1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tóm tắt luận án một số tác phẩm của nam cao dưới ánh sáng của phân tích diễn ngôn và dụng học

35 816 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 227,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự nối kết này đòi hỏi người phân tích tác phẩm văn học phải chứng minh các nhận xét của mình bằng những chứng cứ có mặt hoặc có thể suy diễn discursive được từ ngữ liệu cụ thể, cùng với

Trang 1

VỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI -

VŨ VĂN LĂNG

MỘT SỐC TÁC PHẨM CỦA NAM CAO DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN VÀ DỤNG HỌCchuyên ngành : Ngôn ngữ học ứng dụng

Mã số: 62 22 01 05

Trang 2

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2013

Công trình được hoàn thành tại:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Diệp quang Ban

Trang 3

Số 477 Nguyễn Trãi, Quận Thanh Xuân, Hà Nội.

Vào hồi…… giờ… ngày …… Tháng … Năm 201

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc Gia Hà nội

- Thư viện học viện khoa học xã hội-Viện Hàn Lâm khoa

Trang 4

học Xã hội Việt Nam

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Việc chọn đề tài này trước hết là do sự chuyển hướng trong ngôn ngữ học và nghiên cứu văn học Ngôn ngữ học

trong từ nửa sau thế kỉ XX đã chuyển mạnh sang nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ, và xuất hiện các lí thuyết mới:

Dụng học, Phân tích Diễn ngôn, Phân tích diễn ngôn phê bình, mở ra con đường mới cho nghiên cứu ngôn ngữ nghệ

thuật

Về nghiên cứu văn học, từ trước tác phẩm văn học thường được quan tâm theo quan điểm cấu trúc luận và kí hiệu

học Gần đây người ta đã nói đến sự nối kết giữa ngôn ngữ học và văn học thông qua tên gọi là Phê bình ngôn ngữ học

(đặt trong quan hệ với tên gọi quen thuộc Phê bình văn học) Sự nối kết này đòi hỏi người phân tích tác phẩm văn học

phải chứng minh các nhận xét của mình bằng những chứng cứ có mặt hoặc có thể suy diễn (discursive) được từ ngữ liệu

cụ thể, cùng với sự chú ý thích đáng đến ngữ cảnh, gồm ngữ cảnh vật lí (không gian, thời gian, đồ vật ) và ngữ cảnh xãhội-văn hoá (tính cộng đồng, tập tục, thể chế )

Sự chuyển hướng kể trên thúc đẩy việc tìm hiểu có cơ sở ngôn ngữ học vững chắc đối với 2 tác phẩm được chọn

của Nam Cao

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu (hay Lịch sử nghiên cứu vấn đề)

2.1 Các công trình nghiên cứu lí thuyết có nguồn gốc nước ngoài

Về mặt lí thuyết trên bình diện quốc tế, các vấn đề cơ sở của ba bộ phận Dụng học (DH), Phân tích diễn ngôn(PTDN), Phân tích diễn ngôn phê bình (PTDNPB) đã được khai phá từ nửa sau thế kỉ XX và đầu XXI

2.2 Các công trình nghiên cứu ứng dụng ở Việt Nam

Ở Việt Nam, DH ra đời được du nhập vào Việt Nam cuối những năm 70 đầu 80 với loạt bài của nhà nghiên cứuHoàng Phê, và nở rộ vào thập niên 90 với hai nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Đức Dân; tiếp theo, PTDN vàPTDNPB xuất hiện vào đầu thế kỉ XXI

Công trình nghiên cứu bậc tiến sĩ (không kể bậc thạc sĩ) liên quan đến DH đã khá nhiều về số lượng và rộng về đềtài Công trình nghiên cứu liên quan đến PTDN và PTDNPB thuộc bậc tiến sĩ còn ít

1

Trang 6

3 Phạm vi và đối tượng khảo sát

3.1 Phạm vi các vấn đề được khảo sát

DH và PTDN (kể cả PTDNPB) lấy mọi diễn ngôn (nói và viết) làm đối tượng, nên đề tài và vấn đề rất rộng Về

DH có những vấn đề liên quan đến hội thoại như hành động nói, cộng tác trong cuộc thoại, các kiểu nghĩa trong lời thoại,phép lịch sự, những vấn đề liên quan đến văn hoá Về PTDN có những vấn đề về tính liên kết, tính đa dạng của hiện thựcđược phản ánh, ngữ cảnh tình huống, thể loại diễn ngôn, phong cách chức năng, phong cách cá nhân, các hiện tượngthuộc xã hội, văn hoá, dân tộc

3.2 Đối tượng khảo sát

Tác giả Nam Cao là người đã được đánh giá cao thống nhất trên văn đàn Tác phẩm truyện ngắn Chí Phèo và tiểu thuyết Sống mòn được chọn do: (a) cả hai đều có vị trí thích đáng trong Văn học của nhà trường, kể cả bậc đại học; (b) đề

tài có giá trị về xã hội-văn hoá của thời đại (nông dân và giáo chức tiểu tư sản ở Việt Nam đầu thập kỉ 40 thế kỉ XX),không gian là thôn và ngoại thành Hà Nội, thời gian là ngay trước Cách mạng 1945); (c) có giá trị về sử dụng ngôn ngữ:

Chí Phèo, với tư cách truyện ngắn (ngôn ngữ súc tích, nhiều đối thoại, nhiều hành động vật lí, kịch tính cao), Sống mòn,

với tư cách một tiểu thuyết (nhiều chương hồi, nhiều lớp nhân vật, tâm lí nhân vật phức tạp, tính triết lí cao )

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu là góp phần gợi mở cách thức cụ thể trong việc ứng dụng các thành tựu của vài bộ môn lí

thuyết mới như PTDN và DH vào việc phân tích ngôn ngữ văn chương tại Việt Nam

Nhiệm vụ nghiên cứu: (a) Cố gắng chứng minh với cơ sở ngôn ngữ học tính đúng đắn của những nhận định đã có

về các tác phẩm được khảo sát (b) Hơn nữa, bằng các chứng cứ ngôn ngữ có trong tác phẩm, phát hiện những điểm mớitrong nội dung tác phẩm và ngôn ngữ của tác giả

5 Phương pháp nghiên cứu

Phân tích một diễn ngôn cụ thể đề cập tất cả những gì xuất hiện trong diễn ngôn (nói hay viết) (Bao gồm cả thếgiới vật chất lẫn thế giới tinh thần có mặt trong diễn ngôn và cả của người tạo ra diễn ngôn) Với phạm vi rộng lớn nhưvậy, phương pháp của phân tích diễn ngôn được ví như “chiếc ô” che trùm lên nhiều phương pháp cụ thể hữu quan khác,trong đó có Dụng học

Sau đây là một số phương pháp cụ thể (X chi tiết tại Chương 1).

2

Trang 7

(1) Hướng dụng học: Đối tượng: ý nghĩa, ngữ cảnh, giao tiếp

(2) Hướng biến đổi ngôn ngữ: Coi trọng mặt “phong cách chức năng” của diễn ngôn, và chính tình huống giao

(5) Hướng phân tích hội thoại: Cách tiếp cận sử dụng hệ thống thuật ngữ của phân tích hội thoại Có 2 khuynh

hướng được giới thiệu ở Việt Nam: (a) khuynh hướng Mĩ-Anh, có trước; (b) khuynh hướng Thuỵ Sĩ-Pháp, có sau.Khuynh hướng (b) được giới thiệu vào Việt Nam trước Luận án này theo cach phân tíh của khuynh hướng (a)

(6) PTDN trong tâm lí học xã hội: Ứng dụng PTDN vào việc nghiên cứu tâm lí xã hội để tìm hiểu các ý tưởng của

PTDN trong nghiên cứu tâm lí xã hội

(7) Hướng giao tiếp giao văn hoá: Có nhiều ý nghĩa và ứng dụng đối với việc học và dạy ngôn ngữ thứ hai, đối

chiếu ngôn ngữ và giáo dục ngôn ngữ

(8) Phương pháp PTDN tích hợp: Hợp nhất các phân tích của từng hợp phần có thể phối hợp tốt với nhau vào việc

phân tích một diễn ngôn cụ thể Hai tác phẩm được chọn từ Nam Cao sẽ được phân tích theo kiểu tích hợp này

7 Giả thuyết nghiên cứu

Ứng dụng các phương pháp của PTDN và DH sẽ xác định được: (a) bố cục của tác phẩm; (b) xác lập quan hệ giữacác nhân vật từ quan điểm ngữ cảnh xã hội-văn hoá; (c) chức năng của các nhân vật theo cách hiểu của Propp; (d) cáckiểu quan hệ nghĩa giữa các bộ phận trong từng tác phẩm; (e) các lời thoại cuộc thoại (theo hướng của Mĩ); (f) một số lậpluận trong lời thoại của nhân vật; (g) các ngôn từ giữ vai trò ‘kí hiệu học xã hội’; (h) những cách sử dụng ngôn ngữ cónhiều giá trị của tác giả

8 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần MỞ ĐẦU và KẾT LUẬN, luận án gồm ba chương:

Chương 1: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN VÀ DỤNG HỌC

Chương 2: TRUYỆN CHÍ PHÈO TỪ CÁCH TIẾP CẬN CỦA PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN VÀ DỤNG HỌC

3

Trang 8

Chương 3: TIỂU THUYẾT SỐNG MÒN TỪ CÁCH TIẾP CẬN CỦA PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN VÀ DỤNG

HỌC

Chương 1

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUCỦA PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN VÀ DỤNG HỌC

Với tên gọi có chứa từ phân tích, vấn đề chủ yếu của Phân tích diễn ngôn (PTDN) là phương pháp phân tích ngữ

liệu, và đây cũng là đường lối lí thuyết của PTDN Cách tiếp cận diễn ngôn từ PTDN và Dụng học (DH) (nhất là Phântích hội thoại), cũng được gọi là những đường hướng làm việc với diễn ngôn Hiện nay, PTDN và DH có không ít phầnvay mượn của nhau, như trong PTDN có “ngôn ngữ học xã hội tương tác”, “dân tộc học giao tiếp”, “phân tích hội thoại”của DH; trong DH không tránh được vấn đề về ngữ cảnh vật lí, xã hội-văn hoá, nhất là phối cảnh (5) (x dưới)

1.1 Phương pháp nghiên cứu của Phân tích diễn ngôn

Giai đoạn gần đây, bên cạnh PTDN, còn xuất hiện một bộ phận mới là Phân tích diễn ngôn phê bình liên quan đến

cả ngữ liệu văn chương

1.1.1 Phương pháp nghiên cứu của PTDN

Nhà nghiên cứu Nguyễn Hoà 2003 đã ghi lại 8 cách tiếp cận, được gọi là “đường hướng”, trong PTDN như sau(lược dẫn theo [52, 79-148])

(1) Đường hướng dụng học: “Đối tượng của dụng học là ý nghĩa, ngữ cảnh và giao tiếp”, sử dụng các lí thuyết về

hành động nói, về nguyên tắc cộng tác và hàm ý hội thoại, và cả phép lịch sự

(2) Đường hướng biến đổi ngôn ngữ (language variation): Đường hướng này coi trọng mặt “phong cách chức

năng” của diễn ngôn, và chính tình huống giao tiếp bên ngoài quy định sự lựa chọn kiểu ngôn ngữ thích hợp Kiểu ngữcảnh được M.A K Halliday gọi bằng “ngôn vực”: “Phạm trù ngôn vực được đưa ra để giải thích cho việc sử dụng ngônngữ Khi hoạt động trong các ngữ cảnh khác nhau, ngôn ngữ sẽ biến đổi cho phù hợp với tình huống”

4

Trang 9

(3) Đường hướng ngôn ngữ học xã hội tương tác (interactional socio-linguistics): Đường hướng này tập trung ở

mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa ngôn ngữ, văn hoá và xã hội Hiểu là ngôn ngữ được dùng trong một xã hội (lớn hoặcnhỏ) xác định gắn bó chặt chẽ với nó và nền văn hoá của nó, cho nên ngôn ngữ chịu sự chi phối về xã hội-văn hoá của nó

(4) Theo đường hướng dân tộc học giao tiếp (dân tộc học nói năng), D Hymes 1972 đã xây dựng lược đồ về quá trình cuộc giao tiếp gồm 8 yếu tố: (a) Môi trường (Setting), (b) Tham thể (Participants), (c) Điểm đến (Ends) của việc giao tiếp của từng bên tham dự giao tiếp, như hỏi, sai khiến, chào , (d) Chuỗi các hành động nói nối tiếp giữa các người tham dự trong một cuộc giao tiếp, (e) Chìa khoá (Key), (f) Những gì có tư cách là công cụ (Instrumentalities) của cuộc giao tiếp, (g) Các chuẩn của sự tương tác và của cách lí giải, như hệ thống các tín điều về văn hoá (phong tục, tập quán, tín ngưỡng), giúp cho người phát và người nhận có được “cái chung” để hiểu nhau, (h) Thể loại là các phong cách của

diễn ngôn dùng trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau

Tám chữ cái in đậm trên ghép lại thành SPEAKING (sự nói năng).

(5) Đường hướng phân tích hội thoại (conversation analysis) là cách tiếp cận trong đó sử dụng hệ thống thuật ngữ

của phân tích hội thoại theo hướng Mĩ Theo hướng này, tổ chức của cuộc thoại gồm các bậc sau đây:

- Cuộc thoại hay cuộc tương tác (conversation/ interaction)

- Phiên giao dịch (transaction)

- Trao đáp (exchange)

- Lượt lời (turn at talk) (cũng gọi là bước thoại (move))

- Hành động nói (act), được coi là đơn vị cơ sở của cuộc thoại)

(6) PTDN trong tâm lí học xã hội là hướng nghiên cứu với mục đích “ ứng dụng những ý tưởng của phân tích

diễn ngôn trong nghiên cứu tâm lí xã hội”, hay “ sự phân tích hành động của con người” – J Potter

(7) Đường hướng giao tiếp giao văn hoá có nhiều ý nghĩa đối với việc học và dạy ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ.

N Fairclough nhận xét: “Hầu hết những hiểu lầm của chúng ta do một khó khăn rất cơ bản là chúng ta thường khônghiểu được ý định giao tiếp của người nói”

(8) Phương pháp PTDN tích hợp (integrated) là hợp nhất các phân tích của từng hợp phần (component) có khả

năng phối hợp tốt với nhau thành một chỉnh thể đối với diễn ngôn cụ thể được phân tích

5

Trang 10

1.1.2 Phương pháp nghiên cứu của Phân tích diễn ngôn phê bình

Tên gọi Phân tích diễn ngôn phê bình (PTDNPB) do G Kress đưa ra năm 1991 và nó liền thu hút chú ý của giới

nghiên cứu PTDNPB có đối tượng rộng lớn, và phương pháp của nó cũng dùng cho PTDN

Thomas Huckin 1997 nêu 6 mặt khác nhau sau đây giữa PTDNPB và PTDN: (a) PTDNPB có tính nhạy cảm rấtcao; (b) PTDNPB làm rõ 3 bậc phân tích là văn bản, hoạt động thực tế suy diễn được, ngữ cảnh xã hội rộng lớn; (c)PTDNPB liên quan nhiều đến các vấn đề lớn của các tầng lớp xã hội; (d) Nhà thực hành PTDNPB phải có một thế đứngđạo đức, tức là có quan điểm vững chắc và có thiện chí; (e) PTDNPB các khái niệm về hiện thực của nhân dân khôngđược coi là “bất biến”, chúng biến đổi theo hướng “có thể được làm cho tốt hơn”; (f) PTDNPB đến với người đọc rộngrãi, không chỉ dành cho người làm chuyên môn

N Fairclough cho rằng PTDNPB “được hội kết (consolidated) như một bộ khung gồm ba chiều đo (phân tích

ngôn ngữ các văn bản (nói hoặc viết), phân tích thực tế diễn ngôn (các quá trình sản xuất, phân phối và tiêu thụ), và phântích các sự kiện suy diễn được như là những trường hợp cụ thể của thực tế xã hội-văn hoá” Cách phân tích như thế được

ông gọi là cách tiếp cận theo ba chiều đo (three-dimentional approach), và có thể tóm tắt ba chiều đo đó như sau: Văn bản, Thực tế của diễn ngôn, Thực tế xã hội-văn hoá cần được giải thích Ngoài ra, PTDN có tính đến “tư tưởng hệ”

(ideology) hay thế giới quan và nhân sinh quan của người tạo diễn ngôn Đây cũng là đường lối được sử dụng trong việckhảo sát hai tác phẩm được chọn từ Nam Cao

1.2 Phương pháp nghiên cứu của DH

Phương pháp nghiên cứu của DH liên quan đến các nội dung: (a) Quy chiếu (hay chiếu vật) và chỉ xuất; (b) Hànhđộng nói (hay hành vi ngôn ngữ); (c) Lí thuyết lập luận; (d) Lí thuyết hội thoại; (e) Ý nghĩa hàm ẩn và ý nghĩa tườngminh Chúng cũng được kết hợp sử dụng trong luận án này

Chương 2

TRUYỆN CHÍ PHÈO TỪ CÁCH TIẾP CẬN

CỦA PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN VÀ DỤNG HỌC

Truyện Chí Phèo được phân tích lần lượt theo các đề tài sau đây.

2.1 Chí Phèo bắt đầu từ đâu và các sự kiện diễn biến thế nào?

6

Trang 11

Truyện Chí Phèo đã có nhiều ý kiến xác nhận là bắt đầu từ “giữa truyện”, nhưng hình như chưa ai nêu rõ là từ giai

đoạn cụ thể nào

Truyện Chí Phèo được chia thành 6 phần nhỏ có đánh dấu phân cách.

Trong phần 1, truyện bắt đầu từ “cuộc chửi” của Chí vào một buổi chiều Lúc ấy Chí đã “Bốn mươi hay ngoài bốnmươi?”, tức là hơn 10 năm sau khi Chí trở về làng Các sự kiện sau cuộc chửi đó được kể ở phần 5 Từ cuộc chửi đầu

truyện đến khi Chí và bá Kiến chết trải ra chỉ trong khoảng bảy ngày cuối đời Chí Về liên kết, tiếng chiều nay trong

“cũng như chiều nay hắn chửi” ở phần 5 thuộc kiểu hồi chiếu, chỉ về lần chửi ở đầu truyện

Phần 5 kể tiếp câu chuyện sau bài chửi ở phần 1 Đây là câu chuyện 10 năm sau khi Chí có nhà ở Có tiền có nhàChí say triền miên, và hễ “cứ rượu xong là hắn chửi”, “như chiều nay hắn chửi”, đây chính là cuộc chửi được kể ở đầutruyện Nhưng không ai chửi lại, đây là “một cớ để mà tức tối để hắn có thể hùng hổ đi báo thù” Trên đường đi, hắnghé nhà Tự Lãng, họ uống say đến mức không còn biết gì Ngứa ngấy quá, Chí định ra sông tắm và về cái nhà bên bờsông ngủ Ra đến bờ sông Chí thấy Thị Nở đang ngủ ngồi hớ hênh dưới ánh trăng trong và những gì phải xảy ra đã xảy

ra Sau đó, họ ở với nhau trọn 5 ngày đêm và “nhất định là lấy nhau” Nhưng rồi thị Nở bị bà cô cản, thị đến từ chối Chí

Vì thế Chí lại uống say và lấy dao để “Tao phải đâm chết nó!” Khi đi Chí lại đến thẳng nhà bá Kiến Lúc đó đang giữatrưa và bá Kiến đang bực mình vì ghen bà Tư đi đâu mà lâu không về Rồi hai “cơn điên” dẫn đến hai cái chết

Phần 6 nói về dư luận ở làng Vũ Đại về “vụ án” Chí Phèo-bá Kiến, trong đó có lời những người kình địch với bá Kiến, cólời nói đến Chí Phèo, nhất là việc thị Nở lo mang thai và nghĩ cái viễn cảnh lặp lại quá khứ của Chí Phèo

Đáng chú ý là việc thị Nở lo “Nói dại, nếu mình chửa thì làm ăn thế nào?” Và: “Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra mộtcái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người đi lại” (một hư cấu của Nam Cao)

Phần 2 nêu lai lịch Chí Phèo, việc hắn đi tù về đến nhà bá Kiến ăn vạ, và cách bá Kiến đối phó với Chí lúc đó, vớiNăm Thọ, binh Chức trước kia

Phần 3 trình bày các sách lược “trị dân” của bá Kiến, và bá Kiến kết luận: dân lành làm nuôi lí hào, nhưng lí hàonhiều khi phải ngầm nuôi những thằng liều lĩnh, vì lúc nào chúng cũng có thể giết người, kể cả mình

Phần 4 tả vụ Chí mua nợ rượu uống say để đến nhà bá Kiến vòi tiền Bá Kiến dở bài “không trị được thì dùng”, saiChí đi đòi tiền đội Tảo nợ Bá Kiến trả công Chí 5 đổng và cắt cho 5 sào vườn ở bãi sông

Như vậy, phần 2, 3, 4 là chuyện xảy ra trước cuộc chửi đầu truyện

7

Trang 12

2.2 Nhân vật và tầm quan trọng của các nhân vật trong Chí Phèo

Mạng lưới các nhân vật trong truyện có thể hình dung qua HÌNH 2.1

HÌNH 2.1: Sơ đồ mạng lưới và quan hệ của các nhân vật trong Chí Phèo

Trang 13

Tầm quan trọng của các vai dựa trên thế chủ động/ bị động của họ: có trường hợp chỉ một bên chủ động, có trường hợp cả

hai bên chủ động, có trường hợp bên này góp phần làm rõ tính cách bên kia, làm thành bậc.

- Bậc một, đường liền đậm, là quan hệ giữa 3 nhân vật Chí Phèo, lí/ bá Kiến, Thị Nở Chí Phèo có quan hệ với

cả 2 còn lại, 2 người này không có quan hệ trực tiếp với nhau

- Bậc hai, đường liền thanh, là quan hệ trực tiếp của 4 nhân vật lí Cường, bà Ba và bà Tư, vợ đội Tảo Cả 4 đều

có quan hệ với Chí Phèo, chỉ 3 có quan hệ với lí/ bá Kiến (trừ vợ đội Tảo)

- Bậc ba, đường gián đoạn dài, là quan hệ trực tiếp của 4 nhân vật Năm Thọ, binh Chức, đội Tảo, bà cô Thị Nở.

Ba người đầu có quan hệ

với lí/ bá Kiến, người cuối có quan hệ với Thị Nở và qua đó tác động đến Chí Phèo

- Bậc bốn, đường gián đoạn ngắn đậm, là quan hệ trực tiếp của 5 nhân vật người làng Vũ Đại, mụ hàng rượu,

tự Lãng, bà Cả, bà Hai Người đầu có quan hệ với lí/ bá Kiến, lí Cường, Chí Phèo; người thứ 2 và 3 chỉ có quan hệ với

Chí Phèo; 2 người cuối chỉ có quan hệ với lí Kiến

- Các quan hệ bậc năm, đường gián đoạn ngắn thanh, chỉ quan hệ gián tiếp giữa tiếng chim hót, tiếng cười nói của những người đi chợ, tiếng anh thuyền chài gõ chèo đuổi cá với Chí Phèo.

- Các quan hệ bậc sáu, đường gián đoạn có kèm dấu chấm gồm các mối quan hệ trực tiếp hiển nhiên giữa bãi sông với Chí Phèo, thị Nở, anh thuyền chài; và quan hệ của chó nhà lí/ bá Kiến và chó trong xóm với riêng Chí Phèo

(mối quan hệ này có chức năng riêng, kín đáo)

2.3 Mô hình cấu trúc chung trong cách tổ chức một số nhân vật

trực tiếp liên quan đến lí/ bá Kiến

Quan hệ của các nhân vật liên quan đến lí/ bá Kiến được tổ chức theo một mô hình cấu trúc chung khá cân đối,

gồm 2 nhóm như sau

2.3.1 Về nhóm nhân vật bà Ba, Năm Thọ, binh Chức

Bà Ba gây vạ cho Chí Phèo tuổi hai mươi phải đi tù vì lí Kiến “ghen” Năm Thọ kình với lí Kiến, và gặp cơ hội líKiến đẩy Năm Thọ vào tù Binh Chức bị đè nén đến mức bực mình phải “đi lính”

9

Trang 14

2.3.2 Về nhóm nhân vật bà Tư, đội Tảo, Chí Phèo

Bà Tư còn trẻ quá nên bá Kiến ghen, vì ghen bá Kiến mất bình tĩnh, cho nên vào lúc đang bực mình đó Chí Phèođến đòi làm người lương thiện, bá Kiến không giải quyết tốt được, kết cục cả hai đều chết

2.4 Một số lập luận trong truyện Chí Phèo

Trong Chí Phèo có nhiều lập luận, sau đây là ba dạng tiêu biểu: hai thuộc kiểu trực tiếp (đơn) và một gián tiếp (phức, hay tam đoạn luận).

2.4.1 Lập luận của bá Kiến chống Chí Phèo

Sau 7, 8 năm đi tù và lưu tán về làng, Chí Phèo đến nhà bá Kiến gây chuyện Chí Phèo nói bừa: “Tao chỉ liều chếtvới bố con nhà mày đấy thôi Nhưng tao mà chết thì có thằng sạt nghiệp, mà còn rũ tù chưa biết chừng”

Bá Kiến đã đưa ra lập luận 1 sát với cái ý “liều chết” của Chí bằng hai luận cứ: (1) “Ai làm gì anh mà anh phải

chết?”, (2) “Đời người chứ có phải con ngoé đâu?” Câu 1 liên quan đến bá Kiến: cụ chẳng làm gì mà Chí phải liều chếtvới bố con cụ Câu 2 dành cho Chí: mạng sống của anh là quý (không phải “con ngoé!) Hai câu ấy, cùng dẫn đến kếtluận: “Xét cả về hai bên, thì chẳng có cớ để anh phải “liều chết”, tức là “anh nói bậy” Biết Chí đang liều, cụ không nói rõ

ra để tránh kích động Chí

Cụ liền dùng cái kết luận không nói ra này làm luận cứ để đưa ra một kết luận giả định mới cho lập luận 2: “Lại say rồi phải không?” Hai lập luận này kết lại làm thành mạng lập luận (mạng lập luận là một chuỗi lập luận chuyển

tiếp: kết luận của lập luận trước trở thành luận cứ của lập luận sau):

L cứ (1): Chúng tôi chẳng làm gì khiến anh phải chết

vì chúng tôi

L cứ (2) Mạng sống của anh là quý

K l:

Anh nói bậy!

L cứ: Anh nói bậy K.l: Lại say rồi phải không

2.4.2 Lập luận của Chí Phèo chống bá Kiến

10

Trang 15

Lần hai, hết tiền uống rượu Chí lại đến bá Kiến và xin “cho con đi ở tù” Việc này lạ, nhưng Chí có cái lí rất thuyếtphục: luận cứ là “đi ở tù có cơm để mà ăn”, kết luận: “đi ở tù sướng quá” Chí còn so sánh: “về làng , chả làm gì nên ăn”

là luận cứ, kết luận hàm ẩn: ở làng khổ quá! Trong các lời đó có 2 lập luận đơn kết thành một hình vuông lập luận:

Hình vuông lập luận làm rõ tính “nghịch lí” trong lập luận của Chí qua từ NHƯNG và mũi tên chéo từ luận cứ ở(L1) xuống kết luận ở (L2)

Bí thế, bá Kiến lại dở bài cho Chí Phèo nói do rượu: “Anh này lại say khướt rồi!” Nhưng lần này Chí Phèo khẳngđịnh là không say: “Bẩm không ạ, bẩm thật là không say” Và hắn ép bá Kiến bằng lập luận sau đây:

2.4.3 Lập luận của bà đội Tảo khi trả tiền cho Chí Phèo

Chí Phèo đến gặp lúc đội Tảo ốm Bà đội không trả tiền thì khó tránh đòn của Chí, đưa tiền thì sau này khó “giảitrình” với chồng Cái lí đầu tiên đến trong đầu bà là “chồng mình đang ốm” Vì sao phải nghĩ đến việc này? Là vợ đội

11

Trang 16

Tảo, bà phải nghĩ theo ông: “quỵt nợ”! “Chồng mình đang ốm” là một luận cứ (tiểu tiền đề) trong tam đoạn luận có dạngsau đây:

Bà còn nghĩ chồng bà “có nợ hẳn hoi”, “lôi thôi lại chả tốn đến ba lần” 50 chục đồng, đây là các tiền đề trong 2tam đoạn luận khác, và cùng có kết luận “phải trả nợ” (x Diệp Quang Ban, 2010, tr 333)

2.5 Phân tích một số cách sử dụng ngôn ngữ của Nam Cao

Trong luận án có nêu 3 cách dùng ngôn ngữ rất nghệ thuật của Nam Cao: có / không dùng quan hệ từ; trật từ từtrong liệt kê; cách viết câu

2.6 Một số dấu hiệu kí hiệu học xã hội trong truyện Chí Phèo

“Kí hiệu học xã hội là việc sử dụng kiến thức về kí hiệu học ứng dụng vào các vấn đề xã hội, ” [13, 6]

2.6.1 Tệ “mua quan bán chức”

Tệ “mua quan bán chức” do chính bá Kiến cho biết: “ Thuế mỗi năm có một lần nếu chỉ trông vào đấy thì bán cha

đi cũng không đủ để bù vào chỗ ba, bốn nghin bạc chạy chọt để tranh triện đồng”.

2.6.2 Tệ “hối lộ”

Tệ “hối lộ” liên quan đến đội Tảo: hắn “vay cụ bá năm mươi đồng đã từ lâu, bây giờ… vỗ tuột, lấy cớ rằng số tiền

ấy tính vào món tiền chè lí Cường ra làm lí trưởng, chưa tạ hắn”, đồng bạc thuở ấy giá trị cao lắm !

2.6.3 Tệ “vu oan giá hoạ”

Bá Kiến nghĩ: “cũng phải có những thằng đầu bò chứ? Gặp người bướng bỉnh, đanh thép thì nó lừa đốt nhà haycho mấy lát dao; gặp người non mặt, thì nó quăng vào chai rượu lậu, hay là gây sự rồi lăn ra kêu làng”

2.6.4 Tệ “đa thê”

Trong truyện, chính lí/ bá Kiến trong đời của mình có đến 4 vợ

2.6.5 Tệ tảo hôn

12

Trang 17

Tệ tảo hôn tìm thấy trong lời bà cô thị Nở: “Ngoài ba mươi tuổi ai lại còn đi lấy chồng” Ở cái tuổi ấy lúc bấygiờ, cuộc đời của người phụ nữ đã khép lại, không còn nói đến lấy chồng Vì hồi đó con gái lấy chồng từ năm 13 tuổi là

việc bình thường: “Thiếp lấy chàng từ thuở mười ba, Đến nay mười tám thiếp đà năm con… (Ca dao).

2.6.6 Tục “quyền huynh thế phụ”

Quyền huynh thế phụ là quyền người anh thay thế cha, khi người cha mất Vì thế, cô thị Nở có quyền không chophép thị lấy Chí Phèo

2.6.7 Một số dấu hiệu liên quan đến ý thức của tác giả

Trong Chí Phèo có 2 biểu hiện: (a) Dấu hiệu về tín điều của giáo lí nhà Phật: Ác giả ác báo : lí Kiến huỷ hoại đời

của Chí, rốt cuộc chính Chí giết bá Kiến ; luân hồi nhân quả : Chí Phèo được phát hiện ở cái lò gạch bỏ không, về sau,

thị Nở nhìn xuống bụng mình và “Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không…” (b) Thái độ khinh thị lớp người bị coi là “cặn bã của xã hội”: Việc Nam Cao cho chó ba lần “đối thoại” với Chí Phèo khi Chí “chửi” và “la

làng” cho thấy lớp người từ tiểu tư sản trí thức thời ấy khinh thường những người gây rối cho xã hội kiểu như Chí Phèo,mặc dù họ là “nạn nhân” hơn là “phạm nhân”

Chương 3

TIỂU THUYẾT SỐNG MÒN TỪ CÁCH TIẾP CẬN

CỦA PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN VÀ DỤNG HỌC

Sống mòn nói về cuộc sống của lớp giáo chức, thuộc giai đoạn cuối của chế độ nửa thực dân-nửa phong kiến ở Việt

Nam, liền trước Cách mạng Tháng Tám 1945 Họ vào đời với những mộng ước đẹp, nhưng bị thực tế chặn đường, nên họ

“sẽ chẳng có việc gì làm”, “sẽ ăn bám vợ”, rồi sẽ “chết mòn” (theo tên sách vốn có) như anh giáo Thứ

3.1 Bố cục của Sống mòn và quan hệ thời gian trong truyện

Nhiều người cho rằng Sống mòn cũng như Chí Phèo đều bắt đầu bằng một điểm thời gian giữa truyện, nhưng điểm

đó là lúc nào thì hình như chưa ai xác định Đây là vấn đề mối quan hệ giữa bố cục của truyện và thời gian các sự kiệnđược kể trong truyện

3.1.1 Về các kiểu thời gian trong Sống Mòn

13

Ngày đăng: 24/12/2014, 18:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH 2.1: Sơ đồ mạng lưới và quan hệ của các nhân vật trong Chí Phèo - tóm tắt luận án một số tác phẩm của nam cao dưới ánh sáng của phân tích diễn ngôn và dụng học
HÌNH 2.1 Sơ đồ mạng lưới và quan hệ của các nhân vật trong Chí Phèo (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w