1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến ngành hàng dược phẩm

9 710 5

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 29,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra trong tương lai Chính phủ và Bộ Y tế sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp dược trong nước thông qua chính sách thông thoáng để tạo điều kiện cho 3 nhà: nhà doanh nghiệp, n

Trang 1

Đề tài thảo luận : Phân tích môi

trường bên ngoài ảnh hưởng đến

ngành hàng Dược phẩm

Nhóm : 5

Trang 2

N I DUNG CHÍNH ỘI DUNG CHÍNH

Chương 1: Môi trường vĩ mô

I Chính trị – Pháp luật

II Kinh tế

1 Tốc độ tăng trưởng của ngành kinh tế

2 Lạm phát

3 Giá nguyên vật liệu, tỉ giá và lãi suất

III Văn hóa – Xã hội

IV Công nghệ

Chương 2 : Môi trường ngành

I. Nhà cung ứng

II. Khách hàng

1 Khách hàng gián tiếp

2 Khách hàng trực tiếp

III. Đối thủ cạnh tranh

IV. Các sản phẩm thay thế

Trang 3

CHƯƠNG 1: MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ

I Chính trị pháp luật

Chính trị pháp luật cũng có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển của ngành dược phẩm

Ví dụ về quy định trong chi phí quảng cáo của các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam Theo quy định thì các loại thuốc ngoại nhập được chi phí quảng cáo tới 30% doanh thu thì sản xuất trong nước chỉ 10% nếu vượt quá sẽ bị đánh thuế Để thành công sản phẩm rất cần được quảng bá, việc bị hạn chế chi phí quảng bá dẫn đến người tiêu dung không mặn mà với thuốc nội

Theo các cam kết cụ thể khi Việt Nam gia nhập WTO, mức thuế áp dụng chung cho dược phẩm sẽ chỉ còn 0-5% so với mức thuế 0-10% như trước đây Mức thuế trung bình là 2.5% sau 5 năm kể từ ngày Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO Mặt khác , việc mở cửa thị trường theo cam kết WTO sẽ thúc đẩy các công ty nước ngoài có tiềm lực mạnh mẽ hơn, cùng với sự tháo dỡ các rào cản thương mại sẽ là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam

Trước tình hình đó, Phó Thủ Tướng đã yêu cầu Bộ Y tế xây dựng các trương trình ưu đãi tài chính cho các nhà sản xuất trong nước, xây dựng các báo cáo dự báo quy mô thị trường, tăng cường sử dụng dược phẩm trong nước và tận dụng khả năng sử dụng thiết bị, nguyên liệu sản xuất trong nước thay vì “ chuộng” ngoại tràn lan như hiện nay nhằm tạo động lực thúc đẩy ngành dược định hướng tới 2020 Những quy định này phần nào tháo gỡ khó khăn trong cuộc đua với thuốc ngoài Ngoài ra trong tương lai Chính phủ và Bộ Y tế sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp dược trong nước thông qua chính sách thông thoáng để tạo điều kiện cho 3 nhà: nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà nông phát triển các sản phẩm dược liệu hiệu quả và bền vững cũng như trách nhiệm của họ trong việc xây dựng chuỗi phân phối dược phẩm khép kín và có chất lượng, phục vụ trực tiếp cho sức khỏe của nhân dân Đây là cơ hội phát triển ngành Dược nước ta, giảm sự phụ thuộc nguyên liệu nhập ngoại

II Kinh tế

1 Tốc độ tăng trưởng của ngành kinh tế.

Ngành dược là một trong những ngành phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế Khi nền kinh tế tăng trưởng mạnh và đời sống của nhân dân được nâng cao thì nhu cầu về dược phẩm, đặc biệt là thuốc bổ , thuốc đặc trị, cũng tăng theo Do đó làm tăng doanh thu và lợi nhuận của ngành dược Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, đời sống và thu nhập của người dân giảmthì nhu cầu về dược phẩm cũng giảm theo làm doanh thu và lợi nhuận của ngành giảm xuống Tuy nhiên, do dược phẩm là nhóm sản phẩm thiết yếu nên mức giảm sẽ thấp hơn so với mức giảm của nền kinh tế

Trang 4

+ Tiêu dùng thuốc gia tăng

Ngành dược Việt Nam đạt mức tăng trưởng hai con số, trung bình 18-20%/ năm trong giai đoạn 2006-2007 Từ năm 2008-2010, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế và xu hướng hội nhập thì mức tăng trưởng ngành Dược có giảm hơn

so với giai đoạn 2006-2007

Tốc độ tăng trưởng giá trị tiền thuốc sử dụng tăng bình quân trên 18% trong 5 năm 2006-2010, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng bình quân của ngành dược toàn cầu (6,2%)

+ Tăng trưởng sản xuất

Do nhu cầu gia tăng nên giá trị sản xuất thuốc trong nước cũng tăng dần qua các năm, từ chỗ chỉ chiếm 36% tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong năm 2001, số còn lại 64% la thuốc nhập khẩu thì đến năm 2010 tăng lên 48%

Bảng tăng trưởng GDP, giá trị sử dụng thuốc và giá trị sản xuất thuốc từ 2006-2010

Tăng

trưởng

GDP (%)

Giá trị sử

dụng thuốc

(%)

Giá trị sản

xuất thuốc

(%)

( Nguồn: Tổng cục thống kê và Cục Quản lý dược)

2 Lạm phát

Lạm phát cao dẫn đến chi phí đầu vào của các doanh nghiệp gia tăng, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận của công ty

Trong khi các ngành trọng điểm đều bị ảnh hưởng thì ngành dược lại ít bị tác động vì đây là ngành thiết yếu và chịu sự giám sát chặt chẽ cảu nhà nước về giá bán Chính vì vậy, năm 2008- năm khủng hoảng đối với nền kinh tế Việt Nam, với mức lạm phát cao kỷ lục 22,97%, nhưng giá thuốc được kiểm tra và tương đối ổn định, không có sự gia tăng đột biến Chỉ số gia nhóm hàng dược phẩm cũng sẽ được điều chỉnh tăng theo đà tăng của CPI, những mức tăng chậm hơn

Theo công bố chính thức của tổng cục thống kê, chỉ số nhóm hàng dược phẩm và y tế tháng 5/2011 tăng 1,2 % so với tháng 4/2011, là một trong những nhóm hàng có tốc độ tăng trưởng không cao trong khi chỉ số giá tiêu dùng nói chung tăng 2,21%

So với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá hàng dược phẩm và y tế tăng 6,2% , thấp hơn nhiều so với mức tăng chung gần 19,8% Trong giai đoạn từ đầu năm 2009 đến hết

Trang 5

tháng 5/2011, theo số liệu công bố của TCCK, giá nhóm hàng dược phẩm và y tế đều tăng chậm hơn chỉ số giá tiêu dùng nói chung, đặc biệt từ đầu quý IV năm

2010 tính lại đây

3 Giá nguyên vật liệu, tỷ giá ngoại tệ và lãi suất

+ Biến động giá cả nguyên vật liệu

Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh dược phẩm của Việt Nam hiện nay, nguồn nguyên liệu đầu vào của hầu hết các đơn vị sản xuất trong nước đều phụ thuộc rất lướn vào nguồn nhập khẩu nước ngoài (hơn 90%), trong khi giá nguyên vật liệu luôn biến động Sự biến động của giá nguyên vật liệu đã tác động đến giá thuốc và làm ảnh hưởng đến tâm lý của người tiêu dùng Đây là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến giá thành sản xuất và khả năng sinh lời của các công ty dược nói chung

Năm 2008, các nguyên liệu nhập khẩu chính như kháng sinh tăng trung bình 2%, vitamin tăng 34% và nguyên liệu của thuốc giảm đau, hạ sốt tăng 80% làm chi phí sản xuất tăng

+ Tỷ giá và lãi suất

Các yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận các doanh nghiệp Hiện nay, tân dược vẫn chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều so với sản phẩm đông dược (hơn 90% trong thị trường dược phẩm), và nhập khẩu hơn 90% nguyên phụ liệu và thành phần, nên chỉ càn một thay đổi nhỏ về tỷ giá cũng ảnh hưởng tới cho phí của các doanh nghiệp dược

Lãi suất cho vay với doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh năm 2011 ở mức 12,5-14%, tăng 4% so với năm 2009

Trong năm 2011, tỷ giá USD/VNĐ tiếp tục được điều chỉnh tăng 9,3%, lãi suất cho vay đồng thời cũng tăng ở mức cao, phổ biến từ 16-20%, ảnh hưởng mạnh hơn tới hoạt động sản xuất của doanh nghiệp so với năm 2010, nhất là các doanh nghiệp có

tỷ lệ vay nợ cao

III Văn hóa xã hội

Nhắc tới xã hội là nghĩ ngay tới con người Mà ngành dược lại là một ngành đặc thù phục vụ cho nhu cầu quan trọng của con người là tăng cường sức khỏe Chính vì đối tượng tác động trực tiếp tới ngành là các vấn đề xã hội,nên chỉ cần một sự thay đổi nhỏ trong xã hội cũng làm cho ngành dược có sự thay đổi lớn chẳng hạn : khi bùng nổ dịch H5N1, H1N1, dịch đau mắt,dịch cảm cúm …thì nhu cầu về các loại thuốc này tăng lên nhanh chóng

Đối với người dân, khi họ quen với việc dùng sản phẩm của một hãng nào đó

họ tin tưởng thì rất ít khi hay rất khó làm cho họ thay đổi thói quen Ví dụ: nhiều nơi vẫn chữa bệnh theo cách thông thường, truyền thống, dùng mẹo để chữa

Trang 6

bệnh…đa số người dân chỉ tới quầy thuốc kể bệnh và uống các loại thuốc thông thường khi có bệnh mà không tới viện khám…tuy nhiên hiện nay thói quen sính

đồ ngoại của người dân đã rất phổ biến Điều này hết sức cần thiết, nó có tác dụng mạnh mẽ thúc đẩy nền sản xuất trong nước phát triển, đưa nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển cao hơn về quy mô, đa dạng về phương thức cũng như phong phú hơn về chủng loại

Việt nam là một nước nông nghiệp, với 70% dân số sinh sống tại nông thôn,

có mức thu nhập thấp nhu cầu dùng thuốc có giá rẻ cao Đây là một thị trường to lớn cho doanh nghiệp dược phẩm nội địa Ngoại trừ một số loại thuốc biệt dược, chuyên khoa cần nhập ngoại thì đa số thuốc Generic sản xuất trong nước đều đã đáp ứng được nhu cầu

Ngày nay khi mức sống ngày càng cao, hiện tượng lạm dụng thuốc bổ trong cuộc sống của người dân càng phổ biến Cuộc sống bận rộn, áp lực nhu cầu bổ xung vitamin và khoáng chất đang được quan tâm Do vậy, thị trường thuốc bổ cung cấp vitamin và khoáng chất đang phát triển rất nhanh là “miếng bánh” tương đối lớn cho các doanh nghiệp dược phẩm để mắt tới

IV Công nghệ.

Ở bất kì quốc gia nào, khoa học – công nghệ đều được xem là lĩnh vực tối quan trọng, quyết định năng lực cạnh tranh cũng như hiệu quả tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân

Là một trong những nước đang phát triển lạc hậu về khoa học và ngành dược không nằm ngoài đánh giá đó Trình độ công nghệ sản xuất thuốc còn thấp và chưa được đầu tư đúng đắn, đang diễn ra tình trạng dây truyền trùng lặp Mặc dù là một nước đang phát triển với chi phí nhân công rẻ nhưng đầu tư nước ngoài trong hoạt động nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam chưa xứng đáng với tiềm năng của ngành Các doanh nghiệp Việt Nam thiếu chuyên môn cũng như nguồn tài chính để

hỗ trợ công tác nghiên cứu và phát triển

Việc đầu tư cho nghiên cứu mới vô cùng tốn kém, trung bình phải mất 10 năm với chi phí 12-15 triệu USD Các doanh nghiệp chạy theo nhu cầu trước mắt của thị trường và hạn chế về trình độ nhân lực, công nghệ nên chỉ nhập công nghệ để sản xuất thuốc thông thường Để tồn tại và sống còn, các doanh nghiệp Việt Nam cần đẩy nhanh nghiên cứu khoa học và công nghệ bào chế, công nghệ sinh học sản xuất các thuốc mới, thuốc thành phẩm đồng thời có chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu chuyển giao công nghệ

CHƯƠNG 2: MÔI TRƯỜNG NGÀNH

I Nhà cung ứng

Hiện nay có 500 DN nước ngoài cung cấp thuốc cho thị trường VN, số lượng các công ty và số thuốc nước ngoài đăng kí tại Việt Nam tăng vọt Trong khi

đó, tổng số doanhh nghiệp sản xuất Đông và Tây dược của VN khoảng 180 DN

Trang 7

Nước ta phụ thuộc rất lớn vào nguồn cung cấp thuốc từ nước ngoài, chỉ 1 số công ty lớn mới có thể tự sản xuất thuốc nhưng với số lượng rất nhỏ so với tổng khối lượng

Khi số lượng nhà cung ứng trong nước ít, giá thuốc sẽ khó kiểm soát, gây khó khăn cả về kiểm định chất lượng Hơn nữa, thuốc nội sẽ khó cạnh tranh với thuốc ngoại do cơ chế mở của WTO và giảm thuế nhập khẩu, ng tiêu dùng lại có

xu hướng xúng ngoại

II Khách hàng

Người tiêu dùng VN có xu hướng ưa thích và tin tưởng vào hàng ngoại Thuốc cũng ưu tiên thuốc ngoại để đảm bảo chất lượng Với tư tưởng đó, ngành dược trong nước khó có thể lấy được lòng tin của người tiêu dùng và cạnh tranh với các DN nước ngoài

Gồm

1 Khách hàng gián tiếp : Bao gồm người tiêu dùng cuối cùng trong và

ngoài nước

- Khách hàng gián tiếp nước ngoài :Thị phần xuất khẩu dược của nước ta rất nhỏ, chủ yếu suất khẩu sang nhật ,đông âu

- Khách hàng gián tiếp trong nước: nhóm khách hàng trong nước vẫn còn rất nhều tiềmnăng phát triển

Đặc điểm của nhóm khách hàng gián tiếp trong nước:

+ Đa phần người dân Việt Nam chưa tin dùng thuốc nội Họ luôn mang tâm lý rằng thuốc ngoại, thuốc đắt là thuốc tốt

+ Phần lớn người dân tập trung ở nông thôn, thường có mức sống thấp, nên có nhu cầu cao các loại thuốc có giá rẻ.Họ có thói quen là thường tự mua thuốc theo kinh nghiệm cá nhân hoặc theo lời khuyên của người thân và dược tá bán thuốc (có tới 45% người tiêu dùng Việt Nam thường mua thuốc theo kinh nghiệm)

+ Ngoài ra do mức sống của người dân ngày càng được nâng cao hơn nên vấn đề về sức khỏe cũng được quan tâm, chăm sóc và đầu tư kỹ hơn vì vậy người dân ngày nay yêu cầu cao hơn về chất lượng được phẩm cũng như uy tín thương hiệu

Nhóm khách hàng gián tiếp trong nước không gây sức ép cho ngành vì dược phẩm là một trong những mặt hàng thiết yếu không có sản phẩm thay thế và không có sự mặc cả về giá

2 Khách hàng trực tiếp

Đây là nhóm khách hàng mục tiêu của ngành dược Nhu cầu mua thuốc phụ thuộc vào lượng mua của nhóm khách hàng gián tiếp Nhóm khách hàng trực tiếp cũng được chia thành 2 nhóm nhỏ:

Trang 8

Nhóm 1: Bao gồm các bệnh viện và các cơ sở điều trị tại các cấp Nhóm 2: Bao gồm các chi nhánh, đại lý, nhà phân phối, các nhà thuốc (như các công ty xuất nhập khẩu dược phẩm, công ty thương mại, các điểm bán lẻ )

Đặc điểm của nhóm khách hàng trực:

+ Bởi vì dược phẩm có liên quan trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng nên họ đòi hỏi sản phẩm phải có chất lượng và uy tín

+ Họ mong muốn mức chiết khấu thương mại cao

+ Họ yêu cầu khả năng cung cấp sản phẩm đúng thời hạn theo hợp đồng đã ký kết Nhóm khách hàng này có khả năng gây sức ép cao lên ngành bởi vì:

+ Họ mua với số lượng sản phẩm lớn, chiếm doanh số cao trong tổng các doanh số của ngành Dược Sản phẩm muốn đến được với người tiêu dùng phải thông qua các kênh phân phối của họ

+ Họ có nhiều sự lựa chọn về người bán

+ Họ có đầy đủ thông tin về nhu cầu, giá cả, đặc điểm của người tiêu dùng

III Đối thủ cạnh tranh

Có đối thủ cạnh tranh trong nước và nước ngoài Các đối thủ tiềm năng cũng là nguy cơ lớn

Hiện nay thị trường VN có rất nhiều DN có vốn đầu tư nước ngoài tr ngành dược Với mức đầu tư lớn, trang thiết bị và cơ sở hiện đại, các DN nước ngoài đang chiếm mất phần lớn thị phần trên thị trường nước ta Điều này làm cho mức độ cạnh tranh trong ngành ngày càng gay gắt

Để giảm khả năng các đói thủ tiềm năng muốn ra nhập thị trường, ngành đã xây dựng lên được những rào cản ra nhập tương đối khó khăn Và chính điều đó làm cho tiêu chuẩn chất lượng và thử nghiệm lâm sàng ngày càng tăng là cơ sở

để ngành phát triển vững vàng

IV Các sản phẩm thay thế

Hiện tại có rất nhiều sản phẩm chức năng có tính năng tương tự như thuốc tr ngành Ng tiêu dùng sử dụng nhiều sản phẩm chức năng thay thế thuốc chữa bênh

Nó làm giảm năng suất tiêu thụ của thuốc trên thị trường

Kết luận

Trang 9

Môi trường vĩ mô cũng như môi trường ngành có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của ngành dược phẩm Vì vậy, các doanh nghiệp trong ngành cần phải có sự hiểu biết, có những phân tích rõ ràng về sự ảnh hưởng đó, từ đó đề ra những chiến lược sản xuất và kinh doanh phù hợp, hạn chế những mặt tiêu cực, phát huy điểm mạnh, đem lại sự phát triển bền vững

Ngày đăng: 24/12/2014, 17:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w