1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng tạo vốn và sử dụng vốn trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay

11 593 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng tạo vốn và sử dụng vốn trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Thị Lan Anh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng tạo vốn và sử dụng vốn trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay

Trang 1

Lời nói đầu

Chúng ta đều biết doanh nghiệp nhà nớc (DNNN) là bộ phận quan trọng

nhất của nền kinh tế quốc gia, có thể coi là “xơng sống” của nền kinh tế nớc nhà, nó có ý nghĩa quyết định trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

đất nớc và trong quá trình hội nhập Chính vì vai trò to lớn của các DNNN đối với sự phát triển của đất nớc nên Đảng và Nhà nớc ta rất chú trọng đến việc thúc đẩy sự lớn mạnh của các doanh nghiệp này

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đánh dấu một bớc ngoặt trong việc đổi mới chính sách và cơ chế thị trờng nói chung, thị trờng và sản xuất kinh doanh nói riêng Nhng cùng với nó, các doanh nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trờng Trong cuộc cạnh tranh này, các DNNN đang ở vị thế có nhiều bất lợi Một trong những bất lợi rất lớn đang đợc nhà nớc cũng nh các doanh nghiệp rất quan tâm là vấn đề tạo vốn và hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp này Có thể nói vấn đề vốn đang thực sự là một bài toán khó, đòi hỏi khối DNNN phải nhanh chóng tìm ra lời giải nếu không các doanh nghiệp này khó có thể đứng vững trong một nền kinh tế thị trờng đầy tính cạnh tranh

nh hiện nay Nhng để giải đợc bài toán hóc búa về vốn cho các DNNN trớc hết chúng ta cần phải tìm hiểu và phân tích tình hình thực tế của việc huy động vốn và sử dụng vốn trong các DNNN

Chính vì tính cấp bách, thiết thực cũng nh tầm quan trọng của vấn đề vốn

đối với các DNNN mà em đã chọn đề tài “Thực trạng tạo vốn và sử dụng vốn trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay” Do thời gian có hạn nên bài viết của

em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận đợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để bài viết của em đợc hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

Nội dung chính

I, Vai trò của vốn đối với DNNN trong nền kinh tế thị trờng

1, Khái quát chung về vốn

Từ trớc đến nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về vốn, mỗi một quan

điểm đều có cách tiếp cận riêng Nhng có thể nói vốn thực chất chính là biểu hiện bằng tiền, là giá trị của tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ Trong nền kinh tế thị trờng, vốn đợc quan niệm là toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu và trong các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp Nh vậy vốn là yếu tố

số một của hoạt động sản xuất kinh doanh

2, Phân loại vốn

Hiện nay, chúng ta có rất nhiều cách phân loại vốn khác nhau tuỳ theo giác

độ tiếp cận, nhng nói chung đa phần là theo phơng thức chu chuyển của vốn Theo cách tiếp cận này ngời ta chia vốn thành vốn cố định (VCĐ) và vốn lu

động (VLĐ) VCĐ là một bộ phận của vốn đầu t ứng trớc về tài sản cố định

Nó luân chuyển dần dần, từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh VCĐ đóng vai trò quan trọng trong sản xuất kinh doanh, đặc biệt là với các DNNN hoạt động trong lĩnh vực sản xuất VLĐ của doanh nghiệp là số tiền ứng trớc về tài sản lu động nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp đợc thực hiện thờng xuyên, liên tục

3, Vai trò của vốn đối với các DNNN

Nh chúng ta đã biết, bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh dù ở quy mô nào cũng cần phải có một lợng vốn nhất định, nó là tiền đề cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp

Về mặt pháp lý: DNNN khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên và bắt

buộc là doanh nghiệp cần phải có một lợng vốn nhất định, lợng vốn đó tối thiểu phải bằng lợng vốn pháp định (lợng vốn tối thiểu mà pháp luật quy định cho từng loại DNNN) Khi đó địa vị pháp lý của doanh nghiệp mới đợc xác lập có nghĩa là doanh nghiệp đợc công nhận là có tồn tại Nh vậy vốn có thể

đ-ợc xem nh là điều kiện tiên quyết đảm bảo sự tồn tại t cách pháp nhân của doanh nghiệp trớc pháp luật

Về mặt kinh tế: Trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là một

trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp

Trang 3

Vốn không những đảm bảo khả năng mua sắm máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ để phục vụ sản xuất mà còn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh đợc diễn ra thờng xuyên và liên tục Vốn còn là yếu tố quan trọng quyết

định năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và vị thế của doanh nghiệp trên thị trờng Ngoài ra, vốn cũng là yếu tố quyết định đến việc mở rộng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Có vốn thì các doanh nghiệp mới cơ thể mở rộng sản xuất, thâm nhập vào thị trờng mới, từ đó mở rộng thị trờng tiêu thụ, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thơng trờng

Với tầm quan trọng vô cùng to lớn của vốn nh vậy, các DNNN cần phải có những biện pháp hữu hiệu để có thể làm sao huy động đủ vốn cho doanh nghiệp mình hoạt động một cách hiệu quả nhất

II, Thực trạng tạo vốn và sử dụng vốn trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay

1, Đánh giá chung

1.1, Thời kỳ trớc đổi mới kinh tế

Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, DNNN tồn tại dới hình thức các xí nghiệp thuộc sở hữu nhà nớc Các DNNN trong nền kinh tế chỉ huy không có quyền tự quyết mà phải sản xuất, kinh doanh theo các chỉ tiêu, định mức mà nhà nớc đa xuống Thích ứng với cơ chế này, vốn của các xí nghiệp

đều do ngân sách nhà nớc cấp Thực hiện nguyên tắc cấp phát, giao nộp ngân sách, các xí nghiệp không tự khai thác và huy động vốn để đảm bảo vốn kinh doanh, dẫn đến tình trạng các xí nghiệp không quan tâm đến việc bảo toàn và phát triển vốn Vốn của xí nghiệp thất thoát nghiêm trọng, nhiều xí nghiệp lãi giả, lỗ thật và báo cáo sai lệch trong hạch toán kinh doanh

1.2 Thời kỳ đổi mới kinh tế từ 1986 đến nay

Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nền kinh tế nớc ta hoạt động hết sức trì trệ, kém hiệu quả Chính vì lý do đó, Đại hội Đảng lần thứ VI đã quyết

định chuyển nền kinh tế nớc ta từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trờng có sự điều tiết của nhà nớc Dới cơ chế kinh tế mới, các DNNN đợc

tự chủ hơn trong sản xuất Từ đây vốn trở thành vấn đề sống còn của mỗi DNNN

Trong thời kỳ từ 1986 đến 1990, các DNNN đợc hình thành trên quy mô rộng lớn cả ở cấp quận huyện Tính đến năm 1990, cả nớc có 12080 DNNN Các doanh nghiệp trong thời kỳ này có quy mô nhỏ, vốn ít, công nghệ lạc hậu

Trang 4

Sự dàn trải của các DNNN làm cho nguồn vốn đầu t của nhà nớc không thể tập trung cho các ngành trọng điểm dẫn đến sự thiếu hụt vốn thờng xuyên, hiệu quả sử dụng vốn rất thấp

Đứng trớc thực trạng trên, từ năm 1990 chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nh Nghị định 338/HĐBT, Quyết định 315/HĐBT, Chỉ thị 500/Ttg nhằm sắp xếp và tổ chức lại các DNNN Qua nhiều lần sắp xếp, sát nhập và giải thể, đến nay còn khoảng 4.800 DNNN Các DNNN đã nâng cao hơn trình

độ tích tụ và tập trung vốn, tăng quy mô và kinh doanh có hiệu quả hơn Tuy nhiên hiện nay DNNN đang đứng trớc thực trạng yếu kém về nhiều mặt: sức cạnh tranh còn quá yếu kém, quy mô quá nhỏ, thiếu vốn nghiêm trọng, lãi suất kinh doanh bình quân thấp hơn lãi suất ngân hàng, hiệu quả sút kém Hầu hết các DNNN đang trong tình trạng “đói vốn” trầm trọng Theo báo cáo tổng kết của Bộ Thơng mại hiện nay có tới 60% số DNNN không đủ vốn pháp định theo quy định tại Nghị định 50/CP

2, Thực trạng tạo vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay

2.1, Thực trạng tạo vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong các DNNN ở Việt Nam hiện nay

Trớc hết, chúng ta đi tìm hiểu về tình hình huy động vốn ở các DNNN Trong những năm gần đây vốn của các DNNN đang có xu hớng tăng lên Tổng nguồn vốn kinh doanh của khu vực DNNN năm 1996 là khoảng 67.100

tỷ đồng, đến năm 1998 là khoảng gần 100.000 tỷ đồng và hiện nay tăng lên khoảng 189.293 tỷ đồng Tuy nhiên, tốc độ tăng vốn bình quân chỉ đạt xấp xỉ 15%, thấp hơn nhiều so với con số 29% của giai đoạn 1991-1994 Hơn thế nữa quy mô vốn còn nhỏ bé và dàn trải Năm 1994 vốn bình quân cho một doanh nghiệp chỉ đạt khoảng 3.3 tỷ đồng, năm 1996 tăng lên khoảng 11 tỷ đồng, năm 1998 tăng lên khoảng 18 tỷ đồng và hiện nay là khoảng 22 tỷ đồng Nh vậy, tốc độ tăng bình quân hàng năm từ năm 1996 đến nay là khoảng 19%, giảm mạnh so với tốc độ tăng bình quân là 52,8% của giai đoạn 1994-1998

Có thể nói tổng vốn trong các DNNN hiện nay còn quá nhỏ bé không tơng xứng với tầm vóc của nó

Quy mô vốn của các DNNN nhỏ bé là vậy nhng số vốn lại không tập trung

mà dàn trải, manh mún Lợng vốn phân bổ trong từng doanh nghiệp rất nhỏ bé

và không đều, có nhiều doanh nghiệp vốn cha đến 1 tỷ đồng Phần lớn các DNNN có vốn từ 3-10 tỷ đồng, chỉ có một số doanh nghiệp có vốn tơng đối

Trang 5

khá nh Tổng công ty xăng dầu Việt Nam, Tổng công ty Bu chính Viễn thông

Quy mô vốn đã nhỏ bé dàn trải, cơ cấu vốn kinh doanh lại có nhiều bất cập Các DNNN phải đối mặt với việc thiếu VLĐ Đáng buồn hơn là gần một nửa VLĐ là vật t ứ đọng, kém phẩm chất, công nợ khó đòi VCĐ lại chiếm tỷ lệ quá lớn trong tổng số vốn làm cho đồng vốn bị ứ đọng và quay vòng chậm Thêm vào đó VCĐ của các DNNN phần lớn là tài sản cố định cũ kỹ, lạc hậu, năng suất thấp Hiện nay vốn thực tế hoạt động của khu vực DNNN chỉ đạt khoảng 80%, riêng VLĐ chỉ có 50% đợc huy động vào kinh doanh

Thực tế hiện nay vốn ngân sách và vốn tự có của DNNN cha đợc một nửa mức VLĐ cần thiết Để duy trì sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải huy

động vốn từ bên ngoài Tuy nhiên, việc thực hiện huy động vốn từ bên ngoài ở các DNNN cha đợc hiệu quả, một số doanh nghiệp vẫn trông chờ ỷ lại vào vốn ngân sách nhà nớc

Tình hình huy động vốn của các DNNN là một thực tế đáng buồn Vậy còn việc sử dụng vốn của các doanh nghiệp này ra sao? Có thể nói thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn của các DNNN cũng không sáng sủa hơn

Nhìn chung từ sau khi đổi mới nền kinh tế đến nay, hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung, hiệu quả sử dụng vốn nói riêng của các DNNN đã tăng lên

Điều này đợc thể hiện qua việc nếu nh năm 1998 số DNNN thực sự có hiệu quả chỉ chiếm khoảng 40%, số bị thua lỗ chiếm tới 20% và số còn lại ở trong tình trạng bấp bênh thì đến năm 2003 trong 4.800 DNNN có tới 77,2% doanh nghiệp kinh doanh có lãi, số doanh nghiệp bị thua lỗ giảm xuống còn 13,5% Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp này tăng vẫn còn ở mức thấp Nhiều doanh nghiệp cha bảo toàn đợc vốn, tình trạng thua lỗ xảy ra trong nhiều doanh nghiệp

DNNN là trụ cột của nền kinh tế, vậy nhng họ hiện tại lại là những con nợ lớn nhất Theo thống kê của Bộ Tài chính, tính đến 2003, số nợ phải thu của khối doanh nghiệp này đã tới 96.775 tỷ đồng, bằng 51% tổng số vốn và 23% tổng doanh thu Đa phần của tổng số nợ nần này là nợ phải thu quá hạn và nợ khó đòi Còn tổng số nợ phải trả tính đến năm 2003 của khu vực DNNN là 207.789 tỷ đồng Các khoản nợ phải trả chủ yếu là vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng (chiếm khoảng 76% nợ phải trả), các khoản còn lại là chiếm dụng từ các khoản phải nộp ngân sách, chiếm dụng vốn của các doanh nghiệp khác, vay cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp

Trang 6

Ngoài việc nợ nhiều, thống kê của Bộ Tài chính còn cho thấy, nhiều DNNN làm ăn yếu kém, dẫn đến mắc nợ nặng nh Xí nghiệp đảm bảo an toàn giao thông đờng sông Hải Phòng bị lỗ 11,9 tỷ đồng; Nhà máy Vật liệu chịu lửa kiềm tính (thuộc Tổng công ty Thuỷ tinh và Gốm xây dựng) lỗ 107 tỷ đồng,

nợ phải trả 328 tỷ đồng; Công ty xi măng Hải Vân lỗ 78 tỷ đồng, nợ phải trả

426 tỷ đồng; Công ty xi măng Hoàng Mai lỗ 423 tỷ đồng, nợ phải trả 467 tỷ

đồng

Theo đánh giá của Bộ Tài chính, nguyên nhân của tình trạng này chủ yếu là

do sử dụng vốn kém hiệu quả khiến tình trạng thiếu vốn càng trở nên trầm trọng Thiếu vốn đầu t nên máy móc thiết bị lạc hậu của các doanh nghiệp không đợc cải tiến, nâng cấp dẫn đến năng suất lao động thấp, chất lợng, mẫu mã sản phẩm không cao Vốn thiếu còn khiến công tác nghiên cứu, triển khai cũng bị hạn chế Một số doanh nghiệp tuy đã mạnh dạn vay vốn đầu t nhng lại không biết cách đầu t sao cho có hiệu quả

Hiệu quả sử dụng vốn kém còn có nguyên nhân do nhiều ngành, địa phơng

đầu t theo phong trào, duy ý chí Bên cạnh đó còn có các nguyên nhân khác

nh đầu t thiếu quy hoạch, lao động dôi d nhiều, chi phí tiêu hao nguyên vật liệu cao, chi phí tiền lơng và quản lý cao trong khi trình độ quản lý, trình độ thành thạo của ngời lao động còn hạn chế

Hiệu quả sử dụng vốn của khối DNNN kém còn thể hiện ở chỗ khu vực này chỉ đóng góp có 38% GDP trong khi khu vực kinh tế dân doanh, kể cả hộ gia

đình đóng góp 42% GDP) phần còn lại là của khu vực có vốn đầu t nớc ngoài)

Những con số đa ra ở trên đã chứng tỏ hiệu quả của các DNNN hoàn toàn cha tơng xứng với vai trò lực lợng chủ lực, tiên tiến nhất của nền kinh tế

2.2, Những kết quả và tồn tại

2.2.1, Những kết quả đạt đợc

Từ khi đổi mới nền kinh tế đến nay tình hình huy động và sử dụng vốn trong các DNNN đã đạt đợc những kết quả nhất định nh sau:

Một là, giảm khoảng 70% số DNNN, từ 12.080 DNNN vào đầu năm 1990

xuống còn 4.296 doanh nghiệp hiện nay Hầu hết các DNNN cấp huyện với quy mô quá nhỏ bé, không có điều kiện tồn tại trong cơ chế thị trờng đều bị

Trang 7

giải thể Điều này góp phần tăng sự tích tụ tập trung vốn, tăng quy mô doanh nghiệp

Hai là, hệ thống DNNN đã phát triển ổn định, dần thích nghi với cơ chế thị

trờng, góp phần quan trọng trong việc phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh

tế Tỷ trọng trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) do các DNNN tạo ra đã tăng

từ 36.5% năm 1991 lên 38% năm 2003

Ba là, từ năm 1998 đến năm 2002 cả nớc ta đã cổ phần hoá đợc hơn 800

doanh nghiệp Hầu hết các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá đều hoạt động

có hiệu quả Một ví dụ điển hình là Công ty cổ phần cơ điện lạnh tại Thành phố Hồ Chí Minh Với số vốn ban đầu 15 tỷ đồng, sau 5 năm cổ phần hoá, vốn của doanh nghiệp đã tăng lên 167 tỷ đồng, doanh thu tăng từ 78,44 tỷ

đồng lên 353 tỷ đồng và lợi nhuận tăng gấp 4 lần

Bốn là, hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung, hiệu quả sử dụng vốn nói

riêng tăng lên rõ rệt Tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nớc năm 1993 là 6.8% đã tăng lên 14% năm 1998

Trên đây là những kết quả khả quan mà các DNNN đã đạt đợc kể từ khi đổi mới nền kinh tế đến nay Bên cạnh những kết quả đáng mừng này vẫn còn những tồn tại nhất định trong hệ thống các DNNN

2.2.2, Những tồn tại

Thứ nhất, quy mô vốn của các DNNN còn nhỏ bé và dàn trải Đến nay vốn

bình quân của các DNNN chỉ khoảng 22 tỷ đồng (tơng đơng 1.5 triệu USD)

Đây là số vốn quá nhỏ bé so với vai trò của DNNN và so với các DNNN của các nớc trong khu vực Số DNNN có vốn dới 5 tỷ đồng trở xuống chiếm tới gần 70%, số doanh nghiệp có vốn trên 10 tỷ đồng chỉ chiếm gần 21%

Thứ hai, do thiếu vốn và sử dụng vốn kém hiệu quả nên trình độ kỹ thuật,

công nghệ của các DNNN lạc hậu, năng lực cạnh tranh kém Hầu hết các doanh nghiệp đợc trang bị máy móc, thiết bị từ nhiều nớc khác nhau, thuộc nhiều thế hệ, chủng loại và lạc hậu so với thế giới từ 10-20 năm Điều này đã

ảnh hởng lớn đến chất lợng, giá cả và hạn chế năng lực cạnh tranh của sản phẩm đợc tạo ra

Thứ ba, nợ của các DNNN là quá lớn Theo thống kê của Bộ Tài chính, tính

đến năm 2003, tổng số nợ phải thu và phải trả của khối DNNN đã lên tới

Trang 8

300.000 tỷ đồng Đa phần là nợ quá hạn và nợ khó đòi Những khoản nợ này

đang là gánh nặng lớn cho các DNNN

Thứ t, hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói

riêng của khu vực DNNN là rất thấp Nh đã nói ở trên, năm 2003 có tới 13,5% doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ và khu vực DNNN chỉ đóng góp có 38% GDP trong khi khu vực kinh tế dân doanh đóng góp đến 42%

Tóm lại, kể từ khi đổi mới nền kinh tế các DNNN đã thu đợc những kết quả nhất định, đóng góp không nhỏ cho sự phát triển kinh tế của đất nớc Tuy nhiên, song song với những kết quả này, vẫn còn khá nhiều tồn tại trong các DNNN khiến cho hệ thống này cha thực sự đủ mạnh để tơng xứng với vai trò

là đầu tàu của nền kinh tế

III, Một số giải pháp tạo vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho các DNNN ở Việt Nam hiện nay

1, Những giải pháp nhằm tạo vốn cho các DNNN

Một là, DNNN phải lập kế hoạch sản xuất kinh doanh nói chung, kế hoạch

huy động và sử dụng vốn nói riêng ngay từ đầu và phải cụ thể rõ ràng Có nh vậy các doanh nghiệp mới có thể chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra hiệu quả sản xuất kinh doanh cao và khả năng tài chính vững mạnh Đây là cơ sở để các chủ nguồn vốn xem xét trớc khi ra quyết định cho vay

Hai là, DNNN nên huy động vốn từ chính bản thân doanh nghiệp Hiện

nay, hầu hết các doanh nghiệp chỉ chú trọng huy động vốn từ bên ngoài mà quên đi việc huy động vốn từ ngay cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp mình thay cho việc vay ngắn hạn ngân hàng

Ba là, các DNNN nên nhanh chóng triển khai hình thức tín dụng thuê mua.

Hiện nay các doanh nghiệp này gặp khó khăn trong việc vay vốn để đổi mới công nghệ bởi vì một mặt nguồn vốn trung và dài hạn của các ngân hàng có hạn, mặt khác các DNNN thiếu những điều kiện nhất định về tài sản thế chấp, cầm cố và bảo lãnh Vì vậy, quan điểm thuê máy móc thiết bị đã trở thành xu hớng của nhiều doanh nghiệp Đây là hình thức khá mới mẻ ở nớc ta

Bốn là, các DNNN làm ăn có hiệu quả có thể phát hành cổ phiếu, trái

phiếu Nhờ đó, các doanh nghiệp sẽ huy động đợc các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội một cách nhanh chóng để phát triển sản xuất kinh doanh

Trang 9

2, Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho các DNNN

Đối với VCĐ

- Đánh giá và đánh giá lại tài sản cố định: Trong thời đại khoa học kỹ thuật

phát triển nh hiện nay, tài sản cố định thờng xuyên phải đối mặt với nguy cơ hao mòn vô hình Do đó, để có cơ sở cho việc tính toán khấu hao vốn đầy đủ, doanh nghiệp cần phải giảm thiểu sự chênh lệch giữa giá trị thực tế và giá trị trên sổ sách của tài sản Muốn vậy, doanh nghiệp phải có kế hoạch và biện pháp đánh giá và đánh giá lại tài sản một cách thờng xuyên, chính xác Nhờ vậy mà doanh nghiệp xác định đợc giá trị thực của tài sản cố định, từ đó xác

định mức khấu hao hợp lý để thu hồi vốn hoặc kịp thời xử lý những tài sản cố

định bị mất giá để chống lại sự thất thoát vốn

- Nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản cố định: các doanh nghiệp cần tận

dụng tối đa công suất của máy móc thiết bị, giảm thời gian tác nghiệp, hợp lý hoá dây chuyền công nghệ, đảm bảo nghiêm ngặt chế độ bảo dỡng máy móc thiết bị, áp dụng chế độ khuyến khích vật chất và trách nhiệm đối với quản trị

và sử dụng tài sản cố định

- Kiểm tra tài chính đối với hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh

nghiệp: Sau mỗi kỳ kế hoạch, nhà quản trị phải tiến hành phân tích, đánh giá

tình hình sử dụng tài sản cố định thông qua các chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn Từ đó, doanh nghiệp có thể đa ra những quyết định đầu t, điều chỉnh lại quy mô, cơ cấu sản xuất cho phù hợp, khai thác đợc những tiềm năng sẵn có và khắc phục những tồn tại trong quản trị

Đối với VLĐ

- Xác định chính xác VLĐ ở từng khâu luân chuyển: Đây là một trong

những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản trị VLĐ nhằm tiết kiệm VLĐ

sử dụng trong sản xuất kinh doanh Ngoài ra, thông qua việc xác định VLĐ ở từng khâu để nắm đợc lợng VLĐ cần phải đi vay, tránh ứ đọng

- Tổ chức khai thác tốt nguồn VLĐ phục vụ cho sản xuất kinh doanh: Trớc

hết doanh nghiệp cần phải khai thác triệt để các nguồn vốn nội bộ và các nguồn vốn có thể chiếm dụng một cách thờng xuyên, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nhất nguồn vốn này Nếu còn thiếu các DNNN phải tìm đến các

Trang 10

nguồn vốn khác từ bên ngoài nhng cần phải cân nhắc, tính toán lựa chọn

ph-ơng thức huy động sao cho chi phí là thấp nhất

- Thờng xuyên phân tích tình hình sử dụng VLĐ: Tăng cờng việc kiểm tra tài

chính đối với việc sử dụng VLĐ, thực hiện công việc này thông qua phân tích một số chỉ tiêu nh: Vòng quay VLĐ, sức sinh lợi của VLĐ Trên cơ sở đó biết đợc rõ tình hình sử dụng VLĐ trong doanh nghiệp, phát hiện những vớng mắc và sửa đổi kịp thời, nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ

Ngày đăng: 28/03/2013, 21:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w