1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các phương pháp và mô hình dự báo lực lượng lao động và thất nghiệp

17 711 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 423,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chi tiêu lực lượng lao động và chỉ tiêu tỷ lệ thất nghiệp vừa là chỉ báo kinh tế vừa là một chỉ tiêu được toàn xã hội quan tâm, Dưới góc độ kinh tế, lực lượng lao động là nguồn lực của nền kinh tế, còn tỷ lệ thất nghiệp cho thấy mức cung lao động bị thừa

Trang 1

TỔNG CỤC THỐNG KÊ VIỆN KHOA HỌC THỐNG KÊ

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ:

CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH DỰ BÁO LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG VÀ THẤT NGHIỆP Thuộc đề tài: Nghiên cứu ứng dụng các phương pháp dự báo để dự báo một số chỉ tiêu thống kê xã hội chủ yếu ở Việt nam

Người biên sọan:

Lê Văn Dụy Phan Thị Ngọc Trâm

HÀ NỘI, 9/ 2009

Trang 2

MỞ ĐỀ

Chỉ tiờu lực lượng lao động và chỉ tiờu tỷ lệ thất nghiệp vừa là chỉ bỏo kinh tế vừa là một chỉ tiờu được toàn xó hội quan tõm Dưới gúc độ kinh tế, lực lượng lao đọng là nguồn lực của nền kinh tế, cũn tỷ lệ thất nghiệp cho thấy mức cung lao động “bị thừa” ở mức độ nào và điều này chắc chắn sẽ giỳp cho cỏc doanh nghiệp cú cơ hội lựa chọn lao động cú khả năng đỏp ứng tốt hơn yờu cầu của mỡnh Mặt khỏc nú cũng giỳp cho cỏc doanh nghiệp khụng bị sức ộp phải trả lương cao cho người cụng nhõn, vỡ giữa họ cú sự cạnh tranh cụng việc cao và do vậy họ sẵn sàng nhượng bộ về lương với giới chủ để cú cụng ăn việc làm

Dưới gúc độ xó hội, chỉ tiờu tỷ lệ thất nghiệp biểu thị cú một bộ phận người khụng cú thu nhập từ lao động và như vậy chắc chắn đời sống của họ bị ảnh hưởng Mặt khỏc, một bộ phận dõn chỳng rơi vào cảnh nghốo đúi là khú trỏnh khỏi Nghốo đúi nhiều, chắc chắn sẽ dẫn đến cỏc tiờu cực xó hội (nghốo đúi thường sinh trộm cắp, cướp giật, ) Như vậy biết trước tỷ lệ thất nghiệp sẽ giỳp cho chớnh quyền cỏc cấp cú những biện phỏp kịp thời để giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn cỏc tiờu cực xó hội do thất nghiệp gõy ra

I KHÁI NIỆM VÀ ĐỊNH NGHĨA

1.1 Định nghĩa lực lượng lao động

Lực l-ợng lao động (còn gọi là dân số hoạt động kinh tế) bao gồm tất cả

những ng-ời từ 15 tuổi trở lên có việc làm và những ng-ời thất nghiệp trong thời

gian quan sát (7 ngày hoặc 12 tháng tr-ớc thời điểm điều tra)

1.2 Ng-ời có việc làm

Bao gồm những ng-ời đã làm việc trong thời gian quan sát và những ng-ời tr-ớc đó có việc làm nh-ng hiện đang nghỉ tạm thời vì các lý do nh- ốm đau,

Trang 3

đình công, nghỉ hè, nghỉ lễ, trong thời gian sắp xếp lại sản xuất, do thời tiết xấu, máy móc bị h- hỏng, v.v…

1.3 Người thất nghiệp

Bao gồm những ng-ời, trong thời gian quan sát, tuy không làm việc nh-ng

đang tìm kiếm việc làm hoặc sẵn sàng làm việc để tạo ra thu nhập bằng tiền hay hiện vật, gồm cả những ng-ời ch-a bao giờ làm việc Thất nghiệp còn bao gồm cả những ng-ời, trong thời gian quan sát, không có hoạt động tìm kiếm việc làm vì họ đã đ-ợc bố trí một việc làm mới sau thời gian quan sát, những ng-ời đã bị buộc thôi việc không l-ơng có hoặc không có thời hạn, hoặc những ng-ời không tích cực tìm kiếm việc làm vì họ tin rằng không thể tìm đ-ợc việc làm

14 Tỷ lệ thất nghiệp

Chỉ tiêu phản ánh tỷ lệ phần trăm của số ng-ời thất nghiệp so với dân số hoạt động kinh tế (lực l-ợng lao động)

Ng-ời thất nghiệp là những ng-ời trong khoảng thời gian nhất định có nhu cầu làm việc nh-ng không làm việc, sẵn sàng làm việc nh-ng không có việc làm

và đang tìm việc làm

Trong thực tế th-ờng dùng 2 loại tỷ lệ thất nghiệp: tỷ lệ thất nghiệp chung

và tỷ lệ thất nghiệp theo độ tuổi hay nhóm tuổi

Tỷ lệ thất nghiệp chung đ-ợc xác định bằng cách chia số ng-ời thất nghiệp cho dân số hoạt động kinh tế;

Tỷ lệ thất nghiệp theo độ tuổi hoặc nhóm tuổi đ-ợc xác định bằng cách chia số ng-ời thất nghiệp của một độ tuổi hoặc nhóm tuổi nhất định cho toàn bộ dân số hoạt động kinh tế của độ tuổi hoặc nhóm tuổi đó

Trang 4

II CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG

Để dự báo lực lượng lao động, thường người ta sử dụng một trong hai phương pháp, đó là dự báo theo dãy số thời gian hoặc dự báo theo phương pháp nhân khẩu học (phương pháp dự báo thành phần)

2.1 Dự báo lực lượng lao động theo phương pháp dãy số thời gian

Ở phương pháp này, thu thập thông tin về số người thuộc lực lượng lao động qua các thời kỳ lập thành một dãy số thời gian Trên cơ sở dãy số liệu này tìm ra một phương trình toán học (mô hình) thích hợp mô tả quy luật phát triển của dãy số và sử dụng nó để dự đoán Việc ước lượng các tham số của phương trình thường dựa vào phương pháp bình phương nhỏ nhất

Dự báo lực lượng lao động theo dãy số thời gian có ưu điểm là:

Thứ nhất, nó đơn giản, dễ làm;

Thứ hai, nhanh chóng cho ra kết quả dự báo cần thiết

Tuy nhiên, nó có các nhược điểm sau đây:

Thứ nhất, khó thu thập thông tin cho một dãy số liệu dài Mặt khác, các

thông tin có được thường mức độ sát thực thấp và số liệu giữa các thời kỳ thường có phạm vi không đồng nhất do vậy kết quả dự báo thu được cũng có mức độ sát thực thấp

Thứ hai, số liệu dự báo thu được chỉ là một con số tổng hợp mà không

tách ra được theo giới tính và nhóm tổi nên tác dụng của dự báo cũng bị hạn chế theo

Dựa vào dãy số liệu thống kê về lực lượng lao động đang làm việc do TCTK thu thập cho giai đoạn 2000-2009 tiến hành dự báo cho chỉ tiêu này vào các năm 2010, 2011, 2012, 2013,

Trang 5

Sử dụng chương trình SPSS đã xác định được hàm số bậc hai mô tả tốt nhất quy luật phát triển theo thời gian của chỉ tiêu lao động đang làm việc Điều này thể hiện rất rõ thông qua hệ số tương quan (R) và hệ số mô tả ( 2

R ) ước lượng được Hệ số tương quan thu được: R 1 ; R2  1 Điều này cho thấy biến thời và chỉ tiêu này có mối quan hệ tất định Hơn thế nữa, sai số dự báo tương đối chỉ ở mức 0,02% Như vậy, ta có thể kết luận là hàm số bậc hai phù hợp với việc mô tả sự biến động theo thời gian của chỉ tiêu lực lượng lao động và yên tâm sử dụng nó để dự báo Hàm mô tả thu được có dạng cụ thể như sau:

2

9087 , 11 25 , 1054 3

,

y t    , với R 1; R2  1; Sai số tuyệt đối bình quân bằng 7,4 nghìn người; sai số tương đối bằng 0,02% Hệ số mô tả R2  1 cho thấy đây là mô hình tất định

Bảng 1: Lao động đang làm việc Việt nam giai đoạn 2000-2009 và kết quả dự đoán cho giai đoạn 2010-2016 (nghìn người)

Toàn quốc Khu vực thành thị Khu vực nông thôn

LĐ ĐLV LĐ ĐLV

Số dự báo LĐ ĐLV Số dự báo LĐ ĐLV LĐ ĐLV Số dự báo LĐ ĐLV

Theo kết quả tính toán, năm 2010 lao động đang làm việc của Việt Nam

là 49,0 triệu người Lao động đang làm việc của Việt nam vào các năm 2011,

Trang 6

2012, 2013, dự báo tương ứng sẽ là 50,4 triệu, 51,7 triệu và 53,1 triệu người Với mức độ tin cậy là 95%, lực lượng lao động của các năm 2009, 2010, 2011

và 2012 sẽ năm trong các khoảng tương ứng sau (đơn vị là triệu người): (47,7;49,1), (49,0;50,4), (50,4;51,7), (51,7;53,1)

Hình 1: Lao động đang làm việc của Việt Nam giai đoạn 2000-2009 và kết quả dự đoán cho giai đoạn 2010-2016 (nghìn người)

Đường dự báo dân số đang làm việc Toàn quốc, KV TT & NT

0

10000

20000

30000

40000

50000

60000

70000

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016

Ghi chú: TT là thành thị; NT là nông thôn; dấu * là số được mô tả bằng mô hình dự

báo

Bên cạnh dự báo dân số đang làm việc cho toàn quốc, tiến hành dự đoán lao động đang làm việc cho khu vực thành thị và nông thôn Kết quả dự báo được trình bày ở các bảng trên cho thấy vào các năm 2010, 2011, 2012, 2013 dân số đang làm việc của khu vực thành thị tương ứng là 13,2 triệu, 13,8 triệu, 14,5 triệu và 15,2 triệu người, còn của khu vực nông thôn các con số tương ứng

là 35,8 triệu, 36,5 triệu, 37,2 triệu, 37,9 triệu người

Trang 7

2.2 Dự báo dân số hoạt động kinh tế theo giới tính và nhóm tuổi

Đây là phương pháp thường kết hợp giữa dự báo dân số với dự báo lực lượng lao động Ở phương pháp này cần thực hiện hai bước Bước thứ nhất là sử dụng phương pháp thành phần (xem chuyên đề “Dự báo dân số theo phương pháp thành phần” của đề tài này) để dự báo dân số theo giới tính và nhóm tuổi Bước thứ hai dự đoán tỷ lệ lực lượng dân số của các nhóm và sử dụng chúng cùng với dân số đã dự đoán được ở bước trên để dự đoán số lượng của lực lượng lao động của các nhóm tuổi và của toàn bộ dân số

Việc dự báo tỷ lệ lực lượng lao động nói chung và tỷ lệ lực lượng lao động đặc trưng theo nhóm tuổi nói riêng thường được thực hiện theo phương pháp dãy số thời gian Dựa vào dãy số thời gian dự báo được tỷ lệ lực lượng lao động và sau đó kết hợp với dự báo phân bố của lực lượng lao động dự báo tỷ

lệ lực lượng lao động đặc trưng theo từng nhóm tuổi

Phương pháp dự báo lực lượng lao động theo phương pháp thành phần có

ưu điểm là:

Thứ nhất, nó tận dụng được kết quả của dự báo dân số và các ưu điểm

của dự báo dân số theo phương pháp thành phần (kết quả dự báo dân số theo phương pháp thành phần thường sát với thực tế hơn các phương pháp khác)

Thứ hai, nó cho biết phân bố của lực lượng lao động theo giới tính và

nhóm tuổi Thông tin này rất bổ ích cho những người làm công tác hoạc định các chính sách về lao động, việc làm

Với các ưu điểm trên, phương pháp thành phần thường hay được sử dụng trong dự báo lực lượng lao động

Để thực hiện phương án thứ nhất, cần dự báo tỷ lệ lực lượng lao động trong dân số từ 15 tuổi đến 69 tuổi (nhóm tuổi này là bộ phận cấu thành lớn nhất

Trang 8

của lực lượng lao động) Còn để thực hiện dự báo theo phương án thứ hai, cần

dự báo tỷ lệ lực lượng lao động theo giới tính và nhóm tuổi

Như đã biết, để dự báo chỉ tiêu dân số hoạt động kinh tế theo giới tính và nhóm tuổi theo phương pháp thành phần cần phải dự đoán dân số ở các nhóm tuổi và tỷ lệ dân số hoạt động kinh tế ở từng nhóm tuổi Như vậy, ở đây sử dụng kết quả dự báo dân số đã được tiến hành Bước tiếp theo cần dự báo tỷ lệ hoạt động kinh tế cho từng nhóm tuổi Dựa vào kết quả của ba cuộc tổng điều tra dân

số (1989, 1999 và 2009), chúng tôi dự đoán tỷ lệ này cho các năm sau

Hình 2: Tỷ lệ hoạt động kinh tế theo nhóm tuổi

Tỷ lệ DS HĐKT

0

20

40

60

80

100

120

15-19 20-24 25-29 30-34 35-39 40-44 45-49 50-54 55-59

Hình 2 cho thấy, dạng của tỷ lệ dân số hoạt động kinh tế theo nhóm tuổi của ba cuộc tổng điều tra dân số gần giống nhau: thấp ở các nhóm tuổi đầu sau tăng lên ở các nhóm tuổi trung niên rồi giảm đi ở các nhóm tuổi già Về mức độ thì vào năm 1999 là cao nhất, còn ở năm 1989 và 2009 thì tương đương Điều này có thể do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế vào các năm 1997-1998 Ở hai năm 1989 và 2009 mức độ hoạt động kinh tế ở các nhóm tuổi trẻ và già có khác nhau Vào năm 2009 nhóm tuổi trẻ có tỷ lệ hoạt động kinh tế thấp hơn so

Trang 9

với năm 1989 Điều này được giải thích là nhờ sự phát triển mạnh về kinh tế các thế hệ trẻ ngày nay được cha mẹ cho đi học nhiều hơn Phân tích trên cho phép

dự đoán là vào các năm sau này mức độ và dạng tỷ lệ hoạt động kinh tế sẽ tương

tự như ở năm 2009

Với giả thiết mức độ và dạng phân bố của dân số hoạt động kinh tế và dân số đang làm việc của các năm 2014 và 2019 giống như năm 2009 và dựa vào kết quả dự báo dân số của hai năm này chúng tôi tiến hành dự báo dân số hoạt động kinh tế và dân số đang làm việc của hai giới tính theo từng nhóm tuổi Kết quả được trình bày ở hai bảng dưới đây

Bảng 2: Kết quả dự báo chỉ tiêu dân số hoạt động kinh tế năm 2014 và

2019 theo phương pháp thành phần

Tổng 27968.9 24490.3 52459.3 29019.6 24772.3 53791.8

Theo dự báo trên, vào năm 2014 dân số họat động kinh tế của Việt Nam

là 52,5 triệu người trong đó nam là 28 triệu người và nữ là 24,5 triệu người Dân

số hoạt động kinh tế lớn nhất rơi vào các nhóm tuổi 20-24, 25-29 và 30-34 Vào năm 2019 dân số họat động kinh tế của Việt Nam là 53,8 triệu người trong đó nam là 29 triệu người và nữ là 24,8 triệu người Dân số hoạt động kinh tế lớn nhất của năm này rơi vào các nhóm tuổi 25-29, 30-34 và 35-39

Trang 10

Với giả thiết tỷ lệ dân số hoạt động kinh tế đang làm việc đặc trưng theo giới tính và nhóm tuổi giống như của năm 2009, dự báo số lao động đang làm việc của các năm 2014 và 2019 Kết quả thu được được trình bày trong bảng 3 Kết quả dự báo cho thấy vào năm 2014 có 50,8 triệu người đang làm việc, trong

đó có 27,1 triệu nam giới và 23,8 triệu nữ giới Vào năm 2019 chỉ tiêu này tương ứng là 52,2 triệu, 28,1 triệu và 24,1 triệu

Vào năm 2014, số lao động đang làm việc nhiều nhất rơi vào các nhóm tuổi 20-24, 25-29 và 30-34 Vào năm 2019, số lao động đang làm việc nhiều nhất rơi vào các nhóm tuổi 25-29, 30-34 và 35-39

Bảng 3: Kết quả dự báo chỉ tiêu dân số đang làm việc năm 2014 và

2019 theo phương pháp thành phần

III CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO THẤT NGHIỆP

Có nhiều phương pháp khác nhau được sử dụng để dự báo tỷ lệ thất nghiệp và số người thất nghiệp Dưới đây chúng tôi giới thiệu một số phương pháp thường được các chuyên gia quốc tế sử dụng

Trang 11

3.1 Phương pháp dự báo tỷ lệ thất nghiệp

Ở phương pháp này, thu thập thông tin về tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động qua các thời kỳ lập thành một dãy số thời gian Trên cơ sở dãy số liệu này, cũng giống như ở phương pháp dự báo theo dãy số thời gian của dự báo lực lượng lao động tìm ra một phương trình toán học thích hợp mô tả quy luật phát triển của dãy số và sử dụng nó để dự đoán Việc ước lượng các tham số của phương trình thường dựa vào phương pháp bình phương nhỏ nhất Phương pháp này thường được cài đặt trong các chương trình phân tích số liệu thống kê như SPSS, STATA, SAS,

Dựa vào dãy số liệu thống kê về tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động

do TCTK thu thập cho giai đoạn 1996-2009 tiến hành dự báo tỷ lệ thất nghiệp cho các năm 2010 và 2011

Qua khảo sát thấy phương trình bậc hai mô tả tốt quy luật phát triển của tỷ

lệ thất nghiệp Sử dụng chương trình SPSS ước lượng được phương trình mô tả

tỷ lệ thất nghiệp như sau:

2

033 , 0 281 , 0 82 ,

y t    , với R 0 , 956; R2  0 , 913; trong đó t biểu thị thời gian (bắt đầu từ 1), R là hệ số tương quan và R2

là hệ số mô tả

Sai số mô tả tuyệt đối bình quân bằng 0,298 đơn vị %; và sai số tương đối bình quân bằng 5,36%

Trang 12

Bảng 4: Số liệu và kết quả dự báo tỷ lệ thất nghiệp

bình

Cận trên*

Ghi chú: * Với mức độ tin cậy bằng 95%: Với mức độ tin cậy bằng 95%, tỷ lệ thất nghiệp sẽ nằm

trong khoảng (cận dưới; cận trên) Ví dụ: vào năm 2010, với mức độ tin cậy bằng 95% có thể nói là tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam năm trong khoảng (1,68%;3,71%)

Hình 3: Đồ thị tỷ lệ thất nghiệp (%) theo năm

Tỷ lệ thất nghiệp

0.00

1.00

2.00

3.00

4.00

5.00

6.00

7.00

8.00

1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012

TyleTN TyleTN'

Ghi chú: TyleTN’ là đường mô tả; TyleTN là đường thực tế

Trang 13

Kết quả dự đoán cho thấy nếu tình hình kinh tế vẫn như những năm trước đây, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam sẽ tiếp tục giảm Tuy nhiên, xu thế này sẽ không còn giữ vững được nữa vì năm 2008 xảy ra khủng hoảng tài chính thế giới và như vậy giả thiết “tình hình kinh tế vẫn như những năm trước” bị vi phạm dẫn đến sẽ có sự gia tăng tỷ lệ thất nghiệp vào năm 2010 và 2011

Từ kết quả trên cho thấy để dự báo theo dãy số thời gian có hiệu qủa cao hơn nên có sự phối hợp với phương pháp chuyên gia Các chuyên gia sẽ đánh giá tình hình phát triển kinh tế xã hội sau đó phối hợp với kết quả dự đoán theo dãy số thời gian và đưa ra kết quả dự đoán có hiệu chỉnh

3.2 Phương pháp dự báo số lượng người thất nghiệp

Tương tự như dự báo lực lượng lao động, dự báo số lượng người thất nghiệp cũng được tiến hành theo một trong hai phương pháp: phương pháp dãy

số thời gian và phương pháp nhân khẩu học

Ở phương pháp dãy số thời gian sử dụng số liệu về số lượng người thất nghiệp trong các thời kỳ để xác định hàm số toán học mô tả sát thực nhất quy luật phát triển của số người thất nghiệp rồi ước lượng các tham số của hàm số và tiến hành dự báo Kết quả dự báo phụ thuộc vào chất lượng của thông tin thu được

Ở phương pháp nhân khẩu học thường dựa vào kết quả dự báo dân số (nếu đã có sẵn) sau đó tiến hành dự báo tỷ lệ thất nghiệp và sử dụng hai kết quả này để tính ra số người thất nghiệp của thời kỳ dự báo

Dựa vào kết quả dự báo dân số theo phương pháp thành phần và với giả thiết là tỷ lệ thất nghiệp đặc trưng theo nhóm tuổi của các năm 2014 và 2019 giống như của năm 2009, chúng tôi dự báo số người thất nghiệp cho hai năm này Kết quả dự báo được trình bày trong bảng 5

Ngày đăng: 25/12/2014, 15:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1:  Lao  động  đang  làm  việc  Việt  nam  giai  đoạn  2000-2009  và  kết  quả  dự  đoán cho giai đoạn 2010-2016 (nghìn người) - Các phương pháp và mô hình dự báo lực lượng lao động và thất nghiệp
ng 1: Lao động đang làm việc Việt nam giai đoạn 2000-2009 và kết quả dự đoán cho giai đoạn 2010-2016 (nghìn người) (Trang 5)
Hình 1: Lao động đang làm việc của Việt Nam giai đoạn 2000-2009 và kết quả dự  đoán cho giai đoạn 2010-2016 (nghìn người) - Các phương pháp và mô hình dự báo lực lượng lao động và thất nghiệp
Hình 1 Lao động đang làm việc của Việt Nam giai đoạn 2000-2009 và kết quả dự đoán cho giai đoạn 2010-2016 (nghìn người) (Trang 6)
Hình 2: Tỷ lệ hoạt động kinh tế theo nhóm tuổi - Các phương pháp và mô hình dự báo lực lượng lao động và thất nghiệp
Hình 2 Tỷ lệ hoạt động kinh tế theo nhóm tuổi (Trang 8)
Bảng 2: Kết quả dự báo chỉ tiêu dân số hoạt động kinh tế năm 2014 và - Các phương pháp và mô hình dự báo lực lượng lao động và thất nghiệp
Bảng 2 Kết quả dự báo chỉ tiêu dân số hoạt động kinh tế năm 2014 và (Trang 9)
Bảng  3:  Kết  quả  dự  báo  chỉ  tiêu  dân  số  đang  làm  việc  năm  2014  và - Các phương pháp và mô hình dự báo lực lượng lao động và thất nghiệp
ng 3: Kết quả dự báo chỉ tiêu dân số đang làm việc năm 2014 và (Trang 10)
Hình 3: Đồ thị tỷ lệ thất nghiệp (%) theo năm - Các phương pháp và mô hình dự báo lực lượng lao động và thất nghiệp
Hình 3 Đồ thị tỷ lệ thất nghiệp (%) theo năm (Trang 12)
Bảng 4: Số liệu và kết quả dự báo tỷ lệ thất nghiệp - Các phương pháp và mô hình dự báo lực lượng lao động và thất nghiệp
Bảng 4 Số liệu và kết quả dự báo tỷ lệ thất nghiệp (Trang 12)
Hình 4: Tỷ lệ thất nghiệp đặc trƣng theo nhóm tuổi, 1989, 2009 - Các phương pháp và mô hình dự báo lực lượng lao động và thất nghiệp
Hình 4 Tỷ lệ thất nghiệp đặc trƣng theo nhóm tuổi, 1989, 2009 (Trang 14)
Bảng  5  chi  thấy  vào  năm  2014  có  khoảng  1,6  triệu  người  thất  nghiệp,  trong đó 0,9 triệu người thất nghiệp là nam giới và 0,7 triệu người thất nghiệp là - Các phương pháp và mô hình dự báo lực lượng lao động và thất nghiệp
ng 5 chi thấy vào năm 2014 có khoảng 1,6 triệu người thất nghiệp, trong đó 0,9 triệu người thất nghiệp là nam giới và 0,7 triệu người thất nghiệp là (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w