Thử nghiệm dự báo dân số theo phương pháp thành phần. Chi tiêu lực lượng lao động và chỉ tiêu tỷ lệ thất nghiệp vừa là chỉ báo kinh tế vừa là một chỉ tiêu được toàn xã hội quan tâm, Dưới góc độ kinh tế, lực lượng lao động là nguồn lực của nền kinh tế, còn tỷ lệ thất nghiệp cho thấy mức cung lao động bị thừa
Trang 1TỔNG CỤC THỐNG KÊ VIỆN KHOA HỌC THỐNG KÊ
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ:
THỬ NGHIỆM DỰ BÁO DÂN SỐ THEO PHƯƠNG PHÁP THÀNH PHẦN
Thuộc đề tài: Nghiên cứu ứng dụng các phương pháp dự báo để dự báo một số chỉ tiêu thống kê xã hội chủ yếu ở Việt nam
HÀ NỘI, 6/ 2009
Trang 22 Điểm lại phương pháp luận dự báo dân số theo phương pháp thành phần
Lôgic thông thường cho thấy là dân số ở một thời điểm nào đó của một quốc gia hoặc một khu vực chính bằng dân số ở thời điểm gốc trừ đi số người chết, cộng với số người mới sinh giữa hai thời điểm (gốc và báo cáo) và cộng với số người nhập cư trong kỳ và trừ đi số người xuất cư trong kỳ Lôgic này được thể hiện bằng phương trình sau:
(1) P t P0 B0,i D0,t IM0,tOM0,t, trong đó P t là dân số ở thời điểm t (thời điểm dự báo), P0 là dân số kỳ gốc, B0,t là số sinh trong kỳ, D0,t là số chết (bao gồm cả số trẻ em dưới 1 tuổi bị chết) trong kỳ, IM0,t dân nhập cư trong kỳ,
t
OM0, là dân xuất cư trong kỳ
Phương trình trên còn được gọi là phương trình cân bằng dân số Trên cơ
sở phương trình này các nhà dân số học đã đưa ra phương pháp dự báo dân số theo thành phần Họ đã biến đổi công thức (1) về dạng:
(2) P t (P0 D0 ,t) B0 , 1 NM0 , 1, trong đó các ký hiệu giống như ở mô hình (4), riêng NM0,1 là di cư thuần túy (=IM0,t OM0,t)
Ở mô hình (2), dân số (Pt) được biểu diễn bằng ba thành phần chính: thành phần thứ nhất (P0-D0,t) biểu thị dân số ở thời kỳ gốc còn tồn tại ở thời kỳ
Trang 3dự báo Thành phần thứ hai (B0,t) biểu thị số trẻ em mới được sinh ra sống trong thời kỳ dự báo Thành phần thứ ba (NM0,t) biểu thị di cư thuần túy trong thời kỳ dự báo
Ở phương pháp thành phần, khi tiến hành dự báo thành phần thứ nhất người ta sử dụng cơ cấu dân số theo giới tính và độ tuổi ở thời kỳ gốc, sau đó nhân cơ cấu này với hệ số sống tương ứng của thời kỳ này để có dân số còn tồn tại ở thời kỳ dự báo Do giữa nam và nữ có hệ số sống khác nhau và ngay trong một giới thì ở độ tuổi khác nhau cũng có hệ số sống khác nhau nên khi dự báo (chuyển tuổi cho dân số gốc) thành phần thứ nhất người ta sử dụng hai bộ hệ số sống khác nhau cho hai giới
Để dự báo thành phần thứ hai (B0,t) người ta dự báo tỷ lệ sinh đặc trưng theo nhóm tuổi của phụ nữ trong thời kỳ dự báo sau đó sử dụng chúng để tính tổng số trẻ em được sinh ra trong thời kỳ dự báo
Để dự báo cho thành phần thứ ba cần thu thập thông tin (qua cơ quan chức năng) về số người di cư quốc tế (xuất cư và nhập cư) của dân số Tuy nhiên, do hầu hết các nước đều có chính sách cấm nhập cư nên lượng người xuất và nhập cư quốc tế ít vì vậy khi tiến hành dự báo dân số thường người ta giả thiết thành phần này không xuất hiện (NM0,t=0)
3 Quy trình dự báo theo phương pháp thành phần
Để tiến hành dự báo dân số của một nước theo phương pháp thành phần đòi hỏi phải có các loại số liệu cơ bản là cơ cấu dân số theo giới tính và nhóm
5 độ tuổi ở thời điểm xuất phát, bảng sống của nam và nữ, tỷ lệ sinh đặc trưng theo 7 nhóm tuổi sinh đẻ của phụ nữ và nếu có tình trạng di cư quốc tế mạnh thì cần có cả tỷ lệ di cư thuần túy theo giới tính và nhóm tuổi Tuy nhiên, do nhiều nước đóng cửa với di cư quốc tế nên thành phần này thường coi như
Trang 4không xuất hiện Như vậy các bước tiến hành dự báo theo phương pháp thành phần sẽ như sau:
+ Bước 1: thu thập thông tin về cơ cấu dân số theo giới tính và nhóm
tuổi ở thời điểm khởi đầu của dự báo, thu thập thông tin về tỷ lệ sinh đặc trưng theo nhóm tuổi, thu thập và tính toán thông tin về hệ sống của dân số
+ Bước 2: đánh giá chất lượng số liệu và hiệu chỉnh chúng nếu thấy cần
thiết Ở bước này có một số kỹ thuật về nhân khẩu học được áp dụng Ví dụ như để đánh giá hiện tượng báo tuổi sai sử dụng chỉ số Mayer (cho độ tuổi) hoặc chỉ sô UN Joint Score (cho nhóm 5 độ tuổi) Để đánh giá mức độ thiếu hụt của dân số có thể sử dụng tỷ lệ giới tính,
+ Bước 3: Thiết lập bảng cơ sở dữ liệu gốc sau:
Trang 5Nhóm tuổi Dân số gốc Hệ số sống Tỷ lệ sinh
Bước 4: Thực hiện việc dự báo số người ở thời điểm gốc hiện còn sống
sau 5 năm, 10 năm, 15 năm, (Thực hiện phép chuyển tuổi)
Để tiến hành ước này cần phải xác định mức chết của dân số trong thời
kỳ dự báo thông qua chỉ tiêu tuổi thọ bình quân lúc sinh hoặc tỷ lệ chết của trẻ
sơ sinh (dưới 1 tuổi) Sau đó sử dụng bảng sống mẫu của Coale Demeny để tính hệ số sống sử dụng cho công việc chuyển tuổi của dân số gốc để dự báo số người ở thời điểm gốc hiện còn sống sau 5 năm, 10 năm, 15 năm,
Bước 5: Dự báo số sinh ở các thời kỳ dự báo Để dự báo được số trẻ
được sinh ra trong thời kỳ dự báo, cần dự báo tỷ lệ sinh tổng cộng (TFR) ở thời
kỳ này và dạng sinh đẻ của phụ nữ (được xác đinh thông qua tỷ lệ sinh đặc trựng theo nhóm tuổi của phụ nữ) Có được tỷ lệ sinh đặc trưng theo nhóm tuổi của phụ nữ và biết được số phụ nữ ở các nhóm tuổi trong độ tuổi sinh đẻ ta nhân chúng với nhau sẽ có được số trẻ được sinh ra trong thời kỳ dự báo
4 Thử dự báo dân số 1-4-2009 dựa vào dân số của Tổng điều tra dân số 1- 4- 1999
Để minh họa cho phương pháp dự báo dân số theo phương pháp thành phần chúng tôi thử nghiệm dự báo dân số 1/ 4/ 2009 dựa vào kết quả của Tổng điều tra dân số 1/ 4/ 1999
Trang 6Thông qua Tổng điều tra dân số 1999 ta có các thông tin sau đây:
+ Cơ cấu dân số theo giới tính và độ tuổi;
+ Tỷ lệ sinh đặc trưng theo nhóm tuổi của phụ nữ;
+ Tuổi thọ bình quân lũ sinh của hai giới tính
Các thông tin này rất bổ ích cho công tác dự báo và chugs được đưa ra trong phần phụ lục số liệu
4.1 Đánh giá dân số gốc
Như đã nêu ở phần lý luận chung, để tiến hành dự báo trước tiên cần phải đánh giá mức độ chính xác của dân số gốc để nếu cần thì phải hiệu chỉnh lại nó Các thủ tục đánh giá như sau:
a Đánh giá mức độ dồn tuổi
Trước khi tiến hành dự báo cần đánh giá chất lượng các thông tin thu được, đặc biệt là đánh giá chất lượng của dân số gốc Có hai chỉ số cơ bản được sử dụng để đánh giá chất lượng của dân số gốc Chỉ số thứ nhất là chỉ số Myer Chỉ số này được sử dụng để đánh giá mức độ dồn tuổi của dân số, tức là mức độ người ta thích báo cáo tuổi ở độ tuổi nào Kết quả tính toán của chỉ tiêu này cho thấy: chỉ số Myer của nam giới bằng 2,94 còn của nữ giới bằng 2,80 Kết quả tính toán này cho thấy dân số Việt Nam không có hiện tượng báo cáo dồn tuổi nặng nề (chỉ số Myer lớn hơn 30 chứng tỏ có hiện tượng dồn tuổi nặng nề)
b Đánh giá mức độ báo cáo sai tuổi
Do dự báo sẽ sử dụng dân số theo nhóm tuổi nên ở đây còn tính chỉ số
UN Joint Score Kết quả tính toán như sau:
Trang 7Tỷ số tuổi của nam
Chênh lệc
so với
100
Tỷ số tuổi của nữ
Chỉ số UN Joint Score của Tổng điều tra dân số năm 1999 bằng 68,4 đơn
vị Chỉ số này nhỏ hơn 100 nên có thể coi chất lượng số liệu về dân số theo giới tính và nhóm tuổi cũng thuộc loại chấp nhận được
c Đánh giá mức độ thiếu, thừa của dân số
Để kiểm tra mức độ chính xác của số liệu, một chỉ tiêu khác được sử dụng đó là tỷ lệ giới tính Về mặt lý thuyết, tỷ lệ giới tính theo độ tuổi có dạng đường cong đều đi xuống Lý do là xác suất chết ở tất cả các độ tuổi của nam
Trang 8đều cao hơn của nữ Vì vậy tỷ lệ giới tính sẽ giảm dần theo sự tăng lên của độ tuổi và nếu không có sự đột biến (do chiến tranh chẳng hạn) thì đường cong này sẽ là đường trơn (không có lồi lõm) Đồ thị tỷ lệ giới tính theo độ tuổi 1/4/
1999 cho thấy có sự bất hợp lý Đồ thị cho thấy về mặt xu thế của tỷ lệ giới tính thì đúng, song tỷ lệ giới tính ở các độ tuổi từ 15 đến 25 tự nhiên bị tụt xuống một cách bất bình thường Hiện tượng này cũng xảy ra đối với các độ tuổi từ trên 50 đến trên 60
Đồ thị 1: Tỷ lệ giới tính theo độ tuổi 1/4/ 1999
Phân tích trên cho thấy, để dự báo dân số sát hơn với thực tế, trước khi tiến hành dự báo cần hiệu chỉnh số liệu Đồ thị tỷ lệ giới tính cho thấy ở nhóm
Trang 9tuổi thanh niên và một số độ tuổi trung niên có sự thiếu hụt nam giới vì vậy cần phải “bổ sung” số nam giới cho các độ tuổi này Phương pháp bổ sung thích hợp là chỉnh sửa tỷ lệ giới tính ở các nhóm tuổi này cho phù hợp quy luật (sử dụng đồ thị để xác định) sau đó coi số nứ là đúng và dùng tỷ lệ giới tính để tính cho số nam Kết quả hiệu chỉnh như sau:
Bảng 2: Dân số 1/ 4/ 1999 sau khi đã được hiệu chỉnh
lệ chết của trẻ sơ sinh tính được qua Tổng điều tra dân số là 36,7%0 Do dự báo được tiến hành riêng rẽ cho từng giới tính, vì vậy cần xác định tỷ lệ chết của
Trang 10trẻ sơ sinh cho nam và nữ riêng Có thể tách 36,7%0 trên ra cho hai giới tính theo công thức sau:
7 , 36
* 483 , 0
Theo cách giải đã đề cập chúng tôi xác định đƣợc IMRM= 39,1%0; IMRF= 34,1%0
Dựa trên các kết quả này và bảng sống mẫu Coale-Demeny ƣớc lƣợng đƣợc hệ số sống cần thiết cho dự báo Kết quả so sánh thấy với các mức IMR nhƣ trên mức sống 18 của Bảng sống mẫu Coale-Demeny là thích hợp Hệ số sống tìm đƣợc nhƣ sau:
Trang 114.3 Chuyển tuổi cho dân số gốc
Sau khi đã xác định được hệ số sống cho các nhóm tuổi tiến hành chuyển tuổi cho dân số năm 1999 để có những người còn sống vào các năm 2004 và
2009 Vì hệ số sông giữa các thời kỳ không khác nhau lớn nên chúng tôi coi chúng là không đổi trong suốt thời kỳ từ 1999-2009 Kết quả chuyển tuổi được đưa ra ở bảng sau:
Bảng 4: Kết quả chuyển tuổi
Trang 124.4 Xác định xu thế sinh đẻ của dân số
Dựa vào kết quả của các cuộc điều tra về dân số và nhân khẩu học xác định mức sinh của dân số Trong dự báo dân số bằng phương pháp thành phần, cần phải dự báo xu thế sinh của dân số Chỉ tiêu được sử dụng để dự báo mức sinh là TFR Dựa vào kết quả của các cuộc điều tra dân số có được tỷ lệ sinh đặc trưng và tỷ lệ sinh tổng cộng của ba thời kỳ như sau:
Bảng 5: Tỷ lệ sinh đặc trưng (ASFR) (% 0 )
Trang 13Dựa vào kết quả của các cuộc Tổng điều tra dân số trước đây người ta đã ước lượng được tỷ lệ sinh tổng cộng của ác thời kỳ như sau (xem bảng dưới)
1960- 1969
1965- 1974
1970- 1979
1975- 1984
1980- 1989
1985- 1994
1990- 1999
1995- 2004
2000- 2009
2005-Census 1979 Census 1989, 1999
Nguồn: Vẽ từ bảng “Xu thế của Tỷ lệ sinh tổng cộng”
Với kết quả trên chúng tôi cho rằng vào thời kỳ 2005-2009 TFR sẽ bằng
2 Con số này sẽ là cơ sở cho việc ước lượng số trẻ em sinh ra trong thời kỳ 2005-2009
Trang 14Với các giả thiết trên, số sinh dự báo được cho hai thời kỳ 1999-2004 và 2004-2009 như sau (kết quả được trình bày ở bảng dưới):
Bảng 7: Ước lượng số trẻ sinh trong kỳ
1999-2004 2004-2009 1999-2004 2004-2009 1999-2004 2004-2009 15-19
5 Xây dựng các phương án dự báo
Thông thường khi làm dự báo dân số theo phương pháp thành phần người ta xây dựng thành các phương án dự báo khác nhau Các phương án này được đặt ra dựa trên một số giả thiết nhất định Tùy theo từng điều kiện cụ thể
mà người ta đặt giả thiết theo yếu tố nào Tuy nhiên, nguyên tắc thường thấy là trong ba thành phần: chuyển tuổi (có liên quan đến tuổi thọ), sinh đẻ và di cư, thành phần nào được đánh giá là có tác động lớn nhất thì sẽ được lấy làm căn
cứ để đề ra giả thiết Trong điều kiện hiện nay của các quốc gia, phần lớn người ta lấy mức sinh làm (đại diện là chỉ tiêu TFR) căn cứ để xây dựng các phương án dự báo Trong trường hợp lấy mức sinh làm căn cứ xây dựng các phương án dự báo người ta thường đưa ra ba phương án tương ứng với ba giả thiết: mức sinh cáo, mức sinh thấp và mức sinh trung bình
+ Giả thiết mức sinh cao: TFR giữ nguyên như trước đây;
Trang 15+ Giả thiết mức sinh trung bình: TFR đi theo xu hướng giảm như đã phát hiện;
+ Giả thiết mức sinh thấp: TFR thấp hơn so với mức sinh trung bình Trong trường hợp của chúng tôi, do chỉ là để giới thiệu phương pháp nên chúng tôi chỉ lấy một phương án: phương án mức sinh trung bình: TFR giảm theo xu hướng đã phát hiện
6 Kết quả dự báo
Sau quá trình tính toán có kết quả dự báo dân số hai thời kỳ sẽ như sau:
Bảng 8: Kết quả dự báo dân số 1/4/ 2009
Trang 16Bảng 9: Tổng hợp lại có (đơn vị 1000 người):
Trang 17
PHỤ LỤC
I SỐ LIỆU DÂN SỐ GỐC DÙNG CHO DỰ BÁO
Bảng 1: Dân số cả nước tại thời điểm 1/4/1999 phân theo giới tính và độ tuổi
Trang 18Tuổi Tổng số Nam Nữ Tỷ lệ giới tính
Trang 19Tuổi Tổng số Nam Nữ Tỷ lệ giới tính
Bảng 2: Dân số cả nước tại thời điểm 1/4/1999 phân theo giới tính và nhóm tuổi
Trang 20Nhóm tuổi Tổng Nam Nữ Sex ratio
II DÂN SỐ GỐC SAU KHI ĐÃ ĐƯỢC HIỆU CHỈNH
Trang 21Tuổi Dân số gốc Dân số chỉnh
Trang 22Tuổi Dân số gốc Dân số chỉnh
Trang 23Tuổi Dân số gốc Dân số chỉnh
Trang 24TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Tổng cục Thống kê (Dự án VIE/ 93/ P03): Tài liệu giảng dạy những kiến thức cơ bản về nhân khẩu học
2 Ủy Ban Dân số và Kế hoạch hóa gia đình: Cẩm nang số X, các kỹ thuật gián tiếp về ước lương nhân khẩu học, NXB Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội
1996
3 Ban Chỉ đạo Tổng Điều tra Dân số Trung ương: Tổng Điều tra Dân số
và Nhà ở Việt Nam 1999, Kết quả điều tra mẫu; NXB Thế giới, Hà Nội 2000
4 Tổng cục Thống kê, Tổng Điều tra dân số Việt Nam 1989: Phân tích kết quả điều tra mẫu; Hà Nội 1991
Trang 25MỤC LỤC
1 Mở đề 2
2 Điểm lại phương pháp luận dự báo dân số theo phương pháp thành phần 2
3 Quy trình dự báo theo phương pháp thành phần 3
4 Thử dự báo dân số 1-4-2009 dựa vào dân số của Tổng điều tra dân số 1- 4- 1999 5
4.1 Đánh giá dân số gốc 6
4.2 Xác định hệ số sống cho dự báo 9
4.3 Chuyển tuổi cho dân số gốc 11
4.4 Xác định xu thế sinh đẻ của dân số 12
5 Xây dựng các phương án dự báo 14
6 Kết quả dự báo 15
PHỤ LỤC 17
I SỐ LIỆU DÂN SỐ GỐC DÙNG CHO DỰ BÁO 17
II DÂN SỐ GỐC SAU KHI ĐÃ ĐƯỢC HIỆU CHỈNH 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24