Hiện nay, ở Việt Nam, tại các vùng ven biển, sự xâm thực của nước biển mặn, khiến cho việc tìm ra nguồn nước ngọt khá khó khăn, nguồn nước sinh hoạt của người dân ven biển không được đảm bảo, nhu cầu dùng nước sạch mới chỉ đáp ứng được khoảng 60%, số người mắc bệnh do thiếu nước sạch tăng lên. Người dân ven biển phải mua nước ngọt với giá đắt hơn từ 510 lần, tại Huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An), người dân phải mua nước ngọt về với giá 60000m3 để sử dụng. Mỗi chuyến đi biển mất đến nửa triệu bạc tiền nước, do đó nhiều chuyến về lỗ nặng. Tại vùng hải đảo ngoài khơi, tình trạng thiếu nước ngọt còn trầm trọng hơn. (1) Đồng thời đánh bắt xa bờ hiện nay chỉ chiếm 48%, 1 phần là do không có đủ lượng nước để đánh bắt dài ngày. Theo TS Đào Trọng Từ (2), đến năm 2015, do biến đổi khí hậu thì nguồn nước Việt Nam sẽ giảm đi khoảng 40 nghìn tỉ m3.
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI TRƯỜNG THPT Hà Nội – Amsterdam, Cầu Giấy
**************
ĐỀ TÀI DỰ THI KHOA HỌC, KỸ THUẬT DÀNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CẤP THÀNH PHỐ
LẦN THỨ TƯ (NĂM HỌC 2014 - 2015).
Tên đề tài: MODULE CHUYỂN ĐỔI NƯỚC BIỂN THÀNH NƯỚC NGỌT SỬ
DỤNG LƯỚI KIM LOẠI VÀ MÁY PHUN SƯƠNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN
- Tiến sĩ Đinh Trần Phương
- Đơn vị công tác Hà Nội-Amsterdam
TÁC GIẢ:
Nguyễn Doãn Hoàng Lớp: 11L Trường: Hà Nội Amsterdam
Hà Nội, tháng 12 năm 2013
Trang 3TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Chuyển nước biển thành nước ngọt đóng vai trò rất quan trọng trong việc giải quyếtnhu cầu nước sạch trên thế giới Trong bản báo cáo này, tôi xin trình bày phương phápchuyển nước biển thành nước sinh hoạt Thiết bị là một module cỡ nhỏ để bay hơi nướcbiển thành nước ngọt, nhiều module cỡ nhỏ có thể kết hợp tạo thành một hệ thống nhằmtăng lượng nước thu được, phù hợp theo nhu cầu người sử dụng Trong một hộp kín nhằmtạo hiệu ứng nhà kính, nước biển được phun sương xuống một tấm lưới kim loại, tạo thànhmột màng nước mỏng bám trên lưới Màng nước được mặt trời cung cấp năng lượng giúpbay hơi bề mặt Sau đó hơi nước được dẫn sang vỏ bay hơi, có nhiệt độ khoảng 20 độ C
Do sự chênh lệch nhiệt độ lớn nên hơi nước sẽ bị ngưng tụ thành nước Thiết bị có nguyên
lý hoạt động khác với các phương pháp thông thường chuyển nước biển thành nước ngọtnhư phương pháp sử dụng nhiệt, thẩm thấu ngược, điện phân tách ion Thay vì tương táctrực tiếp với nước biển, tách riêng muối và nước, phương pháp này tận dụng tối đa nhữngđiều kiện sẵn có trên biển như độ ẩm trong không khí cao, không gian rộng, cường độ ánhsáng mạnh và dồi dào,… Nghiên cứu lý thuyết, với độ ẩm trong không khí khoảng 80%-82% , nhiệt độ làm nóng hơi nước khoảng 30-35 độ C thì 100 module cỡ 25x10x15, chiếmdiện tích 250cm x 110cm thu được 10 lít trong 6 giờ Khi kết hợp các module lượng nướcthu được đủ sinh hoạt cho 5 người trong một ngày Ưu điểm của thiết bị là tốn ít nănglượng để vận hành, không tốn diện tích trên tàu vì hệ thống được thiết kế để thả nổi trênmặt nước, tận dụng tối đa những điều kiện tự nhiên sẵn có, không gây hại tới môi trường,nguyên lý hoạt động đơn giản, dễ vận hành, thiết bị quen thuộc, dễ tháo lắp bảo trì, tínhứng dụng thực tiễn cao, phương pháp bay hơi mới Vì vậy, thiết bị là giải pháp cho nhucầu nước sạch lớn của ngư dân trên tàu đánh cá cũng như ngoài hải đảo
Từ khóa: Chuyển nước biển thành nước ngọt, bay hơi bề mặt, nhà kính, ngưng tụ, năng
lượng mặt trời
Trang 4Mục lục
I/ MỞ ĐẦU 2
1.Lý do lựa chọn đề tài 2
2 Các phương pháp thu nước ngọt thông dụng trên thế giới 3
3.Điều kiện tự nhiên tại Việt Nam 10
4.Mục tiêu: 11
III/ NGUYÊN LÝ HỆ THỐNG, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CẤU TẠO 12
Cơ sở lý thuyết 12
Nhiệt độ 12
Sự bốc hơi 13
Áp suất hơi 13
Độ ẩm tương đối không khí là gì 13
Điểm sương 14
Năng lượng mặt trời 14
Quá trình nhiệt động học lượng nhiệt để làm bốc hơi nước: 14
Enthalpy 15
Sự bay hơi nội tại của nước (16) 17
Phun sương 17
Thảo luận: 18
Cấu tạo hệ thống: 18
Tính mới: 19
III/Thí nghiệm 21
Thí nghiệm định tính: 21
Thí nghiệm 1: 21
Thí nghiệm 2: 21
IV/Kết luận 23
Mục đích 23
Kết quả 23
Điểm mới 24
Phương hướng trong tương lai 24
Trang 5BẢNG THÔNG SỐ
: Enthalpy của hơi nước (kJ)
: Enthalpy của nước biển (kJ)
: Enthalpy của hơi nước (kJ/kg)
: Enthalpy của nước (kJ/kg)
: Enthalpy của nước biển (kJ/kg)
: Lương nước đã chưng cất được (kg)
: Áp suất hơi bão hòa (Pa)
: Áp suất hơi (Pa)
: Năng lương mặt trời (kWh/m3/ngày)
Trang 6: Lượng nước có trong không khí (kg/kg)
: Lượng nước tối đa có trong không khí (kg/kg)
I/ MỞ ĐẦU
1.Lý do lựa chọn đề tài
Theo Đại học Michigan (2006) và Alex Kirby (2000) hơn 70% bề mặt tráiđất được bao phủ bởi nước với 2,5% là nước ngọt Tuy vậy, chỉ khoảng 1%( tương đương với 0.007% tổng khối lượng nước) được sử dụng trực tiếp Đồng thời, sự gia tăng dân số và ô nhiễm môi trường khiến cho nhu cầu nước ngọt ngày càng tăng cao
Hiện nay, ở Việt Nam, tại các vùng ven biển, sự xâm thực của nước biển mặn, khiến cho việc tìm ra nguồn nước ngọt khá khó khăn, nguồn nước sinh hoạt của người dân ven biển không được đảm bảo, nhu cầu dùng nước sạch mới chỉ đáp ứng được khoảng 60%, số người mắc bệnh do thiếu nước sạch tăng lên Người dân ven biển phải mua nước ngọt với giá đắt hơn từ 5-10 lần, tại Huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An), người dân phải mua nước ngọt về với giá 60000/m3 để
sử dụng Mỗi chuyến đi biển mất đến nửa triệu bạc tiền nước, do đó nhiều
chuyến về lỗ nặng Tại vùng hải đảo ngoài khơi, tình trạng thiếu nước ngọt còn trầm trọng hơn (1)
Đồng thời đánh bắt xa bờ hiện nay chỉ chiếm 48%, 1 phần là do không có
đủ lượng nước để đánh bắt dài ngày
Theo TS Đào Trọng Từ (2), đến năm 2015, do biến đổi khí hậu thì nguồn nước Việt Nam sẽ giảm đi khoảng 40 nghìn tỉ m3
Trong khi đó, nguồn nước biển, không khí ẩm hoàn toàn có thể tận dụng
để sản xuất nước ngọt phục vụ con người, và đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới, nhưng chưa được thực hiện ở Việt Nam
Do đó, ta cần các phương pháp nhằm sản xuất nước ngọt để đáp ứng nhu cầu người dân và quốc phòng tại vùng biển và hải đảo.
Trang 72 Các phương pháp thu nước ngọt thông dụng trên thế giới
Có 3 phương pháp khử muối bằng nước biển phổ biến
1) Khử muối bằng phương pháp sử dụng màng ( membrane
technology) 2) Khử muối bằng phương pháp sử dụng nhiệt (thermal technology) 3) Khử muối bằng phương pháp trao đổi ion ( ion exchange
technology) 4) Thu nước từ không khí (atmospheric water generator)
1) Khử muối bằng phương pháp sử dụng màng:
Sử dụng màng có các lỗ rất nhỏ nhằm chỉ cho phân tử nước đi qua, đồng thời chặn lại các phân tử muối có kích thước lớn và vi khuẩn
Trang 8
(Hình 1: Phương pháp thẩm thấu ngược)
RO
(reverse
osmosis)-a
Tạo một áp suất lớnhơn áp suất thẩmthấu của nước biển
để đẩy qua màngbán thấm
-Hiệu suất cao-Cản được vikhuẩn-Khả năng cảnmuối tốt
-Vì áp suất thẩm thấunước biển lớn (600-
1200 psi) nên nănglượng tiêu tốn tạo áp
RO (70-140 psi)
vì lỗ trên mànglớn hơn
-Năng lượng tiêu tốn
-Khả năng loại bỏhợp chất hỏa tancao (75-98%)
-Chỉ thích hợp xử línước lợ, nếu nước cónồng độ muối caohơn thì không kinh tế
Sử dụng dòng điện
Nhận xét: tiêu tốn nhiều năng lượng, quy mô công nghiệp, thu được lượng nước
gần như sạch hoàn toàn, giá thành đắt, yêu cầu kĩ thuật cao.a
Trang 92) Khử muối bằng phương pháp trao đổi ion
(Hình 2: Phương pháp thu Ion muối)
Sử dụng sự trao đổi ion giữa pha rắn và pha lỏng, cụ thể là nhựa trao đổi ion
Nhận xét: Phương pháp này được coi là không khả dụng vì giá thành quá cao,
tuy nhiên nó được sử dụng để tạo nước lọc có chất lượng cao
3) Khử muối bằng phương pháp sử dụng nhiệt
Sử dụng nhiệt để nước hóa hơi rồi ngưng tụ thành nước ngọt
Trang 10nước bay hơi, đọng vào tấm kính, ngưng tụ và chảy vảo máng thu nước, từ đó ta thu được nước ngọt
Nhận xét: Sử dụng cho những nơi điều kiện kinh tế khó khăn, vùng sâu vùng
xa, nơi chưa có nguồn cung cấp điện ổn định, cần nhiều diện tích, cần ánh sáng mặt trời trực tiếp, năng suất thấp
(Hình 3: Chưng cất thụ động nhờ ánh sáng mặt trời )
Làm nóng nhiều giai đoạn ( Multistage flash)
(Hình 4: Phương pháp chưng cất làm nóng nhiều giai đoạn phương ngang)
Thiết bị gồm nhiều khoang để làm bay hơi nước biển
Nước biển (B) được dẫn qua ống lượn qua khoang làm nóng Hơi nước nóng bốc hơi gặp nước biển trong ống có nhiệt độ thấp sẽ ngưng tụ xuống máng hứng nước (G) đồng thời hơi nước sẽ làm nóng nước biển trong ống
Khi nước biển tới thiết bị cung cấp nhiệt (H) thì nhiệt độ nước đã xấp xỉ nhiệt độ sôi Ở H, nước biển trong ống được cung cấp thêm nhiệt và được dẫn vào bể làm bay hơi
Ở bể thứ nhất, nước bay hơi, đến khi nhiệt độ của nước biển mới bơm vào
và lượng nước có sẵn cân bằng thì quá trình bay hơi dừng lại
Nước ở bể thứ nhất chảy sang bể thứ hai, nước ở bể thứ nhất vẫn hơi nónghơn ở bể thứ hai nên quá trình bay hơi tiếp diễn đến khi nhiệt độ đạt cân bằng…
Nhận xét: Quy mô công nghiệp, tận dụng nhiệt từ nhà máy
kế bên,thiết kế giúp giảm hao phí nhiệt-hiệu suất cao, xử lý quy mô lớn, tốn nhiều năng lượng
Bay hơi đa hiệu ứng ( Multieffect distillation)
Trang 11Thiết bị gồm các khoang xếp chồng lên nhau, tận dụng sự trao đổi nhiệt để làm nóng nước
Ở khoang trên cùng, nước được đun nóng chuyển thành thể hơi Hơi nước được dẫn qua một ống xuống khoang dưới
Nhận xét: Tương tự như phương pháp trên, nhưng
tốn ít năng lượng hơn
(Hình 5: Phương pháp chưng cất làm nóng nhiều giai đoạn phương thẳng đứng)
Nén hơi nước (Vapor compression)
(Hình 6: Phương pháp nén hơi)
Trang 12Phương pháp sử dụng máy nén hơi nước Khi nén hơi thì áp suất và nhiệt
độ đều tăng Nhiệt năng sinh ra để làm bốc hơi nước biển
Nhận xét: tón nhiều năng lượng cho máy nén khí.
Thu nước từ không khí:
Làm cô đọng lượng hơi ẩm trong không khí để từ đó thu được nước
Giảm nhiệt độ của không khí ẩm xuống dưới điểm sương
Lợi dụng độ ẩm của không khí, hệ thống thu không khí vào, làm lạnh khiến nước cô đọng và đưa lượng khí khô ngược ra ngoài
Nhận xét: có khả năng thu nước ngọt trong điều kiện ẩm ướt nhưng không có
nguồn nước kế bên, có tính hữu dụng cao, quy mô công nghiệp, phức tạp
(Hình 7: Phương pháp làm lạnh không khí)
i Màn sương (Fog fence):
Cấu tạo
từ một tấm vải canvas lớn ở nơi
Trang 13có độ ẩm cao – nhiều sương, sương sẽ đọng trên màng
và chảy xuống thùng đựng ở dưới, hêtj thống có hiệu suất không cao nhưng cực kì đơn giản, không tốn nănglượng
(Hình 8: Phương pháp dựng màn rào (màn) sương)
ii Giếng không khí (Air well):
Cách cấu tạo của giếng giúp không khí gặp nhiệt
độ thấp khi có gió thổi qua và cô đọng thành nước
Hệ thống có hiệu suất không cao, tốn nhiều diện tích nhưng không hề tốn năng lượng
(Hình 9: Phương pháp dựng giếng không khí)
iii Sử dụng hóa chất thu hơi ẩm:
Máy sự dụng các hóa chất khan có khả năng hút ẩm cao, bơm liên tục khí qua hóa chất đó để giảm lượng hơi ẩm trong không khí Hóa chất sau đó được xử lý
Trang 14Kết luận: Các phương pháp trên là những phương pháp đang được áp dụng
rộng rãi trên toàn thế giới Tuy vậy nhiều phương pháp thuộc quy mô công nghiệp, giá thành quá cao hoặc quá phức tạp không phù hợp cho ngư dân và hải đảo Do vậy rất cần một phương pháp thu nước ngọt cho người dân sử dụng.
Trang 153.Điều kiện tự nhiên tại Việt Nam
VIệt Nam là nước nhiệt đới ẩm gió mùa, có lượng nhiệt độ, ánh sáng dồi dào từ 4 đến 5 kWh trên mét vuông trong 1 ngày, số giờ nắng chiếu từ 1400 đến
3000 giờ 1 năm (tùy nơi), do đó có thể lợi dụng năng lượng mặt trời để làm nguồn năng lượng sạch thay thế Từ miền Trung đến miền Nam là nơi có lượng ánh sáng mặt trời nhiều nhất và có thể tận dụng quanh năm( khoảng 300-500 caltrên cm2 trên ngày) Các tỉnh ven biển miền trung, miền nam có nhiệt độ trung bình năm cao, khoảng 30-35 độ C, năng lượng mặt trời 3.5kWh trên diện tích 1m2
BIỂU ĐỒ NHIỆT ĐỘ THÁNG 6 NĂM 2013 KHÁNH HÒA
Độ ẩm trung bình năm cao, khoảng 80%,ở vùng khu vực miền Nam(Ninh Bình)
có khi lên đến trên 80% cân bằng ẩm luôn dương
Việt Nam có đường bờ biển dài, ngành đánh bắt thủy sản phát triển, diện tích biển rộng, nhiệt độ mặt biển khoảng trên 25 độ C vào tháng 12 – 1
và cực đại khoảng 30 độ vào tháng 7 – 8 (3)
Trang 16
BIỂU ĐỒ NHIỆT ĐỘ THEO THÁNG TẠI MỘT SỐ KHU VỰC
Đồng thời biển Việt Nam luôn có gió, thường trên cấp 3 (>4m/s)
Điều kiện tự nhiên của Việt Nam hoàn toàn có thể được lợi dụng để tạo ra nguồnnước sạch cho vùng biển và hải đảo
4.Mục tiêu:
Thiết kế và chế tạo một thiết bị có khả năng tạo ra nước ngay trên môi
trường là mặt biển, lợi dụng các đặc điểm môi trường biển Thiết bị có cấu tạo
đơn giản, sử dụng nguồn điện là pin năng lượng mặt trời, có công suất đủ lớn, sản xuất được nước ngọt ngay trên biển giúp tàu cá bám biển đánh bắt Ngoài ra
hệ thống cũng có thể sử dụng nhằm phục vụ cho hải đảo, nhà giàn Hệ thống phải có giá thành phù hợp, kích cỡ nhỏ và phù hợp với điều kiện tàu thuyền, sóng biển
BIẾN TRÌNH NHIỆT ĐỘ NĂM CỦA
KHÔNG KHÍ (to) VÀ CỦA NƯỚC
BIỂN (tw) TẠI CÁC ĐỘ SÂU KHÁC
NHAU
Trang 17III/ NGUYÊN LÝ HỆ THỐNG, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CẤU TẠO
(4): Vỏ bay hơi (5) Gương parabol
Cả hệ thống là 1 hệ các module đặt trên một phao nhỏ Không khí biển được Máy phun sương (1) phun lên tấm Lưới kim loại (2) nhằm tạo một lớp nước mỏng trên tấm lưới Màng nước mỏng được hấp thụ ánh sáng mặt trời, bayhơi bề mặt lên sang Vỏ bay hơi Nước cô đọng được dẫn ra ngoài để sử dụng
Các module được xếp nối tiếp thành hang, nhiều hàng thành 1 hệ module
Theo Relative Humidity Relative to What? The Dew Point
Temperature a better approach của Steve Horstmeyer, Meteorologist,
Cincinnati, Ohio, USA (4)
Nhiệt độ
Nhiệt độ của 1 chất khí/nước là 1 cách đo đạc động năng trung bình của phân tử khí/nước Phân tử khí/nước chuyển động càng nhanh, động năng của nó càng lớn, nhiệt độ của khối khí/nước đó càng cao
(1)
(2)
(3) (4)
(5)
Trang 18Từ đó, ta đưa đến định nghĩa
Sự bốc hơi
Khi các phân tử nước nhận đủ động năng, chúng có thể thoát khỏi lực hấpdẫn giữ chúng với các phân tử xung quanh Năng lượng này có được từ sự tươngtác giữa các phân tử nước với nhau hoặc với các phân tử khác như khí,… Khi thoát ra khỏi lực hấp dẫn, phân tử nước đó mang theo một phần năng lượng của khối nước
Theo Water Vapor Myths: A Brief Tutorial (copyright 1998-2010) của Steven
M Babin, MD, PhD (6)
Áp suất hơi
Là áp suất tạo bởi sự cân bằng (equilibrium) trong một hệ nhiệt động học của nước bốc hơi lên và phần hơi nước cô đọng Nước sẽ sôi tại điểm sôi bình thường khi áp suất hơi đạt đến áp suất xung quanh, ví dụ như áp suất không khí Khi có bất cứ sự tăng nào trong nhiệt độ, áp suất hơi đủ sức vượt qua áp suất không khí và nâng chất lỏng lên từ trong lòng của nó và tạo ra bong bóng (sôi) Khi muối được thêm vào nước như trong nước biển, áp suất hơi của nước biển giảm đi, do đó cần lượng nhiệt lớn hơn để nước có thể bắt đầu sôi Do đó điểm sôi của dung dịch cao hơn bình thường Sự tăng của điểm sôi được gọi là
Boiling Point Elevation
Từ áp suất hơi, ta có:
Độ ẩm tương đối không khí là gì
Độ ẩm tương đối là tỷ số của áp suất hơi
nước hiện tại của bất kỳ một hỗn hợp khí nào với
hơi nước so với áp suất hơi nước bão hòa tính
theo đơn vị là % Định nghĩa khác của độ ẩm
tương đối là tỷ số giữa khối lượng nước trên một
thể tích hiện tại so với khối lượng nước trên cùng
thể tích đó khi hơi nước bão hòa Khi hơi nước
bão hoà, hỗn hợp khí và hơi nước đã đạt đến điểm
sương
(1)RH: Độ ẩm tương đối
Pv: Áp suất hơi
Trang 19Pvs: Áp suất hơi bão hòa
(Hình 11: Biểu đồ độ ẩm tương đối, nhiệt độ và thời gian)
Điểm sương
Các điểm sương là nhiệt độ mà tại đó không khí được bão hòa đối với hơi nước trên bề mặt chất lỏng Khi nhiệt độ bằng với điểm sương đồng nghĩa với việc độ ẩm tương đối là 100% Những cách phổ biến cho độ ẩm tương đối là 100% là
1) Làm mát không khí đến điểm sương
2) Ép nướ bốc hơi vào không khí cho đến khi không khí được bão hòa
3) Làm không khí nguội đi đoạn nhiệt đến điểm sương
(6)
Từ độ ẩm tương đối ta có được tỉ số giữa áp suất hơi bão hòa và áp suất hơi hiện tại,
và từ điểm sương, ta sẽ biết được liệu chắc chắn lượng nước bay hơi có thể cô đọng hay không
Năng lượng mặt trời
Theo Cường độ bức xạ mặt trời tại các khu vực của Việt Nam (10)
Tại khu vực Trung bộ, từ tháng 3 đến tháng 9 thời gian nắng chiếu từ 5-6 giờ 1 ngày với lượng tổng xạ trung bình trên 3489 kWh/m2/ngày
Năng lượng mặt trời hệ nhận được được tính từ công thức:
R là bức xạ mặt trời (kWh/m2)
A là diện tích nhận nhiệt (m2)
là hiệu suất nhận nhiệt
Desalination and Water Treatment (11), (14)
Quá trình nhiệt động học lượng nhiệt để làm bốc hơi nước:
Do các tính chất của nước thay đổi rất lớn với việc thêm vào 3.5% muối
biển (NaCl,…) và việc nước bốc hơi bớt đi khiến nồng độ muối trong phần dungdịch còn lại tăng lên khiến cho các tính cất vật lý thay đổi một cách đáng kể và liên tục, lượng nhiệt cần cung cấp cho việc đun tăng dần do nồng độ muối tăng