1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp tính chỉ tiêu dư thừa lao động trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt nam

97 463 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 2,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1) Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, bao gồm các khái niệm, định nghĩa dư thừa lao động nói chung và trong nông nghiệp nói riêng, kinh nghiệm trong nước và quốc tế. (2) Thực trạng nghiên cứu và tính toán chỉ tiêu dư thừa lao động trong nông nghiệp, bao gồm đặc thù lao động trong nông nghiệp ở Việt Nam, thực trạng phương pháp tính chỉ tiêu này. (3) Nguồn thông tin, phương pháp tính dư thừa lao động trong nông nghiệp (phương án điều tra chọn mẫu, nội dung và phương pháp tính, biểu mẫu điều tra và giải thích). (4) Điều tra thu thập thông tin và tính thử nghiệm về dư thừa lao động trong nông nghiệp ở 1 tỉnh nông nghiệp thuộc vùng đồng bằng sông Hồng (Dự kiến Tỉnh Hải Dương). (5) Kiến nghị về chuyên môn và áp dụng tính chỉ tiêu dư thừa lao động trong nông nghiệp, bao gồm quy trình tính toán, nguồn thông tin, cài đặt vào các cuộc điều tra, đơn vị thụ hưởng kết quả nghiên cứu

Trang 1

TỔNG CỤC THỐNG KÊ VIỆN KHOA HỌC THỐNG KÊ

- -

BÁO CÁO TỔNG HỢP

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp tính chỉ tiêu

dư thừa lao động trong lĩnh vực nông nghiệp ë ViÖt Nam

Mã số: 2.1.1-B11

Chủ nhiệm: TS Phạm Đăng Quyết Phó chủ nhiệm: CN Nguyễn Hòa Bình Thư ký khoa học: ThS Hà Mạnh Hùng Thư ký hành chính: CN Đặng Thị Thu Bình

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐO LƯỜNG DƯ THỪA LAO

ĐỘNG TRONG NÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC NGOÀI

7

1.3 Đo lường dư thừa lao động trong nông nghiệp ở nước ngoài

2.2 Những nguyên nhân dẫn đến dư thừa lao động trong nông nghiệp và

nông thôn ở Việt Nam

35

2.3 Nhận thức về dư thừa lao động trong nông nghiệp ở nước ta 44 2.4 Thực tế đo lường dư thừa lao động trong nông nghiệp ở nước ta 54 CHƯƠNG 3 – ĐỀ XUẤT ĐO LƯỜNG DƯ THỪA LAO ĐỘNG

TRONG NÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI VIỆT NAM VÀ TÍNH TOÁN

THỬ NGHIỆM

57

3.1 Đề xuất phương pháp đo lường dư thừa lao động trong lĩnh vực

nông nghiệp đối với nước ta

57

3.2 Thiết kế điều tra mẫu dư thừa lao động trong nông nghiệp nông

thôn ở tỉnh Hải Dương

Phụ lục 1 - Biểu tổng hợp kết quả điều tra dư thừa lao động trong

nông nghiệp nông thôn

76

Phụ lục 2 - Phương án điều tra dư thừa lao động trong nông nghiệp

nông thôn ở tỉnh Hải Dương

90 Phụ lục 3 - Phiếu điều tra dư thừa lao động trong nông nghiệp nông 95

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay các thuật ngữ như “thất nghiệp”, “thiếu việc làm”, “lao động dôi dư”, “dư thừa lao động”, hay “lao động dư thừa” được nói nhiều trong các bài báo, các báo cáo và các nghiên cứu về thị trường lao động và việc làm

ở nước ta Tuy nhiên, quan niệm về vấn đề này cho đến nay chưa thống nhất

Có người hiểu lao động dư thừa là những người thất nghiệp, có người hiểu lao động dư thừa là những người thiếu việc làm, và cũng có người hiểu dư thừa lao động là cả những người thất nghiệp và những người thiếu việc làm Gần đây chúng ta mới nhìn nhận lao động dư thừa hay dư thừa lao động tồn tại khi một phần của lực lượng lao động có thể được chuyển đi mà không gây

ra giảm sản lượng

Dư thừa lao động/lao động dư thừa là một khái niệm về việc sử dụng thấp lao động được thảo luận nhiều trong kinh tế phát triển nhưng hiếm khi được đo lường Có một câu hỏi đặt ra là liệu nguồn cung lao động có quá dồi dào trong thị trường lao động hay không, tồn tại ở dạng thất nghiệp hay thiếu việc làm và họ sẵn sàng làm việc khi có cơ hội Ngoài ra, còn có một cơ hội

khác là liệu một số ngành đơn giản là có hiện tượng lao động dư thừa hay

không Lao động dư thừa được hiểu là, về mặt kỹ thuật, có quá nhiều lao động so với số cần thiết để sản xuất ra cùng một sản lượng như hiện tại Hàm

ý ở đây là, nếu có lao động dư thừa như vậy, thì có một tiềm năng dự trữ ẩn dấu: số người dư thừa có thể được ra khỏi hoạt động hiện tại mà không ảnh hưởng gì đến kết quả sản xuất và đưa họ vào làm việc cho các loại dự án phát triển khác nhau

Sự chuyển dịch lớn lao động dư thừa từ nông nghiệp đến các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ được chứng kiến cũng như

những câu hỏi về tính bền vững của nguồn dư thừa lao động nông thôn: vẫn

có một nguồn dư thừa lao động ở nông thôn? Nếu có, nguồn dư thừa đó lớn

Trang 4

thế nào và nú cú thể kộo dài được bao lõu? Những cõu hỏi này được tranh luận sụi nổi trong cỏc tài liệu nghiờn cứu ở nước ngoài Nhưng ở Việt Nam

cú rất ớt hoặc hầu như chưa cú ý kiến trao đổi nào về khỏi niệm và phương phỏp đo lường dư thừa lao động núi chung và dư thừa lao động trong nụng nghiệp núi riờng Nghiờn cứu này đề cập đến việc tiếp cận đo lường dư thừa lao động trong nụng nghiệp ở nước ngoài và nghiờn cứu thử nghiệm phương phỏp tớnh chỉ tiờu dư thừa lao động trong lĩnh vực nụng nghiệp ở Việt Nam

2 Tổng quan tỡnh hỡnh nghiờn cứu

2.1 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu ngoài nước

liệu ở nước ngoài được cụng bố nghiờn cứu về dư thừa lao động và đo lường

dư thừa lao động trong nụng nghiệp như cuốn “Lao động nụng nghiệp và dư thừa lao động: kinh nghiệm của Trung Quốc trong quỏ trỡnh cải cỏch” của Fung Kwan (2008) hay cuốn “Dư thừa lao động, mở cửa và bất bỡnh đẳng nụng thụn - thành thị ở Trung Quốc” của Furong Jin và Keun Lee (2009) Tuy nhiờn, hiện cũn thiếu những phương phỏp đo lường toàn diện và cú hệ thống quy mụ của lao động dư thừa Đây là một thực tế khó khăn cho Ban Chủ nhiệm đề tài khi triển khai nghiên cứu vấn đề này

2.2 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu trong nước

Hiện cú rất ớt tài liệu đưa ra cỏc phương phỏp đo lường dư thừa lao động trong nụng nghiệp ở nước ta Việc thiếu những kiến thức vững vàng về quỏ trỡnh tiến triển của quy mụ lao động dư thừa ở nụng thụn là một hạn chế lớn của cỏc nghiờn cứu hiện nay Thực tế này xuất phỏt một phần từ những thiếu hụt về số liệu và mức độ quan tõm đến cỏc nghiờn cứu về lao động, việc

Trang 5

Hầu hết các cuộc điều tra hiện tại ở nước ta như:

- §iều tra mức sống dân cư (Vụ Thống kê Xã hội và Môi trường thực hiện) một số năm có điều tra tình hình lao động, việc làm của hộ dân cư phục

vụ cho việc phân tích đánh giá tỷ lệ nghèo và phân tầng xã hội giàu, nghèo ở nước ta

- Điều tra lao động - việc làm (của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trước đây và Vụ Thống kê Dân số và Lao động Tổng cục Thống kê hiện nay) chủ yếu tập trung điều tra tình trạng việc làm, thiếu việc làm và thất nghiệp ở khu vực thành thị và nông thôn trong từng thời kỳ (quý, năm)

- Các cuộc điều tra khác (như: Điều tra cơ sở sản xuất kinh doanh, điều tra mẫu hộ nông nghiệp hàng năm và điều tra mẫu trong Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản,…) đều tập trung phản ánh các điều kiện, kết quả sản xuất, cơ sở hạ tầng,… trong ngành công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản và khu vực nông thôn

Rất tiếc các cuộc điều tra hiện hành của Tổng cục Thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã nêu trên đều chưa quan tâm nghiên cứu thu thập dữ liệu về dư thừa lao động trong n«ng nghiÖp Cho đến nay, chưa có số liệu điều tra để tạo điều kiện cho việc so sánh, và nói chung, khó

có thể thấy được các đo lường việc tận dụng lao động chưa thỏa đáng trong

số liệu điều tra có tác dụng đến đâu trong việc giám sát tình trạng dư thừa lao động trong lĩnh vực này

3 Mục tiêu của đề tài

Xác định và đề xuất áp dụng phương pháp tính, nguồn thông tin chỉ

tiêu dư thừa lao động trong lĩnh vực nông nghiệp của Việt Nam

4 Nội dung nghiên cứu, gồm:

(1) Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, bao gồm các khái niệm, định nghĩa dư thừa lao động nói chung và trong nông nghiệp nói riêng, kinh nghiệm trong nước và quốc tế

Trang 6

(2) Thực trạng nghiờn cứu và tớnh toỏn chỉ tiờu dư thừa lao động trong nụng nghiệp, bao gồm đặc thự lao động trong nụng nghiệp ở Việt Nam, thực trạng phương phỏp tớnh chỉ tiờu này

(3) Nguồn thụng tin, phương phỏp tớnh dư thừa lao động trong nụng nghiệp (phương ỏn điều tra chọn mẫu, nội dung và phương phỏp tớnh, biểu mẫu điều tra và giải thớch)

(4) Điều tra thu thập thụng tin và tớnh thử nghiệm về dư thừa lao động trong nụng nghiệp ở 1 tỉnh nụng nghiệp thuộc vựng đồng bằng sụng Hồng (Dự kiến Tỉnh Hải Dương)

(5) Kiến nghị về chuyờn mụn và ỏp dụng tớnh chỉ ti

, đơn vị thụ hưởng kết quả nghiờn cứu

5 Đối t-ợng, ph-ơng pháp nghiên cứu và cách tiếp cận vấn đề

- Đối t-ợng nghiên cứu của đề tài: khỏi niệm về dư thừa lao động và phương phỏp tớnh dư thừa lao động trong nụng nghiệp

- Cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu: Kết hợp nghiên cứu lý luận với khảo sát, điều tra chọn mẫu thu thập số liệu dư thừa lao động trong nụng nghiệp từ thực tế một số địa ph-ơng (tỉnh, huyện và hộ nông nghiệp)

- Các ph-ơng pháp nghiên cứu, bao gồm:

+ Thu thập tổng quan tài liệu: S-u tầm, biên dịch tài liệu liên quan của n-ớc ngoài về nội dung và ph-ơng pháp thu thập chỉ tiờu về d- thừa lao

động trong nông nghiệp;

+ điều tra, khảo sát thực tế trong nước ở một số địa ph-ơng;

+ Ph-ơng pháp chuyên gia: Tổ chức các cuộc hội thảo khoa học, lấy ý kiến thẩm định kết quả nghiên cứu của các chuyên gia, các nhà khoa học thống kê ở trung -ơng và địa ph-ơng

+ Tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài: Viết các chuyên đề khoa học và các nội dung nghiên cứu cần thiết (d-ới hình thức hợp đồng khoa học) và báo

Trang 7

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận và khuyến nghị, kết cấu của đề tài gồm 3 chương:

Chương 1 – Cơ sở lý luận và đo lường dư thừa lao động trong nông nghiệp ở nước ngoài

Chương 2 – Thực tiễn đo lường dư thừa lao động trong nông nghiệp ở Việt Nam

Chương 3 – Đề xuất đo lường dư thừa lao động trong nông nghiệp đối với Việt Nam và tính toán thử nghiệm

Chương 1 đã tổng quan lý thuyết nhị nguyên của Lewis, đưa ra các ý kiến trao đổi khác nhau về khái niệm và phương pháp đo lường dư thừa lao động trong nông nghiệp của các học giả nước ngoài và giới thiệu các cách tiếp cận đo lường dư thừa lao động trong nông nghiệp của Tổ chức Lao động quốc tế ILO

Chương 2 trình bày đ

, phân tích các nguyên nhân dẫn đến lao động dư thừa trong nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam, làm rõ một số khái niệm về thị trường lao động, việc làm, thiếu việc làm, thất nghiệp và dư thừa lao động, cũng như thực tế đo lường dư thừa lao động trong nông nghiệp hiện tại ở nước ta

Chương 3 đề xuất tiếp cận đo lường dư thừa lao động trong nông nghiệp đối với Việt Nam, trình bày việc thiết kế một cuộc điều tra thu thập dữ liệu về dư thừa lao động trong nông nghiệp ở tỉnh Hải Dương và tính toán thử nghiệm chỉ tiêu dư thừa lao động trong lĩnh vực nông nghiệp này

Trang 8

CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐO LƯỜNG DƯ THỪA LAO ĐỘNG TRONG NÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC NGOÀI

Vấn đề có bao nhiêu lao động đang làm việc trong sản xuất nông nghiệp và bao nhiêu lao động làm việc trong sản xuất phi nông nghiệp là sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách, và đó cũng là chủ đề được xem xét trong mô hình phát triển kinh tế nhị nguyên của Lewis-Fei-Ranis, đối tượng được đề cập ở đây chính là dư thừa lao động, mà vẫn còn là một bí ẩn và thu hút sự quan tâm của các học giả

Năm 1954, Lewis đã đưa ra một lập luận rằng các mô hình kinh tế đạt chuẩn ít liên quan đến các nước nghèo Nền kinh tế của những nước này đang trong quá trình chuyển đổi từ nền nông nghiệp truyền thống tự cung tự cấp là chủ yếu sang nền kinh tế công nghiệp hóa hiện đại hơn Ông cho biết cần có những công cụ khác nhau để giải thích sự chuyển đổi này diễn ra như thế nào Công trình của ông là một trong những đóng góp đầu tiên vào môn kinh tế phát triển được phát triển vào những năm 1950 và 1960

Lý thuyết này cho rằng ở các nền kinh tế có hai khu vực kinh tế song song tồn tại: khu vực truyền thống, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và có đặc trưng là rất trì trệ, năng suất lao động rất thấp (năng suất lao động cận biên xem như bằng không) và dư thừa lao động; khu vực công nghiệp hiện đại có đặc trưng năng suất lao động cao và có khả năng tự tích lũy Do lao động dư thừa nên việc chuyển một phần lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp không gây ảnh hưởng gì đến sản lượng nông nghiệp Do có năng suất lao động cao và tiền công cao hơn nên khu vực công nghiệp thu hút lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp chuyển sang, và do lao động trong khu vực nông nghiệp quá dư thừa và tiền công thấp hơn nên các ông chủ công nghiệp có thể thuê mướn nhiều nhân công mà không phải tăng thêm tiền công, lợi nhuận của các ông chủ ngày càng tăng; giả định rằng

Trang 9

toàn bộ lợi nhuận sẽ được đem tái đầu tư thì nguồn tích lũy để mở rộng sản xuất trong khu vực công nghiệp ngày càng tăng lên [1]

Lewis giải thích rằng tiến bộ công nghệ và sự hình thành vốn trong khu vực hiện đại dẫn đến làm gia tăng lợi nhuận, và lợi nhuận tăng lên được sử dụng để tăng đầu tư, nó tiếp tục làm tăng trưởng việc làm trong lĩnh vực này Cuối cùng, một bước ngoặt đạt được khi không còn dư thừa lao động và tính chất nhị nguyên của nền kinh tế kết thúc, với mức lương tăng lên phản ánh được năng suất Phỏng đoán có thể được rút ra từ mô hình Lewis: rằng khoảng cách thu nhập giữa các khu vực đô thị và nông thôn sẽ tiếp tục cho đến khi các khu vực đô thị hiện đại thu hút hết lao động dư thừa trong lĩnh vực truyền thống Vì vậy, việc chuyển lao động dư thừa ở nông thôn cho khu vực đô thị là chìa khóa để giảm sự bất bình đẳng thu nhập ở các nước nghèo được đặc trưng bởi một nền kinh tế kép

Có thể rút ra từ lý thuyết này một nhận định là để thúc đẩy sự phát triển, các quốc gia đang phát triển cần phải mở rộng khu vực công nghiệp hiện đại bằng mọi giá mà không quan tâm đến khu vực truyền thống Sự tăng trưởng của khu vực công nghiệp tự nó sẽ thu hút hết lượng lao động dư thừa trong nông nghiệp chuyển sang và từ trạng thái nhị nguyên, nền kinh tế sẽ chuyển sang một nền kinh tế công nghiệp phát triển

Lý thuyết nhị nguyên của Lewis tiếp tục được nhiều nhà kinh tế nổi tiếng (như G Ranis, J Fei, Harris) khác tiếp tục nghiên cứu và phân tích [1] Luận cứ của họ xuất phát từ khả năng phát triển và tiếp nhận lao động của khu vực công nghiệp hiện đại Khu vực này có nhiều khả năng lựa chọn công nghệ sản xuất, trong đó có công nghệ sử dụng nhiều lao động nên về nguyên tắc có thể thu hút hết lượng lao động dư thừa của khu vực nông nghiệp Nhưng việc di chuyển lao động được giả định là do chênh lệch về thu nhập giữa lao động của hai khu vực kinh tế trên quyết định (các tác giả giả định rằng thu nhập của lao động công nghiệp tối thiểu cao hơn 30% so với lao động trong khu vực nông nghiệp) Như vậy, khu vực công nghiệp chỉ có thể

Trang 10

thu hút lao động nông nghiệp khi có sự dư thừa lao động nông nghiệp và chênh lệch tiền công giữa hai khu vực đủ lớn Nhưng khi nguồn lao động nông nghiệp dư thừa ngày càng cạn dần thì khả năng duy trì sự chênh lệch về tiền lương này sẽ ngày một khó khăn Ðến khi đó, việc tiếp tục di chuyển lao động nông nghiệp sang công nghiệp sẽ làm giảm sản lượng nông nghiệp và làm cho giá cả nông sản tăng lên, và kéo theo đó là mức tăng tiền công tương ứng trong khu vực công nghiệp Sự tăng lương của khu vực công nghiệp này đặt ra giới hạn về mức cầu tăng thêm đối với lao động của khu vực này Như thế, về mặt kỹ thuật, mặc dù khu vực công nghiệp có thể thu hút không hạn chế lượng lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp chuyển sang thì về mặt thu nhập và độ co giãn cung cầu thì khả năng tiếp nhận lao động từ khu vực nông nghiệp của khu vực công nghiệp là có hạn

Một hướng phân tích khác dựa trên lý thuyết nhị nguyên là phân tích khả năng di chuyển lao động từ nông thôn (khu vực nông nghiệp) ra thành thị (khu vực công nghiệp) mà Todaro là một điển hình [1] Quá trình dịch chuyển lao động chỉ diễn ra suôn sẻ khi tổng cung về lao động từ nông nghiệp phù hợp với tổng cầu ở khu vực công nghiệp Sự di chuyển lao động này không những phụ thuộc vào chênh lệch thu nhập mà còn vào xác suất tìm được việc làm đối với lao động nông nghiệp

Một cách tổng quát, khi phân tích sự chuyển dịch cơ cấu kinh tê của hai lĩnh vực sản xuất vật chất quan trọng nhất của nền kinh tế các nước đang phát triển, các lý thuyết nhị nguyên đã đi từ việc cho rằng chỉ cần tập trung vào phát triển công nghiệp mà không quan tâm đến sự phát triển của khu vực nông nghiệp đến việc chỉ ra những giới hạn của việc này và như vậy, khu vực nông nghiệp cũng cần được quan tâm thích đáng trong quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế

Sự chuyển dịch lớn lao động dư thừa từ nông nghiệp đến các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ được chứng kiến cũng như

Trang 11

những câu hỏi về tính bền vững của nguồn dư thừa lao động nông thôn: vẫn

có một nguồn dư thừa lao động ở nông thôn? Nếu có, nguồn dư thừa đó lớn thế nào và nó có thể kéo dài được bao lâu? Những câu hỏi này được tranh luận sôi nổi trong các tài liệu nghiên cứu ở nước ngoài Nhưng ở Việt nam có rất ít hoặc hầu như chưa có ý kiến trao đổi nào về khái niệm và phương pháp

đo lường dư thừa lao động nói chung và dư thừa lao động trong nông nghiệp nói riêng Đề tài này sẽ nghiên cứu về khái niệm và cách tiếp cận đo lường dư thừa lao động trong nông nghiệp ở nước ngoài và ở Việt Nam

1.2 Khái niệm về dư thừa lao động

Hiện nay, trên thực tế

) Trong các tài liệu nghiên cứu ngoài nước còn có nhiều ý kiến trao đổi khác nhau về khái niệm và phương pháp đo lường dư thừa lao động nói chung và trong nông nghiệp nói riêng Có nhiều vấn đề về định nghĩa liên quan đến thuật ngữ “lao động dư thừa “, "dư thừa lao động", "thất nghiệp trá hình" và "thiếu việc làm”

Fung Kwan (2008), Khoa Kinh tế, Đại học Tổng hợp Macau đã tổng quan nhiều cách tiếp cận dẫn đến khái niệm về dư thừa lao động trong một tài liệu của mình về lao động nông nghiệp và dư thừa lao động: kinh nghiệm của Trung Quốc trong quá trình cải cách [33]

Theo Fung Kwan, Robinson (1936) có lẽ là người đầu tiên đưa ra các khái niệm về thất nghiệp trá hình (disguised unemployment) diễn tả trường hợp một công nhân không làm công việc tương xứng với khả năng Khái niệm của Robinson sau đó được sử dụng trong kinh tế nông nghiệp để mô tả trường hợp những nông dân bị dôi dư, tức có nhiều người cùng làm một công việc ít ỏi, và Eckaus (1955) đã thực hiện một phân tích hệ thống về mối liên quan giữa các hạn chế của công nghệ với lao động dư thừa Ông cho rằng thất nghiệp trá hình tồn tại và "với công nghệ nông nghiệp còn không thay đổi,

Trang 12

việc rút bớt lao động của các trang trại sẽ không làm giảm sản lượng" Eckaus tin rằng nên có tỷ lệ vốn/lao động tối thiểu trong hầu hết quy trình nông nghiệp có sử dụng nhiều lao động Song, nhiều quốc gia đang phát triển

có vốn ít hơn so với yêu cầu để sử dụng lao động, và do đó, một phần cung lao động sẵn có không được sử dụng Nói cách khác, ông giải thích sự tồn tại của lao động dư thừa xét về khả năng thay thế kỹ thuật bị hạn chế của các yếu

tố đầu vào trong nông nghiệp

Nurkse (1953) định nghĩa dư thừa lao động như là sản phẩm cận biên bằng không của lao động khi thay đổi tổ chức Sản phẩm cận biên của lao

động (MP L) là phần sản lượng tăng thêm trong tổng sản lượng khi sử dụng thêm một đơn vị lao động, khi các yếu tố khác giữ nguyên Khi lượng đầu vào lao động ít, mỗi lượng nhỏ lao động gia tăng sẽ làm tăng đáng kể sản lượng, khi có quá nhiều lao động thì sản phẩm biên của lao động sẽ giảm Trong điều kiện tư bản (vốn) không thay đổi, những công nhân và lượng lao động được bổ sung sẽ cho một lượng sản phẩm giảm sút

GeorgescuRoegen (1963) chỉ ra rằng, trong nền nông nghiệp phong kiến hoặc tiểu nông, việc làm của các gia đình nông dân được chi phối bởi tối

đa hóa tổng sản lượng gia đình chứ không phải bởi nguyên tắc của năng suất cận biên Như vậy, tối đa hóa đầu ra, một lý do cho sự tồn tại của trạng thái kém phát triển phổ biến trong hầu hết nền nông nghiệp kém phát triển

Lewis (1954, 1955) có lẽ là nhà kinh tế phát triển đầu tiên đưa ra các khái niệm về lao động dư thừa, hoặc trong thời của ông - "cung lao động không giới hạn " Ông xem xét các khái niệm về dư thừa lao động xét về sự tồn tại của một mức lương lớn hơn không khi các sản phẩm cận biên của lao

động (MP L) bằng không Trong nền nông nghiệp tiểu nông truyền thống, mỗi thành viên trong gia đình nhận được một sản phẩm trung bình không phân biệt đóng góp của họ Không có cơ hội để kiếm được một mức lương cao hơn mức sản phẩm trung bình, không có động lực cho nông dân rời khỏi trang trại

Trang 13

Quy tắc biến tỷ lệ, lao động được sử dụng nhiều với vốn đầu tư sẽ làm giảm năng suất biên của lao động tới không Vì vậy, nếu một số lao động từ các ngành truyền thống có thể được giải phóng mà không làm giảm tổng sản lượng nông nghiệp, phần này của lực lượng lao động là dư thừa lao động

Giả định sản phẩm cận biên bằng không của lao động trong khu vực truyền thống ( ) đã dẫn đến những cuộc tranh luận đáng kể Thứ nhất, ý nghĩa của một sản phẩm cận biên bằng không là chi phí lao động thu hút bởi khu vực công nghiệp hiện đại có thể được giảm thiểu Tuy nhiên, trong thực

tế, việc di chuyển có thể đòi hỏi một chi phí cơ hội tích cực (chẳng hạn như kết hợp với đào tạo tối thiểu cho lao động dư thừa) khi các khu vực công nghiệp hiện đại đòi hỏi một lực lượng lao động với một mức độ nhất định về chuyên môn Thứ hai, sản phẩm cận biên của lao động có thể lớn hơn không trong mùa thu hoạch, mặc dù nó có thể bằng không ở giai đoạn khác Nói cách khác, câu hỏi về thời vụ đã không được Lewis giải quyết thấu đáo Mehra (1966) đã chỉ ra rằng cầu về lao động thường là cao hơn trong mùa gieo trồng và thu hoạch Thứ ba, Lewis gắn sản phẩm cận biên bằng không với sản phẩm cận biên của người lao động, trong khi những người khác liên kết nó với giờ làm việc Thứ tư, “cung lao động không giới hạn ", liên quan đến năng suất cận biên bằng không, cũng là chủ đề của một cuộc tranh luận kéo dài Ở đây, Lewis cho rằng "không giới hạn" ngụ ý rằng nếu các nhà sản xuất trong khu vực công nghiệp hiện đại cung cấp thêm việc làm với mức tiền lương hiện có, sẽ có nhiều công nhân hơn so với mức họ yêu cầu - nói cách khác, cung lao động co dãn cao tại mức tiền lương hiện tại

Lao động dư thừa, theo định nghĩa của hầu hết các nhà kinh tế, có điều kiện tồn tại khi một phần của lực lượng lao động có thể được chuyển đi mà không gây ra giảm sản lượng Các giả định về năng suất cận biên bằng không cho thấy rằng sản lượng cận biên của lao động trong nông nghiệp ở các nước đang phát triển là rất thấp, nó là hữu ích để tạo thuận lợi làm rõ trong các phân tích Giả định này cung cấp một đo lường thuận tiện sản phẩm cận biên

Trang 14

của lao động đang gia tăng như thế nào ở các quốc gia đang phát triển bằng cách so sánh những xu hướng của các sản phẩm cận biên theo thời gian

Dư thừa lao động/lao động dư thừa là một khái niệm về việc sử dụng thấp lao động được thảo luận nhiều trong kinh tế phát triển nhưng hiếm khi được đo lường [34] Có một câu hỏi đặt ra là liệu nguồn cung lao động có quá dồi dào trong thị trường lao động hay không, tồn tại ở dạng thất nghiệp hay thiếu việc làm và họ sẵn sàng làm việc khi có cơ hội Ngoài ra, còn có một cơ

hội khác là liệu một số ngành đơn giản là có hiện tượng lao động dư thừa hay

không Lao động dư thừa có nghĩa là, về mặt kỹ thuật mà nói, có quá nhiều lao động so với số cần thiết để sản xuất ra cùng một sản lượng như hiện tại Hàm ý ở đây là, nếu có lao động dư thừa như vậy, thì có một tiềm năng dự trữ ẩn dấu: số người dư thừa có thể được ra khỏi hoạt động hiện tại mà không ảnh hưởng gì đến kết quả sản xuất và đưa họ vào làm việc cho các loại dự án phát triển khác nhau

Khái niệm “dư thừa lao động” và “lao động dư thừa” được hiểu theo hàm ý nêu trên Tuy nhiên, về mặt ngữ pháp, hai thuật ngữ này có sự phân biệt đôi chút “Dư thừa lao động” là thuật ngữ với cụm từ “dư thừa” là danh

từ được dùng để chỉ sự việc dư thừa lao động, còn “lao động dư thừa” là thuật ngữ với cụm từ “lao động” là danh từ dùng để chỉ người lao động bị dư thừa

Để có một cách nhìn đúng đắn về vấn đề dư thừa lao động nói chung

và dư thừa lao động trong nông nghiệp nói riêng, Đề tài cho rằng cần tiếp cận vấn đề này một cách khoa học, có nghĩa rằng, cần hiểu đúng bản chất của vấn

đề dư thừa lao động theo các học thuyết của kinh tế phát triển như được đề cập ở trên Đề tài sẽ sử dụng khái niệm dư thừa lao động theo nghĩa là có quá nhiều lao động so với số cần thiết để sản xuất ra cùng một sản lượng như hiện tại cho việc đo lường dư thừa lao động Lao động từ các ngành truyền thống (nông nghiệp) có thể được giải phóng mà không làm giảm tổng sản lượng nông nghiệp, phần này của lực lượng lao động gọi là dư thừa lao động (trong

Trang 15

1.3 Đo lường dư thừa lao động trong nông nghiệp ở nước ngoài (Trung Quốc)

Một số lượng đáng kể tài liệu ở nước ngoài đã được công bố về đo lường lao động dư thừa (Cook, năm 1996, Rawski & Mead, 1998, Taylor, năm 1993, Wang, năm 1994, và Yang & Tisdell, năm 1991) Tuy nhiên, còn thiếu một phương pháp đo lường toàn diện và có hệ thống quy mô của lao động dư thừa Theo Fung Kwan, cho đến nay, có ba phương pháp tiếp cận đã được sử dụng rộng rãi để đo lường quy mô của lao động dư thừa [33] Đó là:

- Phương pháp kinh nghiệm (hay còn gọi là phương pháp cổ điển),

- Phương pháp ước tính,

- Phương pháp định mức lao động

(1) Phương pháp kinh nghiệm/cổ điển là cách tiếp cận truyền thống

nhất để ước tính yêu cầu thời gian lao động trung bình cho sản xuất nông nghiệp trong nông thôn Số lượng dư thừa được tính bằng cách so sánh các ước tính này với những giờ lao động thực tế Đó là phương pháp khá đơn giản đã được áp dụng Dư thừa lao động nông nghiệp có thể được hiểu như là

sự chênh lệch giữa tổng cung lao động nông nghiệp so với nhu cầu thực tế của lao động nông nghiệp trong điều kiện công nghệ sản xuất nông nghiệp và phương pháp canh tác nhất định Trong nghiên cứu của Wang và Ding (2006) [34], các chức năng sản xuất nông nghiệp được mô tả là:

(1)

Trong đó T, K, D, và A cho biết số ngày làm việc, vốn đầu tư, diện tích

đất, và công nghệ tương ứng Sau đó, nhu cầu về ngày công lao động trong

sản xuất một khối lượng tối đa đầu ra của Y' được tính như sau:

(2)

Giả sử có L lao động nông nghiệp, số ngày công của một lao động

trong một năm được tính như sau:

Điều này phản ánh khối lượng công việc thực tế của một nông dân

Trang 16

Sau đó, một khối lượng công việc hợp lý cho một người nông dân phải được thiết lập, tức là, số lượng hợp lý ngày làm việc của người nông dân trong một năm Các học giả nói chung đồng ý rằng số ngày công lao động của người nông dân mỗi năm là 270 ngày (Chen, 1992) Vì vậy, nhu cầu thực tế cho lao động nông nghiệp có thể được tính như sau:

mà chưa tính đến cả biến lượng lao động dư thừa sẵn có

Wang và Ding (2006) đã sử dụng số liệu điều tra của Trung tâm Nghiên cứu kinh tế nông thôn của Bộ Nông nghiệp Trung Quốc với quy mô trên 22.000 hộ gia đình nông thôn từ 320 thành phố và các quận của 31 tỉnh

về số lượng ngày công lao động mỗi năm của nông dân theo các mức thu nhập khác nhau.Các dữ liệu được trình bày trong Bảng 1

Trang 17

Bảng 1 Số ngày làm việc của 1 lao động trong năm theo mức thu nhập

Thu nhập bình quân đầu người

(nhân dân tệ/giờ) 692.0 1344.3 1927.5 2801.0 6582.9

Số ngày làm việc của 1 nông dân 187.0 205.7 220.8 240.4 267.7

Bảng 1 cho thấy các hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người cao hơn có ngày làm việc bình quân trên mỗi-nông dân nhiều hơn Một mặt, ở các vùng có thu nhập cao hơn, các ngành phi nông nghiệp phát triển hơn và điều này dẫn đến có nhiều lao động chuyển từ nông thôn đến các khu vực đô thị hơn và giảm lao động trong nông nghiệp nhiều hơn Mặt khác, thu nhập cao hơn cung cấp nhiều ưu đãi hơn cho nông dân và do đó, đầu vào lao động sẽ nhiều hơn

Sau khi chuyển đổi thu nhập nông thôn bình quân đầu người mỗi năm theo giá của năm 2000 và so sánh chúng với số liệu trong Bảng 1, số lượng lao động dư thừa và tỷ lệ của nó được tính toán cho mẫu 29 tỉnh từ năm 1988 đến 2007 Các dữ liệu cho năm bắt đầu và kết thúc được trình bày trong Bảng 2

Bảng 2 Ước tính dư thừa nông nghiệp theo phương pháp cổ điển

Vùng

Dư thừa lao động (10 nghìn người)

Tỷ lệ (%)

Dư thừa lao động (10 nghìn người)

Tỷ lệ (%)

Trang 18

Khu vực Trung tâm 322.7 25.5 120.9 9.8

Tổng cộng cả nước 7670.4 23.0 2723.8 6.3

Ghi chú: thu nhập bình quân đầu người được tính ở theo giá năm 2000 Quy tắc nội suy được sử dụng trong tính toán số ngày làm việc

Bảng 2 cho thấy Trung Quốc có khoảng 27 triệu lao động dư thừa năm

2007, chiếm khoảng 6% tổng số lực lượng lao động nông nghiệp Tất nhiên, con số này là đánh giá hơi thấp, bởi vì Tây Tạng đã được loại trừ khỏi phân tích Từ năm 1988 đến 2007, số lượng dư thừa lao động của Trung Quốc giảm đáng kể Năm 1988, số lao động dư thừa là gần 77 triệu, gấp hai lần rưỡi năm 2007 Về mặt địa lý, lao động dư thừa tập trung trong khu vực nội địa, đặc biệt là ở các vùng phía tây của Trung Quốc

(2) Phương pháp ước lượng tìm cách để xác định các yêu cầu lao động

dựa trên tỷ lệ lao động/đất được thiết kế cho một năm cụ thể Sau đó, so sánh

có thể được thực hiện giữa số lao động thực tế và lao động định mức liên quan tới năm chuẩn để tính số lượng lao động dư thừa Một ví dụ của phương pháp này đã được tìm thấy trong Chen (2004) [30] Chen lập luận rằng theo hoàn cảnh tự nhiên, xã hội, kinh tế, và công nghệ hiện nay, nguồn tài nguyên nông nghiệp, phương pháp sản xuất, và các chính sách của chính phủ liên

Trang 19

nghiệp Trong số những yếu tố này, các nguồn tài nguyên nông nghiệp, đặc biệt là đất canh tác, là những yếu tố quyết định Chen đã coi năm 1952 là năm không có lao động dư thừa, và do đó cố định tỷ lệ lao động trên đất canh tác vào năm 1952 Chen ước tính dư thừa lao động nông nghiệp bằng cách sử dụng công thức sau đây:

Ở đây SL t là lao động dư thừa phải được ước tính, L t là lực lượng lao

động thực tế (cung lao động nông nghiệp), S t là diện tích thực tế đất canh tác,

và M t là diện tích canh tác bình quân đầu người Hơn nữa, M t được thể hiện

Ở đây 0,4966 thể hiện diện tích canh tác bình quân đầu người từ năm

1949 đến 1957 (đơn vị: ha), và β là tỷ lệ thay đổi trong quản lý nông nghiệp (do những tiến bộ trong công nghệ sản xuất nông nghiệp) Chen (2004) đặt β

= 0,0018 thông qua tính toán

Sử dụng phương pháp ước lượng của Chen, ông ước tính dư thừa lao động nông nghiệp cho tỉnh Sơn Đông Các kết quả ước tính từ 1952 đến 2002 được trình bày trong Bảng 3

Bảng 3 Dư thừa lao động nông nghiệp ở tỉnh Sơn Đông ước tính bằng

Phương pháp tỷ lệ lao động/đất canh tác: 1952-2002

Năm

Đất canh tác (10 nghìn ha)

Cung lao động nông nghiệp (10 nghìn người)

Cầu lao động nông nghiệp (10 nghìn người)

Dư thừa lao động nông nghiệp (10 nghìn người)

Tỷ lệ dư thừa lao động (%)

Trang 20

Ghi chú: Tỷ lệ dư thừa lao động là tính toán dựa trên nguồn Chen (2004)

Bảng 3 cho thấy rằng có khoảng 10,7 triệu lao động dư thừa ở tỉnh Sơn Đông vào năm 2002, và tỷ lệ dư thừa lao động so với tổng số người lao động

là hơn 45% Các con số ước tính của lao động dư thừa của tỉnh trong những năm đầu tiên và cuối cùng được thể hiện trong Bảng 4 Như bảng 4 cho thấy,

có hơn 100 triệu lao động dư thừa trong lĩnh vực nông nghiệp ở Trung Quốc trong năm 2007, và tỷ lệ lao động dư thừa so với tổng số lao động nông nghiệp là 20,2% Tỷ trọng của lao động dư thừa cao nhất trong khu vực phía Đông và thấp nhất trong khu vực phía tây

Bảng 4 Dư thừa lao động nông nghiệp theo phương pháp

tỷ lệ lao động/ đất canh tác

Vùng

Dư thừa lao động (10 nghìn người)

Tỷ lệ (%)

Dư thừa lao động (10 nghìn người)

Trang 21

Nguồn: Niên giám thống kê Trung Quốc, Niên giám thống kê tỉnh các năm, Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc

Phương pháp tỷ lệ lao động/đất canh tác có một lợi thế nhất định, bởi

vì thực sự không có lao động dư thừa trong nửa trước của thế kỷ 20 ở Trung Quốc Vì vậy, những giả định là hợp lý tuy nhiên, giả thiết rằng tỷ lệ này đã không thay đổi kể từ đó là một giả thuyết không hợp lý Tiến bộ công nghệ trong nông nghiệp sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ một cách đáng kể Trong số nhiều loại công nghệ, công nghệ tiết kiệm lao động sẽ làm tăng tỷ lệ này và công nghệ tiết kiệm đất sẽ làm giảm tỷ lệ này, và tỷ lệ sau là lớn hơn so với tỷ lệ trước ở Trung Quốc Như vậy, tỷ lệ lao động hiệu quả trên đất canh tác giảm xuống dần dần, và điều này dẫn đến khuynh hướng tăng lên của dư thừa lao động được ước tính

Một vấn đề khác của phương pháp ước tính là tính không đồng nhất Trong thực tế, tỷ lệ lao động hiệu quả trên tổng diện tích trồng cây của trang trại khác nhau giữa các tỉnh Áp dụng tỷ lệ năm chuẩn cho mỗi tỉnh chắc chắn

sẽ gây ra một sự lệch lớn Lý do cho việc rút ra các kết quả này là nhiều nhà nghiên cứu khác chỉ quan tâm tới tổng số lao động dư thừa mà không quan tâm tới phân bố giữa các tỉnh Và đó là những hạn chế của phương pháp này

(3) Phương pháp định mức lao động Thay vì chọn một năm cơ sở sử

dụng lao động hiệu quả, phương pháp này tính tổng số lao động cần thiết và

dư thừa bằng cách trừ đi những lao động yêu cầu từ lao động thực tế được sử

Trang 22

dụng Tổng số lao động yêu cầu có thể được tính theo bốn cách khác nhau (Wang):

(9)

Ở đây, D L : cầu lao động cho nông nghiệp; La: tổng số đất canh tác; X: đất canh tác bình quân mỗi lao động; Z: tổng diện tích đất canh tác; Q: giá trị sản lượng nông nghiệp, a: sản lượng nông nghiệp bình quân đầu người; L: ngày làm việc hàng năm cho mỗi lao động, D: số ngày làm việc cần thiết cho mỗi ha và A: lực lượng lao động nông thôn

Một trong các cách tiếp cận đo lường dư thừa lao động theo phương pháp định mức lao động là phương pháp so sánh cơ cấu theo tiêu chuẩn quốc

tế Chenery và Syrquin (1975) đã tiến hành một nghiên cứu toàn diện trên các biến chuẩn về sự thay đổi cơ cấu kinh tế theo các mức độ phát triển Sử dụng

dữ liệu có nguồn gốc từ hơn 100 quốc gia từ 1950 đến 1970, các tác giả đã tổng hợp tỷ trọng trung bình của khu vực I ở các giai đoạn khác nhau theo thu nhập quốc dân của quốc gia (xem Bảng 5)

Bảng 5 Cơ cấu theo tiêu chuẩn quốc tế và

tỷ trọng của ngành nông nghiệp

Trang 23

như là sự chênh lệch giữa việc làm dư thừa và sản lượng dư thừa của nước

đó Đó là:

Ở đây, L và I cho biết tổng số việc làm và mức GDP tương ứng, và L 1

và I 1 là việc làm và đầu ra của các ngành khu vực I tương ứng

Sau khi chuyển đổi GDP của tỉnh mỗi năm theo đô la Mỹ theo tỷ giá hiện hành và sau đó chuyển đổi chúng theo đô la Mỹ năm 1964, sản lượng thực tế và tỷ trọng việc làm của các ngành khu vực I được so sánh với các chuẩn quốc tế Sử dụng phương pháp này, Wang và Ding (2006) tính toán dư thừa lao động ở mỗi tỉnh trong năm 2003 và dư thừa lao động từ năm 1988 đến 2007 cho mỗi tỉnh được tính toán trong nghiên cứu này Các dữ liệu cho năm 1988 và 2007 được thể hiện trong Bảng 6

Bảng 6 Dư thừa lao động nông nghiệp theo phương pháp so sánh

cơ cấu tiêu chuẩn

Vùng

Dư thừa lao động (10 nghìn người)

Tỷ lệ (%)

Dư thừa lao động (10 nghìn người)

Tỷ lệ (%)

Trang 24

Tổng cộng cả nước 3933.8 8.2 2758.5 8.8

Ghi chú: thu nhập bình quân đầu người được tính ở theo giá USD năm 1964 Quy tắc nội suy được sử dụng trong tính toán sản lượng thực tế và tỷ trọng việc làm của các ngành khu vực I

Bảng 6 cho thấy Trung Quốc có khoảng 39 triệu lao động dư thừa trong nông nghiệp trong năm 1988, và 27 triệu trong năm 2007 Về mặt địa

lý, cũng như trong phương pháp cổ điển, lao động dư thừa này chủ yếu phân

bổ ở các khu vực phía tây và trung tâm

Các kết quả ước tính theo phương pháp kinh nghiệm/cổ điển và phương pháp so sánh theo cơ cấu tiêu chuẩn quốc tế là tương tự Tuy nhiên, các giá trị dự đoán của cơ cấu sản xuất và phân công lao động được dựa trên các quốc gia khác nhau tại các thời điểm khác nhau Bởi vì các nước khác nhau nhiều về mức độ phát triển, cơ cấu và đặc trưng công nghiệp, tính so sánh của các nước không phải là quá lớn Đó cũng là hạn chế của phương pháp này

Trang 25

1.4 Tiếp cận đo lường dư thừa lao động trong nông nghiệp theo ILO

Trong một tài liệu của ILO (1998) [36] có giới thiệu hai cách tiếp cận

đo lường dư thừa lao động trong nông nghiệp theo phương pháp định mức lao động nêu trên

Cách tiếp cận (định mức lao động) thông thường để đo lường dư thừa

lao động, trong trường hợp của ngành nông nghiệp, nói chung như sau:

Lượng dư thừa lao động nông nghiệp có thể chuyển đi được (tính bằng

người-giờ) được xác định là sự chênh lệch giữa lao động sẵn có và lao động theo yêu cầu cần có; trong đó lao động sẵn có được tính bằng tổng số dân số

hoạt động kinh tế ngành nông nghiệp nhân với số ngày làm việc nông nghiệp

cả ngày trong thời gian đó (cho phép tính cả ngày nghỉ cuối tuần và ngày

nghỉ lễ!), nhân với số giờ làm việc trong một ngày thông thường; và lao động

theo yêu cầu cần có để tạo ra một sản lượng nông nghiệp nhất định được tính

bằng cách áp dụng các hệ số lao động so với số sản lượng hoặc diện tích Vấn

đề này liên quan đến tiêu chuẩn làm cơ sở Tuy nhiên, héc-ta điển hình được chọn làm cơ sở để tính các hệ số lao động, các biến đổi của nó trong hỗn hợp các loại cây, chất lượng đất, qui mô trang trại, vùng khí hậu nông nghiệp, công nghệ, hệ thống sẽ tác động lớn đến nhu cầu lao động trên 1 héc-ta tại các trang trại tư nhân và vì vậy được thể hiện ở dạng tổng hợp

Một cách tiếp cận khác – tiếp cận (định mức lao động) theo thị trường lao động (dựa vào Mehra 1966), cách này không cần đặt các tiêu chuẩn đặc biệt, chỉ cần so sánh việc sử dụng lao động của các trang trại thuê lao động trả lương và việc sử dụng lao động của các trang trại không thuê Mấu chốt của phương pháp này là việc điều hành các trang trại thuê lao động trả lương không có người lao động gia đình dư thừa (nếu không thì họ không cần thuê thêm lao động) Vậy nên nếu trang trại gia đình sử dụng nhiều lao động trên 1 héc-ta hơn trang trại thuê lao động (các yếu tố khác tương tự nhau), thì có nghĩa là những trang trại này đang sử dụng nhiều lao động hơn so với nhu cầu thực tế họ cần Giả thuyết là lao động dư thừa trong nông nghiệp không

Trang 26

phải ở dạng phải chi phí cho giờ lao động hoặc ngày lao động cao hơn cần thiết mà phổ biến số giờ hoặc số ngày làm việc ít hơn cần thiết trên các lao

động gia đình sẵn có, thành ra các lao động này có thời gian làm việc ít hơn

Theo các thuật ngữ chính thống, số lao động dư thừa trong một trang trại gia đình với các loại hình đã cho (ví dụ diện tích, hỗn hợp các loại cây, vùng khí hậu nông nghiệp, việc sử dụng phân bón, cách tưới tiêu ) sẽ được tính như sau

Từ các trang trại thuê lao động không có lao động dư thừa,

Trong đó: Rw là số lao động theo yêu cầu cần có trên 1 héc-ta tại các trang trại thuê lao động có trả lương; Nw là số lao động làm việc thực tế tại

các trang trại thuê lao động có trả lương

Số lao động theo yêu cầu cần có cho một trang trại gia đình là số lao động mà họ sẽ sử dụng nếu như lao động của họ làm việc bằng số giờ trên ngày như lao động tại các trang trại tương tự nhưng có thuê lao động Nghĩa

là nếu

f

f

w w

dụng / 1 héc-ta/ 1 năm tại các trang trại thuê lao động;

f w

R = N L

L (12)

f w

L (13)

Trong đó Sf là số lao động dư thừa trên 1 héc-ta tại các trang trại gia

đình

Trang 27

Nông nghiệp không phải là ngành duy nhất hoạt động như cái “bọt biển” và thu hút lao động dư thừa khi thị trường lao động có vấn đề Bất cứ ngành nào mà lao động dễ vào làm việc, và yêu cầu về vốn khiêm tốn đều có

thể có chức năng như vậy Thương mại nhỏ lẻ, dịch vụ và nghề thủ công có

thể là những ví dụ điển hình Trong những trường hợp này, ngược lại với nông nghiệp, một dòng chảy của người mới vào nghề, chủ yếu là lao động tự làm hoặc lao động gia đình không hưởng lương, sẽ có xu hướng không giảm

số giờ làm việc của mỗi công nhân xuống (một phần bởi vì làm việc thường bao gồm cả thời gian chờ đợi hoặc tìm kiếm khách hàng) Tuy nhiên thu nhập bình quân có khả năng bị giảm xuống, và năng suất lao động cận biên của những ngành quá đông này rất thấp

Khó có thể đặt ra một phương pháp thực dụng để đo lường quy mô của lao động dư thừa trong những ngành này Rất nhiều người chở xích lô đợi khách hàng tại một số thời gian trong ngày hoặc nhiều người nhặt rác làm việc tại một huyện nhất định không hẳn là một dấu hiệu cho thấy rằng nếu con số này giảm đi thì “đầu ra” sẽ không thay đổi, và lượng khách hàng sẽ tương ứng Trong trường hợp thương mại nhỏ lẻ, bằng phương pháp loại suy với phương pháp đã thảo luận ở trên cho ngành nông nghiệp, có thể thử cách

so sánh các doanh nghiệp thuê lao động trả công và những doanh nghiệp chỉ

sử dụng lao động gia đình Dấu hiệu của lao động dư thừa trong trường hợp này có thể không phải là số giờ làm việc của một người lao động giảm đi trong các doanh nghiệp gia đình mà là số lao động tăng lên trong mối tương quan với số khách hàng và sức mua của khách hàng và với lượng tồn kho hàng hóa do các thương nhân quản lý Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có số liệu điều tra để tạo điều kiện cho việc so sánh, và nói chung, khó có thể thấy được các đo lường việc tận dụng lao động chưa thỏa đáng trong một cuộc điều tra lực lượng lao động có tác dụng đến đâu trong việc giám sát tình trạng

dư thừa lao động trong lĩnh vực này

Trang 28

Rất tiếc là hầu hết các cuộc điều tra lực lượng lao động, đang tiến hành trên hộ gia đình thay vì cơ sở sản xuất, không áp dụng cách tiếp cận này Những cuộc điều tra này thu thập số liệu về các hoạt động của các thành viên

hộ gia đình, chứ không phải về đơn vị hoạt động kinh tế Sau khi tiếp cận các phương pháp đo lường dư thừa lao động trong nông nghiệp khác nhau như được trình bày ở trên, Đề tài nhận thấy cách tiếp cận của ILO bằng cách so sánh việc sử dụng lao động của các trang trại thuê lao động trả lương và việc

sử dụng lao động của các trang trại không thuê có vẻ hợp lý và sẽ khắc phục được những hạn chế của các phương pháp đo lường kể trên Vì vậy Đề tài lựa chọn cách tiếp cận của ILO và sẽ thiết kế một cuộc điều tra dư thừa lao động trong nông nghiệp tại một tỉnh ở Đồng bằng sông Hồng, cụ thể là ở Hải Dương nhằm thu thập các dữ liệu để có thể thử nghiệm tính toán được số lao động dư thừa trong nông nghiệp theo phương pháp trên của ILO

Trang 29

CHƯƠNG 2 – THỰC TIỄN ĐO LƯỜNG DƯ THỪA LAO ĐỘNG

TRONG NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM

(công

, hàng năm nó đóng góp trên 20% vào GDP của cả nước [19]

, thu

Trang 30

Năm 2010 tỷ số việc làm trên dân

số ở khu vực nông thôn nói chung là 79,3%, cao hơn so với tỷ số này của khu vực thành thị (66,6%) [17]

: -

,…)

- -

, th

-

Trang 31

Lao động nông nghiệp nông thôn chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, chịu sự chi phối của tự nhiên, của các quy luật tự nhiên nên có những đặc điểm khác biệt với lao động trong các ngành khác [12]

Thứ nhất, lao động nông nghiệp, nông thôn có tính thời vụ Sản xuất

nông nghiệp (SXNN) chịu sự chi phối của tự nhiên với những quy luật sinh trưởng, phát triển riêng của từng loại cây trồng, vật nuôi Quá trình SXNN là quá trình gieo trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng theo từng giai đoạn phát triển của cây trồng, vật nuôi Trong quá trình này có những thời gian lao động không tác động vào cây trồng mà cây trồng tự sinh trưởng, phát triển theo những quy luật sinh học của nó Những thời gian đó gọi là thời gian nhàn rỗi của lao động nông nghiệp

Năm 2009, lao động nông thôn có số giờ làm việc trung bình đạt từ

40-48 giờ/tuần chiếm tỷ lệ lớn nhất 27,8%; tiếp sau đó là nhóm có số giờ làm việc trung bình từ 49-59 giờ/tuần chiếm 21,3%; nhóm lao động làm việc trên 60 giờ/tuần không những không giảm mà còn gia tăng thêm Điều này cho thấy hai khía cạnh cần quan tâm: (i) Hoạt động lao động tại nông thôn vẫn chủ yếu diễn ra với cường độ cao trong một thời gian ngắn, vì thế bản chất của hoạt động lao động ở khu vực này vẫn là cường độ thấp trong thời gian dài [8]

Người nông dân hiện vẫn làm các công việc mang tính chất thủ công

và thời vụ Đúng vụ sản xuất nông nghiệp thì công việc của họ là thuần nông, ngoài thời vụ kể trên phần lớn là họ chuyển sang các lao động phổ thông khác như gia công thêm một số mặt hàng thủ công truyền thống (đối với những vùng nông thôn có làng nghề), buôn bán nhỏ - tham gia lưu thông hàng hoá

từ nông thôn ra thành thị (bán buôn, bán lẻ các mặt hàng rau quả, lương thực,

Trang 32

thực phẩm), tham gia vào các chợ lao động ở những thành phố lớn Do tính chất công việc phổ thông, mang tính sự vụ nên thu nhập của họ không cao và không ổn định Thực tế này tạo nên sự thiếu bền vững và tiềm ẩn những bất

ổn về việc làm đối với lực lượng lao động nông thôn nói chung, nông dân nói riêng Nông dân thiếu việc làm ngày càng tăng về số lượng trong khi chất lượng cũng chưa được cải thiện Thiếu việc làm và thất nghiệp gia tăng tạo ra sức ép đối với phát triển kinh tế-xã hội ở khu vực này

Một biểu hiện rõ nét của tính thời vụ của lao động nông nghiệp, nông thôn là xuất hiện số lao động dư thừa trong trong nông nghiệp trong những thời gian nhàn rỗi của sản xuất nông nghiệp là một thực tế Mặt khác, sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao dẫn đến tình trạng căng thẳng về lao động nông nghiệp trong những thời điểm nhất định, gây hiện tượng khan hiếm lao động nông nghiệp cục bộ, theo thời vụ Điều này đặc biệt nghiêm trọng ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nơi mà mật độ dân cư thấp, diện tích đất nông nghiệp bình quân trên lao động tương đối cao so với mức bình quân chung của cả nước

Thứ hai, lao động nông nghiệp, nông thôn có kết cấu phức tạp, không

đồng nhất Lao động nông nghiệp có trình độ rất khác nhau giữa các vùng

nông thôn Hoạt động SXNN được tham gia bởi nhiều người ở nhiều độ tuổi, trong đó có cả những người ở ngoài độ tuổi lao động Tỷ lệ lao động nông thôn có việc làm là tương đối cao, tỷ lệ thấp nhất ở nhóm lao động từ 15-19 tuổi năm 2009 cũng chiếm 94,89%; ở nhóm 20-24 tuổi là 96,04%

Hình 1 Tỷ lệ lao động nông thôn có việc làm chia

theo nhóm tuổi năm 2009 (%)

Trang 33

Quá trình lao động của lao động khu vực nông thôn là quá trình suốt đời Do vậy tỷ lệ lao động của nhóm tuổi trên 60 tuổi vẫn rất cao Thực tế này cũng đã phản ánh những đặc trưng quan trọng của lao động nông thôn [8]

Lao động nông nghiệp nông thôn ở các vùng khác nhau có những cách thức tổ chức sản xuất riêng biệt, đặc trưng cho từng vùng và hình thành nên tư duy, tập quán khác nhau trong sản xuất SXNN chủ yếu theo từng hộ gia đình nên lao động nông nghiệp nông thôn còn bị chi phối bởi quan hệ huyết thống Các thành viên trong gia đình thường làm theo sự chỉ dẫn của người chủ gia đình Lao động nông nghiệp, nông thôn còn chịu ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên của sản xuất nông nghiệp (đất đai, thời tiết, khí hậu ) nên nhận thức của lao động nông nghiệp nông thôn về các quy luật tự nhiên, quy luật sinh trưởng phát triển ở các vùng khác nhau là khác nhau

Thứ ba, trình độ lao động nông nghiệp, nông thôn còn thấp Hoạt động

sản xuất nông nghiệp gồm những người thuộc nhiều lứa tuổi có trình độ rất chênh lệnh, thực tế ngay cả những người trong độ tuổi lao động thì trình độ vẫn thấp hơn so với lao động trong các ngành kinh tế khác, do trình độ thấp nên việc tổ chức quản lý sản xuất kém hơn và năng suất lao động trong nông nghiệp cũng kém hơn Phần lớn lao động nông thôn chưa qua đào tạo chuyên

môn kỹ thuật (CMKT) Số liệu Điều tra lao động việc làm năm 2009 cho

thấy, có đến 81,9% lao động nông thôn không có CMKT Tỷ lệ công nhân kỹ thuật không có bằng cấp chiếm 6,5% Chỉ có 8,4% lao động nông thôn được đào tạo qua các trường nghề từ trung cấp cho đến cao đẳng nghề Lao động

có trình độ chuyên môn cao đẳng, đại học chỉ chiếm 3,2% Với chất lượng lao động như vậy sẽ là cản trở lớn đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, đặc biệt là khả năng rút bớt lao động nông thôn ra khỏi hoạt động nông nghiệp [8]

Trình độ lao động nông nghiệp, nông thôn thấp hơn là do quy luật sinh học gán cho sản xuất nông nghiệp, người sản xuất nông nghiệp có thể không cần chăm sóc hoặc ít quan tâm đến cây trồng, vật nuôi mà vẫn có sản phẩm

Trang 34

thu hoạch Từ đó tạo ra trạng thái trì trệ không chịu vận động, không sáng tạo của lao động nông nghiệp nông thôn Khác với sản xuất công nghiệp, lao động phải hoạt động một cách liên tục mới có được sản phẩm cuối cùng hoàn chỉnh nên phải luôn vận động, sáng tạo trong công việc để có những sản phẩm mới, chất lượng cao hơn

Thứ tư, năng suất của lao động trong nông nghiệp, nông thôn thấp Tại

khu vực nông thôn, nông nghiệp có thể coi là một nghề nghiệp “gia truyền” rộng rãi Từ đời này sang đời khác phần lớn lao động nông nghiệp chủ yếu sản xuất theo thói quen, kinh nghiệm và những kỹ năng lao động đơn giản Chính yếu tố này khiến năng suất lao động trong nông nghiệp ngày càng tụt lại so với các ngành nghề phi nông nghiệp Song kỹ năng lao động chỉ là một trong những yếu tố (dù rất quan trọng) tác động tới năng suất lao động Bản thân giá trị hàng hóa sức lao động của ngành nông nghiệp luôn được định giá

ở mức thấp so với các hàng hóa sức lao động khác, chính vì thế, để cải thiện năng suất lao động trong lĩnh vực nông nghiệp việc cải thiện kỹ năng chỉ là một trong nhiều việc cần phải làm Cùng với việc cải thiện kỹ năng lao động, việc đẩy mạnh phát triển thị trường lao động nông thôn để tăng cường quá trình lưu thông, chuyển dịch lao động cũng hết sức cần thiết bởi nếu vẫn cứ tập trung quá nhiều lao động trong lĩnh vực nông nghiệp năng suất lao động của ngành này sẽ tiếp tục thấp Mặt khác, thời gian nông nhàn lại quá dài dẫn đến tình trạng tuy không thất nghiệp nhưng tác động kinh tế, xã hội của vấn

đề này thực chất không khác so với thất nghiệp là bao

Báo cáo Lao động và Tiếp cận Việc làm (UNDP, 2010) [23] khẳng định năng suất lao động của Việt Nam rất thấp so với tiêu chuẩn trong khu vực, mặc

dù đang tăng khá nhanh trong suốt thời kỳ đổi mới Các số liệu trong nghiên cứu cho thấy, công nghiệp là ngành có năng suất lao động cao nhất, tiếp đó là ngành dịch vụ và ngành nông nghiệp có năng suất lao động thấp nhất

Giai đoạn 2000-2009, năng suất lao động xã hội phân theo ngành kinh

Trang 35

đồng/người Tốc độ tăng của nông nghiệp và lâm nghiệp là 3,1 lần từ 4 triệu đồng/người lên 12,4 triệu đồng/người, thủy sản tăng từ 15,1 triệu đồng/người lên 35 triệu đồng/người Xét trong tổng số 18 nhóm ngành kinh tế, năng suất lao động xã hội của ngành nông nghiệp và lâm nghiệp đứng thứ 2 từ dưới lên

và nếu cộng cả thủy sản thì ngành nông nghiệp cũng chỉ leo lên được vị trí thứ 7 [9] Năng suất lao động xã hội của nông nghiệp và lâm nghiệp là quá thấp bởi một phần do tập trung quá nhiều lao động trong lĩnh vực này Năng suất lao động xã hội của ngành nông nghiệp thấp còn cho thấy nông nghiệp Việt Nam vẫn đang phát triển dựa vào sức người thuần túy là chính, các yếu

tố khoa học và kỹ thuật tuy đã được chú trọng nhưng còn hạn chế Năng suất lao động khu vực nông thôn thấp đã làm giảm thu nhập, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn

Thứ năm, lao động nông nghiệp, nông thôn có xu hướng chuyển sang khu vực kinh tế phi nông nghiệp Hiện nay, nền kinh tế hoạt động theo cơ chế

thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, có nhiều ngành nghề

xã hội Đối với một người lao động có trình độ nhất định, năng động sáng tạo thì việc lựa chọn cho mình một nghề hay một lĩnh vực kinh tế nào đó để hoạt động sản xuất kinh doanh là không khó Xu hướng giảm dần lao động trong khu vực nông nghiệp là một trong những biểu hiện rất rõ của thị trường lao động nông thôn Việt Nam hiện nay Kết quả khảo sát về năng suất lao động,

kỹ năng lao động, đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại 9 tỉnh cho thấy xu hướng ngừng sản xuất thậm chí bỏ sản xuất nông nghiệp đang diễn ra chủ yếu ở chăn nuôi (47,5%) và trồng trọt (39,5%) Rõ ràng đã và đang có một luồng dịch chuyển lao động rất lớn từ lĩnh vực nông nghiệp sang các lĩnh vực khác Tuy nhiên, nếu quá trình chuyển dịch nói trên không được đảm bảo bởi việc làm phi nông nghiệp tại chỗ xu hướng di cư lao động là tất yếu [9] Di

cư lao động được chứng minh mang lại nhiều tác động tích cực ở cả chiều đi

và đến cũng như với bản thân những người di cư tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng các mục tiêu về phát triển nông thôn trong đó có đề án nông thôn

Trang 36

mới sẽ gặp phải nhiều khó khăn bởi sự thiếu hụt lực lượng lao động trẻ tại nhiều khu vực nông thôn

Khó có thể đánh giá được xu hướng này đang tạo ra những tác động như thế nào đối với thu nhập của hộ gia đình cũng như thị trường lao động, việc làm ở khu vực nông thôn Thông thường kết quả của xu hướng này chính

là tạo ra những làn sóng chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang các khu vực phi nông nghiệp Nhưng nếu trong trường hợp đây là quá trình chuyển dịch ngang từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp năng suất thấp thì sẽ còn nhiều vấn đề chính sách cần được giải quyết

ững điều kiện tồn tại

Do lực lượng lao động tập trung đông ở ngành nông nghiệp, do đó để phát triển nông thôn chính sách của các quốc gia trên thế giới và trong khu vực đều tập trung tác động vào việc chuyển dịch lao động bằng cách rút bớt lao động trẻ ra khỏi khu vực nông nghiệp đồng thời với việc đẩy mạnh phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp ngay tại khu vực nông thôn Hiện tại, các chính sách của Việt Nam cũng đang đi theo hướng này Tuy nhiên việt rút như thế nào, cũng như sự chuẩn bị và khả năng tiếp nhận của các ngành nghề phi nông nghiệp khác ra sao đòi hỏi Chính phủ cần tiếp tục có những chính sách để phát triển thị trường lao động nói chung và thị trường lao động nông thôn nói riêng một cách bền vững

2.2 Những nguyên nhân dẫn đến dư thừa lao động trong nông nghiệp

và nông thôn ở Việt Nam

(1) Dân số và cung lao động tăng nhanh hơn tốc độ tạo việc làm Năm

1990 dân số nông thôn có 53,1 triệu người, chiếm 80,5% dân số cả nước, năm 2010 dân số nông thôn Việt nam có 60,7 triệu người chiếm 69,8% Như

Trang 37

bình quân, mỗi năm giảm được 0,5 điểm phần trăm, chứng tỏ tốc độ đô thị hóa của Việt nam diễn ra tương đối mạnh mẽ song còn chậm so với một số nước láng giềng như Thái lan, Singapore, Malaysia

Mặc dù đã có sự tăng lên đáng kể về tỷ trọng lực lượng lao động khu vực thành thị, nhưng đến năm 2010, gần ba phần tư (72%) lực lượng lao động nước ta tập trung ở khu vực nông thôn Điều này cho thấy nông thôn Việt Nam vẫn có nguồn lao động dồi dào và tiềm năng, là nơi cung cấp và hậu thuẫn đắc lực về nguồn nhân lực cho các khu đô thị và khu công nghiệp Lao động nông thôn vẫn làm việc nhiều trong ngành nông nghiệp Lao động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn hiện vẫn chiếm tỷ lệ lớn, tới 61,9% lực lượng lao động ở nông thôn [17]

Hiện nay, nguồn cung lao động tiếp tục tăng hàng năm với tốc độ tăng dân số 1,14% Tốc độ này tương đương với số người có nhu cầu việc làm vào khoảng 1,6 triệu/năm, trong đó, nhu cầu việc làm ở khu vực nông thôn trong giai đoạn 2000-2009 tăng trung bình khoảng 550.000-650.000/năm Hàng năm khu vực nông thôn cũng chỉ giải quyết thêm được khoảng 400.000 chỗ làm việc mới, trong đó 85% là việc làm nông nghiệp [3] “Tăng trưởng việc làm trong khu vực nông nghiệp thấp Trung bình cứ mỗi 1% tăng trưởng sản lượng chỉ tạo ra 0,17% mức tăng việc làm và ngay từ khi tăng trưởng nông nghiệp bùng nổ trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới vào những năm 90,

độ co giãn đã bằng 0 hoặc âm, có nghĩa là nông nghiệp nhanh chóng trở nên

ít thâm dụng lao động hơn Trong năm 2000-2008, trong khi tổng số việc làm được tạo ra là 7,5 triệu thì đóng góp của khu vực nông nghiệp là âm (–0,6 triệu việc làm, –8% trong tổng số việc làm được tạo ra)” [23]

Tại các quốc gia đang phát triển hay ở khu vực nông thôn, phần đông lao động tham gia thị trường dưới hình thức phi chính thức hay tự làm Trong mỗi hộ gia đình, đa số các thành viên tự làm/canh tác trên diện tích đất đai

mà họ được chia Đây chính là việc làm thường xuyên của họ Một số thành viên trong gia đình, chủ yếu là nam giới và những người trẻ tuổi có thể ra

Trang 38

thành phố để kiếm việc làm thêm những lúc nông nhàn Chính vì thế tỷ lệ thất nghiệp luôn thấp và thiếu việc làm mới là vấn đề đáng quan tâm tại các quốc gia đang phát triển cũng như khu vực nông thôn1

Năm 2010 khu vực nông thôn có tỷ lệ lao động thất nghiệp tương đối thấp (2,3%), trong khi tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị ở mức cao hơn (4,29%) Ngược lại, tình trạng thiếu việc làm chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn (4,26%) [17] Tỷ lệ thiếu việc làm của khu vực nông thôn cao là một trong những thách thức lớn trong việc giải quyết bài toán lao động - việc làm của khu vực nông thôn Những thách thức này gia tăng khi thực tế hiện nay, phần lớn lao động nông thôn mặc dù có việc làm, thậm chí làm việc nhiều giờ ở khu vực nông thôn nhưng vẫn rất khó khăn trong việc cải thiện thu nhập Trong khi đó, các điều kiện để cải thiện năng suất lao động cho khu vực này chưa hoặc đang diễn ra chậm chạp do chất lượng lao động nông thôn còn thấp Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn có xu hướng gia tăng trong những năm trở lại đây, trong đó tỷ lệ nam giới thiếu việc làm tăng mạnh hơn nữ giới

Do tốc độ gia tăng dân số của nước ta luôn cao làm cho dân số hoạt động kinh tế hay lực lượng lao động tăng lên hàng năm đặc biệt là lao động nông nghiệp ở khu vực nông thôn dẫn tới dư thừa lao động nông nghiệp, đặc biệt là nam giới Nam giới đang cố gắng rút ra khỏi khu vực nông nghiệp xa hơn nữa là khu vực nông thôn để tìm kiếm những công việc có khả năng mang lại thu nhập cao hơn

(2) Đất nông nghiệp có xu hướng giảm do quá trình đô thị hóa, dân số tăng Trong những năm qua, mặc dù diện tích đất tự nhiên của các vùng có

tăng lên do khai hoang, phục hóa nhưng do quá trình đô thị hóa, thu hồi đất cho khu công nghiệp và dành cho các nhu cầu khác không ngừng tăng lên, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người giảm Điều đáng nói là lao động nông thôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lao động cả nước, những năm

1

Trang 39

gần đây có giảm về tỷ lệ, nhưng ngày một gia tăng rõ rệt về số lượng, trong khi quỹ đất canh tác đang ngày càng bị thu hẹp và giảm dần do rất nhiều nguyên nhân Hậu quả tất yếu là dư thừa lao động và thiếu việc làm tại các vùng nông thôn

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn [28], Đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tích đất bị thu hồi lớn nhất trong những năm qua (chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp) Trung bình mỗi ha đất nông nghiệp thu hồi ở vùng đồng bằng sông Hồng, có 15,3 người bị mất việc làm, cá biệt có địa phương như Hà Nội, 1 ha đất thu hồi có tới gần 20 lao động bị mất việc làm

Một báo cáo mới đây của Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội cho biết, đến năm 2010 thành phố Hà Nội có kế hoạch thu hồi, chuyển mục đích sử dụng khoảng 5.201 ha đất nông nghiệp, tức là sẽ có khoảng 20 vạn lao động nông nghiệp phải chuyển nghề do bị mất đất sản xuất nông nghiệp Đánh đổi cho sự phát triển theo hướng hiện đại và công nghiệp hoá này là hàng chục vạn người trong độ tuổi lao động đã mất dần khả năng tự tạo việc làm trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp

Theo kết quả điều tra của Ban quản lý các khu công nghiệp Bắc Ninh,

ở các huyện Quế Võ, Tiên Du và thành phố Bắc Ninh, bình quân mỗi lao động nông nghiệp bị thu hồi 697 m2

đất Nếu tính cho giai đoạn 2006 đến 2010 thì với 6229,56 ha đất dự kiến chuyển mục đích sử dụng vào các ngành phi nông nghiệp, số lao động nông nghiệp trong các hộ thu hồi đất cần chuyển đổi nghề sẽ lên tới 89.376 người, tăng 1,7 lần so với giai đoạn 2001 - 2005

Tương tự, diện tích đất bị thu hồi ở vùng Đông Nam Bộ chiếm 2,1% diện tích đất nông nghiệp Chỉ riêng TP Hồ Chí Minh, từ năm 1998 đến nay,

để thực hiện khoảng 800 dự án, đã có trên 100.000 hộ dân bị giải toả, phần lớn thuộc các quận, huyện ngoại thành

Đô thị hóa đòi hỏi phải dành một bộ phận đất nông nghiệp cho việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng Đô thị hóa càng mạnh thì đất đai nói

Trang 40

chung và đất nông nghiệp nói riêng ngày càng thu hẹp Điều này đã làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết việc làm và chất lượng việc làm trong khu vực nông nghiệp, nông thôn nói chung Mặc dù quá trình xây dựng và phát triển

, cũng đã góp phần quan trọng tạo việc làm cho khoảng 4,95 triệu lao động (năm 2006: 1,65 triệu lao động, năm 2007: 1,68 triệu lao động, năm 2008: 1,615 triệu lao động)

Tuy nhiên, khả năng tạo việc làm của những doanh nghiệp trong khu vực này rất thấp, chỉ chiếm 4,9% tổng số lao động; 1,2% tổng vốn kinh doanh; 1,9% giá trị tài sản cố định; 0,8% doanh thu, …Nguyên nhân là do hầu hết các doanh nghiệp nông, lâm nghiệp và thuỷ sản là doanh nghiệp siêu nhỏ (dưới 10 lao động) hoặc doanh nghiệp nhỏ và vừa (10-300 lao động), chiếm đến 96,9% tổng số doanh nghiệp ở nông thôn Có một nghịch lý đang tồn tại là qui mô doanh nghiệp hoạt động trong ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản hiện nay rất nhỏ bé, trong khi đa phần dân số hoạt động trong ngành này Thêm vào đó, các doanh nghiệp có địa điểm đóng tại nông thôn cũng chỉ chiếm tỷ lệ thấp với 30%, trong khi phần lớn lao động đang tập trung tại khu vực nông thôn [18]

Đô thị hoá và phát triển các khu công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đang tạo ra diện mạo mới cho nông thôn, góp phần khắc phục dần

sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị, song nhiều vấn đề xã hội nảy sinh, trong đó có vấn đề việc làm của nông dân: tỷ lệ lao động nông nghiệp thất nghiệp gia tăng và nhu cầu về việc làm của nông dân ngày càng lớn

(3) Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp diễn ra chậm chạp Quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa

vẫn đang tiếp tục được thực hiện, tuy vậy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế và lao động diễn ra tương đối chậm Đến năm 2010, khu vực “nông nghiệp” (bao gồm nông, lâm, thủy sản) chiếm 48,7% lao động (giảm 13,5 điểm phần trăm so với năm 2000), khu vực “công nghiệp” (gồm công nghiệp

và xây dựng) chiếm 21,7% và khu vực “dịch vụ” chiếm 29,6% [17] Quá

Ngày đăng: 25/12/2014, 16:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Số ngày làm việc của 1 lao động trong năm theo mức thu nhập - Nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp tính chỉ tiêu dư thừa lao động trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt nam
Bảng 1. Số ngày làm việc của 1 lao động trong năm theo mức thu nhập (Trang 17)
Bảng 2 cho thấy Trung Quốc có khoảng 27 triệu lao động dƣ thừa năm  2007, chiếm khoảng 6% tổng số lực lƣợng lao động nông nghiệp - Nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp tính chỉ tiêu dư thừa lao động trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt nam
Bảng 2 cho thấy Trung Quốc có khoảng 27 triệu lao động dƣ thừa năm 2007, chiếm khoảng 6% tổng số lực lƣợng lao động nông nghiệp (Trang 18)
Bảng 3. Dƣ thừa lao động nông nghiệp ở tỉnh Sơn Đông ƣớc tính bằng  Phương pháp tỷ lệ lao động/đất canh tác: 1952-2002 - Nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp tính chỉ tiêu dư thừa lao động trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt nam
Bảng 3. Dƣ thừa lao động nông nghiệp ở tỉnh Sơn Đông ƣớc tính bằng Phương pháp tỷ lệ lao động/đất canh tác: 1952-2002 (Trang 19)
Bảng 4. Dư thừa lao động nông nghiệp theo phương pháp   tỷ lệ lao động/ đất canh tác - Nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp tính chỉ tiêu dư thừa lao động trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt nam
Bảng 4. Dư thừa lao động nông nghiệp theo phương pháp tỷ lệ lao động/ đất canh tác (Trang 20)
Bảng 5. Cơ cấu theo tiêu chuẩn quốc tế và   tỷ trọng của ngành nông nghiệp - Nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp tính chỉ tiêu dư thừa lao động trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt nam
Bảng 5. Cơ cấu theo tiêu chuẩn quốc tế và tỷ trọng của ngành nông nghiệp (Trang 22)
Bảng  6  cho  thấy  Trung  Quốc  có  khoảng  39  triệu  lao  động  dƣ  thừa  trong nông nghiệp trong năm 1988, và 27 triệu trong năm 2007 - Nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp tính chỉ tiêu dư thừa lao động trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt nam
ng 6 cho thấy Trung Quốc có khoảng 39 triệu lao động dƣ thừa trong nông nghiệp trong năm 1988, và 27 triệu trong năm 2007 (Trang 24)
Hình 2. Sơ đồ thu thập thông tin của điều tra dƣ thừa lao động   trong nông nghiệp - Nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp tính chỉ tiêu dư thừa lao động trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt nam
Hình 2. Sơ đồ thu thập thông tin của điều tra dƣ thừa lao động trong nông nghiệp (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w