a, Tính giá vật liệu nhập kho theo giá thực tế Trong các doanh nghiệp sản xuất vật liệu thường được nhập từ nhiều nguồn khác nhau mà giá thực tế của chúng trong nhiều trường hợp được xá
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp phải tự bù đắp chi phívà sản xuất kinh doanh có lãi thì mới tồn tại và phát triển vững được Doanh nghiệp công nghiệp, với tư cách là một tế bào, là nơi tạo ra của cải vật chất cho xã hội, vừa giải quyết đời sống cho người lao động, vừa tạo tích luỹ cho cơ sở và nguồn tập trung cho nhà nước
Vấn đề đặt ra với các doanh nghiệp công nghiệp là phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã Để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng cuả hội và góp phần cơ sở vật chất xã hội ngày càng vững chắc, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển
Để điều hành và quản lý được toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả nhất, các nhà quản lý phải nắm bắt được kịp thời, chính xác các thông tin kinh tế bao gồm: “Chi phí đầu vào” và “ kết quả đầu ra” đồng thời giấm đốc chặt chẽ việc sử dụng lao động, hạn chế đến mức tối đa sự ứ đọng vật
tư, sản phẩm, hàng hoá, gây lãng phí các yếu tố sản xuất và làn chậm tốc độ luân chuyển vốn lưu động, bên cạnh đó phải xây dựng được phương hướng tối ưu nhằm cung cấp, sử dụng và khai thác mọi khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp
để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh
để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải có đầy
đủ ba yếu tố cơ bản: lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động là một trong ba yếu tố của quá trình sản xuất nếu thiếu vật liệu thì doanh nghiệp không thể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh
Mặt khác trong tổng giá thành của toàn bộ sản phẩm, khoản mục vật liệu thường chiếm một tỷ trọng tương đối cao, do đó tiết kiệm khoản mục chi phí vật liệu trong giá thành sẽ là biện pháp chủ yếu để hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi
Trang 2nhuận cho doanh nghiệp, kế toán vật liệu cũng là bộ phận thực hiện chức năng quản lý vật liệu Kế toán có đầy đủ chính xác hay không, nó có tác dụng rất lớn đến chất lượng công tác quản lý vật liệu của doanh nghiệp Cúng ta không thể nói quản trị doanh nghiệp tốt nếu thiếu công tác kế toán vật liệu Vì vậy một trong những vấn đề quan trọng là để tăng cường và cải thiện công tác quản lý vật liệu cần phải cải tiến và hoàn thiện công tác hạch toán kế toán vật liệu.
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của công tác kế toán vật liệu, được
sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo Phan Thị Lan Hương cùng với các anh, chị phòng kế toán của công ty Hoá Chất Mỏ, Em đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề
tài: “ Tô chức hạch toán vật liệu tại công ty Hoá Chất Mỏ”.
Nội dung chuyên đề gồm 3 phần:
Phần I: Những lý luận cơ bản về hạch toán vật liệu.
Phần II: Thực trạng hạch toán vật liệu tại công ty Hoá Chất Mỏ.
Phần III: Phương hướng hoàn thiện hạch toán vật liệu tại công ty Hoá Chất Mỏ.
Trang 3PHẦN I
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HẠCH TOÁN
VẬT LIỆU.
****************************************
I Ý NGHĨA CỦA VẬT LIỆU ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH
Trong doanh nghiệp sản xuất, vật liệu là đối tượng lao động và là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể sản phẩm Vật liệu chỉ than gia vào một chu kỳ sản xuất nhất định, bị tiêu hao và chuyển một lần toàn bộ vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ
Chi phí về vật liệu chiếm một tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu giá thành sản phẩn và là bộ phận dự trữ quan trọng nhất trong daonh nghiệp Nó không chỉ làm đầu vào choquá trình sản xuất mà còn là bộ phận của hàng tồn kho, được theo dõi, bảo quản và lập dự phòng khi cần thiết
Xuất phát từ những đặc điểm trên, vật liệu có vị trí rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó việc tăng cường công tác quản lý, công tác hạch toán vật liệu, đảm bảo cho việc sử dụng tiét kiệm, hiệu quả nhằm hạ thấp chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm Hơn nữa kiểm soát hiệu quả chi phí và giá thành sản phẩm dịch vụ Đây là việc không thể thiếu để doanh nghiệp đạt mục đích cuối cùng là tăng lợi nhuận
II KHÁI NIỆM, CÁC TIÊU THỨC PHÂN LOẠI VÀ TÍNH GIÁ VẬT LIỆU
1- Khái niệm:
Vật liệu là thành phần chính tạo nên thực thể của thành phẩm Tuỳ theo mức độ tham gia của vật liệu và giá thành được phân chia thành: Vật liệu chính
và vật liệu phụ
Trang 42 Các tiêu thức phân loại vật liệu:
Trong các doanh nghiệp sản xuất, vật liệi gồm rất nhiều loại, thứ khác nhau với qui cách phẩm chất, công dụng kinh tế, mục đích sử dụng klhác nhau
và chúng biến động liên tục hàng ngày Để quản lý chặt chẽ và tổ cức hạch toán chi tiết đến từng thứ, từng loại vật liệu phục vụ cho nhu cầu hạch toán kế toán doanh nghiệp, cần thiết phải phân loại chúng theo những tiêu thức phù hợp Trong thực tế hiện nay, vật liệu thường được phân loại theo các tiêu thức sau:
2.1- Vị trí của vật liệu đối với đối tượng sản xuất kinh doanh.
a, Nguyên liệu, vật liệu chính (bao gồm cả nửa thành phẩm mua ngoài) là
những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất nó cấu thành nên thực thể chính củn phẩm Do đó nguyên liệu, vật liệu chính gắn liền với từng doanh nghiệp, cụ thể: Đối với doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu chính là đối tượng lao động cấu thành thực thể sản phẩm như: Bột gôc, muối trắng, Ni tơ rát amôn, phụ gia sản xuất ANFO, thuốc TNT bột Đối với nửa thành phẩm mua ngoài với mục đích tiếp tục quá trình sản xuất sản phẩm thì cũng được coi là nguyên vật liệu chính
b, Vật liệu phụ: Là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất
không cấu thành thực thể chính của sản phẩm Vật liệu phụ chỉ có tác dụng phụ trong
quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, được sử dụng kết hợp với vật liệu chính để hoàn thiện và nâng cao tính năng, chất lượng sản phẩm hoặc sử dụng
để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành bình thường Nguyên vật liệu phụ gồm: Đồng hồ đo nhiệt độ, ổ trục bơm bằng cao su, bầu lọc nhiên liệu
Trang 5c,Nhiên liệu: Là loại vật liệu khi sử dụng nó có tác dụng cung cấp nhiệt
lượng cho quá trình sản xuất như: Dầu Đi ê zen, dầu HD-40, dầu do, xăng thực chất nhiên liệu cũng là một loại vật liệu nhưng do tính năng lý, hoá học hoàn toàn khác với vật liệu phụ thông thường và có tác dụng cho nền kinh tế quốc dân nên được xếp thành một loại riêng biệt để có chế độ bảo quản và sử dụng thích hợp
d,Phụ tùng thay thế: Là những loại vật tư, sản phẩm dùng để thay thế, sửa
chữa máy móc, thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải Một số phụ tùng như: Bơm nhớt 3607, phụ tùng UOAT, phụ tùng xe 3il Đây là một số phụ tùng phục
vụ cho việc sửa chữa được đảm bảo sẵn sàng cho sản xuất
e,Phế liệu: Là những vật liệu bị loại ra trong quá trình sản xuất kinh
doanh của đơn vị Nhìn chung phế liệu đã mất hết hoặc mất phần lớn giá trị sử dụng ban đầu của chúng
f, Vật liệu khác: Là những thứ vật liệu khác chưa kể đến trong 5 loại vật
liệu kể trên
2.2- Trách nhiệm quản lý vật liệu
Cũng tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý và hạch toán chi tiết cụ thể của từng loại doanh nghiệp mà trong tưngf loại vật liệu nêu trên lại được chi thành từng kho Mỗi thủ kho quản lý một nhóm vật liệu khác nhau để thuận lợi cho việc theo dõi vật liệu và gắn với trách nhiệm của từng thủ kho
Trang 6dụng gía hạch toán để hạch toán tình hình nhập, xuất vật tư Song dù đánh giá theo giá hạch toán vẫn phải đảm bảo việc phản ánh tình hình nhập, xuất vật tư trên các tài khoản, sổ kế toán tổng hợp theo giá trị thực tế
3.1- Phương pháp tính giá vật liệu nhập kho.
a, Tính giá vật liệu nhập kho theo giá thực tế
Trong các doanh nghiệp sản xuất vật liệu thường được nhập từ nhiều nguồn khác nhau mà giá thực tế của chúng trong nhiều trường hợp được xác định cụ thể như sau:
+ Đối với vật liệu mua ngoài:
Chi phí Thu mua phát sinh
Chiết khấumua hàng(Nếu có) + Đối với vật liệu thuê ngoài gia công, chế biến
Chi phí phải trả cho người nhậngia công
+ Đối với vật liệu tự gia công chế biến: Tính theo giá thành sản xuất thực
tế
+Đối với vật liệu nhận góp vốn liên doanh:
Giá thực tế là giá thoả thuận do các
bên xác định
Các chi phí tiếp nhận (Nếu có)
+ Đối với phế liệu: Giá trị thực tế là giá ước tính có thể sử dụng được hay
giá trị thu hồi tối thiểu
Trang 7+Đối với vật liệu được tặng thưởng: Giá thực tế tính theo đơn giá thị
trường tương đương cộng với chi phí liên quan đến việc tiếp nhận
Nói chung phương pháp tính giá vật liệu nhập kho theo giá thực tế được
sử dụng phổ biến ở các doanh nghiệp Giá thực tế của vật liệu được hình thành trên cơ sở các chứng từ hợp lệ chớng minh các khoản chi hợp pháp của doanh nghiệp để tạo ra vật liệu và nó được xác định tuỳ theo từng nguồn nhập Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ hiểu và thuận tiện cho việc hạch toán
b.Tính giá vật liệu nhập kho theo giá hạch toán.
Phương pháp này được áp dụng ở các doanh nghiệp có qui mô lớn, khói lượng, chủng loại vật liệu nhiều, tình hình nhập xuất diễn ra thường xuyên, việc xác định giá thực tế của vật liệu hàng ngày rất khó khăn và ngay cả trong trường hợp có thể xác định được hàng ngày đối với từng lần, từng đợt nhập nhưng quá tốn kém nhiều chi phí, không hiệu quả cho công tác kế toán, có thể sử dụng giá hạch toán để hạch toán tình hình nhập, xuất hàng ngày Giá hạch toán là loại giá
ổ định được sử dụng thống nhất trong doanh nghiệp, trong thời gian dài, có thể
là giá kế hoạch của vật liệu
Như vậy hàng ngày sử dụng giá hạch toán để ghi sổ chi tiết giá trị vật liệu nhập, xuất Cuối cùng phải điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế để có số liệu ghi vào các tài khoản, sổ kế toán tổng hợp, các báo cáo kế toán
Việc điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế được tiến hành như sau:
- Trước hết xác định hệ số giữa giá trị thực tế và giá hạch toán của vật liệu (H)
H = Giá thực tế vật liệu tồn đầu kỳ + Giá thực tế vật liệu nhập trong kỳ
Giá hạch toán vật liệu tồn đầu kỳ + Giá hạch toán vật liệu nhập trong kỳ
- Sau đó tính giá thực tế nhập kho, căn cứ vào giá hạch toán nhập kho và
hệ số giá
Giá thực tế nhập kho = giá hạch toán nhập kho x hệ số giá
Trang 83.2- Tính giá vật liệu xuất kho
Vật liệu được thu mua thường xuyên từ nhiều nguồn khác nhau do vậy giá thành từng đợt nhập kho không hoàn toàn giống nhau Vì thế khi xuất kho, kế toán phải tính được giá thực tế xuất kho cho các nhu cầu, đối tượng sử dụng khác nhau, theo phương pháp tính giá xuất kho đã đăng ký áp dụng và phải đảm bảo tính nhất quán trong niên độ kế toán Tuỳ từng điều kiện của doanh nghiệp
có thể lựa chọn một trong các phương pháp tính giá sau:
a, Phương pháp nhập trước xuất trước:
Đối với phương pháp này trước hết phải xác định được đơn giá thực tế nhập kho của từng lần nhập và giả thiêts số vật liệu nào nhập trước thì xuất trước Sau đó căn cứ vào số lượng xuất kho để tính ra giá thực tế xuất kho theo nguyên tắc: Tính theo đơn giá nhập trước đối với lượng xuất kho thộc lần nhập trước, số còn lại (tổng số xuất kho, số đã xuất thuộc lần nhập trước) được tính theo đơn giá thực tế lần nhập tiếp đó Như vậy giá thực tế của vật liệu tồn cuối
kỳ chính là giá thực tế của số vật liệu nhập kho thuộc các lần sau cùng Phương pháp này thích hợp với giá cả ổn định hoặc có xu hướng giảm
b, Phương pháp nhập sau, xuất trước:
Phương pháp này cũng giả thiết rằng hàng (vật liệu) nào mua sau cùng sẽ được xuất trước tiên sau đó căn cứ số lượng xuất kho tính giá thực tế xuất kho theo nguyên tắc: Tính theo đơn giá của lần nhập sau cùng, số còn lại được tính theo đơn giá thực tế của lần nhập trước đó Như vậy giá trị thực tế của vật liệu tồn kho cuối kỳ lại là giá thực tế vật liệu thuộc các lần nhập trước nhất
c, Phương pháp giá trực tiếp (đích danh).
Phương pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý theo dõi vật liệu theo từng lô hàng hay đơn chiếc Khi xuất kho vật liệu thuộc lô hàng nào thì phải căn
Trang 9cứ vào số lượng xuất kho và đơn giá nhập kho thực tế của lô hàng đó để tính giá thực tế xuất kho.
Nếu doanh nghiệp áp dụng phương pháp này thì việc tính giá trị thực tế của vật liệu xuất kho tương đói sát với giá thị trường, thuận lợi cho công tác tính giá thành sản phẩm Tuy vậy nếu sử dụng phương pháp này doanh nghiệp phải theo dõi chi tiết theo từng lô hàng, theo từng lần nhập và trên thực tế rất khó khăn mà không phải doanh nghiệp nào cũng làm được
d, Phương pháp giá đơn vị bình quân gia quyền (cả kỳ dự trữ)
Theo phương pháp này, giá thực tế vật liệu xuất kho cũng được căn cứ vào số lượng xuất kho trong kỳ và đơn giá thực tế bình quân để tính
Giá thực tế xuất kho = Số lượng vật liệu xuất kho x đơn giá thực tế bình quân
Đơn giá
thực tế
Giá thực tế vật liệu tồn đầu kỳ + Giá thực tế vật liệu nhập trong kỳ
Số lượng vật liệu tồn đầu kỳ + Số lượng vật liệu nhập trong kỳPhương pháp này tuy đơn giản, dễ làm nhưng độ chính xác không cao
e, Phương pháp giá hạch toán.
Hạch toán vật liệu xuất kho theo phương pháp này cũng như hạch toán vật liệu nhập kho Giá hạch toán có thể lấy theo giá kế hoạch hoặc giá cuói kỳ trước
và được quy định thống nhất trong một kỳ hạch toán Giá hạch toán không có ý nghĩa trong việc thanh toán và hạch toán tổng hợp về nguyên vật liệu Khi sử dụng giá hạch toán, hàng ngày kế toán ghi sổ về xuất vật liệu theo giá hạch toán
Giá hạch toán vật liệu xuất = Số lượng vật liệu xuất x Đơn giá hạch toán
Trang 10Đến cuối kỳ hạch toán, kế toán tiến hành điều chỉnh giá hạch toán thành giá thực tế theo hai bước sau:
- Xác định hệ số giá theo từngloại vật liệu (H)
H = Giá thực tế vật liệu tồn đầu kỳ + Giá thực tế vật liệu nhập trong kỳ
Giá hạch toán vật liệu tồn đầu kỳ + Giá hạch toán vật liệu nhập trong kỳ
- Xác định giá thực tế vật liệu xuất trong kỳ:
Giá thực tế vật liệu xuất trong kỳ = Giá hạch toán vật liệu xuất trong kỳ x H
III TỔ CHỨC HẠCH TOÁN VẬT LIỆU
1 Hạch toán chi tiết vật liệu
Vật liệu là một trong những đối tượng kế toán và thường có nhiều chủng loại khác nhau, Nếu thiếu một loại nào đó thì có thể gây ra ngừng sản xuất trong doanh nghiệp Chính vì vậy tổ chức hạch toán chi tiết mọi vật liệu không chỉ về mặt giá trị mà cả hiện vật, không phải theo từng kho mà phải chi tiết theo từng loại, nhóm, thứ và phải được tiến hành đồng thời cả ở kho và phòng kế toán trên cùng cơ sở chứng từ nhập xuất kho Vận dụng phương pháp kế toán cho phù hợp nhằm tăng cường công tác quản lý tài sản nói chung, công tác quản lý vật liệu nói riêng
1.1- Chứng từ sử dụng:
Theo chế độ chứng từ kế toán quy định ban hành QĐ
1141/TC/QĐ/CĐ-KT ngày 01.01.1995 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính, các chứng từ về vật liệu bao gồm:
- Phiếu nhập kho (mẫu 01-VT)Phiếu xuất kho (mẫu 02-VT)
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (mẫu 03-VT)
- Biên bản kiểm kê vật tư, sản phẩm hàng hoá (mẫu 08-VT)
- Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho (mẫu 02-BH)
Trang 11- Hoá đơn cước phí vận chuyển (mẫu 03-BH)
Ngoài các chứng từ bắt buộc sử dụng thống nhất theo quy định của nhà nước, các doanh nghiệp có thể sử dụng thêm các chứng từ kế toán hướng dẫn như:
- Phiếu xuất vật tư theo hạn mức (mẫu 04-VT)
- Biên bản kiểm nghiệm vật tư (mẫu 05-VT)
- Phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ (mâuc 07-VT)
Tuỳ thuộc vào đặc điểm tìnhhình cụ thể của từng doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực hoạt động, thành phần kinh tế, tình hình sở hữu khác nhau
Đối với chứng từ kế toán thống nhất bắt buộc phải lập kịp thời, đầy đủ theo đúng quy định về mẫu biểu, nội dung, phương pháp lập Người lập chứng
từ phải chịu trách nhiệm về tính hợp pháp, hợp lý của các chứng từ về các nghiệp vụ kinh tế – tài chính phát sinh
Mọi chứng từ kế toán vật liệu phải được tổ chức luân chuyển theo trình tự
và thời gian hợp lý do kế toán trưởng quy định phục vụ việc phản ánh, ghi chép
và tổng hợp số liệu kịp thời của các cán bộ, cá nhân có liên quan
1.2- Sổ kế toán chi tiết vật liệu.
Tuỳ thuộc vào phương pháp ké toán chi tiết áp dụng trong doanh nghiệp
mà các sổ (thẻ) kế toán chi tiết sau được sử dụng:
- Sổ (thẻ) kho (mẫu 06-VT)
- Sổ (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu
- Sổ đối chiếu luân chuyển
Trang 12Các sổ kế toán chi tiết nêu trên, còn có thể mở thêm các bảng kê nhập, bảng kê xuất, bảng kê luỹ kế tổng hợp nhập, xuất, tồn vật liệu, phục vụ cho việc ghi sổ kế toán chi tiết được đơn giản nhanh chóng, kịp thời và có hiệu quả.
1.3- Các phương pháp hạch toán chi tiết vật liệu.
Hạch toán chi tiết vật liệu đòi hỏi phải phản ánh cả về giá trị, số lượng, chất lượng của từng thứ vật liệu theo từng kho và từng người phụ trách vật chất
Trong thực tế công tác kế toán hiện nay ở nước ta nói chung và ở các doanh nghiệp nói riêng đang áp dụng 3 phương pháp hạch toán chi tiết vật liệu sau:
a, Phương pháp thẻ song song:
Theo phương pháp này phản ánh tình hình hiện có và sự biến động vật liệu ở kho phải mở thẻ kho ghi chép về mặt số lượng Còn ở phòng kế toán phải
mở thẻ kế toán chi tiết vật liệu để ghi chép về mặt số lượng và giá trị
- Tại kho: Hàng ngày căn cứ vào chứng từ nhập kho, xuất kho vật liệu Thẻ kho dùng thẻ để ghi chép phản ánh tình hình nhập xuất, tồn kho hàng ngày của từng thứ, loại vật tư, loại vật liệu theo chỉ tiêu số lượng
Thẻ kho được mở cho từng danh điểm vật liệu Thủ kho thường xuyên đối chiếu số tồn kho ghi trên thẻ kho và số liệu thực tế còn lại kho hàng ngày hoặc
Trang 13định kỳ 2 đến 5 ngày Nếu có chênh lệch phải báo ngay để giải quyết Sau khi ghi xong thẻ kho, thủ kho chuyển giao các chứng từ xuất vật liệu cho kế toán vật liệu.
- Tại phòng kế toán: Kế toán sử dụng sổ (thẻ) chi tiết cho từng danh điểm vật liệu tương ứng với thẻ kho Nội dung của sổ chi tiết vật liệu tương tự như thẻ kho nhưng chỉ khác là nó theo dõi cả về mặt gía trị và hiện vật Hàng ngày hoặc định kỳ 3 đến 5 ngày, sau khi nhận được các chứng từ ở kho, kế toán phải kiểm tra và hoàn chỉnh chứng từ ghi đơn giá tính thành tiền rồi ghi vào sổ (thẻ) vật liệu có liên quan Cuối tháng kế toán cộng sổ tính ra số tồn kho nhập xuất của từng thứ vật liệu rồi đối chiếu với thẻ kho Trên cơ sở đó lập bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn kho của vật liệu về mặt giá trị từng loại vật liệu
Sơ đồ 1: Sơ đồ kế toán vật liệu theo phương pháp thẻ song song:
Ghi chú: Ghi hàng ngày
Ghi cuối thángGhi đối chiếu, kiểm traPhương pháp này có ưu điểm là việc ghi chép sổ sách đơn giản dễ kiểm tra, đối chiếu số liệu, không đòi hỏi trình độ nghiệp vụ cao và quản lý chặt chẽ
sự biến động và số liệu của từng thứ vật liệu theo số lượng và giá trị của chúng Tuy nhiên nó cũng có nhược điểm là việc ghi chép còn trùng lặp giữa kho và
Phiếu xuất kho
Thẻ Thẻ hoặc sổ chi tiết vật Bảng tổng hợp xuất, nhập, tồn
Trang 14phòng kế toán, khối lượng công việc ghi chép lớn Nếu chủng loại vật tư nhiều, việc nhập xuất vật liệu thường xuyên mà doanh nghiệp áp dụng phương pháp thẻ song song thì công việc sẽ cồng kềnh dồn vào cuối tháng làm hạn chế
tính kiểm tra kịp thời của kế toán
Phương pháp thẻ song song áp dụng thích hợp trong các doanh nghiệp có
ít chủng loại vật liệu, khối lượng nghiệp vụ (chứng từ) nhập xuất ít không thường xuyên và trình độ nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ kế toán còn hạn chế
b, Phương pháp sổ đốc chiếu luân chuyển:
Phương pháp sổ đốc chiếu luân chuyển được hình thành trên cơ sở cải tiến của một bước phương pháp thẻ song song
- Tại kho: Thủ kho dùng thẻ kho để ghi chép, phản ánh hàng ngày tình hình nhập, xuất, tồn kho của từng vật liệu giống phương pháp thẻ song song, sau
đó chuyển giao chứng từ cho phòng kế toán để tính giá trị vật liệu theo giá hạch toán
- Tại phòng kế toán: Sử dụng sổ đối chiếu luân chuyển để ghi chép phản ánh tổng hợp vật liệu phản ánh luân chuyển trong tháng cũng như số tồn cuối tháng của từng danh điểm vật tư Định kỳ sau khi nhận được các chứng từ do thủ kho giao, kế toán sẽ tiến hành tính chính xác của việc ghi chép sau đó sẽ lập bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn vật liệu theo từng danh điểm vật liệu và căn cứ vào bảng này để ghi vào sổ đối chiếu luân chuyển Cuối tháng tính ra số tiền kho bằng chỉ tiêu số lượng và giá trị Số đối chiếu luân chuyển được mở cho cả năm Mỗi tháng ghi một lần vào cuối tháng
Sơ đồ 2: Kế toán chi tiết vật liệu theo phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển:
Trang 15Ghi chú:
Ghi hàng ngàyGhi cuối thángĐối chiếu, kiểm tra
c, Phương pháp sổ số dư:
Phương pháp này có đặc diểm nổi bật là sự kết hợp chặt chẽ việc hạch toán nghiệp vụ của thủ kho với việc ghi chép kế toán và trên cơ sở hạch toán nghiệp vụ của thủ kho với việc ghi chép kế toán và tên cơ sở đó ở kho chỉ hạch toán giá trị xoã bỏ được việc ghi chép song song trùng hợp
- Tại kho: Thủ kho vẫn dùng thẻ kho để ghi chép hàng ngày tình hình nhập, xuất, tồn kho vật liẹu giống như các phương pháp trên Hàng ngày hoặc định kỳ từ 3 đến 5 ngày (theo quy định thống nhất của doanh nghiệp) sau khi ghi thẻ kho xong thủ kho sẽ giao chứng từ cho kế toán vật liệu kèm theo phiếu giao nhận chứng từ Cuối mỗi tháng sau khi kế toán giao sổ dư thì thủ kho có nhiệm
vụ ghi chép số tồn kho cuối tháng của số vật liệu theo từng danh điểm vào sổ dư rồi chuyển cho kế toán vật liệu
- Tại Phòng kế toán: Định kỳ nhân viên kế toán phải xuống kho để hướng dẫn và kiểm tra việc ghi chép thẻ kho của thủ kho Sau khi nhận được chứng từ
do thủ kho giao, kế toán kiểm tra phân loại chứng từ đồng thời căn cứ vào giá trị
Trang 16hạch toán của từng loại vật liêụ để tính ra tổng số tiền và ghi vào cột số tiền trên phiếu giao nhận chứng từ Cuối tháng sau khi giao sổ số dư cho thủ kho ghi sổ, ghi vào cột số lượng, kế toán sẽ căn cứ vào giá hạch toán để tính thành tiền sau
đó đối chiếu với số lượng trên bảng luỹ kế nhập, xuất, tồn theo vật liệu mở cho từng kho, mỗi kho 1 tờ
Sơ đồ 3: Sơ đồ kế toán vật liệu theo phương pháp sổ số dư:
Ghi chú:
Ghi hàng ngàyGhi cuối thángĐối chiếu, kiểm traPhương pháp kiểm tra sổ số dư có ưu điểm hơn so với 2 phương pháp trên, nó giảm được số lượt ghi sổ kế toán Do đó kế toán chỉ thoe dõi chỉ tiêu giá trị, còn ở kho chỉ theo dõi về mặt hiện vật Công việc tiến hành đều trong tháng tạo điều kiện cung cấp kịp thời tài liệu kế toán phục vụ cho công tác quản lý và lnãh đạo ở doanh nghiệp Tuy nhiên việc theo dõi chi tiết từng thứ, loại vật liệu
có thể thực hiện trên cơ sở số liệu của thẻ kho, trường hợp có sai sót, nhầm lẫn thì việc đối chiếu kiểm tra phát hiện tương đối phức tạp
nhập
Thẻ kho
Phiếu xuất kho
Kế toán tổng hợp Bảng luỹ kế nhập, xuất, tồn kho
Sổ số dư
Phiếu giao nhận chứng từ
Trang 17Phương pháp này áp dụng thích hợp đối với doanh nghiệp có nhiều chủng loại vật liệu, việc nhập xuất vật liệu diễn ra thường xuyên ngoài ra còn đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng được sổ doanh điểm vật liệu và xây dựng được giá hạch toán, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ kế toán vững vàng, thủ kho có tinh thần trách nhiệm cao.
2 Hạch toán tổng hợp vật liệu:
Vật liệu là tài sản lưu động, thuộc nhóm hàng tồn kho của doanh nghiệp Theo chế độ kế toán quy định hiện hành (QĐ 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 01/ 01/1995) trong doanh nghiệp chỉ được 1 trong 2 phương pháp hạch toán hàng tồn kho: phương pháp kê khai thường xuyên và phương pháp kiểm kê định kỳ
2.1- Hạch toán tổng hợp vật liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên
Phương pháp kê khai thường xuyên hàng tồn kho là phương pháp ghi chép, phản ánh thường xuyên, liên tục và có hệ thống tình hình nhập, xuất, tồn kho các loại vật liệu trên các tài khoản và sổ kế toán tổng hợp trên cơ sở chứng
từ nhập xuất
Cuối kỳ kế toán căn cứ vào số liệu kiểm kê thực tế vật liệu tồn kho để so sánh, đối chiếu với số liệu vật liệu tồn kho trên sổ kế toán Về nguyên tắc số tồn kho thực tế hiện có tại kho phải luôn khớp đúng với số tồn kho trên sổ sách Nếu
có chênh lệch phải tìm nguyên nhân và giải pháp xử lý kịp thời, đồng thời điều chỉnh số liệu trên sổ sách khớp với số liệu thực tế
Phương pháp này thường áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất hoặc doanh nghiệp kinh doanh thương mại, kinh doanh các mặt hàng sản xuất khác nhau có giá trị lớn kỹ thuật cao
2.1.1- Tài khoản kế toán sử dụng:
Trang 18Để theo dõi khái quát tính hình nhập xuất, tồn kho vật liệu kế toán sử dụng các tài khoản chủ yếu sau:
* Tài khoản 152 (Nguyên vật liệu)
Tài khoản này dùng để phản ánh số hiện có và tình hình tăng giảm các loại nguyên vật liệu theo giá thực tế
- Bên nợ:
+ Trị giá thực tế nguyên liệu, vật liệu nhập kho do mua ngoài tự chế, thuê ngoài gia công, nhận góp vốn liên doanh, được cấp hoặc từ các nguồn khác
+ Trị giá nguyên, vật liệu thừa phát hiện khi kiểm kê
+ Kết chuyển giá trị thực tế nguyên vật liệu tồn cuối kỳ (theo phương pháp kiểm kê định kỳ)
- Bên có:
+ Trị giá vốn thực tế nguyên liệu, vật liệu xuất kho để sản xuất, để bán, thuê ngoài gia công chế biến hoặc góp vốn liên doanh
+ Chiết khấu mua hàng, giảm giá và hàng mua bị trả lại
+ Các nghiệp vụ làm giảm nguyên liệu, vật liệu
+ Kết chuyển trị giá thực tế nguyên liệu, vật liệu tồn kho đầu kỳ (theo phương pháp kiểm kê định kỳ)
- Số dư bên nợ: Trị giá thực tế nguyên vật liệu tồn kho
Tài khoản 152 có thể được mở thành các tài khoản cấp 2 để kế toán chi tiết theo dõi từng nguyên vạt liệu phù hợp với cách phân loại theo nội dung kinh
tế và yêu cầu kế toán, bao gồm:
TK 1521: Nguyên vật liệu chính
TK 1522: Vật liệu phụ
Trang 19* Tài khoản 151 (Hàng mua đang đi đường).
Tài khoản này phản ánh giá trị thực tế hàng mua đã có hoá đơn về nhưng cuối tháng vật liệu chưa vèe nhập kho doanh nghiệp và đã nhập kho nhưng chưa làm thủ tục kiểm nghiệm
- Bên nợ: Phản ánh giá trị hàng đi đường tăng
- Bên có: Phản ánh giá trị hàng đi đường kỳ trước đã nhập kho hay chuyển giao cho các bộ phận sử dụng hoặc giao cho khách hàng
- Số dư bên nợ: Giá trị hàng đi đường (đầu và cuối kỳ)
Ngoài các tài khoản trên ta thấy kế toán tổng hợp vật liệu còn sử dụng nhiều tài khoản liên quan khác như: TK 111, 112, 133, 331
a, Hạch toán tổng hợp các trường hợp tăng vật liệu.
Vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất tăng do nhiều nguồn khác nhau: tăng do mua ngoài, do tự chế biến hoặc do thuê ngoài gia công chế biến, tăng do nhận góp vốn của các đơn vị, cá nhân khác, tăng do vật liệu xuất dùng cho sản xuất không hết lại nhập kho Trong mọi trường hợp doanh nghiệp phải xây dựng đầy đủ thủ tục kiểm nghiệm nhập kho, lập các chứng từ theo đúng quy định Trên cơ sở đó các chứng từ nhập, hoá đơn bán hàng và các chứng từ hoá đơn khác kế toán phản ánh kịp thời các nội dung cấu thành nên giá trị thực tế
Trang 20của vật liệu nhập kho và các tài khoản, sổ kế toán tổng hợp, đồng thời phản ánh tình hình thanh toán với người bán và các đối tượng khác một cách kịp thời Cuối tháng tiến hành tổng hợp số liệu để kiểm tra, đối chiếu với số liệu kế toán chi tiết.
b, Hạch toán tổng hợp các trường hợp giảm vật liệu:
Trong các doanh nghiệp sản xuất vật liệu giảm chủ yếu do các nghiệp vụ xuất kho dùng cho sản xuất, chế tạo sản phẩm cho nhu cầu phục vụ quản lý doanh nghiệp hoặc để góp vốn liên doanh với các đơn vị khác, nhượng bán lại hoặc một số nhu cầu khác Cũng như các nghiệp vụ nhập, các nghiệp vụ xuất kho cũng phải được lập như các chứng từ đầy đủ đúng quy định Trên cơ sở các chứng từ xuất kho kế toán tiến hành phân loại theo các đối tượng sử dụng và tính ra giá thực tế xuất kho để ghi chép phản ánh lên các tài khoản sổ kế toán tổng hợp Cuối tháng cũng phải tổng hợp số liệu để đối chiếu, kiểm tra với số liệu kế toán chi tiết
Tuy vậy vật liệu là hàng tồn kho thuộc tài sản lưu động của doanh nghiệp nhưng ở đay có sự khác nhau về đặc điểm khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, do vậy phương pháp kế toán tổng hợp xuất dùng vật liệu ở các doanh nghiệp có sự khác nhau nhất định
Sơ đồ 4: Kế toán tổng hợp vật liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên
SDĐK: xxx
Nhập kho hàng đang đi Xuất dùng trực tiếp cho sản xuất
đường kỳ trước chế tạo sản phẩm
Trang 21TK 627, 641, 642, 241 TK 111, 112 Nhập kho vật liệu do mua ngoài Xuất dùng cho quản lý, phục vụ
133 Sx, bán hàng, QLDN, XDCB Thuế VAT
gia công chế biến
TK 154
Nhận góp vốn tự chế biến hay
thuê ngoài gia công chế biến
TK128, 222 Xuất góp vốn liên doanh
TK 128, 222
Nhận lại góp vốn liên
Trang 22TK 338 (3381) Phát hiện thiếu khi kiểm
kê chờ xử lýPhát hiện thừa khi
kiểm kê chờ xử lý
TK 412
giá lạiChênh lệch tăng do
đánh giá lại
SDCK: xxx
2.2- Hạch toán tổng hợp theo phương páhp kiểm kê định kỳ:
Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp không theo dõi, phản ánh thường xuyên, liên tục tình hình nhập, xuất vật liệu Giá trị của vật tư mua vào
và nhập kho trong kỳ được theo dõi, phản ánh ở một tài khoản riêng TK 611
“mua hàng”; còn TK 152 “nguyên liệu, vật liệu” chỉ dùng để phản ánh giá trị nguyên vật liệu tồn kho lúc đầu và cuối kỳ Hơn nữa giá trị của nguyên vật liệu tồn kho không căn cứ vào số liệu trên các tài khoản, sổ kế toán để tính mà lại căn cứ vào kết quả kiểm kê Tiếp đó là giá trị hàng xuất kho cũng căn cứ trực tiếp vào các chứng từ xuất kho để tổng hợp, phân loại theo các đối tượng sử dụng rồi ghi sổ mà lại căn cứ vào kết quả kiểm kê và giá trị vật tư, hàng hoá mua vào (nhập kho trong kỳ) tính theo công thức sau:
Giá trị nhập kho = Trị giá tồn đầu kỳ + Trị giá nhập trong kỳ – Trị giá xuất cuối kỳ
Trang 23Do đó giá trị xuất kho là con số tổng hợp, không thể hiểu rõ được giá trị vật tư, hàng xuất kho cho từng đối tượng, từng nhu cầu là bao nhiêu.
Phương pháp này phản ánh tình hình thanh toán với người bán các tài khoản liên quan đến đối tượng sử dụng vật liệu như phương pháp kê khai thường xuyên Phương pháp kiểm kê định kỳ chỉ thích hợp với những doanh nghiệp có nhiều chủng loại vật tư quy cách mẫu rất khác nhau, giá trị thấp và thường xuyên xuất dùng, xuất bán
Có thể khái quát phương pháp kế toán các nghiệp vụ chủ yếu về vật liệu theo phương pháp kiểm kê định kỳ trên sơ đồ sau:
Sơ đồ 5: Sơ đồ kế toán tổng hợp vật liệu theo phương pháp kiểm kê định kỳ:
TK 511 TK 611(6111) Mua hàng TK 152
Kết chuyển giá trị vật liệu tồn Kết chuyển giá trị vật liệu
lúc đầu kỳ tồn lúc cuối kỳ
Thuế nhập khẩu Triết khấu hàng mua được hưởng
TK 133 giảm giá, hàng mua trả lại
Thuế VAT
đầu vào
Nhận góp vốn liên doanh
Trang 24Cấp phát, tặng thưởng Cuối kỳ kết chuyển số xuất
dùng cho sản xuất kinh doanh
Giá trị vật liệu mua vào
Trả tiền ngay Xuất bán
để đơn giản và giảm bớt khối lượng ghi sổ cái, đơn vị có thể mở các sổ nhật ký
Trang 25đặc biệt để ghi chép các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến đối tượng kế toán đó Đối với các đơn vị có phát sinh lớn các nghiệp vụ về vật liệu thì có thể mở nhật
ký mua hàng, nhật ký chi tiền Số liệu trên sổ nhật ký chung và nhật ký đặc biệt được dùng để ghi sổ cái TK 152, 158, 151
Sơ đồ 6: Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức nhật ký chung:
Ghi chú:
Ghi hàng ngàyGhi cuối tháng hoặc định kỳQuan hệ đối chiếu
* Hình thức kế toán nhật ký sổ cái:
Đặc trưng cơ bản của hình thức nhật ký sổ cái là các nghiệp vụ về vật liệu được kết hợp ghi theo trình tự thời gian và đinh khoản kế toán trên cùng một quyển sổ kế toán tổng hợp duy nhất là nhật ký sổ cái
Sơ đồ 7: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức nhật ký sổ cái:
Trang 26Ghi chú:
Ghi hàng ngàyGhi cuối tháng hoặc định kỳQuan hệ đối chiếu
* Hình thức kế toán chứng từ ghi sổ:
Chứng từ ghi sổ do kế toán lập tren cơ sở từng chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp chứng từ gốc cùng loại, có cùng nội dung kinh tế
Hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ về vật liệu kế toán lập chứng từ ghi
sổ, căn cứ vào chứng từ ghi sổ để ghi vào sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, sau đó được dùng để ghi vào sổ cái, các chứng từ gốc sau khi làm căn cứ lập chứng từ ghi sổ được dùng để ghi vào sổ, thẻ kế toán chi tiết
Chứng từ gốc(Phiếu nhập, xuất) Sổ, thẻ kế toánchi tiết
Bảng tổg hợpchứng từ gốc
Nhật ký – Sổ cái
Bảng tổng hợp chi tiết
Trang 27Cuối tháng phải khoá sổ tính ra tổng số tiền của các nghiệp vụ về vật liệu phát sinh trong tháng trên sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, tính ra tổng số phát sinh
nợ, tổng số phát sinh có và dư của tài khoản 152 trên sổ cái Căn cứ vào sổ cái lập bảng cân đối số phát sinh
Sơ đồ 8: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức chứng từ ghi sổ:
Ghi chú:
Ghi hàng ngàyGhi cuối tháng hoặc định kỳQuan hệ đối chiếu
Chứng từ gốc Số, thẻ kế toán chi tiết vật
liệu
Bảng tổng hợpChứng từ gốc
Sổ đăng ký
Chứng từ ghi
sổ
Chứng từghi sổ
Sổ cái Bảng tông hợp chi tiết
Trang 28* Hình thức kế toán nhật ký chứng từ:
Đây là hình thức kết hợp chặt chẽ việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình từ thơì gian với hệ thống hoá các nghiệp vụ theo nội dung kinh tế
Việc ghi chép được tiến hành trên các sổ tổng hợp sau: Nhật ký chứng từ, bảng kê, sổ cái, bảng phân bổ, sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết Hình thức này được phân định rõ ràng đối với các nghiệp vụ nhập, xuất vật liệu Cụ thể:
- Đối với các nghiệp vụ nhập, kế toán sử dụng sổ chi tiết thanh toán với người bán để ghi chép hàng ngày, cuối tháng cộng các sổ chi tiết và ghi vào nhật ký chứng từ số 5
- Đối với các nghiệp vụ xuất vật liệu, kế toán sử dụng bảng phân bổ số2, bảng kê số 3, bảng kê số 4, bảng kê số 5, bảng kê số 6, nhật ký chứng
Thẻ, sổ kế toánChi tiết
Bảng kê Nhật ký chứng
Trang 29Ghi chú:
Ghi hàng ngàyGhi cuối tháng Quan hệ đối chiếu
3- Phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động (vật liệu).
Như chúng ta đã biết, nguyên vật liệu là đối tượng lao động, lượng tiền ứng trước để thoả mãn nhu cầu về đối tượng lao động gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp hay nói dưới góc độ tài sản thì vốn lưu động được sử dụng để chỉ những tài sản lưu động Do đó nguyên vật liệu thuộc vốn lưu động (tài sản lưu động)
Mặt khác, nguyên liệu chiếm tỷ trọng khá ,ớn trong giá thành sản phẩm Giảm chi phí vật liệu sẽ làm tốc độ vốn lưu động quay nhanh hơn và là biện pháp quan trọng để hạ thấp giá thành sản phẩm Đồng thời việc cung ứng vật liệu kịp thời, đầy đủ, đồng bộ đảm bảo chất lượng của nguyên vạt liệu là điều kiện quyết định để doanh nghiệp liên tục sản xuất, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Từ đó, kế toán phải thường xuyên tiến hành phân tích hệ số đảm bảo nguyên vật liệu, tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch sử dụng nguyên vật liệu, mức tiêu hao nguyên vật liệu của một sản phẩm để đề ra các biện pháp tiết kiệm nguyên vật liệu
Hệ số bảo Σ Nguyên vật liệu tồn đầu kỳ + Σ Nguyên vật liệu nhập trong kỳđảm nguyên =
vật liệu Σ Nguyên vật liệu sử dụng trong kỳ
Trang 30+ Nếu chỉ tiêu này băng 1: Thì chứng tỏ doanh nghiệp cung ứng vật liệu phù hợp với mức sử dụng vật liệu Nên doanh nghiệp đã tiết kiệm được sự lãng phí về vốn lưu động.
+ Nếu chỉ tiêu này lớn hơn 1: Thì mức ứ đọng nguyên vật liệu của doanh nghiệp càng lớn, do đó gây ra sự lãng phí về vốn
+ Nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 1: Thì mức cung ứng không đảm bảo mức sử dụng, nên làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất
Tỷ lệ hoàn thành Σ Mức nguyên vật liệu sử dụng thực tế trong kỳ
Nguyên vật liệu Σ Mức nguyên vật liệu theo kế hoạch
Trang 31PHẦN II
THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN VẬT LIỆU
TẠI CÔNG TY HOÁ CHẤT - MỎ
I- SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY HOÁ CHẤT - MỎ
Nghành hoá chất mỏ ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời của nghành công nghiệp than Từ một đơn vị cung cấp thuộc Bộ công nghiệp nặng quản lý trực tiếp, dần dần cùng với nhịp độ sản xuất và phát triển mở rộng, vật liệu nổ công nghiệp không chỉ phục vụ cho nghành than mà cả nghành điện và một số nghành khacs có nhu cầu được phép sử dụng vật liệu nổ, hoạt động của các nghành lúc đàu chỉ là kho chứa vật liệu nổ đặt tại Hữu Lũng (Lạng Sơn) để tiếp nhận vật liệu nổ công nghiệp của một số nước Đông Âu, Ba Lan, Liên Xô cũ và Trung Quốc để phục vụ cho nghành than và một số nghành được phép sử dụng
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng nhu cầu vật liệu nổ công nghiệp nhằm phục vụ công việc công cuộc khôi phục và xây dựng đất nước ngỳa một tăng
Trang 32Năm 1976 ngành hoá chất mỏ được tổ chức lại, cơ sở vật chất được tăng cường để đưa vật liệu nổ đến gần nơi sử dụng Xí nghiệp hoá chất mỏ thuộc công ty xuất nhập khẩu than và cung ứng vật tư (COA LIMEX) được thành lập
Từ đó liên tiếp được thành lập các chi nhánh hoá chất mỏ như: tại Lạng Sơn, Quảng Ninh, Ninh Bình Tiếp nhận và sản xuất vật liệu nổ cho các đơn vị trong
và ngoài nước được phép sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh kế quốc dân
Trước yêu cầu quản lý và sử dụng vật liệu nổ ngày càng cao, ngày 1/4/1945 được sự đồng ý của Chính phủ xí nghiệp hoá chất mỏ thuộc công ty xuất nhập khẩu than và cung ứng vật tư COA LIMEX tách ra, thành lập công ty hoá chất mỏ trực thuộc tổng công ty than Việt Nam theo quyết định số 204 NL/ TCCB – LĐ ngày 1/4/1995 của Bộ năng lượng (nay thuộc Bộ công nghiệp) Bộ máy của xí nghiệp hoá chất mỏ trước đây được tổ chức, sắp xếp lại các chi nhánh hoá chất mỏ trở thành các xí nghiệp Sự kiện này đánh dấu bước trưởng thành của nghành hoá chất mỏ, đồng thời cũng thể hiện sự chăm lo của nhà nước
và lãnh đạo trong công ty than Việt Nam trong viẹec thành lập nghành hoá chất
mỏ đảm bảo nhu cầu bức xúc về mặt vật liệu nổ cho sự phát triển của nghành than nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế đất nước nói chung Công ty có trụ sở chinh đặt tại số 27 Phường Phương Liệt quận Thanh Xuân Hà Nội
II QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT CỦA CÔNG TY
Công ty hoá chất mỏ sản xuất sản phẩm khác nhau chưng sản phẩm chính chủ yếu là thuốc nổ: bao gồm 4 laọi chính: thuốc nổ an toàn hầm lò AHI, thuốc
nổ ZECNO, ANFO chịu nước
Công nghệ sản xuất của công ty hoá chất mỏ theo đúng quy trình khép kín liên hoà, thống nhất từ khâu đưa nguyên liệu vào sản xuất đến khi đưa ra sản phẩm Nguyên liệu sau khi định lượng một cách chính xác sẽ đưa vào máy trộn các phụ gia phù hợp với từng loại thuốc cũng được định lượng, tuỳ theo loại
Trang 33thuốc nổ phụ gia mà phải xấy hoặc nghiền Nguyên vật liệu và các chất phụ gia khác được đưa vào trộn sau một thời gian nhất định, cán bộ kỹ thuật kiểm định
đã đạt độ đồng đều, được đem ra định lượng Bộ phận đóng gói sẽ căn cứ vào định lượng sau khi hoàn thành đóng gói sản phẩm sẽ được nhập kho Quy trình sản xuất thuốc nổ được tổng quát qua sơ đồ sau:
Sơ đồ: Sơ đồ khái quát quy trình sản xuất thuốc nổ:
III- TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ TẠI CÔNG TY HOÁ CHẤT MỎ.
Công ty Hoá chất mỏ là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc tổng công
ty than Việt Nam hiện tại coong ty có 10 đơn vị thành viên với các chi nhánh hoạt động trải dài trên khắp cả nước với các chưcs năng và nhiệm vụ khác nhau nhằm phục vụ cho nhu cầu sản xuất, tàng trữ và cung ứng vật liệu nổ theo yêu cầu của một số nghành nghề trong nền kinh tế quốc dân Công ty và các xí
Trang 34nghiệp trực thuộc có mối quan hệ mật thiết với nhau về lợi ích kinh tế và nhiệm
vụ sản xuất kinh doanh
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty theo mô hình trực tuyến tham mưu, do đó có sự thống nhất cao trong công việc, tách bạch rõ ràng các trách nhiệm
Các xí nghiệp thành viên của công ty được phân thành 3 loại chính sau:
- Các xí nghiệp cung ứng vật liệu nổ:
+ Xí nghiệp Hoá Chất mỏ Quảng Ninh
+ Xí nghiệp Hoá Chất mỏ Ninh Bình
+ Xí nghiệp Hoá Chất mỏ Thái Bình
+ Xí nghiệp Hoá Chất mỏ Đà Nẵng
+ Xí nghiệp Hoá Chất mỏ Sơn La
+ Xí nghiệp Hoá Chất mỏ Bắc Thái
+ Xí nghiệp Hoá Chất mỏ Bà Rịa Vũng Tàu
+ Xí nghiệp Hoá chất mỏ Gialai
+ Xí nghiệp Hoá chất mỏ Khánh Hoà
+ Xí nghiệp Hoá chất mỏ Bắc Cạn
+ Xí nghiệp Hoá chất mỏ Thái Bưởi
+ Xí nghiệp Hoá chất mỏ Quảng Ngãi
+ Xí nghiệp Hoá chất mỏ Hà Giang
- Xí nghiệp nghiên cứu khoa học
+ Xí nghiệp Hoá chất mỏ Trung tâm VLN
- Các xí nghiệp vận tải:
Trang 35+ Xí nghiệp vận tải sông biển Hải Phòng
+ Xí nghiệp vận tải thuỷ bộ Bắc Ninh
- Các xí nghiệp dịch vụ khác:
+ Xí nghiệp sản xuất và cung ứng vật tư Hà Nội
Công ty Hoá Chất mỏ hoạt động theo luật doanh nghiệp Việt Nam và chịu
sự quản lý của tổng công ty than Việt Nam
Công ty Hoá Chất mỏ có 1643 cán bộ công nhân viên Công ty có 9 phòng ban với các chức năng và nhiệm vụ khác nhau:
- Giám đốc: Là người đứng đầu công ty, chịu trách nhiệm trước cư quan nhà nước có thẩm quyền trước pháp luật, trước tập thể cán bộ công nhân viên về mọi mặt hoạt động của công ty Giám đốc công ty đảm bảo sự chỉ huy điều hành thống nhất có hiệu quả cho công ty Giám đốc công ty đảm bảo sự chỉ huy điều hành thống nhất có hiệu quả cho công ty Giám đốc công ty do Hội đồng quản trị của tổng công ty than Việt Nam bầu ra
Tham mưu và trợ lý giúp cho giám đốc là 4 phó giám đốc:
* Nhiệm vụ của các phòng ban:
Trang 36- Văn phòng công ty: Có chức năng thực hiện nhiệm vụ công tác đối nội, đối ngoại, tiếp khách trong và ngoài nước, tổ chức hội nghị dự thảo với các đơn
vị thành viên của côg ty
- Phòng tổ chức nhân sự: Cùng với giám đốc tổ chức sáp xếp quản lý lao động của công ty sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất, nghiên cứu biện pháp tổ chức thực hiện giảm lao động gián tiếp, nghiên cứu phương pháp trả lương và phân phối tiền, lương hợp lý
- Phòng kiểm toán nội bộ: Giúp giám đốc kiểm tra xem xét đánh giá tình hình hoạt động của công ty trong lĩnh vực tài chính
- Phòng kế toán tài chính: Giám sát toàn bộ tài chính của công ty, quản lý việc phân phối vốn cho các đơn vị thanh viên đồng thời lập kế hoạch tài chính, cung cấp thông tin tổng thể về tình hình sản xuất kinh doanh của công ty
- Phòng thương mại: Tham mưu giúp giám đốc xác định thị trường mặt hàng, giá cả, tìm các nguồn hàng, ký kết các hợp đồng với các đối tác trong và ngoài nước, đồng thời thực hiện các nghiệp vụ kinh tế về xuất, nhập khẩu
- Phòng kế hoạch chỉ huy sản xuất: Giúp giám đốc lập kế hoạch sản xuất cung ứng cho các đơn vị thành viên, quản lý giám sát triển khai các kế hoạch để chỉ huy sản xuất kịp thời đảm bảo kế hoạch đề ra của công ty
- Phòng kỹ thuật an toàn: Quản lý công tác kỹ thuật của công ty, giám sát mọi quá trình vận chuyển sản xuất của các xí nghiệp, giám sát xây dựng sửa chữa các công trình trong nội bộ công ty, tư vấn cho khách hàng về kỹ thuật sử dụng vật liệu nổ
- Phòng thiết kế đầu tư: Phụ trách phần đầu tư sản xuất và phần thiết kế ứng dụng công nghệ mới đưa vào sản xuất
- Phòng thanh tra pháp chế – bảo vệ: Đảm nhiệm chức năng thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách pháp luật Lập ra các kế hoạch bố trí và bảo
Trang 37vệ thuốc nổ trong quá trình vận chuyển và lưu kho đồng thời hướng dẫn các xí nghiệp tuân thủ nghiêm ngặt về nguyên tắc an toàn vật liệu nổ.
- Các đơn vị trực thuộc: Công ty Hoá Chất mỏ là một doanh nghiệp nhà nước hạch toán độc lập, các xí nghiệp đặt tại các địa phương trong cả nước Mỗi đơn vị trực thuộc thực hiện nhiệm vụ cụ thể theo kế hoạch được công ty giao