BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀITÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ GIẢI PHÁP LÀM VÀ SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC ĐƠN GIẢN RẺ TIỀN CÓ HIỆU QUẢ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG BỘ MÔN VẬT LÝ THCS Họ và
Trang 1BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ GIẢI PHÁP LÀM VÀ SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC ĐƠN GIẢN RẺ TIỀN CÓ HIỆU QUẢ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC
TẬP CỦA HỌC SINH TRONG BỘ MÔN VẬT LÝ THCS
Họ và tên: Hồ Huế Phương.
Đơn vị công tác: Trường THCS Bàu Năng, Dương Minh Châu, Tây Ninh 1/ Lí do chọn đề tài:
2/ Đối tượng – phương pháp nghiên cứu:
Đối tượng : Giải pháp làm và sử dụng đồ dùng dạy học đơn giản rẻ tiền có hiệu quảtrong dạy học Vật lý THCS nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh ở trườngTHCS Bàu Năng
Phương pháp: Nghiên cứu tài liệu, dự giờ, điều tra sư phạm, kiểm tra đối chiếu sosánh, thực nghiệm
3/ Đề tài đưa ra giải pháp mới:
Đưa ra một số giải pháp làm đồ dùng dạy học đơn giản rẻ tiền có hiệu quả
Sử dụng đồ dùng dạy học rẻ tiền vào một số tiết học Vật lý thực nghiệm
4/ Hiệu quả áp dụng:
Giáo viên:
- Sử dụng tốt đồ dùng dạy học đơn giản rẻ tiền có hiệu quả
- Đáp ứng được một trong những mục tiêu giáo dục
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Đứng trước xu thế phát triển của giáo dục thế giới hiện nay đồng thời nghiên cứuquan điểm giáo dục ở Việt Nam qua ba lần cải cách giáo dục, đặc biệt là việc đổi mới nộidung chương trình sách giáo khoa thực hiện từ năm học 2002 - 2003 đến nay thì đòi hỏiviệc đổi mới phương pháp dạy học là một tất yếu khách quan đối với giáo dục và đào tạo.Trước sự bùng nổ về thông tin khoa học của loài người trên thế giới đòi hỏi giáo dụcnước ta phải nhanh chóng tiến kịp các nước tiên tiến trên thế giới, ngành giáo dục và đàotạo của nước ta phải đào tạo được những con người năng động tự chủ, sáng tạo, nắm bắt
và sử dụng thành thạo những công nghệ hiện đại của khoa học kỹ thuật
Vật lý là cơ sở của nhiều ngành kỹ thuật quan trọng, sự phát triển của khoa học vật
lý gắn bó chặt chẽ và tác động qua lại trực tiếp với sự phát triển của khoa học công nghệ.Môn Vật lý ở trường phổ thông đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành kiến thứcvật lý cơ bản ở học sinh Nhiệm vụ quan trọng cấp bách hàng đầu của các trường học hiệnnay là việc tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực họctập của học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Riêng với môn học Vật lý làm thếnào để học sinh phát huy tính tích cực trong học tập và việc sử dụng đồ dùng dạy học đạthiệu quả cao thì không thể thiếu một khâu rất quan trọng Đó là việc giáo viên phải có kĩnăng làm và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm đơn giản rẻ tiền phục vụ cho việc giảng dạycủa mình
Các hiện tượng và quá trình Vật lý được đề cập trong sách giáo khoa Vật lý THCSthường rất gần gũi với chúng ta và luôn xảy ra trong đời sống hàng ngày xung quanhchúng ta Vì thế để tái tạo lại hoặc kiểm chứng lại chúng, không đòi hỏi cần có nhữngdụng cụ phức tạp tinh vi Trái lại, với những dụng cụ đơn giản, dễ kiếm, những dụng cụđược dùng trong đời sống hàng ngày, chúng ta hoàn toàn có thể tạo ra những thí nghiệm
có sức thuyết phục cao đối với học sinh Trên cơ sở đồ dùng dạy học mặc dù đã đượctrang bị nhưng vẫn chưa đủ và do quá trình sử dụng bị hư hỏng, thất thoát nên việc tựtrang bị cho mình những đồ dùng dạy học là rất cần thiết mà mỗi giáo viên cần có kếhoạch ngay từ đầu năm học
Dựa trên những kiến thức đã học, các em hoàn toàn có thể tự chế tạo những dụng
cụ thí nghiệm hoàn toàn mang tính Vật lý, hoặc những đồ chơi mang tính giải trí cao màkhông cần phải tốn nhiều công sức, kĩ thuật cao giúp các em ghi nhớ bài học một cách dễdàng hơn Mặt khác, rèn luyện và phát triển cho học sinh kĩ năng tư duy độc lập, kĩ năngtìm tòi kiến thức, thực hành thí nghiệm, hình thành tác phong nghiên cứu khoa học ngay
từ những buổi đầu đến trường đồng thời hình thành ở các em lòng tin vào kiến thức khoahọc, sự say mê hứng thú môn học, đồng thời hình thành và phát triển năng khiếu cá nhân
Xuất phát từ những lí do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “MỘT SỐ GIẢI PHÁP LÀM VÀ SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG DẠY HỌC ĐƠN GIẢN RẺ TIỀN CÓ HIỆU QUẢ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG BỘ MÔN VẬT LÝ THCS”.
2 Mục đích nghiên cứu
Đưa ra một số giải pháp làm và sử dụng đồ dùng dạy học đơn giản rẻ tiền có hiệu quả trong các tiết thí nghiệm Vật lý giúp học sinh thật sự hứng thú với những dụng cụ đồdùng do giáo viên tự làm Qua đó phát huy tính tích cực chủ động, năng lực tự học và khảnăng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, lòng đam mê học tập bộ môn, từ đó nâng cao đượcchất lượng học tập của các em
Trang 33 Đối tượng nghiên cứu:
Trong thời gian giảng dạy ở trường, tôi được phân công dạy bộ môn vật lý lớp 7.Cho nên, tôi phải làm thế nào giúp học sinh nắm vững kiến thức trong quá trình học tập
và gây được sự hứng thú cho học sinh trong các tiết thực hành, sử dụng dụng cụ thínghiệm Vì vậy, đối tượng nghiên cứu chỉ giới hạn cụ thể về một số giải pháp làm và sửdụng đồ dùng dạy học trong những tiết học có sử dụng dụng cụ trực quan, thí nghiệm củahọc sinh lớp 7A2 trường THCS Bàu Năng
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, tôi đã sử dụng kết hợp các phươngpháp sau đây:
4.1 Nghiên cứu tài liệu:
Khi làm đề tài này tôi đã đọc qua các tài liệu, sách báo có liên quan, giúp tôi có cơ
sở lí luận để phân tích các tài liệu có liên quan đến việc sử dụng đồ dùng dạy học đơngiản rẻ tiền có hiệu quả trong các tiết dạy
4.2 Điều tra:
Dự giờ: Thông qua các tiết dự giờ để tìm hiểu các giáo viên cách sử dụng đồ
dùng dạy học như thế nào? Có đạt hiệu quả không? Để từ đó rút kinh nghiệm cho bảnthân mình
Thực nghiệm: Thông qua quá trình giảng dạy và kiểm tra đánh giá kết quả học
tập của học sinh ở các thời điểm trong năm học, đã giúp cho tôi có nhận xét phù hợp khithực hiện đề tài
Kiểm tra đối chiếu so sánh:
+ Kiểm tra điều chỉnh bổ sung
+ Kiểm tra đánh giá việc thực hiện so sánh kết quả khi chưa áp dụng giải pháp
và khi áp dụng giải pháp
5 Giả thuyết khoa học:
Giả sử trong thực tế giảng dạy chúng ta không chú trọng đến việc tái tạo và sử dụngcác thiết bị đơn giản rẻ tiền, chỉ dựa vào các thiết bị đồ dùng được trang bị sẵn Như vậybản thân người giáo viên sẽ thiếu đi tính sáng tạo trong công việc, thụ động, không rènluyện tốt kĩ năng vận dụng, thực hành thí nghiệm, không phát huy tính tích cực của họcsinh, hạn chế việc phát triển tư duy cho học sinh, không phát hiện kĩ năng, năng khiếu củacác em học sinh Do đó, để nâng cao chất lượng học tập của học sinh, giáo viên cần chú ýđổi mới phương pháp không chỉ dừng lại ở việc tổ chức thảo luận nhóm, tăng cường thựchành thí nghiệm, đổi mới kiểm tra đánh giá, mà phải tiến sâu hơn nữa kĩ năng làm và sửdụng các đồ dùng dạy học đơn giản giúp các em nắm được kiến thức mới tại lớp, gâyđược sự hứng thú học tập ở học sinh, trang bị kiến thức cần thiết để các em có thể tự tạo
ra những dụng cụ đơn giản phục vụ cho chính bản thân các em và hơn cả là hình thànhniềm tin khoa học, tin vào những gì mình tự tay làm, mắt nhìn thấy
Trang 4II NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận:
1.1 Các văn bản chỉ đạo của cấp trên:
- Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X: “Đổi mới cơ cấu tổ chức, nội
dung phương pháp dạy và học theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa Phát huytrí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học”
- Một trong số các giải pháp phát triển giáo dục được đưa ra trong chiến lượcphát triển giáo dục 2001- 2010 là: "Phát triển đội ngũ nhà giáo, đổi mới phương pháp giáodục” ( điều 6, tr 30)
- Chỉ thị 40- CT/TW về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lí giáo dục ghi rõ: “Đặc biệt đổi mới mạnh mẽ và cơ bản phương phápgiáo dục nhằm khắc phục kiểu truyền thụ một chiều, nặng lí thuyết, ít khuyến khích tưduy sáng tạo, bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề phát triểnnăng lực thực hành sáng tạo của người học .”(điều 1, tr12)
- Luật giáo dục sửa đổi 2010, điều 28.2 đã nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổthông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp vớiđặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việctheo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảmđem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh”
1.2 Các quan niệm khác về giáo dục:
Các hiện tượng và quá trình Vật lý thường rất gần gũi với chúng ta và luônxảy ra trong đời sống hằng ngày Vì thế, để tái tạo lại hoặc kiểm chứng lại chúng, khôngđòi hỏi cần có những dụng cụ phức tạp tinh vi Trái lại, với những dụng cụ đơn giản, dễkiếm, những dụng cụ được dùng trong đời sống hằng ngày, chúng ta hoàn toàn có thể tạo
ra những đồ dùng dạy học có sức thuyết phục cao đối với học sinh
Đồ dùng dạy học mang tính đơn giản, rẻ tiền là những đồ dùng được tạo ravới những dụng cụ thí nghiệm đơn giản, dễ kiếm trong đời sống hằng ngày hoặc muanhưng không đắt tiền Như chúng ta đã biết thí nghiệm hiện đại luôn gắn với những thínghiệm định lượng, những thí nghiệm đòi hỏi độ chính xác cao, trái lại đối với những thí
nghiệm định tính thì thí nghiệm đơn giản rẻ tiền lại chiếm ưu thế Nó góp phần làm phong
phú thêm khả năng khai thác và sử dụng thiết bị thí nghiệm làm cho dạy học Vật lý trởnên trực quan hơn, khắc phục lối dạy học có tính giáo điều sách vở, thoát ly thực tế
Đối với việc giảng dạy môn Vật lý thì việc sử dụng đồ dùng dạy học là mộtviệc không thể thiếu được trong quá trình dạy học bởi vì đặc thù của môn Vật lý là mộtmôn khoa học thực nghiệm, các tri thức khoa học được rút ra từ việc quan sát các hiệntượng , thu thập thông tin và làm thí nghiệm để khẳng định sự đúng đắn của tri thức khoahọc Muốn vậy thì các giáo viên phải khai thác triệt để có kỹ năng sử dụng có hiệu quảcác đồ dùng dạy học hiện có và phải luôn năng động, sáng tạo, làm thêm các thiết bị cầnthiết chưa có để bài giảng thêm phong phú sinh động, cuốn hút gây hứng thú đạt hiệu quảcao về chất lượng, đảm bảo về nội dung chương trình mục tiêu giáo dục Mặt khác các em
sẽ có hứng thú tinh thần học bài, tìm thấy cái lí thú, cái hay trong môn học, không cảmthấy khô cứng, khó hiểu nữa Từ đó tạo niềm say mê học tập, đồng thời nó làm cho các
em nhận thức đúng đắn hơn và phát huy tối đa khả năng tự học, tự nghiên cứu, tự giảiquyết vấn đề, vận dụng kiến thức vào cuộc sống
Trang 52 Cơ sở thực tiễn:
2.1 Thực trạng về việc sử dụng đồ dùng dạy học trong bộ môn Vật lý:
* Đối với giáo viên:
Giáo viên thực hiện đầy đủ các thí nghiệm theo yêu cầu của sách giáo khoa, sáchgiáo viên hướng dẫn, tận dụng tối đa tính năng của từng dụng cụ
Cụ thể như sau:
+ Một số thí nghiệm trong chương trình Vật lý 7 cần sử dụng nguồn điện là pin,
để khỏi phải tốn chi phí, tôi sử dụng bộ biến thế nguồn của Vật lý 9
+ Sử dụng nam châm thẳng, nam châm điện của Vật lý 9 áp dụng cho Vật lý 7 + Bộ lắp nguồn điện là pin của Vật lý 9 sử dụng chung cho Vật lý 7 .Tóm lại,dụng cụ thí nghiệm ở chương điện học lớp 7 được thay thế hoặc sử dụng chung thínghiệm phần điện Vật lý lớp 9
Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng dụng cụ thí nghiệm Vật lý giáo viên thườnggặp một số khó khăn như sau:
+ Dụng cụ bị hỏng nhiều nên một số thí nghiệm không đủ dụng cụ thí nghiệmcho nhiều nhóm
+ Dụng cụ tương đối đầy đủ nhưng chất lượng không được cao nên thí nghiệmcho kết quả thường thiếu chính xác
+ Một số đồ dùng dạy học được cấp về lại không khớp hình vẽ sách giáo khoalàm cho việc lắp ráp thí nghiệm gặp khó khăn
+ Không có phòng chức năng nên việc trưng bày cũng như sử dụng không khoahọc
+ Phong trào tự làm đồ dùng dạy học thì diễn ra thường xuyên, định kì nhưngchất lượng đồ dùng thì lại không cao, thời gian sử dụng ngắn
* Đối với học sinh:
+ Một số dụng cụ thí nghiệm phức tạp, học sinh không biết cách sử dụng, ngại
bị hư hỏng hoặc bị lúng túng trong quá trình sử dụng các dụng cụ thí nghiệm thực hành + Tình trạng chung hiện nay là học sinh thụ động nên ý thức về việc sử dụngdụng cụ thí nghiệm trong tiết học còn xem nhẹ
+ Học sinh chưa tích cực, lười nghiên cứu trước nội dung của bài mới nên chưa
tự mình làm thí nghiệm được để rút ra kiến thức Do đó kết quả chất lượng giờ học Vật lýthật sự chưa mang lại hiệu quả cao
2.2 Sự cần thiết của đề tài:
Đồ dùng dạy học là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chấtlượng giờ dạy, việc sử dụng đồ dùng dạy học không chỉ nhằm minh hoạ cho bài giảng màcòn thúc đẩy quá trình nhận thức của học sinh phát triển tư duy sáng tạo và kỹ năng thựchành cho học sinh Nếu sử dụng dụng cụ thí nghiệm thực hành một cách tuỳ tiện, chưa có
sự chuẩn bị chu đáo thì hiệu quả học tập của các em không cao có khi còn phản tác dụng,giáo viên mất thời gian vô ích, học sinh học tập mệt mỏi căng thẳng
Từ những thực trạng trên và cùng với vai trò đặc biệt của thí nghiệm Vật lý, tôithấy trong xu hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt độngnhận thức của người học, việc khai thác làm và sử dụng những đồ dùng dạy học đơn giản,
rẻ riền có một ý nghĩa rất quan trọng.Tôi thiết nghĩ phải thay đổi phương pháp dạy học màtrước hết là bản thân mỗi giáo viên hãy tự thay đổi suy nghĩ của chính mình, cần năng nổtích cực hơn trong việc làm và sử dụng các đồ dùng dạy học đơn giản tự phục vụ choviệcgiảng dạy của bản thân nhằm nâng cao chất lượng dạy và học và tạo hứng thú học tập,rèn luyện phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
Trang 63 Nội dung vấn đề:
3.1 Vấn đề đặt ra:
Để giúp học sinh hứng thú học tập môn Vật lý thông qua việc giáo viên tự tạodụng cụ thí nghiệm đơn giản rẻ tiền, giáo viên phải nhận thức đúng đắn về vai trò của thínghiệm tự tạo này, nhận thấy những ưu điểm cũng như những hạn chế của thí nghiệmdạng này Do đó vấn đề đặt ra là:
Giáo viên phải nắm được ưu điểm, hạn chế và yêu cầu của đồ dùng dạy học đơngiản, rẻ tiền
Đề ra một số giải pháp làm và sử dụng đồ dùng dạy học đơn giản rẻ tiền vào một
số bài học cụ thể trong các tiết dạy
Lựa chọn những thí nghiệm đơn giản mang tính giải trí gây hứng thú cao đối vớihọc sinh, những thí nghiệm này cá nhân học sinh hoặc nhóm có thể tự làm sau một nội
dung kiến thức nào đó của chương trình
3.2 Giải quyết vấn đề đặt ra:
* Vấn đề 1: Ưu điểm, hạn chế và yêu cầu của đồ dùng dạy học đơn giản, rẻ tiền
Những ưu điểm nổi bật của đồ dùng dạy học đơn giản rẻ tiền:
1 Dụng cụ cần cho thí nghiệm là những dụng cụ đơn giản, dễ kiếm trong đờisống hàng ngày, có thể kiếm ở mọi nơi Đó có thể là những lon bia, lon nước ngọt hoặcchai nước khoáng đã dùng, ống nhựa, hoặc có thể là những đồ chơi của trẻ con, như xenhựa, búp bê nhựa, quả bóng bay …
2 Dễ thao tác và dễ thành công, vì những thí nghiệm này do chính giáo viên tựthiết kế, chế tạo và khai thác để sử dụng trong giảng dạy
3 Thí nghiệm cho kết quả rõ ràng, thuyết phục (thường là những thí nghiệm gắnvới những hiện tượng vật lý trong đời sống hàng ngày)
4 Đồ dùng dạy học đơn giản, rẻ tiền không đòi hỏi ở người sử dụng những kỹnăng thực hành đặc biệt, nên giáo viên nào cũng có thể tiến hành được Trái lại, khi sửdụng các thí nghiệm hiện đại, giáo viên phải biết cách sử dụng các dụng cụ, máy móc,thiết bị, phải có những kỹ năng thực hành nhất định mới có thể tiến hành được những thínghiệm này Nếu giáo viên không có kỹ năng sử dụng máy tính, không nắm được cácphần mềm sử dụng trong thí nghiệm thì không thể tiến hành được những thí nghiệm có sửdụng máy tính, hay những thí nghiệm hiện đại khác
5 Đồ dùng dạy học đơn giản, rẻ tiền không đòi hỏi khắt khe các điều kiện cơ sở vật
chất như phòng bộ môn, mạng điện, thiết bị nên ở đâu cũng có thể tiến hành thí nghiệmđược
6 Hiện tượng và kết quả thí nghiệm có sức hấp dẫn lôi cuốn, vì vậy nó có tác dụng
kích thích hứng thú học tập của học sinh
7 Đồ dùng dạy học đơn giản, rẻ riền là những dụng cụ thí nghiệm ngắn gọn, mất ít
thời gian nên có thể sử dụng rất thuận tiện trong quá trình dạy học Đặc biệt trong khâu
mở bài hay củng cố bài, sử dụng để tạo tình huống học tập rất có hiệu quả
Hạn chế của đồ dùng dạy học đơn giản rẻ tiền là:
Hầu hết các đồ dùng dạy học đơn giản, rẻ tiền là những dụng cụ thí nghiệm định
tính, ít có thí nghiệm định lượng, dụng cụ thí nghiệm không bền thường sử dụng một lần,việc tái tạo lại dụng cụ sau không hiệu quả, tính thẩm mĩ không cao
Yêu cầu của đồ dùng dạy học đơn giản rẻ tiền là:
Đồ dùng dạy học đơn giản, rẻ tiền được tiến hành với những dụng cụ đơn giản tựtạo, tự kiếm (như lon bia, chai nước khoáng đã dùng ) Do vậy, ngoài những yêu cầuchung, khi khai thác làm và sử dụng đồ dùng dạy học đơn giản, rẻ tiền cần đặc biệt chú ýcác yêu cầu sau:
Trang 7 Phải đảm bảo tính khoa học: Kết quả rõ ràng, chính xác và thuyết phục.
Phải đảm bảo tính sư phạm: Các thí nghiệm không được phản giáo dục.
Ví dụ: không nên làm những dụng cụ thí nghiệm có liên quan đến súng, đạn, cung, nỏ
Phải đảm bảo tính thẩm mĩ: Do các dụng cụ của thí nghiệm đơn giản, rẻ
tiền là những dụng cụ tận dụng, tự kiếm, tự tạo Vì vậy yếu tố thẩm mĩ phải được đặc biệtcoi trọng và phải đặt lên hàng đầu Những dụng cụ thí nghiệm tận dụng, tự kiếm phảiđược gia công chu đáo, cẩn thận để làm tăng tính thẩm mĩ của nó
Phải đảm bảo tính khả thi: Các thí nghiệm được sử dụng phải là những
thí nghiệm dễ thao tác, dễ tiến hành và cho kết quả thuyết phục
* Vấn đề 2: Một số giải pháp làm và sử dụng đồ dùng dạy học đơn giản rẻ tiền vào một số bài học cụ thể trong các tiết dạy.
Ví dụ 1: Vật lý 7 bài 23 “ Tác dụng từ, tác dụng hóa học và tác dụng sinh lí của dòng điện”
Giáo viên có thể tiến hành chế tạo nam châm điện như sau:
Trang 8Đặt ba tấm bìa lên giá nằm ngang sao cho ba lỗ thẳng hàng Đặt ngọn nến đangcháy về một phía và đặt mắt để quan sát phía đối diện.
+ Cho 3 quả chanh vào 3 cốc nước cho học sinh quan sát và nhận xét
+ Cho một ít muối vào một trong 3 cốc, khuấy đều cho đến khi quả chanhnổi lơ lửng
+ Cho một ít muối vào một trong 2 cốc còn lại và khuấy đều, vừa khuấy vừathêm muối cho đến khi quả chanh nổi hẳn
Giáo viên cho học sinh quan sát trạng thái của 3 quả chanh ở trong 3 cốc Từ đó chohọc sinh phân tích lực tác dụng lên từng quả chanh để đi đến kết luận về điều kiện của vậtchìm , vật nổi và vật lơ lửng
Ví dụ 4: Vật lý 8 bài 9 “Áp suất khí quyển”
( thí nghiệm dùng mở bài tạo hứng thú học tâp)
* Phương án 1: Cho trứng chui vào chai.
Trang 9Cách 1: Luộc trứng lòng đào và bóc vỏ.
Cách 2: Ngâm trứng vào dấm ăn cho đến khi phần vỏ trứng mất đi
- Chọn chai thủy tinh: Chọn chai có đường kính miệng chai nhỏ hơn một chút so vớiđường kính quả trứng
- Dốc ngược ly cho miệng quay xuống dưới rồi từ từ thả tay ra
Ví dụ 5: Vật lý 8 bài8 “ Áp suất chất lỏng - Bình thông nhau”
*Phương án 1: Áp suất chất lỏng phụ thuộc độ sâu.
- Dùi 3 lỗ nhỏ trên thành chai ở các độ cao khác nhau
- Dùng ca nhựa rót nước màu vào chai (trước khi rót dùng băng keo dán kính lỗ)
c Tiến hành:
- Gỡ băng keo từ các lỗ cho nước chảy ra
- Yêu cầu học sinh quan sát và rút ra kết luận
* Phương án 2: Áp suất chất lỏng tác dụng lên cả phía trên.
Trang 10- Sợi chỉ được buộc vào điểm giữa của tấm bìa và luồn vào thông đèn
để giữ cho tấm bìa không rơi
- Khi chưa nhúng vào nước, nếu ta thả tay thì tấm bìa sẽ rơi xuống
- Giữ chặt sợi chỉ và nhúng thông đèn vào cốc đựng nước
Sau đó buông sợi chỉ ra, ta thấy tấm bìa không rơi khỏi thông đèn
Ví dụ 6:Vật lý 6 bài 19 “Sự nở vì nhiệt của chất lỏng”
a Dụng cụ:
+ 1 vỏ chai đựng cồn hoặc oxi già
+ 1 ruột bút bi chữ A đã dùng, mực còn khoảng 5mm
b Chuẩn bị dụng cụ:
- Tháo viên bi ở đầu ruột bút
- Cắm đầu ruột bút vào miệng chai đựng, ta được dụng cụ như hình vẽ
c Tiến hành:
- Xoa 2 tay vào nhau, sau đó áp nhẹ vào chai
- Quan sát hiện tượng và nhận xét
- Sau đó bỏ tay ra, quan sát hiện tượng và nhận xét
* Vấn đề 3: Lựa chọn những thí nghiệm đơn giản mang tính giải trí gây hứng thú cao đối với học sinh, những thí nghiệm này cá nhân học sinh hoặc nhóm có thể tự làm sau một nội dung kiến thức nào đó của chương trình
Ví dụ 1: Khi học bài “Ứng dụng định luật truyền thẳng của ánh sáng” trong
chương trình Vật lý 7, phần Quang học giáo viên giới thiệu cho học sinh cách chế tạo “CHIẾC ĐỒNG HỒ MẶT TRỜI"
a/ Dụng cụ :
- 01 cái chậu
- 01 đoạn gỗ dài
b/ Chuẩn bị dụng cụ:
- Lấy đoạn gỗ dài cắm vào lỗ tròn bên dưới đáy chậu
- Đặt chậu ở nơi lúc nào cũng có ánh nắng chiếu vào (như hình dưới)
c/ Tiến hành: