Bản chất của việc dạy kỹ năng nói: Kỹ năng nói là kỹ năng sản sinh productive skills.Trong bài học kỹ năngnói, học sinh phải được cung cấp ngữ liệu, sau đó luyện tập các ngữ liệu và cuối
Trang 1Do vậy việc dạy Tiếng Anh đang là vấn đề được các nhà giáo dục quan tâm.
Tuy vậy trên thực tế, khả năng nói Tiếng Anh của học sinh ở cáctrường THPT, đặc biệt là ở các các tỉnh miền núi như Bắc Giang là khá thấp Mặc
dù được các thày cô giảng dạy nhiệt tình, bản thân đã qua nhiều năm học TiếngAnh ở cấp THCS, nhiều em vẫn còn khá lúng túng, thiếu tự tin khi giao tiếp bằngTiếng Anh Vậy nguyên nhân ở đâu?
Nguyên nhân thứ nhất có lẽ nằm ở thực tế là các em học sinh không có cơhội giao tiếp với người nước ngoài khiến phản xạ nói Tiếng Anh của các em chưanhanh
Nguyên nhân thứ hai là cách dạy ngoại ngữ hiện nay của chúng ta vẫn cònquá thiên về dạy ngữ pháp mà chưa chú trọng đến sự tương tác trong giao tiếp giữahọc sinh với giáo viên, giữa học sinh với học sinh Giáo viên vẫn là người quản lýcác hoạt động của giờ học chứ chưa hoàn toàn áp dụng được phương pháp lấyngười học làm trung tâm Bên cạch đó, giáo viên chỉ có một cuốn sách giáo khoa,một cuốn sách hướng dẫn và một số sách ngữ pháp, những tài liệu đó chưa đủ đểphát huy hiệu quả công việc giao tiếp trong một lớp học kĩ năng giao tiếp
Xuất phát từ thực tế trên tôi chọn đề tài: “Phương pháp thiết kế bài tập bổ trợ cho kĩ năng nói và một số dạng bài tập ứng dụng” làm nội dung nghiên cứu
của chuyên đề
1
Trang 2II Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài này được thực hiện nhằm tìm hiểu phương pháp thiết kế bài tập bổ trợcho kĩ năng nói phù hợp, đồng thời đề xuất một số dạng bài tập bổ trợ cho kĩ năngnói Hi vọng đây sẽ là một tài liệu hữu ích cho các thày cô trong quá trình giảngdạy
III Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, tôi chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu chung về phương phápthiết kế bài tập bổ trợ cho kỹ năng nói và đưa ra một số dạng bài tập bổ trợ cho kĩnăng nói điển hình
IV Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tôi đã kết hợp sử dụng những phương pháp nghiên cứu líluận (khai thác thông tin khoa học về phương pháp lí luận qua sách, tài liệu có liênquan), phương pháp quan sát (trực tiếp tìm hiểu về tình hình dạy và học Tiếng Anhqua những tiết dự giờ thăm lớp), phương pháp đàm thoại (trao đổi với học sinh,giáo viên để tìm hiểu thông tin)
V Cấu trúc của đề tài
Đề tài gồm ba phần chính:
Phần thứ nhất: Mở đầu Bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu của
đề tài, phạm vi nghiên cứu của đề tài, phương pháp nghiên cứu và thiết kế của đềtài
Phần thứ hai: Nội dung
Bao gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn bao gồm một số quan điểm về kỹ năngnói, các vấn đề liên quan đến kỹ năng dạy nói và thực trạng của việc dạy và họcngoại ngữ ở các trường THPT tỉnh Bắc Giang
Trang 3Chương 2: Phương pháp thiết kế bài tập bổ trợ cho kĩ năng nói và một sốdạng bài tập ứng dụng.
Chương 3: Thiết kế mẫu các bài tập bổ trợ cho kỹ năng nói theo bài học.Phần thứ ba: Kết luận: Tóm tắt đề tài, chỉ ra một số hạn chế của đề tài, đồngthời đề xuất một số hướng nghiên cứu thêm
3
Trang 4Phần thứ hai NỘI DUNG Chương I
CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
I.1 Cở sở lý luận:
I.1.1 Kỹ năng nói là gì?
Nói là một quá trình tương tác có liên quan đến việc sản sinh, tiếp nhận và
xử lý thông tin Hình thức và ý nghĩa của nó phụ thuộc vào ngữ cảnh, gồm nhữngngười tham gia, kinh nghiệm của họ, môi trường giao tiếp và mục đích nói.(Brown, 1994)
Trong bốn kỹ năng (nghe, nói, đọc, và viết), kỹ năng nói được coi là cáchngắn gọn và hiệu quả nhất để mọi người giao tiếp với nhau Do đó kỹ năng nóiđược quan tâm ngay từ giai đoạn đầu của quá trình học ngoại ngữ
I.1.2 Bản chất của việc dạy kỹ năng nói:
Kỹ năng nói là kỹ năng sản sinh (productive skills).Trong bài học kỹ năngnói, học sinh phải được cung cấp ngữ liệu, sau đó luyện tập các ngữ liệu và cuốicùng phải sử dụng được ngữ liệu để diễn đạt ý tưởng của mình theo nội dung chủ
đề nhất định một cách tự do Như vậy việc cung cấp ngữ liệu là cần thiết, làm tiền
đề cho việc luyện tập Nhưng quan trọng nhất là cuối cùng học sinh phải vận dụngđược ngữ liệu đó để nói
Để bài luyện nói đạt hiệu quả cao, các hoạt động luyện tập cần phải thú vị,hấp dẫn và có ý nghĩa, sát thực với đời sống và hoàn cảnh của học sinh Bên cạnh
đó cũng cần thiết kế các hoạt động có tính thách thức hoặc tạo khí thế thi đua giữa
Trang 5các cá nhân, các cặp hay nhóm học sinh bằng cách khuyến khích động viên chođiểm, có phần thưởng cho những bài nói hay.
I.1.3 Đặc điểm của bài luyện nói hiệu quả:
Richard (1985) đề cập đến hai tiêu chí để đánh giá sự thành công của bàiluyện nói : độ chính xác và sự lưu loát Độ chính xác ở đây bao gồm việc sử dụng
từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm đúng Trong khi đó sự lưu loát được hiểu là khả năngduy trì lời nói trôi chảy một cách tự nhiên Sau mỗi hoạt động giao tiếp, người họcphải đạt được kiến thức về từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm ở một mức độ nhất địnhcũng như đạt được sự lưu loát cần thiết Cũng như Nunan (1989), Richard (1985)xem độ chính xác và sự lưu loát là hai yếu tố độc lập trong hoạt động nói
Trong khi đó, theo Penny Ur (1996), có bốn tính năng mô tả sự thành côngcủa bài luyện nói Đó là sự có mặt, sự tham gia, động lực và trình độ ngôn ngữ củangười học Yếu tố đầu tiên là sự có mặt của người học Trong giờ học, nếu học sinhđược nói nhiều, điều đó có nghĩa là họ đang thống trị quá trình học tập Rõ ràngyếu tố này cũng là một trong những đặc điểm của phương pháp giảng dạy giao tiếp(CLT) : ‘Người học làm trung tâm của quá trình học tập’ Giáo viên chỉ đóng vaitrò là người hỗ trợ và giám sát viên trong khi học sinh được khuyến khích để nóiphần lớn thời gian trong các hoạt động nói Yếu tố thứ hai là sự tham gia của ngườihọc Một hoạt động nói thành công phải tạo cơ hội cho các học sinh đều được nói
và đóng góp vào vấn đề thảo luận một cách bình đẳng Bên cạnh đó, động lực nóicao cũng là một trong những đặc điểm làm cho hoạt động nói thành công Bằngcách sử dụng các bài tập mang tính khích lệ, giáo viên lôi cuốn học sinh vào hoạtđộng giao tiếp, khiến các em quan tâm đến chủ đề và hăng hái nói vì có ý muốn nói
ra Đặc điểm cuối cùng của một bài luyện nói hiệu quả là mức độ chính xác ngônngữ có thể chấp nhận được Nếu ngôn ngữ quá dễ dàng thì học sinh sẽ không tíchcực tham gia Ngược lại nếu ngôn ngữ quá khó thì học sinh sẽ dễ chán và có thể bỏ
5
Trang 6học Với một chủ đề tập trung, học sinh có thể hiểu được nhau ở một mức độ chínhxác về ngôn ngữ vừa phải, không cần đạt mức chính xác cao Rõ ràng với quanđiểm này, Ur (1996) có xu hướng phát triển kỹ năng thực hành giao tiếp trôi chảylưu loát hơn là thực hành giao tiếp chính xác.
I.1.4 Một số vấn đề thường gặp trong luyện nói và giải pháp:
I.1.4.1 Một số vấn đề thường gặp trong luyện nói:
Vấn đề đầu tiên là tâm lý ức chế của học sinh Khác với hoạt động nghe, đọc,viết, hoạt động nói đòi hỏi phải thể hiện khả năng giao tiếp với người nghe Đôi khihọc sinh có thể cảm thấy khó nói được điều gì bằng ngoại ngữ trong lớp học vì bảnchất nhút nhát hoặc vì tâm lý ngại mắc lỗi, sợ bị chúng bạn chê cười, sợ bị mất mặt
Vấn đề thứ hai là không có gì để nói Ngay cả khi học sinh không ngại ngầnkhi nói, chúng ta vẫn nghe các em trình bày rằng các em không thể nghĩ ra điều gì
để nói Điều này thường là do thiếu động cơ nói
Vấn đề thứ ba là không có cơ hội nói Nói cách khác đó chính là sự tham giakhông đồng đều của các thành viên trong lớp Trong một nhóm càng lớn thìkhoảng thời gian dành cho mỗi cá nhân càng hạn chế Thực tế là với một lớp đông,một số học sinh ít có hoặc không có cơ hội nói do một số nhỏ học sinh nói nhiềuchiếm gần hết thời gian
Vấn đề thứ tư là sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ Thực vậy, học sinh thường có xuhướng dùng tiếng mẹ đẻ vì cảm thấy phát biểu dễ dàng hơn và tự nhiên hơn khi nóitiếng mẹ đẻ so với ngoại ngữ
I.1.4.2 Một số giải pháp cho vấn đề:
Giải pháp thứ nhất : dùng cách luyện nói theo nhóm Cách này làm tăng thờilượng học sinh nói tại lớp, đồng thời giảm sự ức chế về tâm lý đối với người họckhi họ không phải nói trước cả tập thể lớp đông
Trang 7Thứ hai, nên chọn ngữ liệu dễ Ngữ liệu cần để tiến hành thảo luận nên ởmức độ dễ Lúc đó, học sinh sẽ thấy dễ dàng nhớ lại và sản sinh ngôn ngữ, từ đónói được trôi chảy Nếu bài học có ngữ liệu mới hoặc khó, giáo viên nên dạy trướckhi bắt đầu luyện nói.
Thứ ba, chọn bài luyện cẩn thận để tạo hứng thú Giáo viên nên chọn hìnhthức luyện mà học sinh quan tâm, thích thú tham gia thảo luận Với giải pháp này,giáo viên đã tạo động cơ cao cho hoạt động luyện nói
Thứ tư, cần nêu lời hướng dẫn hoặc kỹ năng thảo luận thật rõ ràng Giáo viêncần nói rõ học sinh phải làm gì và phân vai rõ ràng cụ thể cho học sinh Điều nàygiúp học sinh tránh được tình huống không biết phải làm gì hoặc không có gì đểnói
Thứ năm, cần có cách sửa lỗi phù hợp Trong các dạng luyện nói có kiểmsoát, giáo viên thường sửa lỗi để đạt mức chính xác Tuy nhiên ở giai đoạn nói tự
do, giáo viên không nên làm như vậy vì mục tiêu lúc này là đạt mức độ lưu loát.Vậy tùy theo giai đoạn luyện nói mà giáo viên có cách sửa lỗi phù hợp Khi sửa lỗi,không nên công khai tên của học sinh mắc lỗi, tránh làm học sinh cảm thấy xấu hổdẫn đến tâm lý ức chế khi nói
I.2 Cở sở thực tiễn: Thực trạng của việc dạy và học ngoại ngữ ở các trường THPT tỉnh Bắc Giang
I.2.1 Sách giáo khoa
Hiện nay có ba loại sách giáo khoa Tiếng Anh đang được sử dụng tại cáctrường THPT tỉnh Bắc Giang Thứ nhất là sách giáo khoa Tiếng Anh nâng caođược dùng cho những lớp chọn khối D ở một số trường THPT, lớp chuyên và cậnchuyên ở trường THPT Chuyên Thứ hai là sách giáo khoa Tiếng Anh cơ bản dùngcho các lớp thường ở các trường THPT và các lớp xa chuyên ở THPT Chuyên Cả
7
Trang 8hai loại sách đều được thiết kế khá phù hợp với trình độ của học sinh, gồm 16 bàihọc ứng với 16 chủ đề khác nhau Mỗi bài học đều tập trung phát triển bốn kỹ năngnghe, nói, đọc, và viết Các kỹ năng có yêu cầu và mục đích cụ thể nhưng khôngtách rời nhau và đều hướng về chủ đề của bài học Ngoài ra còn một bộ sách giáokhoa thí điểm đang được triển khai ở một số trường trọng điểm Bộ sách này gồm
10 bài học với 10 chủ điểm, mỗi bài học được chia làm 8 phần với mục đích pháttriển các kĩ năng giao tiếp cho học sinh
Bên cạnh việc cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về đất nước,con người, văn hóa, xã hội của những nước nói Tiếng Anh trong khu vực và thếgiới nói chung và Việt nam nói riêng, sách giáo khoa cũng cung cấp cho học sinhnhững cấu trúc câu giao tiếp cơ bản, giúp các em vận dụng vào cuộc sống Nhìnchung nội dung chương trình sách giáo khoa hay, cập nhật, song mức độ khó caohơn đặc biệt là bộ sách giáo khoa thí điểm đòi hỏi học sinh đã đạt được một mức độkiến thức nhất định mới đáp ứng được yêu cầu
I.2.2 Đối tượng học sinh
Hầu hết các em học sinh ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đều
đã được học Tiếng Anh ở cấp THCS Việc tiếp cận với ngoại ngữ sớm giúp các emnhanh chóng thích nghi với môi trường và giáo trình mới Tuy vậy trình độ ngoạingữ của các em ở đa số các lớp học không đồng đều .Đặc điểm chung của học sinhViệt Nam là còn rụt rè trong giao tiếp, ngại ngùng khi nói Tiếng Anh Điều này đãtạo ra những khó khăn trong quá trình dạy và học ngoại ngữ
I.2.3 Môi trường dạy và học ngoại ngữ
Do vai trò của Tiếng Anh ngày càng quan trọng trong xã hội nên những nămgần đây các cấp lãnh đạo, các ban ngành của tỉnh và Sở GD-ĐT đặc biệt quan tâmđến công tác dạy và học ngoại ngữ ở các trường Nhiều kinh phí được đầu tư cho
Trang 9cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy Đến nay đa số các trường THPT đềutrang bị khá đầy đủ về máy chiếu (projector), máy tính, và một số trang thiết bịkhác Bên cạnh đó thư viện của các trường cũng có nhiều đầu sách tiếng nướcngoài về các lĩnh vực khác nhau giúp giáo viên và học sinh có tư liệu phục vụ chohọc tập Song song với việc trang bị cơ sở vật chất, Sở GD-ĐT cũng chú trọng đàotạo đội ngũ cán bộ giáo viên ngoại ngữ Hàng năm đều có những lớp học bồi dưỡngthường xuyên được tổ chức nhằm nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên
Bên cạnh những thuận lợi, việc học và dạy ngoại ngữ ở tỉnh Bắc Giang vẫncòn một số bất cập Thứ nhất, các em học sinh học trong môi trường không có yếu
tố người nước ngoài nên cơ hội thực hành giao tiếp thực tế là không có Thứ hai,mặc dù Sở GD-ĐT Bắc Giang rất chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ giáo viên ngoạingữ, số giáo viên chưa đạt chuẩn vẫn còn khá nhiều Điều này cũng gây không ítkhó khăn trong quá trình dạy học ngoại ngữ, đặc biệt là trong việc dạy và học kĩnăng nói tiếng Anh
Chương II
PHƯƠNG PHÁP THIẾT KẾ BÀI TẬP BỔ TRỢ CHO KỸ NĂNG
NÓI VÀ MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP ỨNG DỤNG
9
Trang 10II.1 Phương pháp thiết kế bài tập bổ trợ cho kỹ năng nói:
Phương pháp giao tiếp trong dạy học ngoại ngữ coi trọng việc lấy người họclàm trung tâm với mục đích tăng cường khả năng giao tiếp của người học Bởi vậykhi thiết kế các bài tập bổ trợ cho kỹ năng nói, giáo viên cần coi trọng việc thu hút
sự tham gia tích cực của học sinh vào các hoạt động rèn luyện kỹ năng thực hànhkhẩu ngữ trong và ngoài lớp học, xây dựng cho họ cách học độc lập sáng tạo, cótính tự giác và hiệu quả
II.1.1 Một số yếu tố cần quan tâm khi thiết kế các bài tập bổ trợ cho kỹ năng nói:
Jocelyn Howard và Jae Major (Christchurch College of Education) cho rằng
có bốn yếu tố cần quan tâm khi thiết kế các bài tập bổ trợ cho kỹ năng nói
Yếu tố đầu tiên, cũng là yếu tố quan trọng nhất cần quan tâm chính là ngườihọc Thực vậy, muốn thiết kế được những bài tập phù hợp, thú vị, có tính khuyếnkhích và đáp ứng được nhu cầu của người học thì giáo viên cần hiểu rõ về sở thích,nhu cầu, kinh nghiệm sống cũng như mục đích học Tiếng Anh của người học
Yếu tố thứ hai là chương trình sách giáo khoa Dù ở bất cứ cấp độ nào, mộtchương trình bao giờ cũng vạch ra mục tiêu cần đạt được đối với người học vàkhóa học Do vậy khi thiết kế bài tập bổ trợ cho kỹ năng nói, giáo viên cần bám sátvới chương trình sách giáo khoa để đạt được mục tiêu đã đề ra
Bên cạnh đó nguồn tài liệu và cơ sở vật chất cũng là một yếu tố cần xem xét
Rõ ràng giáo viên cần nhận thức một cách thực tế về điều họ có thể đạt được tronggiới hạn cho phép của nguồn tài liệu cũng như điều kiện cơ sở vật chất Sự tiếp cậnvới những trang thiết bị hiện đại như máy tính, máy in, đài đĩa, máy ảnh kỹ thuật
số, bảng thông minh, máy chiếu đa năng,… sẽ làm tăng khả năng sáng tạo cho giáoviên trong quá trình thiết kế bài tập
Trang 11Yếu tố thứ tư là sự tự tin và năng lực cá nhân của giáo viên Yếu tố này sẽquyết định lòng nhiệt tình, sự sẵn sàng bắt tay vào công việc thiết kế Yếu tố này bịảnh hưởng bởi kinh nghiệm dạy học, sức sáng tạo cũng như hiểu biết tổng quát củagiáo viên về những nguyên tắc thiết kế bài tập nói Trên thực tế, hầu hết giáo viênchọn cách thiết kế bài tập bổ trợ dựa trên sự thay đổi, bổ sung chương trình sáchgiáo khoa Theo Harmer (2001), giáo viên nên theo các gợi ý sau để thiết kế:
1 Thêm các hoạt động vào những hoạt động đã được gợi ý từ trước
2 Bỏ những hoạt động không phù hợp với nhu cầu, khả năng của học sinh
3 Thay thế bài tập sẵn có bằng các bài tập bổ trợ lấy từ nguồn đáng tin cậynhư báo chí, bản tin, v.v
4 Thay đổi cách tổ chức hoạt động (ví dụ như theo cặp, nhóm nhỏ hay cảlớp)
II.1.2 Những nguyên tắc về thiết kế các bài tập bổ trợ cho kỹ năng nói:
Đưa ra một số nguyên tắc làm nền tảng, cơ sở cho việc thiết kế các bài tập bổtrợ cho kỹ năng nói, Jocelyn Howard và Jae Major (Christchurch College ofEducation) cho rằng đây là một ‘khuôn khổ hữu ích’ giúp giáo viên định hướng khithiết kế bài tập của mình, không phải là các nguyên tắc áp dụng máy móc, cứngnhắc và không phải tất cả các nguyên tắc đều phù hợp và áp dụng với tất cả các loạihình bài tập Tuy vậy nhìn chung những nguyên tắc này được đưa ra phục vụ chocông việc thiết kế được thực hiện chặt chẽ, mạch lạc hơn
Nguyên tắc 1: Các bài tập bổ trợ nên được đưa vào bối cảnh sử dụng Trước
tiên, các bài tập bổ trợ nên bám sát chương trình sách giáo khoa mà chúng ta đang
sử dụng (Nunan,1998, pp.1-2) Điều đó có nghĩa là chúng ta cần đặt mục tiêu cầnđạt của chương trình sách giáo khoa lên hàng đầu trong suốt quá trình thiết kế bài
11
Trang 12tập Ngoài ra, các bài tập bổ trợ cũng cần đặt vào bối cảnh cụ thể dựa trên kinhnghiệm thực tế của người học Thực vậy, những bài tập được thiết kế nên phù hợpvới vốn hiểu biết của học sinh, ngôn ngữ và văn hóa của họ Có như vậy chúng tamới thu hút được sự quan tâm, hứng thú của học sinh.
Nguyên tắc 2: Các bài tập bổ trợ kỹ năng nói nên thúc đẩy sự tương tác và
có khả năng sản sinh về mặt ngôn ngữ Hall (1995) cho rằng hầu hết những người
học cách giao tiếp bằng thứ tiếng không phải tiếng mẹ đẻ đều có xu hướng dành rấtnhiều thời gian cho những tình huống buộc họ sử dụng ngôn ngữ theo một số mụcđích giao tiếp thực tế (p.9) Nói cách khác, những bài tập bổ trợ nên cung cấpnhững tình huống mà học sinh cần để giao tiếp với nhau thường xuyên theo cách
mà họ sẽ gặp ở ngoài lớp học Hall phác thảo ba điều kiện mà ông tin rằng cần thiết
để thúc đẩy giao tiếp thực tế Đó là nhu cầu cần ‘có điều gì muốn giao tiếp’, ‘có ai
để giao tiếp’ và ‘có hứng thú với kết quả của việc giao tiếp’
Nguyên tắc 3: Các bài tập bổ trợ nên khuyến khích học sinh phát triển kỹ năng và chiến lược học nói Giáo viên không thể dạy học sinh tất cả ngôn ngữ cần
học trong khoảng thời gian ngắn trên lớp học Do vậy cùng với việc dạy kỹ năngngôn ngữ mới, chúng ta cần thiết kế hệ thống bài tập bổ trợ để dạy học sinh cáchhọc nói, cách tận dụng cơ hội học ngôn ngữ ở ngoài lớp học Hall (1995) nhấnmạnh tầm quan trọng của việc giúp cho học sinh có được sự tự tin để luôn cố gắngtìm ra giải pháp khi gặp những khó khăn ban đầu trong giao tiếp Thêm vào đó, cácbài tập bổ trợ có thể cung cấp cho học sinh cơ hội quý báu trong việc tự đánh giá sự
phát triển ngôn ngữ của mình Nguyên tắc 4: Bài tập bổ trợ cần chú trọng cả về
hình thức và chức năng ngôn ngữ Hình thức ngôn ngữ ở đây được hiểu là cấu trúc
ngữ pháp, chức năng ngôn ngữ là chức năng giao tiếp trong thực tế Điều đó cónghĩa là chúng ta phải thiết kế các dạng bài tập vừa rèn luyện cho học sinh cách sử
Trang 13dụng cấu trúc ngữ pháp đúng, vừa luyện tập cho các em biết cách vận dụng ngônngữ đó trong giao tiếp một cách linh hoạt.
Nguyên tắc 5: Bài tập bổ trợ nên tạo cơ hội cho việc sử dụng ngôn ngữ hợp nhất Khi thiết kế bài tập bổ trợ cho kỹ năng nói, chúng ta thường có xu hướng tập
trung vào kỹ năng nói mà thôi Bell & Gower (1998) chỉ ra rằng : ‘Chí ít chúng tanghe và nói cùng nhau, đọc và viết cùng nhau’ Kỹ năng nghe và nói thường đượcphát triển song song, kỹ năng này củng cố thêm cho kỹ năng kia và ngược lại Vìvậy khi thiết kết bài tập chúng ta nên tận dụng mối liên hệ tự nhiên giữa nghe vànói để phát triển toàn diện kỹ năng cho học sinh
Nguyên tắc 6: Bài tập bổ trợ cho kỹ năng nói phải được thiết kế xác thực và đáng tin cậy Đã có nhiều tranh cãi xung quanh việc sử dụng ngữ liệu đáng tin cậy
trong lớp học ngôn ngữ Mục đích thực sự của những tranh cãi đó là để đưa ra địnhnghĩa một cách chính xác điều gì quyết định ngữ liệu là đáng tin cậy hay không.Khi nói đến tính xác thực, đáng tin của ngữ liệu, người ta thường nghĩ đến nhữngtài liệu viết như báo, tạp chí Theo Harmer (1998); Hedge (2000) và Nunan (1988,1991), đã đến lúc người học ngoại ngữ cần được tiếp xúc thường xuyên với ngônngữ thật, ngôn ngữ không được viết sẵn Như Nunan chỉ ra: “Những bài viếtchuyên sử dụng cho lớp học ngôn ngữ đôi khi đã bóp méo ngôn ngữ theo một cáchnào đó” Học sinh cần được nghe, thấy và học nói theo cách mà người bản xứ vẫngiao tiếp với nhau một cách tự nhiên, chứ không phải là ngôn ngữ ‘sách vở’
Nguyên tắc 7: Các bài tập bổ trợ cần liên kết với nhau chặt chẽ nhằm phát triển kỹ năng nói, sự hiểu biết và ngôn ngữ cho học sinh Một sai lầm mà giáo viên
khi thiết kế bài tập có thể mắc phải là thiết kế một mớ hỗn độn các bài tập, hoạtđộng nói không ăn khớp với nhau Vì vậy việc xác định mục tiêu rõ ràng ngay từđầu quá trình thiết kế sẽ giúp giáo viên có được hệ thống các bài tập có tính liên kếtchặt chẽ, đảm bảo đạt được mục tiêu cụ thể khi cho học sinh cơ hội thực hành
13
Trang 14Nguyên tắc 8: Các bài tập cần được thiết kế hấp dẫn, lôi cuốn Tiêu chuẩn
để đánh giá một tài liệu dạy ngôn ngữ hay một cuốn sách thường liên quan đến ‘cáinhìn’ và ‘sự cảm nhận’ về sản phẩm (theo Harmer,1998 ; Nunan, 1991) Khi thiết
kế bài tập chúng ta nên xem xét các khía cạnh sau :
+) Vẻ bề ngoài Đối với lớp học ngôn ngữ cũng như đối với các lĩnh vựckhác của cuộc sống, ấn tượng ban đầu đều quan trọng như nhau Vì vậy các bài tậpnên được thiết kế phù hợp, vừa mắt Giáo viên cần chú ý các yếu tố về vẻ bề ngoàinhư mật độ bài tập trên một trang giấy, cỡ chữ, sự sắp xếp, bố cục các phần, trìnhbày tranh ảnh,…
+) Sự thân thiện với người sử dụng Các bài tập được thiết kế cần hấp dẫn vềtính tiện lợi của nó đối với người sử dụng Ví dụ nếu thiết kế một bài tập điền từ,chúng ta cần quan tâm liệu đã đủ chỗ trống cho học sinh viết thông tin vào đóchưa ?
+) Tính bền lâu Nếu bài tập cần được sử dụng hơn một lần hoặc có thể được
sử dụng bởi nhiều học sinh khác nhau, ta cần xem xét đến việc làm thế nào để tậndụng chúng lâu dài
Nguyên tắc 9: Thiết kế bài tập cần chú ý lời dẫn phù hợp Một bài tập hay có
thể không đạt được mục đích sư phạm nếu nó không có lời hướng dẫn rõ ràng phùhợp Lời hướng dẫn khó hiểu, rắc rối sẽ khiến học sinh không xác định được yêucầu của bài tập, từ đó sẽ không đạt được mục tiêu mong muốn Do vậy để lờihướng dẫn hiệu quả, chúng ta cần viết bằng ngôn ngữ cô đọng, xúc tích và dễ hiểu
Nguyên tắc 10: Các bài tập nên được thiết kế sinh động Prabhu (Cook,
1998) đề xuất rằng việc thiết kế hệ thống bài tập nên tạo cho cả giáo viên lẫn họcsinh cơ hội để chọn lựa Ông gợi ý rằng người thiết kế có thể linh động về nội dungbằng cách cung cấp một loạt các dạng bài tập nói khác nhau để giúp giáo viên vàhọc sinh có thể chọn lựa khi sử dụng
Trang 15Tóm lại, việc thiết kế các bài tập bổ trợ cho kỹ năng nói không phải là mộtcông việc đơn giản cho giáo viên Người giáo viên cần cân nhắc những yếu tố ảnhhưởng cũng như những nguyên tắc về thiết kế để có thể tạo ra hệ thống các bài tập
bổ trợ cho kỹ năng nói phù hợp
II.1.3 Các bước thiết kế bài tập bổ trợ cho kỹ năng nói:
Việc thiết kế hệ thống bài tập bổ trợ cho kỹ năng nói là một quá trình phứctạp Nó yêu cầu người thiết kế phải tuân theo các bước một cách nghiêm túc nhưviệc phân tích nhu cầu, sự lựa chọn nội dung,… Mỗi giáo viên đều có quan điểmriêng về vấn đề này Theo Richard (1984) và Nunan (1988) thì phân tích nhu cầucần được ưu tiên hàng đầu Dưới đây là các bước cơ bản mà tôi sẽ sử dụng trongviệc thiết kế bài tập :
+ Phân tích nhu cầu
+ Xác định mục tiêu
+ Lựa chọn và sắp xếp nội dung
II.2 Một số dạng bài tập bổ trợ cho kỹ năng nói:
Lesson 1: Completing the dialogues (Hoàn thành hội thoại)
Dạng bài tập này được thiết kế linh hoạt cho các chủ đề khác nhau từ dễ đếnkhó Mục đích của dạng bài tập này là giúp học sinh tập làm quen với việc thựchiện một cuộc hội thoại Khi làm bài tập dạng này, học sinh học được cách tạo ramột hội thoại thành công (có phần chào hỏi, kết thúc, sử dụng các từ nối, câu cảmthán để hội thoại sinh động)
Một vài bài tập mẫu:
Sample 1: Work in groups Complete the dialogues using the sentences in the box Then practice the dialogues.
15
Do you know Steve Johnson?
You guys talk to each other
Hi, I am Susan It’s nice to meet you
How do you do?
I have been working for Computer Installation for four
years in the Hardware Division
Trang 16Steve: Yes, it is (4)
Susan: Do you sell personal or business computers?
Steve: Mostly personal You wouldn’t believe how much the industry has
changed in the last year!
Susan: Yes, I see
Tom: (5) _ I have to go Bye
Trang 17-Giáo viên yêu cầu học sinh đưa ra đáp án, sau đó cho học sinh thực hành hội thoạivừa mới hoàn thành.
Suggested answers:
(1) Hi, I am Susan It’s nice to meet you
(2) Do you know Steve Johnson?
(3) How do you do?
(4) I have been working for Computer Installation for four years in theHardware Division
(5) You guys talk to each other
Sample 2: Alan and Smith are talking about their last experiences Write the questions for the answers in their conversation.
Alan: (1) ?
Smith: No, not many countries I’ve only been to Italy and Spain
Alan; (2) _?Smith: Italy? Not long ago I went there last year
Alan : (3) _?Smith: No, not on business I went for a holiday
Alan: (4) ?Smith: My elder brother He had been to Italy before, so he acted as my tour guideand took me to many famour places
Alan: (5) ?Smith: Yes, vey much I fact, I enjoyed every moment I was there
Alan:(6) ?Smith: Well, everything there But perhaps what I liked most was its weather, a lot
of sunshine, blue sky, cool breeze,…
Alan:(7) ?
17
Trang 18Smith: Yes, sure I’m saving so that next summer I’ll be able to go there again.
Cách tiến hành:
- Bài tập này thường áp dụng cho đối tượng học sinh khá, giỏi
- Giáo viên cho cho sinh đọc kỹ yêu cầu của đề bài, nắm rõ tình huống của hộithoại (nói về kinh nghiệm trong quá khứ)
- Yêu cầu học sinh làm việc theo cặp, tìm thông tin chính trong câu trả lời để xácđịnh nội dung và loại câu hỏi
- Sau khi kiểm tra và đưa ra đáp án, yêu cầu học sinh thực hành hội thoại theo cặp
Suggested answers:
(1) Have you been to many countries, Smith?
(2) When did you go to Italy?
(3) Did you go there on business?
(4) Who did you go with?
(5) Did you enjoy your time there?
(6) What did you like most?
(7) Would you like to go there again?
Lesson 2: Rearranging words or sentences (Sắp xếp từ hoặc câu)
Dạng bài tập này được sử dụng khá phổ biến trong luyện nói và đã đem lạihiệu quả nhất định trong việc rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh
Một vài bài tập mẫu:
Sample 1: Rearrange the following words to make sentences:
1 Why not/ a drink/ come/ for / round?
2 Would/ like/ join/ you/ lunch/ for/ us/ to?
3 Fancy/ for/ a/ out/ meal/ going?
4 I thought/ would/ you/ try/ some of/ like to/ local cuisine/ our
5 There’s/ nice/ a really/ the corner/ just round/ place
Trang 196 What/ going out/ about/ a meal/ for?
7 Why/ join/ for/ a drink/ us/ not?
Cách tiến hành:
- Bài tập này rèn luyện cho học sinh khả năng sắp xếp từ theo trật tự đúng để tạothành câu gợi ý, vì vậy để làm được bài tập này, học sinh cần nắm vững các cấutrúc câu gợi ý
- Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận theo cặp để sắp xếp từ thành câu
- Giáo viên đi quanh lớp, giúp đỡ học sinh nếu gặp khó khăn
- Gọi một số học sinh đưa ra đáp án, yêu cầu các học sinh khác nhận xét
Suggested answers:
1 Why not come round for a drink?
2 Would you like to join us for lunch?
3 Fancy going out for a meal?
4 I thought you would like to try some of our local cuisine
5 There’s a really nice place just round the norner
6 What about going out for a meal?
7 Why not join us for a drink?
Sample 2: Rearrange the following sentences to make conversations:
Conversation 1:
A I have tickets to the soccer match on Friday night Would you like to go?
B Thanks I’d love to What time does it start?
C Ok Let’s meet at the gate
D That’s sounds fine See you there
E At 8.00
F Uh, I’d like to, but I have to work late
G Oh, that’s OK Lte’s just meet at the stadium before the match, around 7.30
H That sounds great So do you want to have dinner at 6.00?
1 _ 2 3 _ 4 _ 5 _ 6 _ 7 _ 8
19
Trang 20Conversation 2:
A Lucky you How long were you there?
B About a week
C Not really It was cloudy most of the time But we went surfing every day
D It was excellent! I went to Hawaii with my cousin We had a great time
E Fantastics! Was the weather OK?
F So, what was the best thing about the trip?
G Hi How was your vacation?
H Well, something incredible happended You won’t believe it
1 2 _ 3 _ 4 _ 5 _ 6 _ 7 _ 8
Cách tiến hành:
- Dạng bài tập này rèn luyện cho học sinh khả năng tư duy logic để sắp xếp các câutạo thành một hội thoại hợp lý
-Giáo viên giải thích nhiệm vụ, cho học sinh đọc qua các thông tin
-Yêu cầu học sinh thảo luận theo cặp, giáo viên đi quanh lớp để bao quát và giúp
Lesson 3 : Multiple-choice exercises (Bài tập chọn đáp án)
Dạng bài tập này được sử dụng rộng rãi, dặc biệt là trong việc ôn luyện thitốt nghiệp và đại học hiện nay Nó đòi hỏi người học phải có kiến thức rộng về kỹnăng giao tiếp
Trang 21Bài tập mẫu:
Choose the phrase or sentence A, B, C or D that best completes the conversation:
1 A: You’re a great dancer I wish I could do half as well as you
B: I’m an awful dancer!
A You’re too kind B That’s a nice compliment!
C You’ve got to be kidding D Oh, thank you very much
2 A: Congratulations! You did great
B:
A It’s nice of you to say so B It’s my pleasure
C You’re welcome D That’s okay
3 A:
B: Oh, thank you I just got it yesterday
A When have you got this beautiful dress?
B You’ve just bought this beautiful dress, haven’t you?
C How a beautiful dress you’re wearing!
D That’s a beautiful dress you have on!
4 A: This dish is really nice!
B: It’s called Yakitori, and it’s made with chicken livers
A It’s my pleasure B I’m glad you like it
C I guess you’re right C Sure, I’ll be glad to
5 A: Your new hair style is wuite attractive
B: I think it makes me look 10 years older!
A Thanks a lot B I’m sorry I don’t like it
C I hate it D That’s a nice compliment
Cách tiến hành:
21
Trang 22-Giáo viên giúp học sinh hiểu được yêu cầu của đề bài, cho học sinh đọc qua cácthông tin.
-Yêu cầu học sinh thảo luận theo cặp, giáo viên đi quanh lớp để bao quát và giúp
đỡ các cặp gặp khó khăn
- Gọi một vài học sinh nêu ra đáp án và gọi các học sinh khác nhận xét
- Giáo viên có thể yêu cầu học sinh thực hành theo cặp hội thoại ngay tại lớp
3 Go along the street
4 Walk across the street
5 Go over the bridge
6 Go upstairs
7 Go downstairs
A B C
Trang 23
D E F G
Cách tiến hành:
- Bài tập này dùng khi dạy nói về cách hỏi và chỉ đường
- Giáo viên cho học sinh quan sát tranh và thảo luận theo cặp để ghép tranh vớicụm từ chỉ đường
- Sau khi học sinh đã ghép tranh và cụm từ, giáo viên có thể dùng những bức tranhnày cho học sinh luyện tập về các cấu trúc chỉ đường
Suggested answers:
Sample 2: Match the statements in A with the responses in B:
1 Wasn’t that action movie on TV
interesting? How come you didn’t like
it?
a I thought it was very boring Therewas too much talking and too littleaction
2 I suppose you agree that Jane’s play is
a success
b Neither can I I thought I’d madesome stupid mistakes Whew! Howsweet the A smells!
3 I love Western movies c You mean that it suits people who are
hard of hearing? I can’t stand raucouscomedies
4 I can’t believe it! I got a beautiful A
on my English test!
d They’re my favorites, too There’s agood Clint Eastwood movie on after thenews on Channel 5
Cách tiến hành:
23
Trang 24- Bài tập này luyện cho học sinh cách diễn đạt sở thích.
- Giáo viên nêu rõ yêu cầu của đề bài, cho học sinh đọc kỹ thông tin ở 2 cột
- Học sinh làm việc theo cặp (hoặc theo nhóm nhỏ) thảo luận và ghép câu nói ở cột
A với câu trả lời tương ứng ở cột B
- Kiểm tra một số nhóm, cặp và cho học sinh thực hành đọc lại theo cặp
Suggested answers: 1.a 2.c 3 d 4 b
Lesson 5: Information gap (lấp khoảng trống thông tin):
“Đây là hoạt động có lợi cho việc phát triển kỹ năng nói Tiếng Anh ở THPT.Hoạt động này có thể được dựa trên một tình huống cụ thể nào đó Học sinh có thểhỏi và đáp theo cặp hoặc theo nhóm xung quanh những thông tin đã cho Để họcsinh giao tiếp có hiệu quả, hoạt động này cần được thiết kế cẩn thận trước khi nóđược đưa vào sử dụng trong lớp học” (theo Hoàng Văn Vân- Đổi mới phươngpháp dạy Tiếng Anh ở THPT Việt Nam.)
Một vài bài tập mẫu:
Sample 1: Work in pairs Ask and answer questions to complete the information about the following cities:
Card for student A:
Card for student B:
Trang 25Ví dụ: Mexico City- Founded: 1325
A: When was Mexico City founded?
Sample 2: Work in groups of three Ask your friends to complete the following table:
1 Type of competition you like
2 The reason why you like it
25