Thực trạng nghiên cứu và tính toán chỉ tiêu dư thừa lao động trong nông nghiệp, bao gồm đặc thù lao động trong nông nghiệp ở Việt Nam, thực trạng phương pháp tính chỉ tiêu này. Nguồn thông tin, phương pháp tính dư thừa lao động trong nông nghiệp (phương án điều tra chọn mẫu, nội dung và phương pháp tính, biểu mẫu điều tra và giải thích).
Trang 1Người thực hiện: Cử nhân Nguyễn Hòa Bình Nguyên Phó Vụ trưởng - Tổng cục Thống kê
Trang 2MỤC LỤC
Trang PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DƯ THỪA LAO ĐỘNG TRONG
PHẦN II CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ DƯ THỪA LAO ĐỘNG TRONG
1 Tác động của đường lối, chính sách của Đảng v
Trang 4-(làm đất, g
-
Những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp nêu trên có tác động rất lớn đến quá trình tổ chức, quản lý và sử dụng lao động trong nông nghiệp, khiến cho lao động nông nghiệp có những đặc điểm sau:
- Thời gian lao động sản xuất trong năm của lao động nông nghiệp (nhất là lao
động trồng trọt)
(bão, lũ lụt, hạn hán, lở
(nếu như không có các hoạt động phi nông
- So với lao động của các ngành sản xuất và dịch vụ khác, lao động nông nghiệp
ở khu vực nông thôn thường có trình độ học vấn/trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp hơn, do đó khả năng tạo vốn, tìm kiếm việc làm bị hạn chế
, kém hơn , sản xuất tích lũy vốn và
- Lao động nông nghiệp sản xuất phổ biến là theo kinh nghiệm truyền thống ở
từng vùng miền, cộng đồng thôn xã Công cụ sản xuất còn phổ biến là thủ công, hoạt động phân tán, manh mún, năng suất lao động và thu nhập thấp
và lao động nông nghiệp cũng là những nguyên nhân trực tiếp gây nên
Trang 5
,…)
vàriêng sau:
-những hàng hóa thông t
Trang 6-,…)
; -
, )
hoạt động
khu vực thành thị
(gồm số lao động có việc làm và số có khả năng huy động) Trong
kinh tế học những người trong lực lượng lao động là những người cung cấp lao động
(Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
:
năm
Trang 7- -
-, tạo việc
,…) đều tác động đến tăng hoặc giảm nguồn cung lao động
Trong kinh tế học, cầu lao động là một cầu phái sinh, nói cách khác chi phí sản
xuất của chủ sử dụng lao động là tiền lương, mà trong đó doanh nghiệp/người sản xuất
có lợi từ việc tăng sản lượng hoặc tổng thu nhập Những yếu tố quyết định về sử dụng
bổ sung lao động phụ thuộc sản phẩm doanh thu cận biên MRP của công nhân MRP được tính bằng cách nhân giá của sản phẩm cuối cùng hoặc dịch vụ với sản phẩm hữu hình cận biên của công nhân Nếu MRP lớn hơn so với một chi phí cận biên MC của doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ sử dụng công nhân Doanh nghiệp chỉ thuê công nhân cho tới khi mà MRP = MC, hay nói cách khác là không thấp hơn điểm giới hạn
đó
với
(nhu ,…) của
quốc dân , cơ sở sản xuất kinh doanh,…) trong từng , Về quy mô, cầu lao động sẽ bao gồm toàn bộ lao động đang làm việc tại doanh nghiệp/trong nền kinh tế cộng với chỗ làm việc còn trống mà doanh nghiệp/người sản xuất đang cần tuyển dụng
: -
Trang 8-, về mặt lý luận sức lao động chỉ trở thành hàng hóa khi hình thành thị trường sản xuất hàng hóa (trong đó có thị trường lao động) trong nền kinh tế quốc dân T
, nhu cầu sản xuất và tiêu dùng hàng hóa
Trong khi đối
đầu tư, trình động khoa học công nghệ, cơ sở hạ tầng thấp kém,… lại dư
nhiều lao động, nhất là lao động nông nghiệp ở khu vực nông thôn
Sự mất cân đối nguồn cung lao động > cầu trên thị trường lao động góp phần cùng với đặc thù của sản xuất nông nghiệp và lao động nông nghiệp là
riêng
Trang 9, thất
1947, Việt Nam từ năm 1996,…
: C
danh sách các hộ được lập trên địa bàm mẫu cấp 1
những người thuộc lực lượng lao động
: M tuy:
-,…);
Trang 10;…);
-, …); -
Trong điều tra lao động việc làm, do tính cấp thiết phải giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, góp phần ổn định đời sông, xã hội các nước đặc biệt quan tâm đến các chỉ tiêu sau:
- : Là chỉ tiêu biểu hiện tỷ lệ phần trăm (%) so sánh giữa số người thất nghiệp với lực lượng lao động (dân số hoạt động kinh tế) trong kỳ
:
(%) = - x 100
- : Là chỉ tiêu biểu hiện tỷ lệ phần trăm (%) so sánh giữa số người thiếu việc làm với lực lượng lao động (dân số hoạt động kinh tế) trong kỳ
:
(%) = - x 100
Trang 11Tùy theo mục đích nghiên cứu chỉ tiêu tỷ lệ người thất nghiệp, thiếu việc làm được tính theo các tiêu thức khác nhau như: Tính chung cho lực lượng lao động, tính cho lực lượng lao động khu vực thành thị hoặc nông thôn, tính cho lực lượng lao động trong độ tuổi lao động, theo giới tính (nam và nữ), theo các nhóm tuổi, theo trình độ chuyên môn kỹ thuật, theo vùng miền, địa phương, ngành kinh tế, dân tộc;…
lực lượng
-70, -
1,6%, Anh 1,7%, Tây Ban
châ
Trang 12-
-
-
động Mức tiền công chính là mức giá của lao động
Trang 13Ở nước ta, nguồn lao động được xem là toàn bộ những người có khả năng tham
gia lao động, bao gồm những người trong độ tuổi quy định có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động, nhưng thực tế còn khả năng và đang tham gia lao động Đối với những người ngoài độ tuổi (nam từ đủ 60 và nữ từ đủ 55 trở lên, thiếu niên nam nữ dưới 15 tuổi) tham gia lao động do tự nguyện, nhà nước không đưa vào
kế hoạch phân bố và không huy động vào những công việc có tính chất nghĩa vụ (Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam)
Trong kinh tế học những người trong lực lượng lao động là những người cung cấp lao động Thông thường, lực lượng lao động bao gồm tất cả những người đang ở
trong độ tuổi lao động Những người không được tính vào lực lượng lao động là những sinh viên, người nghỉ hưu, những cha mẹ ở nhà, những người trong tù, những người
không có ý định tìm kiếm việc làm Một phần nhỏ trong lực lượng lao động đang tìm kiếm việc làm nhưng không thể tìm được việc làm tạo thành đội quân thất nghiệp
(Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
:
Trang 14
-, cũn gọi là những người thất nghiệp trong thời kỳ tham chiếu (7 ngày trước thời
Qua đõy chỳng ta thấy nguồn lao động theo định nghĩa trờn được hiểu là một bộ
phận dõn cư bao gồm toàn bộ những người cú khả năng tham gia lao động kể cả những người trong độ tuổi quy định cú khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao
động nhưng thực tế cũn khả năng và đang tham gia lao động, cũn lực lượng lao động
bao gồm tất cả những ng-ời từ 15 tuổi trở lên có việc làm và những ng-ời thất nghiệp trong thời gian quan sát Như vậy khỏi niệm nguồn lao động cú phần rộng hơn khỏi niệm lực lượng lao động, vỡ nú bao gồm cả những người khụng tham gia hoạt động kinh tế (ngoài lực lượng lao động) nhưng vẫn cũn trong độ tuổi lao động và cú khả năng lao động như học sinh, sinh viờn, hay những người nội trợ cho gia đỡnh mỡnh v.v
Theo định nghĩa của ILO, dõn số hoạt động kinh tế là bộ phận dân số trên độ
tuổi tối thiểu quy định và họ tham gia hoặc sẵn sàng tham gia vào nguồn cung lao động
để sản xuất ra các loại hàng hoá và dịch vụ của nền kinh tế ở n-ớc ta dân số hoạt động kinh tế bao gồm tất cả những ng-ời từ đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những ng-ời thất nghiệp trong thời gian quan sát Như vậy, lực lượng lao động, hay cũn gọi là dõn
số hoạt động kinh tế đồng nhất với khỏi niệm cung lao động
Bao gồm toàn bộ số ng-ời từ đủ 15 tuổi trở lên không thuộc bộ phận có việc làm
và không có việc làm trong thời gian quan sát Những ng-ời này không hoạt động kinh
tế vì các lý do: đang đi học; hiện đang làm công việc nội trợ cho bản thân gia đình; về h-u hay già cả; tàn tật, hay không có khả năng lao động;…
:
hoạch cỏc loại cõy trồng nụng nghiệp);
cầm, chăn nuụi khỏc );
- Cỏc hoạt động săn bắt, đỏnh bẫy và thuần dưỡng thỳ;
- Cỏc hoạt động dịch vụ phục vụ trồng trọt và chăn nuụi (trừ hoạt động thỳ y)
được chuyờn mụn hoỏ làm cho bờn ngoài như: Cho thuờ mỏy nụng nghiệp và điều khiển mỏy đú, hoạt động thủy lợi; hoạt động bảo vệ thực vật, động vật; thụ tinh nhõn tạo, kiểm dịch vật nuụi, chăn dắt, cho ăn, thiến hoạn gia sỳc, gia cầm, rửa chuồng, lấy phõn; làm sạch, phõn loại, sơ chế, phơi sấy, đỏnh búng (cà phờ), cõn đong, đúng kiện;
Trang 15ra hạt bông, lúa, bóc vỏ (lạc, cà phê); phân loại và lau sạch trứng gia cầm, lột da súc vật,…
, ,…)
Như vậy, một hoạt động của con người được coi là việc làm khi thỏa mãn 2 điều kiện:
- Hoạt động đó phải là công việc có ích và tạo ra thu nhập;
- Hoạt động đó không bị pháp luật cấm
Hai điều kiện trên có mối liên quan chặt chẽ là điều kiện cần và đủ để xác định một hoạt động hoặc một người lao động được xác định là có việc làm Một hoạt động
có ích và hợp pháp nhưng không tạo ra thu nhập (như: làm những công việc nội trợ hàng ngày cho gia đình hoặc tự làm các công việc không được trả tiền) cũng không được thừa nhận là việc làm Mặt khác, tính hợp pháp của một hoạt động có được th
Trang 16); ch
2 trở đi);…
Thất nghiệp là những người cú khả năng lao động nhưng khụng cú việc làm và mong muốn làm việc và đang đi tỡm việc (kể cả những người mới bước vào độ tuổi lao động chưa từng làm việc) và họ sẵn sàng làm việc khi tỡm được việc làm
- : Người thất nghiệp là những người từ đủ 15 tuổi trở lờn mà trong tuần tham chiếu đó hội tụ đủ cỏc yếu tố sau:
- Khụng làm việc nhưng sẵn sàng và mong muốn cú việc làm; và
- Đang đi tỡm việc làm cú thu nhập, kể cả những người trước đú chưa bao giờ làm việc
Theo nhà kinh tế học Michael P Todaro “Thiếu việc làm là những người làm việc ớt hơn mức mà mỡnh mong muốn” (Kinh tế học cho thế giới thứ ba, Nhà xuất bản Giỏo dục Hà nội, năm 1999)
: Thiếu việc làm hữu hình là những ng-ời đang làm việc ít hơn số giờ 'chuẩn' trong thời điểm điều tra và làm nh- vậy một cách không chủ tâm Cũng nh- trong tr-ờng hợp thất nghiệp, có hai phạm trù thiếu việc làm hữu hình - những ng-ời tích cực đang tìm kiếm việc làm bổ sung(có thể đ-ợc gọi là thiếu việc làm hữu hình chủ
động) và những ng-ời chỉ đơn thuần có khả năng đối với việc làm bổ sung (thiếu việc làm hữu hình thụ động) Những ng-ời mà không tìm kiếm hoặc không có khả năng đối với việc làm bổ sung thì không đ-ợc coi là thiếu việc làm
Thiếu việc làm vô hình: ở đây có hai trạng thái - thiếu việc làm trá hình và thiếu việc làm tiềm năng Những ng-ời mà thu nhập của họ thấp bất th-ờng hoặc không
đ-ợc sử dụng đúng mức những kỹ năng nghề nghiệp đ-ợc coi là thất nghiệp trá hình Thiếu việc làm tiềm tàng xuất hiện trong những cơ sở hoặc những đơn vị kinh tế với năng suất thấp bất th-ờng
Tỷ lệ t nụng nghiệp, nụng thụn
điều tra
nghiệp, nụng thụn so với số thời gian lao động hợp lý của lao động nụng nghiệp, nụng thụn trong một năm
Trang 17cuộc điều tra lao động - việc làm thường được quan sát cho khu vực nông thôn
Tỷ lệ lực lượng lao động/
đào tạo
(%) lực lượng lao động/
tế đã qua đào tạo chiếm trong tổng số lực lượng lao động/lao động đang làm việc trong
kỳ Lực lượng lao động/ lao động đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo phải
là những người thỏa mãn 2 điều kiện sau đây:
- Là những người thuộc lực lượng lao động/đang làm việc trong nền kinh tế;
- Là những người đã được đào tạo
Chỉ tiêu này được tính riêng theo từng trình độ chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ nhất định (Sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và trên đại học: thạc sĩ, tiến sĩ, tiến sĩ khoa học chiếm trong lực lượng
lao động/lao động đang làm việc trong kỳ)
Khái niệm về dư thừa lao động ở một số nước
Hiện nay, trên thực tế vấn đề , nông thôn trở nên
) Trong các tài liệu nghiên cứu ngoài nước còn có nhiều ý kiến trao đổi khác nhau
về khái niệm và phương pháp đo lường số lao động dư thừa lao động nói chung và trong nông nghiệp nói riêng
Có nhiều cách tiếp cận dẫn đến khái niệm về dư thừa lao động:
Theo cách tiếp cận của một số học giả Trung Quốc [Dr Yinhua MAI and Dr Xiujian Peng (2009) “Estimating rural labour surplus in China - A dynamic general equilibrium analysis”] coi dư thừa lao động nông thôn là tổng số người ở nông thôn
mà không tham gia vào việc làm nông nghiệp, việc làm phi nông nghiệp nông thôn và việc làm đô thị nông thôn Việc làm nông nghiệp trong nghiên cứu này được định nghĩa như là đầu vào lao động hiệu quả được sử dụng để sản xuất các sản phẩm nông nghiệp trong canh tác, chăn nuôi, lâm nghiệp và các ngành thủy sản bằng người/năm Sau khi đầu vào lao động hiệu quả trong lĩnh vực nông nghiệp đã được xác định, dư thừa lao động nông thôn có thể được coi là số dư còn lại của lao động nông thôn Dư thừa lao động nông thôn thể hiện một cách rõ ràng là thất nghiệp bằng người/năm chứ không phải là thiếu việc làm
Trong kinh tế học cổ điển, Lewis (1954) lần đầu tiên đưa ra khái niệm dư thừa
Trang 18nông nghiệp, phần này của lực lượng lao động là dư thừa lao động Có hai cách đo lường phần này của lực lượng lao động, một theo nghĩa hẹp về dư thừa lao động nông nghiệp, và hai theo nghĩa rộng về dư thừa lao động nông nghiệp Cách một, dư thừa lao động nông nghiệp có thể được hiểu như là sự chênh lệch giữa tổng cung lao động nông nghiệp so với nhu cầu thực tế của lao động nông nghiệp trong điều kiện công nghệ sản xuất nông nghiệp và phương pháp canh tác nhất định Những tiền đề của phương pháp tính toán này là công nghệ hiện tại và kỹ năng quản lý trong sản xuất nông nghiệp là không đổi Cách thứ hai, dư thừa lao động nông nghiệp có thể được hiểu như là chênh lệch giữa tổng cung lao động nông nghiệp so với nhu cầu thực tế của lao động nông nghiệp bằng cách áp dụng công nghệ sản xuất nông nghiệp và quản
ngành nông nghiệp, nói chung như sau Lượng dư thừa lao động nông nghiệp có thể
chuyển đi được (tính bằng người-giờ) được xác định là sự chênh lệch giữa lao động
sẵn có và lao động theo yêu cầu cần có; trong đó lao động sẵn có được tính bằng tổng
số dân số ngành nông nghiệp, trừ những người quá già hoặc quá trẻ để làm việc, người nội trợ, sinh viên học sinh, tù nhân, nhân với số ngày làm việc nông nghiệp cả ngày trong thời gian đó (cho phép tính cả ngày nghỉ cuối tuần và ngày nghỉ lễ!), nhân với số
giờ làm việc trong một ngày thông thường; và lao động theo yêu cầu cần có để tạo ra
một sản lượng nông nghiệp nhất định được tính bằng các áp dụng các hệ số lao động
so với số sản lượng hoặc diện tích”
Một số phương pháp đo lường dư thừa lao động trong nông nghiệp ở các nước
Từ nhiều cách tiếp cận đến khái niệm dư thừa lao động khác nhau nêu trên đã dẫn đến có khá nhiều đề xuất phương pháp đo lường dư thừa lao động trong nông nghiệp: Ví dụ phương pháp phân tích mô hình cân bằng động chung [Yinhua MAI và Xiujian Peng], hay 4 phương pháp đo lường của các học giả Trung Quốc (Phương pháp cổ điển; Phương pháp so sánh cấu trúc theo chuẩn quốc tế; Phương pháp tỷ lệ đất gieo trồng/lao động; Phương pháp tỷ lệ lao động/đất canh tác) và một số phương pháp khác như phương pháp kinh nghiệp (experience method), phương pháp ước tính (estimation method), phương pháp định mức lao động (labour norm method) [xem
Fung KWAN (2008) “Agricultural labour and the incidence of surplus abour:
experience from China during reform”] (các phương pháp này được đề cập trong chuyên đề “Nghiên cứu kinh nghiệm đo lường dư thừa lao động ở một số nước và khuyến nghị của ILO”)
Theo nghiên cứu của chúng tôi v , nông thôn ở một số nước, có thể khái quát tính như sau:
Trang 19
:
1 lao (nhận tiền lương, tiền công) trong nông nghiệp Trên cơ sở, giả thiết nếu toàn bộ lao động nông nghiệp tự làm của nông trại gia đình cũng làm việc tương đương với số giờ làm việc thực tế bình quân của lao động chuyên làm thuê Dư thừa lao động nông nghiệp của nông trại gia đình được tính toán theo các bước sau:
Bước 1: Tính tổng số giờ người của nguồn lao động nông nghiệp của nông trại gia đình (không thuê mướn lao động):
x của nông trại gia đình
(1)
Bước 2: Tính tổng số người theo nguồn lao động nông nghiệp gia đình với giả thiết họ làm việc như số giờ bình quân của 1 lao động nông nghiệp chuyên làm thuê ở các nông trại có thuê mướn lao động:
Tổng số lao động
nông nghiệp của
nông trại gia đình
=
Tổng số giờ người (theo nguồn lao động nông nghiệp
: nông nghiệp làm thuê (2)