Tự do hóa tài khoản vốn và ổn định khu vực tài chính ở Việt Nam
Trang 2Trong bối cảnh hiện nay, vấn đề tự do hóa tài chính từng bước hội nhập kinh tế khu vực và thế giới không còn là sự lựa chọn của bất kỳ một quốc gia nào, mà
nó đang là xu thế tất yếu bắt buộc các quốc gia phải thực hiện để đưa nền kinh
tế của quốc gia mình đi vào quỹ đạo chung của kinh tế thế giới Do đó, để đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển kịp với các quốc gia trong khu vực thì một trong những vấn đề quan trọng là từng bước cải cách hệ thống tài chính, hoàn thiện
hệ thống ngân hàng theo hướng hội nhập.
Để mọi người có cái nhìn tổng quát hơn về vấn đề này nhóm chúng em đã tìm hiểu,nghiên cứu chủ đề:”Tự do hóa tài khoản vốn và ổn định khu vực tài chính ở Việt Nam” dựa vào các tài liệu và các trang web sau:
Chúng em xin trình bày bài nghiên cứu của cả nhóm dưới đây!
Bài nghiên cứu của chúng em chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu xót,mong
cô góp ý để chúng em hoàn thiện hơn!
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3Phần I:Lý thuyết chung
I Kiềm chế tài chính
Kiềm chế tài chính là khái niệm để chỉ luật và chính sách của chính
phủ hoặc những biện pháp phi thị trường nhằm ngăn chặn các tổ chức trung gian tài chính của một kinh nền kinh tế vận hành tối đa năng lực.
Các chính sách dùng trong việc kiềm chế tài chính bao gồm: trần lãi
suất, yêu cầu về tỷ lệ thanh khoản, nhu cầu dự trữ cao của các ngân hàng, kiểmsoát vốn, ngăn chặn giới hạn việc gia nhập khu vực tài chính , trần tín dụng hoặcnhững biện pháp hạn chế phân phối tín dụng, quyền sở hữu hoặc chi phối nhà nướcđối với các ngân hàng
Tác động của kiềm chế tài chính
Kiềm chế tài chính dẫn đến việc phân phối kém hiệu quả ngồn vốn, làm tăngchi phí tài chính trung gian và tỷ lệ lãi từ tiết kiệm thấp, rõ ràng trên lý thuyết điều
đó làm cản trở sự phát triển.Những phát hiện dựa trên kinh nghiệm về tính hiệuquả của việc xóa bỏ kiềm chế tài chính, ví dụ tự do hóa tài chính đã ủng hộ quanđiểm này
Những ảnh hưởng không tốt từ kiềm chế tài chính lên sự phát triển của nềnkinh tế không hiển nhiên có nghĩa là những quốc gia nên lựa chọn chính sách pháttriển thị trường tài chính tự do và loại bỏ tất cả nguyên tắc và sự kiểm soát đã tạonên kiềm chế tài chính Nhiều nước đang phát triển đã giải phóng thị trường tàichính trải qua những cuộc một phần vì những cú sốc bên ngoài do tự do tài chínhgây ra Tự do tài chính có thể tạo ra bất ổn trong ngắn hạn và tăng trưởng trong dàihạn (Kaminsky and Schmukler, 2002) Đồng thời, do thị trường không hoàn hảo vàtính bất đối xứng của thông tin, việc xóa bỏ tất cả quy định tài chính công cộng có
Trang 4thể không tạo ra một môi trường tối ưu cho phát triển tài chính Một biện pháp thaythế đối với việc giám sát tài chính có thể là một hệ thống các quy định mới nhằmđảm bảo cạnh tranh và những quy định cũng như việc giám sát cẩn trọng.
II.Tự do hóa tài chính
Khái niệm về tự do hóa tài chính:
Tự do hóa tài chính là quá trình giảm thiểu và cuối cùng là hủy bỏ sự kiểmsoát của nhà nước đối với hoạt động của hệ thống tài chính quốc gia làm cho hệthống này hoạt động tự do hơn và hiệu quả hơn theo qui luật thị trường
Bản chất của tự do hóa tài chính:
Bản chất của tự do hóa tài chính là hoạt động tài chính theo cơ chế nội tạivốn có của thị trường chuyên vai trò điều tiết tài chính từ chính phủ sang thi trường,muc tiêu là tìm ra sự phối hợp có hiệu quả giữa nhà nước và thị trường trong việcthưc hiện các mục tiêu nhiệm vụ kịnh tế xã hội do đó kết quả của tự do hóa tàichính thường được thể hiện bằng tỷ số giữa tiền mở rộng trên thu nhập quốc dân
Nội dung của tự do hóa tài chính
Tác động của tự do hóa tài chính lên nền kinh tế
1.1 Tự do hoá tài chính tác động đến quá trình chuyển tiết kiệm cho đầu tư
Tự do tài chính sẽ đẩy mạnh việc sử dụng vốn nhàn rỗi của tư nhân vào tiếntrình đầu tư, bởi vì khi đó, các ràng buộc về thủ tục vay vốn sẽ được đơn giản hoá,
Trang 5lãi suất huy động tương đối thấp do sự cạnh tranh của các tổ chức đầu tư tài chính.Tuy nhiên, một nhược điểm nổi bậc của quá trình luân chuyển tiền tệ là không thểchuyển hết toàn bộ số tiền tiết kiệm huy động được cho đầu tư, mà nó bị tiêu haocho các giao dịch phát sinh và còn đọng lại trong các tổ chức kinh doanh tài chính(dưới dạng dự trữ bắt buộc, tiền mặt chờ luân chuyển ) Hơn nữa, tự do hoá tàichính bằng hình thức mở rộng các chi nhánh của các ngân hàng thương mại vàgiảm lượng dự trữ bắt buộc sẽ kích thích sự cạnh tranh trong khu vực kinh doanhtài chính, điều này làm giảm các khoản chi phí giao dịch, chi phí quản lý và đặcbiệt là giảm sự khác biệt giữa lãi suất cho vay và lãi suất vay vốn Chính điều nàylàm tỷ trọng tiền tiết kiệm dành cho đầu tư (f) ngày càng gia tăng
1.2 Tự do hoá tài chính góp phần nâng cao hiệu quả việc phân bổ nguồn lực đầu tư
Bằng cách chuyển nguồn vốn vào các dự án đầu tư có khả năng sinh lời cao,
tự do hoá tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả vốn đầu tưtoàn xã hội Quá trình tự do hoá tài chính đòi hỏi các tổ chức tín dụng phải làmviệc thật sự cật lực nhằm xác định những dự án nào là những dự án mang lại khảnăng sinh lợi cao, để quyết định việc cho vay vốn trong khoảng thời gian ngắn nhấtvới thủ tục nhanh gọn nhất Như vậy, do áp lực cạnh tranh ngày càng tăng, cácđịnh chế tài chính ngày càng nâng khả năng làm việc Kết quả là việc đánh giá,thẩm định dự án được thực hiện nghiêm túc và đạt hiệu quả cao hơn Chính vì vậy,vốn đầu tư có thể được đưa vào những dự án mang tính sinh lợi và có hiệu quả cao.Hơn nữa, quá trình tự do tài chính sẽ giúp cho các cá nhân dễ dàng tiếp cận đượccác nguồn tín dụng Thông qua việc kinh doanh hoặc học tập bằng các nguồn tíndụng vay mượn được, mỗi cá nhân có thể nâng cao kiến thức của mình Ngoài ra,hiệu ứng lan tỏa (spillover/external effects) về “vốn tri thức” sẽ làm cho mặt bằngkiến thức của xã hội không ngừng nâng cao Chính vì vậy, chất lượng nguồn nhânlực của xã hội được cải thiện một cách đáng kể
Trang 61.3 Tự do hoá tài chính và tiết kiệm
Việc tự do hoá tài chính sẽ đảm bảo cho lãi suất thực được dương bởi vì sựcân bằng giữa cung và cầu vốn trên thị trường tài chính Do sự tự điều chỉnh bởiquy luật cung và cầu, lãi suất tiền gửi vào trong các tổ chức tín dụng loại trừ đi tốc
độ lạm phát sẽ luôn luôn dương, khi đó người cho vay sẽ an tâm hơn khi gửi tiềnvào các tổ chức tín dụng Chính vì điều này sẽ thu hút vốn nhàn rỗi trong dânchúng, kết quả là làm gia tăng tín dụng cho các dự án đầu tư, kích thích tăngtrưởng kinh tế
1.4 tự do hóa tài chính gây bất ổn vĩ mô
Dòng vốn chảy vào làm nâng giá nội tệ
tăng lợi nhuận khu vực phi ngoại thương
lợi nhuận khu vực ngoại thương giảm
tăng thâm hụt tài khoản vãng lai tài trợ bằng nước ngoài
dẫn đến: bong bóng tài sản, thâm hụt thương mại, lạm phát, chính sáchtiền tệ thiếu tự chủ
1.5 tự do hóa tài chính làm giảm chi phí giao dịch
Tự do hoá tài chính sẽ làm tăng thêm chất lượng các dịch vụ tài chính đượccung cấp (do sự độc quyền bị loại bỏ) Người tiêu dùng có thể được hưởng nhữngsản phẩm dịch vụ mới, đa dạng, tiện ích với chi phí và thời gian ít nhất
Tự do hoá các dịch vụ tài chính đem đến nhiều cơ hội cho việc chuyển giaocông nghệ và làm giảm thiểu chi phí giao dịch
1.6 Làm cải thiện tính minh bạch
“Tự do hóa” tài chính là quá trình nới lỏng những hạn chế về các quyềntham gia, cũng như tiếp cận dịch vụ trên TTTC cho các bên kiếm tìm lợi ích trongphạm vi kiểm soát được của Pháp Luật Tự do hóa tài chính do đó trước hết luôngắn chặt với năng lực minh bạch và khả năng kiểm soát khả năng thanh tra giám
Trang 7sát các dòng chu chuyển vốn trong nền kinh tế cũng như chu chuyển vốn giữatrong nước với nước ngoài của NHTW để thúc đẩy nền kinh tế nói chung, các chủthể kinh tế nói riêng ngày càng phát triển một cách vững chắc Điều đó cũng cónghĩa: không thể có cái gọi là tài chính tự do hoàn toàn ở bất kỳ quốc gia hay tổchức kinh tế quốc tế nào.
Phân loại :
Tự do thị trường tài chính trong nước gồm:
- Thị trường tiền tệ: là thị trường chỉ có những công cụ ngắn hạn (kỳ hạnthanh toán dưới một năm) được mua bán Hàng hóa mua bán trên thị trường tiền tệ
có tính thanh khoản rất cao Chứng khoán ngắn hạn có giao động giá trị nhỏ hơnvới các chứng khoán dài hạn, do vậy chúng là những khoản đầu tư an toàn
- Thị trường vốn: là thị trường trong đó diễn ra việc mua bán các công cụ nợdài hạn như cổ phiếu, trái phiếu
Thị trường vốn gồm ba bộ phận:
+ thị trường cổ phiếu – chiếm tỷ lệ lớn trong thị trường vốn
+ Các khoản vay thế chấp
+ Thị trường trái phiếu dài hạn của các công ty
Tự do hóa tài khoản vốn
Là việc cho tự do tiến hành chuyển đổi các trong nước thành tài sản tàichính ở nước ngoài và ngược lại theo quy định Tức là tháo dỡ những ràng buộc:
+ Đối với người không cư trú đầu tư vào thị trường tài chính trong nước+ Đối với người cư trú đầu tư ra thị trường quốc tế
Kết cấu tài khoản vốn
+Nguồn vốn FDI
+Nguồn vốn PI
+Vay nợ
Trang 8 Ích lợi của việc tự do hóa TKV
+Lợi ích tĩnh: Tái phân bổ vốnđầu tư từ nước giàu về vốn nhưng có suấtsinh lợi thấp sang nước nghèo về vốn nhưng có suất sinh lợi cao
+Lợi íchđộng: Tạo ra cơ hội đa dạng hóa rủi ro (tài sản trong nước có thểđược kết hợp trong một danh mục đầu tư quốc tế rộng lớn), từ đó giảm chi phí vốncho các doanh nghiệp trong nước
Bất cập:dẫn đến hiện tượng”Bay hơi TKV”
Tự do hóa + Chính sách tiền tệ tồi = Bay hơi
Đồng tiền định giá thực cao, sẽ làm cho khối lượng xuất khẩu giảm, và tăngkhối lượng nhập khẩu, làm giảm vị thế cạnh tranh thương mại quốc tế của quốc gia
Tự do hóa tài chính trong điều kiện các định chế yếu kém là một tình trạngrất nguy hiểm cho nền kinh tế, xác suất rất lớn có khủng hoảng tài chính
Phần II:Thực trạng tự do hóa thị trường vốn
và tài chính
Trang 9I Tự do hóa tài khoản vốn
Từ đầu năm 2007 đến nay sau khi VN trở thành thành viên WTO thì tốc độgia tăng đầu tư nước ngoài vào VN cũng như việc VN đầu tư ra nước ngoài đã rấtmạnh trở lại so với những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ trước và ở qui mô caohơn.chúng ta sẽ cùng nhìn lại từng bước phát triển của việc tự do hóa tài khoảnvốn của Việt nam
A Đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và vay nợ ODA
1) Đối với FDI
(theo số liệu của bộ kế hoạch và đầu tư)
* Đồ thị biểu diễn số FDI đăng ký và FDI giải ngân: cột bên trái là
DI đăng ký, cột bên phải là FDI giải ngân
Trang 10
- Giai đoạn 2000-2008:Tổng số vốn đăng ký 120,9 tỷ USD, tổng số giảingân 40,16 tỷ USD Tỷ trọng giải ngân 33%
Theo số liệu và đồ thị biểu diễn, FDI giai đoạn 2000-2005 có giá trị đăng
ký thấp, nhưng tỷ trọng giải ngân khá cao (69%) Trong khi giai đoạn 2006-2008
cơ mức đăng ký cao, giá trị giải ngân tuyệt đối cũng cao nhưng tỷ trọng giải ngân
so với đăng ký lại rất thấp (25%)
Nguyên nhân: Việt Nam đang trong giai đọan mở cửa => tốc độ FDI phụthuộc vào lộ trình hội nhập quốc tế Giai đoạn đầu, FDI chủ yếu vào các ngànhthương nghiệp, công nghiệp nhẹ do đó FDI đăng ký thấp nhưng tỷ trọng FDI giảingân cao
-Giai đoạn 2006-2008, hội nhập trở thành nhu cầu bức xúc của Việt nam vàthế giới =>tốc độ hội nhập cao =>lượng vốn đăng ký nhiều Tuy nhiên cơ cấu FDIvào các ngành công nghiệp lớn, thời gian triển khai dự án dài, cộng với khả năngquản lý dòng vốn FDI của chính phủ chưa đáp ứng được tốc độ phát triển FDI
=>Giải ngân chậm là 1 tất yếu
Trang 11Theo Cục Đầu tư Nước ngoài (FIA) thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trongnăm 2009, Việt Nam có 839 dự án đầu tư nước ngoài đăng ký mới và xin tăng vốn,với tổng vốn 21,48 tỉ USD, giải ngân xấp xỉ 10 tỉ USD, chỉ bằng 30% và 87% sovới năm 2008 Tuy nhiên, đây là cũng là con số khả quan trong bối cảnh khủnghoảng kinh tế.
Đến tháng 7/2010, vốn FDI đăng ký đạt khoảng 700 triệu USD, nâng tổng số vốn cam kết 7 tháng đầu năm lên mức 9.13 tỷ USD, giảm 31.8% so với cùng kỳ năm trước Con số này còn cách khá xa mục tiêu thu hút vốn FDI năm 2010 ở mức khoảng 22-25 tỷ USD Vốn giải ngân FDI trong 7 tháng đạt 6.4 tỷ USD, tăng 1.6% so với cùng kỳ năm trước
FDI đăng ký và giải ngân
theo tháng
FDI qua từng năm
Nguồn: TCTK Nguồn: TCTK và Vietstock dự báo
Nhận định: Dòng vốn FDI đăng ký giảm khá mạnh cho thấy tiềm năng thu
hút vốn FDI Việt Nam đang giảm dần Trong 3 năm gần đây Việt Nam thu hútnhững dự án hàng tỷ USD nhưng hiệu quả thực sự chưa cao
Nhìn chung, lượng FDI vào Việt Nam ngày càng tăng dần cả về số vốn đăng
kí và số vốn thực hiện Sở dĩ như vậy vì Việt nam đã xây dựng những lợi thế riêng cho mình để trở thành một địa điểm hấp dẫn đầu tư đối với các nhà đầu tư nước
Trang 12ngoài Bằng chứng là theo tập đoàn tài chính đầu tư Goldman Sachs (Hoa Kỳ), Việt Nam nằm trong nhóm 11 nước (N-11) có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới trong năm 2010, mở ra những cơ hội cho các nhà đầu tư và là địa chỉ đầu tư tốt cho các nhà đầu tư thế giới trong các năm tiếp theo…Đặc biệt, theo nhận định của các chuyên gia, lượng FDI vào các ngành công nghiệp ngày càng giảm trong khi vào các ngành dịch vụ, y tế, các ngành công nghệ cao lại tăng mạnh Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, cơ cấu vốn FDI đã có sự thay đổi mạnh mẽ trong giai đoạn từ năm 2001 đến 2009 Nếu như năm đầu của thế kỷ này, vốn FDI đầu
tư vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm tới 85%, thì tới năm vừa qua, khu vực này chỉ còn chiếm 22% tổng vốn đầu tư Trong khi đó, vốn FDI vào lĩnh vực dịch vụ có xu hướng ngược chiều, khi tăng từ 7% lên 77%, cũng trong cùng giai đoạn với các con số thống kê kể trên.
b.Tác động của FDI đối với VN:
b1)Tích cực:
Về kinh tế:
● Nông nghiệp:
i, FDI góp phần chuyển đổi cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại,
đa dạng hóa và nâng cao giá trị sản phẩm.
Các dự án FDI đã góp phần không nhỏ trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp, phát triển sản xuất hàng hoá quy mô lớn, nâng cao giá trị xuất khẩucho nông sản Việt Nam, trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh và áp dụng cáccông nghệ mới, công nghệ cao, có khả năng cạnh tranh khi tham gia hội nhập Với
758 dự án đã và đang triển khai, lĩnh vực FDI trong nông nghiệp đem lại doanh thuhàng năm khoảng 312 triệu USD, xuất khẩu trên 100 triệu USD/năm và tăng mạnhtrong thời gian gần đây
ii, Các dự án đầu tư FDI vào nông nghiệp tuy không lớn nhưng đã tạo ra công ăn việc làm, thu nhập ổn định.
Trang 13Các dự án FDI vào nông nghiệp giúp hàng vạn hộ nông dân tham gia laođộng tạo nguồn nguyên liệu thường xuyên cho dự án hoặc theo mùa vụ (trồng míađường, khoai mì…, góp phần quan trọng thực hiện công tác xoá đói, giảm nghèo.
●Công nghiệp:
Đầu tư FDI đem đến cho nền công nghiệp nước ta nhiều lợi ích:
i, Đầu tư nước ngoài đã đóng góp đáng kể vào giá trị sản lượng công nghiệp, góp phần nâng cao tốc độ tăng trưởng công nghiệp của cả nước
Vai trò của đầu tư nước ngoài trong cơ cấu công nghiệp cả nước đang ngàycàng được củng cố Điều này được thể hiện thông qua tỷ trọng của đầu tư nướcngoài trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp tăng dần từ 16,9% (1991) lên 23,65%(1995), 26,5% (1996) lên tới 41,3% năm 2000, và 36,4% (2006) và 43,8% giá trịsản lượng công nghiệp (2007) tương đương với khu vực doanh nghiệp nhà nước.Tốc độ tăng trưởng cao của khu vực công nghiệp có vốn FDI đã đóng góp đáng kểvào việc nâng cao tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp
ii, Việc đầu tư nước ngoài trong công nghiệp phát triển nhanh cũng đã tạo
ra một môi trường kinh doanh cạnh tranh, góp phần đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu, đổi mới và sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước
Khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp cũng được nâng cao thôngqua việc áp dụng các công nghệ, máy móc và thiết bị sản xuất hiện đại, phươngpháp quản lý tiên tiến từ các dự án FDI, tạo điều kiện ra đời và thay đổi diện mạocủa nhiều ngành công nghiệp như khai thác dầu khí, sản xuất, lắp ráp ôtô, điện tử
và công nghệ thông tin, thiết bị kỹ thuật điện và điện gia dụng, chế biến thực phẩm
và đồ uống, các ngành công nghiệp xuất khẩu chủ lực như dệt may, giày dép thuhút hàng hàng trăm ngàn lao động
Ngoài ra, đầu tư nước ngoài trong ngành công nghiệp đã gián tiếp đào tạocho Việt Nam một đội ngũ cán bộ, công nhân lành nghề, được tiếp xúc với côngnghệ mới, cũng như các kỹ năng quản lý tiên tiến, kỷ luật công nghiệp chặt chẽ
Trang 14Với việc Việt Nam gia nhập WTO, cộng thêm với việc đời sống nhân dânViệt Nam ngày càng được nâng cao, việc đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ đang thu hút
sự quan tâm đặc biệt của các nhà đầu tư quốc tế
Về mặt xã hội:
Các dự án FDI đa góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước, tăng xuấtkhẩu qua đó cải thiện cán cân thương mại Hơn nữa, việc thực hiện dự án FDI còntạo ra việc làm cho người lao động của Việt Nam, giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp.Không chỉ có vậy, các lao động làm trong khu vực có vốn FDI còn được hưởngmức lương cao hơn các khu vực khác Vì vậy, FDI góp phần cải thiện đời sốngnhân dân, giảm tỷ lệ đói nghèo tại Việt Nam
b2) Hạn chế
Mặc dù có những tác động tích cực đối với nền kinh tế ViệtNam,nhưng mức độ lan tỏa của khu vực FDI đối với nền kinh tế chưa cao Điều đóđược thể hiện ở chỗ: mức độ chuyển giao các nguồn lực kinh doanh thấp (côngnghệ, kỹ năng quảnlý, kỹ năng kinh doanh) do vốn FDI tập trung nhiều trongnhững ngành thay thế nhập khẩu và có mức độ bảo hộ cao; nguồn vốn FDI từ cácnước có công nghệ nguồn còn chiếm tỷ trọng nhỏ và tăng chậm; số lượng các TNCđầu tư chủ yếu là 100% vốn nước ngoài, hình thức liên doanh chưa thực sự có hiệu
Trang 15quả còn hình thức M&A hầu như chưa có; thiếu sự liên kết giữa các doanh nghiệpFDI, đặc biệt trong việc sản xuất các sản phẩm phụ trợ.
Tiềm năng thu hút vốn FDI của Việt Nam lớn nhưng môi trường đầu tưcủa Việt Nam vẫn còn nhiều điều bất cập như:cơ sở hạ tầng lạc hậu (giao thông,nước, hệ thống viễn thông, hệ thống ngân hàng ); trình độ nguồn nhân lực cònthấp; hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư đã được sửa đổi, bổ sung nhưng vẫnchưa đồng bộ, hay thay đổi, khó tiên đoán trước; công tác quy hoạch còn bất hợp
lý, nặng về bảo hộ sản xuất trong nước và chưa phù hợp với cam kết quốc tế; thủtục hành chính còn nhiều chồng chéo và thiếu nguồn kinh phí; công tác phân cấpđầu tư còn nhiều bất cập dẫn đến tình trạng “xé rào” trong ưu đãi đầu tư; thiếu sự
hỗ trợ đối với các nhà đầu tư sau khi đầu tư đã được cấp phép
2) Đối với ODA
Trang 162009 mặc dù có một giai đoạn ngắn tăng trưởng âm nhưng giai đoạn này trùng vớicuộc khủng hoảng kinh tế đặc biệt là sự mất giá của đồng yên Nhật mà Nhật lànước tài trợ ODA lớn nhất của Việt Nam nên có thể chấp nhận được Còn lại trongsuốt quá trình từ 93- 03 là mức độ tăng trưởng ổn định trên dưới 8% đặc biệt tăngcao vào giai đoạn từ 04- nay thời điểm này trùng với giai đoạn trước và sau khiViệt Nam gia nhập WTO
Tuy khả năng thu hút ODA của chúng ta tăng trưởng ở mức khá nhưng việcthực hiện vốn cam kết hay nói cách khác là tốc độ giải ngân của Việt Nam cònchậm và chưa đạt được hiệu quả cao và đang có xu hướng sút giảm trong thời gian
3 năm trở lại đây Tốc độ giải ngân chậm gây ra việc lãng phí, thất thoát vốn gây ragánh nặng nợ không cần thiết cho thế hệ sau và gây ảnh hưởng xấu cho khả năngthu hút các nguồn đầu tư quốc tế khác
Trong 9 tháng đầu năm 2010, tổng giá trị vốn ODA được ký thôngqua các Hiệp định với các nhà tài trợ đạt 2.209 triệu USD; trong đó vốn vay đạt2.108 triệu USD và vốn viện trợ không hoàn lại đạt 101 triệu USD (Trong khi đócon số thu hút vốn ODA 9 tháng đầu năm 2009 tổng giá trị vốn ODA được kýthông qua các Hiệp định với các nhà tài trợ đạt 3.236 triệu USD)
Giải ngân ODA 9 tháng đầu năm 2010 ước đạt khoảng 1.920 triệu USD,bằng 79% kế hoạch cả năm và tăng 11% so với cùng kỳ năm 2009
Trang 17b) Tác động
• Thứ nhất: phát triển cơ sở hạ tầng qua đó tạo môi trường thuận lợi thu hútcác nguồn vốn đầu tư nước ngoài khác như FDI hay các nguồn vốn tài trợ khác củacác công ty, tổ chức kinh tế quốc tế khác Điển hình thông qua các dự án ODA, hệthống đường bộ được phát triển đáng kể từ quốc lộ 1A, 10, 18, 9, đường xuyên á(đoạn Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài), các cầu lớn (Mỹ Thuận, Cần Thơ,Thanh Trì, Bính
• Thứ hai: xoá đói giảm nghèo, phát triển xã hội
• Thứ ba: tăng cường bảo vệ môi trường và phát triển bền vững: Nhiều dự án ODA
hỗ trợ bảo vệ môi trường ở các thành phố lớn Nhiều dự án ODA đã dành cho việctăng cường hệ thống cấp nước sạch ở đô thị và nông thôn; cải thiện hệ thống thoátnước thải ở các thành phố lớn Bảo tồn các di tích văn hóa hay cá danh lam thắngcảnh
• Thứ tư: tăng cường thể chế: ODA đã góp phần tăng cường năng lực và thể chếthông qua các chương trình, dự án hỗ trợ công cuộc cải cách pháp luật, cải cáchhành chính và xây dựng chính sách quản lý kinh tế theo lịch trình phù hợp với chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước và lộ trình chủ động hội nhập kinh tếquốc tế, tăng cường năng lực con người Thông qua các dự án ODA, hàng ngàncán bộ Việt Nam được đào tạo và đào tạo lại; nhiều công nghệ sản xuất, kỹ năng
• Thứ năm: quan hệ đối tác chặt chẽ: Quan hệ giữa phía Việt Nam và các nhà tàitrợ đã được thiết lập trên cơ sở quan hệ đối tác, đề cao vai trò làm chủ của bên tiếpnhận ODA thông qua các hoạt động hài hoà và tuân thủ các quy trình và thủ tụcODA
Trang 18 Hạn chế:
Do ODA có một phần là vốn vay với lãi suất thấp và thời hạn vay dài Mặc
dù ta thừa nhận đây là 1 ưu điểm nổi trội của ODA tuy nhiên ta phải thừanhận thực tế vay thì phải đi kèm với nghĩa vụ trả nợ do thời hạn vay dài chonên sẽ dẫn tới gánh nặng nợ cho tương lai Đây là 1 sự rủi ro tiềm ẩn đối vớikhả năng thanh toán của một quốc gia và Việt Nam chúng ta cũng nằm trongtình trạng này
Điều thứ hai về hạn chế của ODA và các nước tiếp nhận ODA phải chấpnhận khi sử dụng nguồn vốn này chính là những điều kiện của các nước choODA Đó là những điều kiện về mở rộng hàng rào thuế quan, sự phụ thuộc
về thương mại quốc tế Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điềukhoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ Cụ thể lànước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA
là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyềnquản lý sử dụng ODA nhưng thông thường, các danh mục dự án ODA cũngphải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điềuhành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc
hỗ trợ chuyên gia
B Đối với đầu tư ra nước ngoài
1.Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp VN trong thời gian qua:
+ Giai đoạn 1989- 2008:
Tình hình đầu tư ra nước ngoài của VN (tính đến 19/12/2008)