thống kê tổng hợp do Tổng cục Thống kê ban hành áp dụng đối với các Phòng Thống kê huyện/ quận/ thị xã/ thành phố

(3.3) Xây dựng hệ thống khái niệm, phương pháp tính các chỉ tiêu thống kê là căn cứ để giải thích những chỉ tiêu thống kê quốc gia trong hệ thống chỉ tiêu thống kê Bộ/ngành, trong Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp do các Bộ/ngành ban hành áp dụng đối với các Sở/ngành ở cấp tỉnh, các phòng/ban chuyên môn ở cấp huyện, các đơn vị

cơ sở có hồ sơ hành chính

(3.4) Xây dựng hệ thống khái niệm, phương pháp tính các chỉ tiêu thống kê là căn cứ để giải thích Chế độ báo cáo thống kê do Thủ tướng Chính phủ ban hành áp dụng đối với Uỷ ban nhân dân xã/phường/thị trấn, Chế độ báo cáo thống kê cơ sở do Thủ tướng Chính phủ ban hành áp dụng đối với các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp

(3.5) Xây dựng hệ thống khái niệm, phương pháp tính các chỉ tiêu thống kê là căn cứ để giải thích nội dung, phương pháp tính và nguồn số liệu trong các cuộc điều tra, tổng điều tra thống kê

(3.6) Xây dựng hệ thống khái niệm, phương pháp tính các chỉ tiêu thống kê là căn cứ để giải thích các thuật ngữ trong các niên giám thống kê, trong các cuốn số liệu

Trang 37

thống kê khi công bố, xuất bản

(4) Xuất phát từ thực trạng về khái niệm, nội dung, phương pháp tính và nguồn

số liệu của các chỉ tiêu thống kê hiện nay

(4.1) Những kết quả tích cực

Trong số các chỉ tiêu thống kê quốc gia được ban hành có nhiều chỉ tiêu đã được thu thập, tổng hợp Khái niệm, nội dung, phương pháp tính và nguồn số liệu của các chỉ tiêu thống kê này đã đạt được kết quả tích cực về 2 mặt

Một mặt, hầu hết khái niệm, nội dung, phương pháp tính và nguồn số liệu của

các chỉ tiêu thống kê này đã được quy định trong các chế độ báo cáo thống kê hoặc trong các phương án điều tra thống kê Đây là cơ sở để thu thập, tổng hợp thông tin thống kê từ dưới lên, hình thành các báo cáo tình hình kinh tế - xã hội hàng tháng, quý, năm, hình thành các niên giám thống kê, các sản phẩm thống kê khác Hầu hết các thông tin thống kê thu thập, tổng hợp và công bố đã được lãnh đạo các cấp, các ngành

và các đối tượng sử dụng thông tin thống kê khác tin dùng, góp phần bảo đảm thông tin thống kê trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời phục vụ các cơ quan nhà nước trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức cá nhân khác

Mặt khác, khái niệm, nội dung, phương pháp tính và nguồn số liệu của nhiều

chỉ tiêu thống kê đã được đưa thành đề tài nghiên cứu khoa học để cải tiến hoặc hoàn thiện cho phù hợp với đối tượng cung cấp thông tin, với đối tượng sử dụng thông tin phù hợp với tiến bộ của công nghệ thông tin qua từng thời kỳ

(4.2) Những hạn chế, bất cập

Bên cạnh những kết quả tích cực chủ yếu như đã nêu trên, về khái niệm, nội dung, phương pháp tính và nguồn số liệu của các chỉ tiêu thống kê cũng còn bộc lộ những hạn chế, bất cập Trong các chỉ tiêu thống kê hiện hành cũng còn có sự khác nhau lớn về khái niệm, nội dung, phương pháp tính và nguồn số liệu giữa các chế độ báo cáo thống kê với phương án điều tra, giữa Tổng cục Thống kê với Bộ, ngành, giữa các Vụ tổng hợp với các Vụ chuyên ngành, giữa Tổng cục Thống kê với các Cục Thống kê tỉnh/thành phố Trong đề tài này xin chỉ đưa ra một số chỉ tiêu thống kê cụ

Trang 38

thể để chứng minh

- Số hộ: hiện có 3 quan niệm khác nhau giữa số hộ trong điều tra dân số, hộ trong điều tra khảo sát mức sống hộ gia đình và hộ sản xuất kinh doanh trong các cuộc điều tra chuyên ngành (hộ nông nghiệp nông thôn, hộ kinh tế cá thể)

+ Trong điều tra dân số, hộ bao gồm một hay một nhóm người ở chung và ăn chung với nhau, có thể có hay không có quỹ thu chi chung

+ Trong điều tra khảo sát mức sống hộ gia đình:

Hộ gia đình là một hoặc một nhóm người ăn chung, ở chung và có chung quỹ thu, chi

+ Trong điều tra thống kê của các chuyên ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương mại

Hộ bao gồm:

* Số người ở cùng một địa điểm xác định

* Có toàn bộ hoặc phần lớn thu nhập hoặc số lao động chủ yếu thuộc ngành nào

thì tính vào ngành đó

(5) Xuất phát từ yêu cầu của so sánh quốc tế

Yêu cầu so sánh quốc tế được xét trên hai mặt Một mặt là bổ sung những chỉ tiêu mà thống kê Việt Nam còn thiếu so với các ấn phẩm thống kê quốc tế Mặt khác

là cần chuẩn hoá theo tiêu chuẩn và thông lệ chủ yếu của quốc tế về những chỉ tiêu chủ yếu

2.1.3 Yêu cầu của việc xây dựng hệ thống khái niệm, phương pháp tính các chỉ tiêu thống kê

Căn cứ vào lý luận và thực tiễn đã đề cập của đề tài, Ban Chủ nhiệm đề xuất một số yêu cầu mang tính nguyên tắc trong việc chuẩn hoá như sau:

(1) Bảo đảm tính khoa học

Việc chuẩn hoá khái niệm, nội dung, phương pháp tính và nguồn số liệu từng chỉ tiêu phải bảo đảm tính khoa học, tức là dựa trên những căn cứ lý thuyết kinh tế chính trị, chủ nghĩa duy vật lịch sử, lý thuyết thống kê (lý thuyết về phân tổ, các số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, chỉ số thống kê, liên hệ tương quan ) phải bảo

Trang 39

đảm tính khoa học

(2) Phù hợp với thực tế Việt Nam

Nguyên tắc này được xét theo 3 mặt chủ yếu:

Một là, phù hợp với quy định của Việt Nam Quy định của Việt Nam được thể

hiện trên nhiều điểm, nhưng xét những quy định chung có liên quan đến hoạt động thống kê, thì có hai điểm đáng lưu ý

- Kinh tế thị trường mà Việt Nam lựa chọn là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nhà nước không chỉ quản lý nhà nước thông thường (tạo hành lang pháp lý, kiểm tra, thanh tra) mà còn thực hiện việc quản lý điều hành kinh tế vĩ mô, thậm chí còn chia làm nhiều cấp quản lý (Trung ương, tỉnh, huyện, xã); đối với kinh tế nhà nước, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhà nước, nhà nước còn quản lý một

số vấn đề vi mô Việc phân tổ thống kê, ngoài phân tổ thông thường còn phải quan tâm đến phân tổ theo thành phần kinh tế (kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài); phân tổ theo cấp quản lý; phân tổ theo địa bàn tỉnh/thành phố

- Tổng cục Thống kê là cơ quan thuộc Chính phủ (nay thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư) không có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật Việc ban hành các văn bản quy phạm phát luật về thống kê, từ Hệ thống chỉ tiêu đến chế độ báo cáo thống kê tổng hợp, chế độ báo cáo thống kê cơ sở, chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với xã/ phường/ thị trấn, Chương trình điều tra thống kê quốc gia, các bảng phân loại thống kê đều phải do Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định (Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê chỉ được ban hành các Quyết định điều tra thống kê)

Đây là những điểm khác biệt lớn trong công tác thống kê giữa Việt Nam và các nước có nền kinh tế thị trường khác

Hai là, có tính khả thi trong thực tế Xét theo ý nghĩa này, thì nhiều chỉ tiêu

phải có tiến độ công bố ngắn hơn (có nhiều chỉ tiêu tháng, quý); phạm vi chỉ tiêu phải chọn đại diện suy rộng đến nhiều cấp (ngoài cả nước, còn phải tính cho cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã), nên hoặc là rất tốn kém về nguồn lực, từ lực lượng cán bộ, điều tra viên, về kinh phí, hoặc là không thể suy rộng được

(Ví dụ nhiều chỉ tiêu về dân số chỉ được thực hiện qua Tổng điều tra 10 năm

Trang 40

một lần, còn hàng năm chỉ điều tra mẫu và chỉ suy rộng đến cấp tỉnh, trong khi cấp huyện, cấp xã cũng có nhu cầu cao về những chỉ tiêu này)

Ba là, giải thích phải bảo đảm dễ hiểu, phù hợp với thói quen của người sử

dụng tin Chẳng hạn các chỉ tiêu giá trị sản xuất, tổng mức bán lẻ, giảm tỷ lệ nghèo hàng năm

(3) Vừa có tính kế thừa, vừa cập nhật kiến thức mới

Cần kế thừa những quy định về khái niệm, nội dung, phương pháp tính, nguồn

số liệu đã được sử dụng mà đến nay vẫn còn đúng

Đối với những chỉ tiêu về nội dung và phương pháp tính đã có những thay đổi

thì cần cập nhật những kiến thức mới nhất

(4) Phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế

Những khái niệm, nội dung, phương pháp tính, nguồn số liệu các chỉ tiêu thống

kê của Việt Nam phải cơ bản phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế Thực hiện nguyên tắc này là để bảo đảm:

- Cung cấp thông tin cho các nước, các tổ chức quốc tế theo cam kết với quốc tế của Chính phủ, của Tổng cục Thống kê, kể cả nội dung chỉ tiêu, các bảng phân loại thống kê

- Cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư nước ngoài khi muốn hoạt động đầu tư, thương mại với Việt Nam

- So sánh quốc tế về những chỉ tiêu thống kê chủ yếu được thể hiện ở các ấn phẩm của các Tổ chức Thống kê và các Tổ chức quốc tế khác, kể cả về chỉ tiêu, về nội dung, phương pháp tính

2.1.4 Nguyên tắc xây dựng một hệ thống chỉ tiêu thống kê

Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê nói chung cần dựa trên 4 yêu cầu cơ bản: i) đảm bảo tính khoa học; ii) khả thi, dễ hiểu, dễ áp dụng, dễ thu thập; iii) lượng hoá các tiêu thức và đảm bảo tính đại diện cao; iv) đảm bảo số liệu được thu thập theo hệ thống và thường xuyên Cụ thể:

Hệ thống chỉ tiêu thống kê đảm bảo tính khoa học bao gồm đầy đủ các khái niệm/định nghĩa, phương pháp thu thập, tính toán rõ ràng, đảm bảo tính so sánh về mặt không gian và thời gian Đây là yêu cầu quan trọng giúp cho việc thu thập số liệu với

Ngày đăng: 25/12/2014, 16:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Barry &Chorly: Atmosphere, Weather, and Climate. New York Chicago Sanfrancico Khác
2. A. Henderson Seller and K.McGuffie: Climate Modelling Primer Khác
3. Lolicy Brief on Clmate, Oceans, and Security. 4 th Global Conference on Oceans, Coasts, and Islands. HaNoi, 2008 Khác
4. Biến đổi khí hậu 2007. Ban Liên Chính Phủ về Biến Đổi Khí Hậu Khác
5. Tổng cục Thống kê , Báo cáo thiệt hại thiên tai hàng năm Khác
6. Nguyễn Đức Ngữ, 2002. Tìm hiểu về hạn hán và hoang mạc hóa. NXB Khoa hoc và Kỹ Thuật Khác
7. Bùi Xuân Thông, 2006: Báo cáo Tổng kết Đề tài Cấp Bộ Tài nguyên và Môi trường: Nghiên cứu hiện tượng mực nước biển dâng dị thường không phải do bão xẩy ra tại các vùng cửa sông ven biển Việt Nam Khác
8. Bui Xuan Thong, 2009: Mapping precomputed maximum of envelop of water with possible maximal storm surgeboccurring at Vietnam coast. World Scientific - APAC- Asian and Pacific Coasts. Vol 3, pp 110 Khác
9. Bộ Tài nguyên Môi trường, 2009. Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam Khác
10. Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê hàng năm Khác
11. Tổng cục Thống kê - Chương trình phát triển Liên hợp quốc: Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, Hà Nội, 2011 Khác
12. Trường đại học Thuỷ lợi, Bộ môn Thuỷ văn công trình: Thuỷ văn công trình, NXB Nông nghiệp, 1993 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 9: Số giờ nắng trung hàng năm tại một số trạm quan trắc - Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Bảng 9 Số giờ nắng trung hàng năm tại một số trạm quan trắc (Trang 114)
Bảng 11: Nhiệt độ không khí trung bình năm tại một số trạm quan trắc - Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Bảng 11 Nhiệt độ không khí trung bình năm tại một số trạm quan trắc (Trang 117)
Bảng 12: Mực nước một số sông chính - Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Bảng 12 Mực nước một số sông chính (Trang 120)
Bảng 13: Lưu lượng nước một số sông chính - Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Bảng 13 Lưu lượng nước một số sông chính (Trang 122)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w