1. Lý do chọn đề tài: Từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay, loài người đã phát minh ra và chứng kiến sự phát triển với tốc độ như vũ bão của công nghệ thông tin (CNTT). CNTT ngày càng chứng tỏ sự hữu dụng và sức mạnh “vô song” trong mọi phương diện, mọi ngành nghề. Với ngành giáo dục, CNTT thực sự đã và đang tạo ra cuộc cách mạng trong dạy và học, đặc biệt là về mặt phương pháp. Thay vì phương pháp dạy học truyền thống theo lối đọc chép đã trở lên lạc hậu, khô khan, giáo điều thì nay chỉ với một cú Click chuột, cả một kho tàng kiến thức khổng lồ, sống động hiện ra trước mắt học trò. CNTT đã thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc đổi mới trong giáo dục về giảng dạy và quản lí giáo dục. Những khả năng mới mẻ và ưu việt này của CNTT đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư duy và quan trọng hơn cả là cách ra quyết định của con người. Chính do tốc độ tăng trưởng và đặc điểm của CNTT đã có tác động to lớn và toàn diện đến xã hội loài người, và hiển nhiên cũng tác động mạnh mẽ trực tiếp đến giáo dục. Như chúng ta đã biết, có 3 tác nhân trong một hệ thống giáo dục là người học, người dạy và môi trường dạy và học. Trong thời đại hiện nay CNTT là giải pháp quan trọng cần triệt để khai thác khi dạy và học, môi trường ở đây chính là nơi chứa thông tin. CNTT có thể giúp con người chọn nhập và xử lý thông tin nhanh chóng để biến thành tri thức. Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, chúng ta đang thực hiện việc tuyên truyền, quảng bá khuyến khích giáo viên, học sinh học và sử dụng CNTT để nâng cao kỹ năng dạy và học, từ đó cải thiện chất lượng giáo dục. Mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học là nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho học sinh, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao. Với tác động của CNTT môi trường dạy học cũng thay đổi, nó tác động mạnh mẽ tới mọi thành tố của quá trình quản lý, giảng dạy, đào tạo và học tập dựa trên sự hỗ trợ của hệ thống các hạ tầng CNTT và các phần mềm ứng dụng đi kèm. Việc ứng dụng CNTTTT vào phương pháp giảng dạy đã thay đổi cả vai trò của học sinh và giáo viên. Nếu trước kia trong hệ thống giáo dục truyền thống người ta nhấn mạnh tới phương pháp dạy sao cho học sinh nhớ lâu, dễ hiểu, giáo viên thường là nguồn tài liệu duy nhất cho học sinh học tập, “thầy đọc, trò chép” và học sinh phải đến trường để học. Thì ngày nay trong hệ thống giáo dục hiện đại, giáo viên đã phải dần dần trở thành người hướng dẫn học sinh biết dùng máy tính và internet để tự tìm nội dung, hình thành và phát triển cho học sinh các phương pháp học chủ động, giáo viên đóng vai trò tạo điều kiện thuận lợi và tháo gỡ khó khăn cho học sinh, giúp học sinh xây dựng tư duy. Internet đã nối mạng toàn cầu với số lượng lớn thông tin đã được số hoá, con người có thể tìm kiếm, trích lọc, tổng hợp thông tin trong những “kho kiến thức” khổng lồ được liên kết tích hợp với nhau, biến chúng thành nguồn tài nguyên quý giá, có thể chia sẻ, trao đổi thông tin trên phạm vi toàn cầu một cách dễ dàng. Internet đã hỗ trợ điều kiện để học sinh chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình. Kết quả là học sinh có thể tìm kiếm đề tài yêu thích của họ qua mạng, trường học có thể mở rộng các dịch vụ dạy và học đến cả những học sinh ở xa trường.
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay, loài người đã phát minh ra vàchứng kiến sự phát triển với tốc độ như vũ bão của công nghệ thông tin (CNTT).CNTT ngày càng chứng tỏ sự hữu dụng và sức mạnh “vô song” trong mọiphương diện, mọi ngành nghề Với ngành giáo dục, CNTT thực sự đã và đangtạo ra cuộc cách mạng trong dạy và học, đặc biệt là về mặt phương pháp Thay
vì phương pháp dạy học truyền thống theo lối đọc - chép đã trở lên lạc hậu, khôkhan, giáo điều thì nay chỉ với một cú "Click chuột", cả một kho tàng kiến thứckhổng lồ, sống động hiện ra trước mắt học trò CNTT đã thúc đẩy mạnh mẽcông cuộc đổi mới trong giáo dục về giảng dạy và quản lí giáo dục
Những khả năng mới mẻ và ưu việt này của CNTT đã nhanh chóng làm thay đổicách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư duy và quan trọng hơn cả là cách
ra quyết định của con người
Chính do tốc độ tăng trưởng và đặc điểm của CNTT đã có tác động to lớn và toàn diện đến xã hội loài người, và hiển nhiên cũng tác động mạnh mẽ trực tiếp đến giáo dục
Như chúng ta đã biết, có 3 tác nhân trong một hệ thống giáo dục là người học, người dạy và môi trường dạy và học
Trong thời đại hiện nay CNTT là giải pháp quan trọng cần triệt để khai thác khi dạy và học, môi trường ở đây chính là nơi chứa thông tin CNTT có thể giúp conngười chọn nhập và xử lý thông tin nhanh chóng để biến thành tri thức
Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, chúng ta đang thực hiện việc tuyên truyền, quảng bá khuyến khích giáo viên, học sinh học và sử dụng CNTT để nâng cao
kỹ năng dạy và học, từ đó cải thiện chất lượng giáo dục Mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học là nâng cao một bước cơ bản chất lượng họctập cho học sinh, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao
Với tác động của CNTT môi trường dạy học cũng thay đổi, nó tác động mạnh
Trang 2mẽ tới mọi thành tố của quá trình quản lý, giảng dạy, đào tạo và học tập dựa trên
sự hỗ trợ của hệ thống các hạ tầng CNTT và các phần mềm ứng dụng đi kèm Việc ứng dụng CNTT-TT vào phương pháp giảng dạy đã thay đổi cả vai trò của học sinh và giáo viên
Nếu trước kia trong hệ thống giáo dục truyền thống người ta nhấn mạnh tới phương pháp dạy sao cho học sinh nhớ lâu, dễ hiểu, giáo viên thường là nguồn tài liệu duy nhất cho học sinh học tập, “thầy đọc, trò chép” và học sinh phải đến trường để học Thì ngày nay trong hệ thống giáo dục hiện đại, giáo viên đã phải dần dần trở thành người hướng dẫn học sinh biết dùng máy tính và internet để tựtìm nội dung, hình thành và phát triển cho học sinh các phương pháp học chủ động, giáo viên đóng vai trò tạo điều kiện thuận lợi và tháo gỡ khó khăn cho họcsinh, giúp học sinh xây dựng tư duy
Internet đã nối mạng toàn cầu với số lượng lớn thông tin đã được số hoá, con người có thể tìm kiếm, trích lọc, tổng hợp thông tin trong những “kho kiến thức”khổng lồ được liên kết tích hợp với nhau, biến chúng thành nguồn tài nguyên quý giá, có thể chia sẻ, trao đổi thông tin trên phạm vi toàn cầu một cách dễ dàng Internet đã hỗ trợ điều kiện để học sinh chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình Kết quả là học sinh có thể tìm kiếm đề tài yêu thích của họ qua mạng, trường học có thể mở rộng các dịch vụ dạy và học đến cả những học sinh ở xa trường
Xuất phát từ Luật Công nghệ thông tin nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam của Quốc hội Việt Nam số 67/2008/QH11 ngày 29 tháng 6 năm
2006 Có lẽ vì thế mà trong những năm qua Bộ Giáo dục – Đào tạo ra hàng loạtcác văn bản, công văn, nghị định, quyết định, chỉ thị, hướng dẫn, kế hoạch…vềứng dụng CNTT trong quản lí và dạy học ở tất cả các cáp bậc học, cụ thể:Hướng dẫn 12966/BGD-ĐT ngày 10/12/2007 của Bộ GD-ĐT về việc đẩy mạnh
Trang 3triển khai một số hoạt động công nghệ thông tin Năm học 2008 - 2009 được BộGiáo dục và Đào tạo lấy chủ đề là: “Năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT” Mặtkhác hàng hoạt các hướng dẫn, thông tư, chỉ thị về CNTT của Bộ Giáo dục vàĐào tạo như: Chỉ thị 47/2008/CT - BGDĐT của Bộ GD&ĐT ngày 13/8/2008 đãchỉ rõ: “Đẩy mạnh một cách hợp lí việc triển khai ứng dụng CNTT trong đổimới phương pháp dạy và học ở từng cấp học”; Hướng dẫn 9584/BGD-CNTTngày 07/9/2009 của Bộ GD-ĐT về việc ứng dụng công nghệ thông tin và pháttriển nguồn nhân lực công nghệ thông tin; Chỉ thị số 55/2008/CT - BGDĐTngày 30/9/2008 của Bộ GD&ĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụngCNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008 – 2012; Thông tư số 08/2010/TT-BGD ĐT ngày 01/03/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về
sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở trong các cơ sở giáo dục; Công văn số4937/BGD ĐT - CNTT ngày 25/08/2010 của Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫnthực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2010 – 2011; Công văn 4960/BGD ĐT –CNTT hướng dẫn nhiệm vụ công nghệ thông tin năm học 2011-2012 do BộGiáo dục và Đào tạo ban hành ngày 27 tháng 7 năm 2011
Chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo như vậy là rất đúng và rất trúng.Tuy thế khi triển khai thực hiện ở các cấp quản lí cũng như ở các đơn vị trườnghọc thì hẳn cũng còn có nhiều khó khăn vướng mắc cần kịp thời xem xét, tìmgiải pháp tháo gỡ thì mới có thể ứng dụng CNTT thành công Góp phần vàonâng cao chất lượng dạy học, giáo dục - cái đích thực sự của mọi chủ trươnggiáo dục!
2 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài nghiên cứu trong phạm vi tại Trường Tiểu học số 2 Quảng Lợi, xãQuảng Lợi, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Đối tượng nghiên cứu là việc ứng dụng CNTT trong quản lý và dạy học chođội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh cùng các ban ngành đoàn thểtrong và ngoài nhà trường
3 Mục đích nghiên cứu:
Trang 4- Nhằm tìm ra các giải pháp thực hiện thực sự mang lại hiệu quả về đẩy mạnhứng dụng CNTT trong quản lí và trong dạy học tại trường Tiểu học Số 2 QuảngLợi, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Huy động mọi nguồn lực, các ban ngành đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hộichăm lo và hỗ trợ cho mọi hoạt động dạy và học ở nhà trường
- Phát huy sáng tạo, cải tiến hiệu quả công việc trong đội ngũ cán bộ, giáo viên,nhân viên, học sinh về ứng dụng CNTT trong quản lý và dạy học
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: dựa vào các nguồn tài liệu, hướng dẫn hỗ trợ giới thiệu về
vị trí, vai trò, tác dụng của CNTT đối với sự nghiệp giáo dục trong giai đoạnphát triển của đất nước
- Phương pháp cụ thể: dựa vào thực tiễn đơn vị của trường Tiểu học Số 2 QuảngLợi, xã Quảng Lợi, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế về những thuậnlợi, khó khăn và những lợi thế phát huy CNTT của nhà trường
II NỘI DUNG:
1 Cơ sở lý luận và thực tiễn:
Thực hiện chủ đề năm học 2011-2012 của toàn ngành “Tiếp tục đổi mớiquản lý và nâng cao chất lượng giáo dục” Thực hiện khung thời gian và nhiệm
vụ năm học 2011 – 2012 cấp Tiểu học của Bộ GD-ĐT
Căn cứ công văn số 456/SGDĐT-KH&CNTT về việc Hướng dẫn bổ sungtriển khai nhiệm vụ CNTT năm 2011, ngày 08 tháng 4 năm 2011
Trang 5Căn cứ vào Quyết dịnh số 1504/QĐ-UBND ngày 22 tháng 7 năm 2011của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về việc Ban hành kế hoạch thời gian năm học201-2012 của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên.
Tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục tiểu học ngày 05 tháng 9 năm
2011 của Sở GD&ĐT về việc thực hiện nhiệm vụ năm học 2011-2012 cấp Tiểuhọc Căn cứ công văn số 1324/PGD&ĐT Quảng Điền về việc hướng dẫn nhiệm
vụ năm học 2011-2012 cấp Tiểu học ngày 20 tháng 9 năm 2011
Thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ năm học của Trường Tiểu học Số 2 QuảngLợi năm học 2011-2012 Tăng cường hoạt động quản lý, khuyến khích và độngviên đội ngũ sử dụng CNTT trong quá trình giảng dạy, đổi mới phương phápdạy học và đổi mới cách soạn giáo án, góp phần đem lại cho học sinh những giờhọc thật sự bổ ích và sinh động Có thể nói việc vận dụng các ứng dụng củaCNTT đã đem lại những hiệu quả đáng khích lệ trong quá trình quản lý và giảngdạy tại trường Tiểu học Số 2 Quảng Lợi năm học 2011-2012
1.2/ Cơ sở thực tiễn:
* Đặc điểm tình hình đơn vị:
Trường Tiểu học Số 2 Quảng Lợi thuộc xã Quảng Lợi, huyện QuảngĐiền, tỉnh Thừa Thiên Huế Vị trí trường đóng về phía Bắc huyện Quảng Điền,cách trung tâm huyện lị trên dưới 5km Trường được xây dựng trên trục đườngtỉnh lộ 4B, dọc phá Tam Giang Địa bàn trường thuộc vùng khó khăn (xã bãingang)
- Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên/nữ 25/17
Trang 6- Được sự quan tâm của chính quyền địa phương xã Quảng Lợi Đặc biệt
là sự quan tâm, lãnh chỉ đạo Phòng Giáo dục – Đào tạo Quảng Điền trong thựchiện nhiệm vụ chính trị của ngành nói chung cũng như trong thực hiện nhiệm vụdạy học của nhà trường nói riêng trong suốt năm học qua, năm học: 2011-2012
- Diện tích trường khá rộng: 12.778m2, trong đó cơ sở 1(cơ sở chính):11.000m2 , cơ sở 2 (cơ sở lẻ): 1.778 m2 Dân cư thưa thớt, yên tĩnh, không gianthoáng mát đảm bảo cho hoạt động dạy và học tốt
- Địa phương vốn có có truyền thống hiếu học, công tác xã hội hóa giáodục từng bước phát triển mạnh, sự quan tâm và phối kết hợp chặt chẽ của Hộicha mẹ học sinh là điều kiện thuận lợi để nhà trường thực hiện nhiệm vụ đề ratrong năm học 2011-2012
- Hầu hết học sinh chăm ngoan, lễ phép, biết vâng lời, có ý thức kỷ luật,
tự giác, chăm chỉ, cần cù, sáng tạo trong hoạt động chiếm lĩnh và khám phá kiếnthức học tập và rèn luyện trên lớp
- Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên đoàn kết, nhiệt tình, có ý thức tráchnhiệm cao, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau để hoàn thành tốt công việc nhiệm vụđược giao
b Khó khăn:
- Trường thuộc xã bãi ngang đời sống nhân dân địa phương còn gặp nhiềukhó khăn: chủ yếu là sản xuất nông nghiệp trên vùng đất rú cát trắng và đánh bắtthủy hải sản trên đầm phá Tam Giang đời sống bấp bênh “Nay đây mai đó” Thunhập kinh tế thấp, ảnh hưởng đến việc huy động xây dựng cơ sở vật chất nhàtrường và sắm sửa dụng cụ học tập của con em
- Cơ sở vật chất của nhà trường còn chưa đảm bảo: các dãy phòng họcxuống cấp, nay đã quá hạn sử dụng, không đủ cho việc thực hiện dạy học haibuổi/ngày (toàn trường chỉ áp dụng dạy 2 buổi/ngày cho học sinh khối lớp 1)
2 Mục đích nghiên cứu (vấn đề cần giải quyết):
Trang 7- Trong thời kì đất nước Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá và hội nhập quốc
tế, công nghệ thông tin có một vai trò cực kì quan trọng: Internet và công nghệthông tin đã góp phần làm thay đổi cuộc sống, “Mọi người ở bất kì lứa tuổi nào,nếu được tiếp cận với Internet và công nghệ thông tin đều có thể học được cáchthích ứng với hoàn cảnh thay đổi” Trong lĩnh vực Giáo dục Đào tạo, công nghệthông tin bước đầu đã được ứng dụng trong công tác quản lý, nhiều nơi đã đưatin học vào giảng dạy, học tập Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tiễn hiện nay,việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ sở giáo dục ở nước ta vẫn cònrất hạn chế Cần phải đẩy mạnh hơn nữa ứng dụng công nghệ thông tin để nhanhchóng nâng cao chất lượng, nghiệp vụ giảng dạy, nghiệp vụ quản lý giáo dục
- Thực hiện sự chỉ đạo của Phòng Giáo dục Đào tạo huyện Quảng Điền,trong những năm qua, trường Tiểu học Số 2 Quảng Lợi đã đạt được nhiều kếtquả của việc ứng dụng CNTT và truyền thông trong quản lý và dạy học Tuynhiên, việc ứng dụng CNTT trong hoạt động quản lý và dạy học còn bộc lộnhiều hạn chế: Sử dụng máy tính, các thiết bị nghe nhìn trong quản lý và dạyhọc chỉ ở mức độ thấp, chủ yếu ở các hoạt động báo cáo, chuyên đề, các giờ thigiáo viên dạy giỏi… Hệ thống máy tính của nhà trường chỉ dừng lại ở mức độphục vụ công tác văn phòng và giảng dạy bộ môn Tin học cho học sinh từ khối 3đến khối 5 còn việc sử dụng phòng máy, mạng máy tính, các phần mềm quản lý
và dạy học để tạo ra môi trường quản lý và dạy học đa phương tiện vẫn chưađược quan tâm Việc khai thác mạng internet để tìm kiếm thông tin, sử dụngphần mềm dạy học để lấy tư liệu thiết kế giáo án dạy học tích cực vẫn còn xa lạivới một số giáo viên Mặt khác, một số cán bộ, giáo viên, nhân viên chưa nhậnthức được hết vai trò và ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT vào hoạt động quản lý
và dạy học dẫn đến hiệu quả việc ứng dụng CNTT trong quản lý và dạy họcchưa cao
- Xuất phát từ những yêu cầu, nhiệm vụ chung của toàn ngành giáo dục,
từ những thuận lợi, khó khăn và thực tiễn của đơn vị trong năm học 2011-2012.Nhiệm vụ đặt ra ngay từ đầu năm học của nhà trường là hướng đến nâng cao
Trang 8hiệu quả ứng dụng CNTT vào tất cả các hoạt động giáo dục của nhà trườngnhằm đem lại hiệu quả công việc đạt kết quả cao.
- Đối với công tác quản lý giáo dục tại nhà trường, việc vận dụng CNTT
đã tạo ra một phương thức nhẹ nhàng trong việc thực hiện hồ sơ sổ sách và báocáo Thực hiện sự chỉ đạo đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quá trình đổi mớiphương pháp dạy học, có sự cân nhắc và chọn lựa nội dung kiến thức cần truyềnthụ cho học sinh hợp lý thì giáo án điện tử là một trong những hình thức đổi mớihiệu quả Trước tình hình này, trong nhiều năm qua được sự chỉ đạo của Sở GD-
ĐT Thừa Thiên Huế, Phòng Giáo dục Đào tạo huyện Quảng Điền đã thườngxuyên tổ chức các lớp tập huấn và bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáoviên, nhân viên những kỹ năng cơ bản để vận dụng CNTT vào quản lý và giảngdạy như: Tin học A, B; Microsoft; Intel, PIL, PMIC, VMIC, phần mềm mãnguồn mở Ubuntu… Qua các lớp tập huấn này, trình độ tin học, phương phápquản lý và giảng dạy của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên đã từngbước được nâng lên rõ rệt Tất cả đội ngũ đều nhận thấy việc áp dụng nhữngthành tựu CNTT vào qúa trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục là một việc làm vôcùng cần thiết và hợp lý
3 Giải pháp và kiến nghị:
3.1/ Giải pháp:
1 Nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên, nhân viên, phụ huynh và học sinh về tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong quản lý và dạy học.
1.1/ Đối với cán bộ quản lý (Ban giám hiệu nhà trường):
- Xác định vị trí, vai trò, tác dụng của ứng dụng CNTT trong hoạt độnggiáo dục của nhà trường Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ năm học Ban giámhiệu nhà trường đã sớm xây dựng kế hoạch cho việc đẩy mạnh ứng dụng CNTTvào hoạt động quản lý và dạy học theo chương trình hành động có trọng điểm
- Truyền đạt tinh thần ứng dụng CNTT trong mọi hoạt động đến tất cả cácthành viên trong hội đồng sư phạm nhà trường Chứng minh cụ thể những hiệuquả mà ứng dụng CNTT mang lại trong quá trình công tác
Trang 9- Tạo mọi điều kiện thuận lợi để đội ngũ hoàn thành nhiệm vụ được giaovới hiệu quả cao nhất (địa điểm giảng dạy, phương tiện máy móc, nguồn tàinguyên…)
- Lên kế hoạch đầu tư, bồi dưỡng để đội ngũ tự tin, mạnh dạn vận dụngứng dụng CNTT trong công việc (Cho vay vốn để học tập, cử giáo viên cốt cántham gia các lớp bồi dưỡng, tập huấn do các cấp quản lý, lãnh đạo tổ chức…)
- Nhân rộng các gương điển hình ứng dụng CNTT trong giảng dạy, côngtác, để đội ngũ học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm thông qua các tiết thao giảng,chuyên đề, hội thảo…
- Ban giám hiệu luôn là người bạn đồng hành, sẵn sàng chia sẻ, học hỏi tất
cả những thành viên trong nhà trường
Thống kê các chuyên đề, hội thảo, triển khai các văn bản, hướng dẫn củađơn vị và các cấp quản lý có ứng dụng CNTT từ đầu năm học 2011 – 2012 đếnhiện tại:
01 Kế hoạch, nhiệm vụ năm
Nguyễn Cách
05 Triển khai Thông tư
06 Tập huấn phần mềm mã
07 Tập huấn trang Web CB, GV toàn trường Ngô Quý
Trang 10SGD-ĐT Thừa Thiên Huế
10 Kiểm định chất lượng GD CB, GV toàn trường Đặng Niu
11 Chuyên đề: Tiết kiệm
năng lượng và hiệu quả Tập huấn toàn trường Lương Ngọc Vũ
13 Sơ kết HKI 2011 – 2012 Triển khai đến toàn
17 Tập huấn “Tăng cường sự
tham gia của trẻ”
Toàn thể GV, hội cha
1.2/ Đối với giáo viên đứng lớp:
- Các chuyên gia UNESCO PROAP, UNESCO Paris chia ra 3 mức độứng dụng CNTT trong quá trình dạy học:
+ Mức 1: Giáo viên thiết kế các bản trình chiếu điện tử/trình diễn điện tử(bằng phần mềm MS.PowerPoint) thể hiện trên bảng động cho học sinh nhìn
Trang 11+ Mức 2: Giáo viên thiết kế và sử dụng giáo án dạy học tích cực có ứngdụng CNTT ở mức độ thấp (phổ cập, mức độ đại trà) thể hiện trên bảng độngcho học sinh nghe – nhìn.
+ Mức 3: Giáo viên thiết kế và sử dụng giáo án dạy học tích cực điện tử ởmức độ cao (như sử dụng Macromedia Flash, mô hình mô phỏng…) tạo sựtương tác cao của học sinh với tài liệu điện tử Những nội dung tài liệu điện tửđược thiết kế và tích hợp trong giáo án dạy học tích cực sẽ được thể hiện trênbảng động cho học sinh nghe - nhìn - tương tác Ứng dụng CNTT ở mức độ 2bước đầu góp phần đổi mới phương pháp dạy học Ứng dụng ở mức độ 3 thúcđẩy thực sự cho quá trình đổi mới phương pháp dạy học
- Hiểu đúng bản chất của giáo án dạy học tích cực có ứng dụng CNTT vàgiáo án dạy học tích cực điện tử là một yêu cầu quan trọng đối với cán bộ quản
lý và giáo viên
- Giáo án dạy học tích cực có ứng
dụng CNTT Trên thực tế, hầu hết giáo
viên đều coi bảng trình chiếu được thiết
kế trên phần mềm MS.PowerPoint chính
là giáo án điện tử, học thiết kế giáo án
dạy học trên các phần mềm trình diễn có
sẵn mà không chú ý đến việc tích hợp
được các phương pháp, biện pháp sư phạm vào trong giáo án Sử dụng 35 đến
40 phút trong 1 tiết dạy để trình chiếu nội dung dạy học thông qua hệ thống dạyhọc đa phương tiện (máy tính - máy chiếu đa năng - màn chiếu), không có sựlinh hoạt trong việc sử dụng các bảng tĩnh (bảng truyền thống, bảng phụ), bảngđộng…Hình thức dạy học như trên, không những không đem lại hiệu quả màthậm chí còn làm giảm chất lượng của các giờ dạy
- Để khắc phục nhược điểm này, Ban giám hiệu nhà trường đã giúp giáoviên hiểu rõ bản chất của giáo án dạy học tích cực có ứng dụng CNTT là kếhoạch bài học, là kịch bản sư phạm đã được giáo viên chuẩn bị chi tiết trước khi
Giáo viên dạy trên lớp bằng CNTT