1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản trị thông tin về thị trường chứng khoán với tư cách là một nhà đầu tư cá nhân

30 467 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Trị Thông Tin Về Thị Trường Chứng Khoán Với Tư Cách Là Một Nhà Đầu Tư Cá Nhân
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Huyền
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Chứng Khoán
Thể loại Đề Tài
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 265 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản trị thông tin về thị trường chứng khoán với tư cách là một nhà đầu tư cá nhân

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Thông tin là một vấn đề luôn được quan tâm đối với các chủ thể trongnền kinh tế đặc biệt là trong thời đại hiện nay- thời đại thông tin- thời đại củanền kinh tế tri thức Đối với họ việc tìm kiếm thông tin và quản trị thông tin là

vô cùng quan trọng nó quyết định tính hiệu quả trong các quyết định củamình

Ngày 20/7/2007 với việc đưa vào vận hành trung tâm giao dịch chứngkhoán thành phố Hồ Chí Minh đã đánh dấu sự ra đời của thị trường chứngkhoán Việt Nam Qua hơn 7 năm phát triển Việt Nam đã căn bản xây dựngđược cho mình một thị trường chứng khoán riêng Tuy nhiên sự tăng giảmdiễn ra liên tục với biên độ lớn trong thời gian qua đã nói lên cảnh báo chocác chủ thể của thị trường chứng khoán những rủi ro ngày càng dễ dàng xảy

ra Tình trạng trên diễn ra xuất phát từ nhiều nguyên nhân song nguyên nhân

cơ bản là: tính minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán chưa đượcđảm bảo Điều này đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến các nhà đàu tư Chúng tađã biết thị trường chứng khoán là thị trường của thông tin, ai có thông tinchính xác, kịp thời và khả năng phân tích tốt thì sẽ đầu tư có hiệu quả vàngược lại ai không có thông tin chính xác sẽ bị tổn thất Với việc ban hànhnghị định 36/2007/NĐ-CP quy định mức xử phạt đối với đối tượng công bốthông không chính xác về chứng khoán đã phân nào giúp cho nhà đầu tư cóđược thông tin tốt hơn phụcvụ cho qua trình quản tri thông tin củamình.nhưng bên cạnh đó các nhà đầu tư cũng phải tìm cho mình phương phápquản trị thông tin có hiệu quả hơn

Thực tế hiện nay cho thấy các nhà đầu tư chứng khoán ở Việt Nam tiếnhành đầu tư chủ yếu là theo phong trào, họ không có nhiều kiến thức cũngnhư kinh nghiệm cho việc quản tri thông tin để đưa ra những quyết định có cơsở khoa học.chính xác Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều trung tâm nhậntruyền đạt các kiến thức, kinh nghiệm cho các nhà đầu tư song số lượng vẫn ít

Trang 2

so với nhu cầu,chất lượng chưa được kiểm nghiệm và kiểm tra sát sao Là mộtsinh viên em rất thích tìm hiều về lĩnh vực chứng khoán, cho nên em đã chọn

đề tài: Quản trị thông tin về thị trường chứng khoán với tư cách là một

nhà đầu tư cá nhân Bài đề án của em nhằm giải quyết câu hỏi

- Là một nhà đầu tư cá nhân thì sẽ quản trị thông tin vể thị trường chứngkhoán như thế nào?

- Hiện nay các nhà đầu tư cá nhân quản trị thông tin về thị trường chứngkhoán như thế nào?

-Các nhà quản lý cũng như các chủ thể trong thị trường chứng khoán nênlàm gì để giúp cho các nhà đầu tư cá nhân thực hiện quá trình quản trị thôngtin cho tốt hơn ?

Bài viết của của em gồm 3 phần chính:

 PHẦN I: Cơ sở lý luận của quản trị thông tin về thị trườngchứng khoán với tư cách là nhà đầu tư cá nhân

 PHẦN II: Thực trạng quản trị thông tin về thị trườngchứng khoán của một số nhà đầu tư cá nhân

 PHẦN III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện thông tin vềthị trường chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân

Do là một sinh viên còn hạn chế nhiều về kiến thức lẫn kinh nghiệm nênbài viết của tôi không tránh khỏi có nhiều hạn chế Tôi rất mong có được sựđóng góp ý kiến của các bạn cho bài viết của tôi được hoàn thiện hơn Tôixin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền đã tận tình hướngdẫn giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này

Trang 3

PHẦN I:Cơ sở lý luận của quản trị thông tin về thị trường chứng

khoán với tư cách là một nhà đầu tư cá nhân

I Thị trường chứng khoán và thông tin về thị trường chứng khoán mà nhà đầu tư cá nhân cần biết

1) Thị trường chứng khoán.

1.1 Khái niệm và bản chất Thị trường chứng khoán.

Thị trường chứng khoán.

Theo mô hình trên, ta dễ dàng hiểu Thị trường chứng khoán về cơbản cũng giống như các loại thị trường khác Nghĩa là cũng là nơi diễn ra cácgiao dịch mua bán, trao đổi các loại hàng hoá là chứng khoán

Trong thực tế, đã có nhiều quan điểm về Thị trường chứng khoán nhưngquan điểm chung nhất là:

Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính, là nơi diễn ra các giao dịch mua bán trao đổi các chứng khoán, các hàng hoá

và dịch vụ tài chính giữa các chủ thể tham gia Việc trao đổi mua bán này được thực hiện theo những quy tắc ấn định trước.

Chứng khoán:Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ có giá

hay bút toán ghi sổ, nó cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhậpvà tài sản của tổ chức phát hành hoặc quyền sở hữu Các quyền yêu cầunày có sự khác nhau tuỳ theo tính chất sở hữu của chúng Các tính chất cơbản của chứng khoán bao gồm:

Thị Trường Chứng khoán

Thị trường (Chợ)

Chứng khoán (Hàng hoá)

Trang 4

Tính thanh khoản (tính lỏng): Là khả năng chuyển đổi

nhanh chứng khoán sang tiền mặt

Tính sinh lợi: Là khả năng sinh lợi từ cổ tức và lãi vốn.

Tính rủi ro: Là sai biệt giữa lợi tức thực tế với sinh lợi kỳ

vọng Gồm có rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống

Theo luật chứng khoán hiện hành (2006) thì “Chứng khoán là bằng

chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sảnhoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán được thể hiện dưới hình

thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau

đây:

 Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;

 Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua,quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ sốchứng khoán

Bản chất thị trường chứng khoán:-Thị trường chứng khoán

là nơi gặp nhau giữa những chủ thể thừa vốn và những chủ thể có nhu cầuvề vốn Nơi thực hiện giao dịch trao đổi, mua bán các loại chứng khoánnhằm thực hiện mục tiêu của mình Như vậy, có thể nói bản chất của thịtrường chứng khoán là thị trường thể hiện mối quan hệ giữa cung và cầucủa vốn đầu tư, mà ở đó giá cả của chứng khoán thể hiện thông tin về chiphí vốn hay giá cả của vốn đầu tư Thị trường chứng khoán là hình thứcphát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hoá

- Thị trường chứng khoán là nơi tập trung và phân phối các nguồn tiếtkiệm Nguồn tiết kiệm đó được phân phối cho người sử dụng theo giá màngười sử dụng sẵn sàng trả và theo những phán đoán của thị trường về khảnăng sinh lợi từ các dự án mà người sử dụng thực hiện, qua đó chuyển tư bảnsở hữu sang tư bản kinh doanh

- Thị trường chứng khoán là định chế tài chính trực tiếp, cả người cungứng và người có nhu cầu về vốn đều tham gia vào thị trường một cách trực

Trang 5

tiếp khi có đủ điều kiện về tài chính và pháp lý Điều này giúp nhà đầu tưchứng khoán gắn liền quyền sở hữu vốn với quyền sử dụng vốn, nâng cao khảnăng quản lý vốn Thị trường chứng khoán không phân biệt ranh giới giữađầu tư ngắn hạn và đầu tư dài hạn, vì nhà đầu tư có thể mua bán chứng khoánở bất kỳ thời điểm nào nên các chứng khoán trung và dài hạn cũng có thể trởthành đối tượng đầu tư ngắn hạn Như vậy nhà đầu tư có thể động đầu tư ngắnhạn tránh các rủi ro do đầu tư dài hạn.

1.2 Phân loại thị trường chứng khoán.

Theo các mục đích nghiên cứu khác nhau, Thị trường chứng khoáncó thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau Tuy nhiên, xét một cách

cơ bản và khá đầy đủ, ta có thể phân loại thị trường chứng khoán theo các tiêuthức sau:

Theo cơ chế luân chuyển vốn ta có:

- Thị trường sơ cấp (hay thị trường cấp 1): Là thị trường phát hànhchứng khoán hay là nơi mua bán các chứng khoán lần đầu tiên Tại thị trườngnày, giá của chứng khoán là giá phát hành Việc mua bán chứng khoán trênthị trường sơ cấp làm tăng vốn cho chủ thể phát hành

- Thị trường thứ cấp (hay thị trường cấp 2): Là thị trường giao dịch muabán trao đổi, chuyển nhượng các chứng khoán sau phát hành, các giao dịchnày không làm gia tăng vốn cho chủ thể phát hành mà chỉ chuyển đổi quyềnsở hữu giữa các nhà đầu tư, nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tưhay di chuyển tài sản xã hội

Hai thị trường này có mối quan hệ biện chứng, củng cố và thúc đẩynhau phát triển Điều đó được thể hiện ở chỗ:

- Nếu không có thị trường sơ cấp thì không có thị trường thứ cấp

-Thị trường thứ cấp làm tăng tính lỏng cho chứng khoán đã phát hành ởthị trường sơ cấp, làm tăng sự ưa chuộng của chứng khoán và làm giảm rủi rocho các nhà đầu tư

Trang 6

-Thị trường thứ cấp xác định giá của chứng khoán đã phát hành trên thịtrường sơ cấp và được coi là thị trường định giá công ty.

-Thị trường thứ cấp cung cấp cơ sở tham chiếu cho các nhà phát hànhcũng như các nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp

Hai thị trường tác động qua lại và hỗ trợ cho nhau Nhưng mục đíchcuối cùng của thị trường chứng khoán là tăng cường hoạt động trên thị trường

sơ cấp Vì chỉ tại thị trường này vốn mới thực sự vận động, còn hoạt độngtrên thị trường thứ cấp chỉ là tư bản giả, không tác động trực tiếp tới việc tíchtụ và tập trung vốn

Theo phương thức chức giao dịch ta có:

-Thị trường chứng khoán tập trung: được tổ chức theo hình thức Sở giao

dịch hay Trung tâm giao dịch Chỉ những công ty lớn, đủ điều kiện mới đượchoạt động trên thị trường này Thị trường này được quản lý một cách chặt chẽbởi Uỷ ban chứng khoán quốc gia Các hoạt động mua bán, trao đổi diễn ra tạimột địa điểm cố định Hoạt động duới sự điều tiết của Luật chứng khoán vàthị trường chứng khoán Ví dụ ở Mỹ là sở giao dịch chứng khoán NewYork(NYSE), Tại Nhật là sở giao dịch chứng khoán Tokyo (TSE)…

- Thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC): Là thị trường do các nhà

buôn và các nhà tạo lập thị trường xây dựng lên Thị trương này không có địađiểm giao dịch chính thức mà diễn ra qua điện thoại hay mạng máy tính diệnrộng Thị trường này thường có quy mô lớn hơn rất nhiều so với thị trườngchứng khoán tập trung Ví dụ tại Mỹ là mô hình NASDAQ, tại Nhật làJASDAQ…Hiện nay giữa thị trường chứng khoán tập trung và phi tập trungkhông còn ranh giới rõ ràng Khi mà các sở giao dịch, các thị trường phi tậptrung ngày càng mở rộng quy mô và tăng cường liên kết

- Ngoài ra, còn loại thị trường thứ ba dành cho các công ty không đủ

điều kiện niêm yết trên cả hai thị trường trên Chúng thường được gọi là thị

trường chứng khoán tự do.

Theo bản chất công cụ tài chính ta có:

Trang 7

- Thị trường trái phiếu (thị trường công cụ nợ) là thị trường mà hàng hóa

tại đó là các trái phiếu Theo như luật chứng khoán hiện hành thì: “ Trái

phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở

hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành” Việc phát hành tráiphiếu thực chất là đứng ra đi vay theo phương thức hoàn trả cả gốc và lãi theomột tỷ lệ lợi tức nhất định Người cho vay không chịu bất cứ trách nhiệm nàovề hoạt động sử dụng vốn Trái phiếu thường có thời hạn xác định, có thể làtrung hay dài hạn

- Thị trường cổ phiếu (thị trường vốn cổ phần) là thị trường cơ bản trongthị trường chứng khoán Là nơi giao dịch mua bán, trao đổi các giấy tờ xác

nhận cổ phần đóng góp của cổ đông “Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận

quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phầncủa tổ chức phát hành” (Luật chứng khoán 2006) Theo đó, cổ đông là chủ sởhữu

của công ty và chịu trách nhiệm trên phần đóng góp của mình Thu nhậptừ cổ phiếu là cổ tức (phần lợi nhuận sau thuế đem chia) và lãi vốn (phầnchênh lệch giá mua và giá bán cổ phiếu) Cổ phiếu có nhiều loại, nhưng đều làcông cụ tài chính không thời hạn

- Thi trường các công cụ dẫn suất, hay công cụ phái sinh là thị trườnggiao dịch trao đổi mua bán các công cụ phái sinh, tiêu biểu như quyền mua,quyền bán, hợp đồng tương lai Đây là các công cụ phòng ngừa rủi ro hữuhiệu và là công cụ đầu cơ lý tưởng cho nhà đầu tư

Trang 8

1.3 Vai trò của thị trường chứng khoán.

Lịch sử phát triển hàng trăm năm đã khằng định được vai trò của thịtrường chứng khoán trong việc phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia nóiriêng và toàn thế giới nói chung Hiện nay, một nền kinh tế vững mạnh khôngthể thiếu vắng sự tồn tại của thị trường chứng khoán Vậy điều gì đã làm chothị trường chứng khoán có một vị trí quan trọng đến vậy Chúng ta có thể hiểuđiều đó khi thấy được vai trò của thị trường chứng khoán, biểu hiện ở nhữngđiểm sau:

Thứ nhất, thị trường chứng khoán tạo ra các công cụ tài chính với

tính thanh khoản cao có thể tích tụ , tập trung và phân phối vốn trên thị trườngmột cách có hiệu quả, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế Yếu tố thông tinvà yếu tố cạnh tranh trên thị trường chứng khoán sẽ thúc đẩy sự phát triển củacác công nghệ mới, nhạy cảm với sự thay đổi thường xuyên của thị trường.Thị trường chứng khoán buộc các ngân hàng thương mại và các tổ chứctài chính vừa có cơ hội phát triển, vừa là thách thức tạo động lực cạnh tranh.Việc phát hành chứng khoán ra thị trường chứng khoán là giải pháp hữuhiệu cho các công ty huy động vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh, tránhđược các khoản vay với chi phí cao và sự kiểm soát chặt chẽ của ngân hàng.Mặt khác tạo sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong việc huy động và sửdụng vốn

Thứ hai, thị trường chứng khoán tạo điều kiện tái phân phối công

bằng hơn thông qua việc san sẻ quyền sở hữu, định đoạt và hưởng lợi ích từhoạt động của công ty Nó cũng tránh hiện tượng tập trung tư bản vào tay mộtsố ít người trong xã hội do đó phòng tránh được hiện tượng độc quyền Tạođiều kiện cạnh tranh công bằng hơn, tạo hiệu quả và động lực cho nền kinh tế

Thứ ba, thị trường chứng khoán giúp tách biệt giữa việc sở hữu với

quản lý vốn cũng như doanh nghiệp Khi quy mô Doanh nghiệp tăng, đòi hỏiviệc chuyên nghiệp trong quản lý Người có vốn không có kỹ năng quản lýcũng có thể tham gia thị trường một cách dễ dàng, tạo điều kiện tiết kiệm chất

Trang 9

xám cho người quản lý, tạo cơ chế kiểm soát chặt chẽ hơn, minh bạch hơn

tránh những tiêu cực trong quản lý

Thứ tư, Thị trường chứng khoán tăng cường khả năng thu hút nguồn

vốn đầu tư nước ngoài Ngoài đầu tư trực tiếp, nguồn vốn đầu tư từ nướcngoài cũng dễ dàng thực hiện hơn, điều này cũng giúp tăng cường khả năngcạnh tranh quốc tế và mở rộng các cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp

Thứ năm, thị trường chứng khoán giúp Chính phủ trong việc huy

động vốn, bù đắp cho thâm hụt ngân sách và thực hiện các chính sách tiền tệmột cách hiệu quả

Thứ sáu, thị trường chứng khoán cung cấp sự dự báo cho hoạt động

kinh doanh trong tương lai

Và tất nhiên, thị trường chứng khoán cũng không thể tránh khỏi nhữnghạn chế nhất định như đầu cơ, thâu tóm, xung đột Nhưng những mặt trái đóchủ yếu do sự thiếu minh bạch trong kinh doanh tạo nên, vì vậy vai trò củaChính phủ, của các tổ chức và đặc biệt là dạo đức trong kinh doanh chứngkhoán là hết sức quan trọng Thị trường chứng khoán là tích cực hay tiêu cựcđều dựa trên hoạt động của các chủ thể tham gia thị trường

1.4 Các chủ thể trên thị trường chứng khoán.

Về cơ bản, một thị trường chứng khoán muốn hoạt động cần sự góp mặtcủa các chủ thể sau:

a Chủ thể phát hành.

Là những người cung cấp chứng khoán ra thị trường nhằm thu hút vốnđầu tư Chủ thể phát hành bao gồm chính phủ, doanh nghiệp, quỹ đầu tư vàcác trung gian tài chính

b Nhà đầu tư.

Là những người có vốn thực hiện mua bán chứng khoán trên thịtrường nhằm tìm kiếm lợi nhuận Bao gồm nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tưcó tổ chức Nhà đầu tư cá nhân thường mua bán với số lượng chứng khoánkhông lớn, họ tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở khả năng tài chính và khả năng

Trang 10

chấp nhận rủi ro Các nhà đầu tư có tổ chức là các nhà đầu tư chuyên nghiệp,thường mua bán chứng khoán với số lượng lớn, đa dạng hoá danh mục đầu tưđể hạn chế rủi ro Thường là các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán,quỹ hỗ tương, công ty bảo hiểm Các quyết định đầu tư được thực hiện bởicác chuyên gia có kinh nghiệm.

c Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán

bao gồm:

- Công ty chứng khoán

- Các quỹ đầu tư chứng khoán

- Các trung gian tài chính

Các tổ chức này thực hiện các nghiệp vụ chứng khoán được nhà nướcquy định như: môi giới chứng khoán, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứngkhoán, lưu kí chứng khoán…

d.Các tổ chức có liên quan.

Ngoài các chủ thể chính nêu trên, thị trường chứng khoán không thểthiếu sự góp mặt của các tổ chức sau:

- Các cơ quan quản lý và giám sát hoạt động của thị trường chứngkhoán: Các cơ quan này được nhà nước thành lập, hoạt động với nhiệmvụ đảm bảo cho thị trường chứng khoán hoạt động một cách minhbạch, lành mạnh và có hiệu quả nhất

- Sở giao dịch chứng khoán

- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán

- Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán

- Các tổ chức hỗ trợ

- Các tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm

Các tổ chức này có tác động không nhỏ, chúng có tác dụng bổ trợ tíchcực cho các hoạt động của thị trường chứng khoán Đảm bảo thực hiện cácnguyên tắc trên thị trường, thực hiện công tác đánh giá thị trường, tạo ra các

Trang 11

dịch vụ hữu ích cho các nhà đầu tư Sự góp mặt của các tổ chức này tạo nênsự hoàn thiện cho thị trường chứng khoán.

1.5 Đôi nét về thị trường chứng khoán Việt Nam.

1.5.1 Tổng quan.

Như đã nêu trong lời mở đầu, thị trường chứng khoán Việt Nam chotới nay đã có hơn 7 năm đi vào hoạt động Nhìn chung, thị trường chứngkhoán Việt Nam đang được đánh giá khá tốt với tốc độ tăng trưởng cao dùquy mô còn nhỏ bé Theo cuộc điều tra mới nhất của hãng tin tài chínhBloomberg và hãng tư vấn đầu tư toàn cầu Standard and Poor’s thì tốc độtăng trưởng của thị trường chứng khoán Việt Nam đứng thứ 24/83 thị trườngtăng trưởng hàng đầu thế giới Theo đó, tốc độ tăng trưởng bình quân hằngnăm của Việt Nam đạt 43% Tại thị trường Châu Á, chúng ta chỉ đứng sau ẤnĐộ (50%) và Indonesia (46%) Có được kết quả đó trước hết là nhờ Việt Namcó được một môi trường đầu tư lí tưởng, tốc độ tăng trưởng bình quân luônđạt trên 8 phần trăm, nền an ninh chính trị xã hội ổn định Thêm vào đó lànhững cố gắng không nhỏ của Chính phủ và các Doanh nghiệp với việc banhành các chính sách thu hút đầu tư, luật chứng khoán có hiệu lực, chính sáchcổ phần hoá doanh nghiệp, cộng với một môi trường cạnh tranh lành mạnh.Đó là những động lực không nhỏ cho thị trường chứng khoán Việt Nam hiệntại cũng như tương lai

Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng thị trường chứng khoán Việt Namcòn quá nhỏ bé so với các thị trường khác trên thế giới Tháng 7/2000 khi đưavào hoạt động tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh mới chỉcó 2 công ty niêm yết với số vốn khoảng 16.8 triệu USD Tới 2004 con số nàylà 3.1 tỷ USD, quá nhỏ bé so với hai thị trường hàng xóm là Thái Lan 132.3

tỷ USD và Trung Quốc với 650 tỷ USD Theo số liệu thống kê củaBloomberg thì trong 3 tháng, tổng giá trị trao đổi của Việt Nam là 6.6 triệuUSD, trong khi đó Thái Lan là 314 triệu USD và 3.1 tỷ USD tại Hồng Kông.Những con số này đã phản ánh quy mô còn quá nhỏ bé của thị trường Việt

Trang 12

Nam Bên cạnh đó có thể kể ra đây những mặt còn hạn chế của thị trườngchứng khoán Việt nam như tính thanh khoản của chứng khoán chưa cao,chính sách thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này chưa thông thoáng,cụ thể là quy định nhà đầu tư nước ngoài chỉ được nắm giữ 49% cổ phần công

ty Thêm vào đó là tính chuyên nghiệp của thị trường chưa cao, mà tiêu biểulà nguồn nhân lực còn quá nhiều hạn chế

Thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh giá là thăng hoa vàbất ổn, thị trường có những lúc phát triển tột bậc nhưng cũng có lúc rơi rớtmột cách thảm hại Bởi vì lẽ đơn giản, chứng khoán là một thị trường mới mẻ,nguồn tiền đầu tư mang nặng tính phong trào và bị cuốn theo cơn lốc làm giàunhanh chóng Đó là thách thức không nhỏ về sự bất ổn của thị trường

1.5.2 Về phân loại thị trường chứng khoán.

Hiện nay, thị trường chứng khoán Việt nam chủ yếu tồn tại theo hìnhthức thị trường tập trung với việc các chứng khoán chủ yếu được niêm yếttrên Sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh và Trung tâm giao dịchchứng khoán Hà Nội Đó là điểm khác biệt giữa thị trường chứng khoán ViệtNam với các thị trường chứng khoán phát triển khác Thị trường OTC vẫnđang tồn tại dưới hình thức dự án và sẽ được áp dụng vào năm 2008 Thịtrường tự do thì vẫn quá nhỏ bé Một vài đặc điểm của SGDCK Tp Hồ ChíMinh và TTGDCK Hà Nội đáng chú ý như sau:

- SGDCK Tp Hồ Chí Minh hiện tại đã có 127 (11/2007) công ty niêmyết với giá trị niêm yết khoảng 100 ngàn tỷ đồng Hoạt động theo phươngthức khớp lệnh liên tục kết hợp khớp lệnh định kì để xác định giá mở và đóngcửa (áp dụng từ ngày 30/07/2007) Trước đây áp dụng phương thức khớp lệnhđịnh kì Đơn vị giao dịch là 10 cổ phiếu với 3 mức đơn vị yết giá là 100, 500và 1000 đồng tuỳ theo mức giá

- TTGDCK Hà Nội hiện có 101 (11/2007) công ty niêm yết với giá trịniêm yết khoảng hơn 73 ngàn tỷ đồng Phương thức khớp lệnh liên tục đơn vịgiao dịch là 100 cổ phiếu, với đơn vị yết giá là 100 đồng

Trang 13

Ngoài hai trung tâm giao dịch chứng khoán kể trên, thị trường chứngkhoán Việt Nam còn tồn tại các chủ thể sau:

- Uỷ ban chứng khoán nhà nước

- Các công ty chứng khoán

- Các tổ chức phát hành chứng khoán

- Các nhà đầu tư chứng khoán

Thị trường chứng khoán Việt Nam chủ yếu là thị trường vốn cổphần (giao dịch cổ phiếu) và thị trường công cụ nợ (giao dịch trái phiếu) Cònthị trường các công cụ dẫn suất mới chỉ manh nha hình thành Trong khi thịtrường này đã rất phát triển ở các thị trường chứng khoán lớn trên thế giới.Điều đó cũng là biểu hiện hạn chế của thị trường chứng khoán Việt Nam

1.5.3 Về chỉ số giá chứng khoán.

Chỉ số chứng khoán Việt Nam ký hiệu là VN - Index VN - Index xâydựng căn cứ vào giá trị thị trường của tất cả các cổ phiếu được niêm yết Vớihệ thống chỉ số này, nhà đầu tư có thể đánh giá và phân tích thị trường mộtcách tổng quát Với công thức tính như sau:

Q0i P0i

Q1i P1i

P1i, Q1i: Giá cả, khối lượng chứng khoán tại thời điểm tính toán

P0i,Q0i: Giá cả, khối lượng chứng khoán tại thời kỳ gốc

Hiện nay chỉ số chứng khoán Việt nam giao động trong khoảng 1000điểm, tuy nhiên do thị trường Việt nam còn nhỏ bé và bất ổn nên đây chưaphải là chỉ số đáng tin cậy để đánh giá hoạt động của thị trường chứng khoáncũng như nền kinh tế giống như các thị trường đã phát triển khác

Dưới đây là biểu đồ chỉ số VN-Index từ năm 7/2000 đến 11/2007được cập nhập từ Uỷ ban chứng khoán nhà nước trên trang web

Trang 14

www.ssc.gov.vn/ để chúng ta thấy được phần nào sự phát triển của thị trườngchứng khoán Việt Nam.

2) Đầu tư chứng khoán với tư cách là nhà đầu tư cá nhân.

2.1 Đầu tư

Đầu tư là sự hy sinh nguồn lực ở hiện tại để tiến hành cách hoạt độngnhằm thu được kết quả ,thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tươnglai

Đầu tư gián tiếp : là hình thức đầu tư trong đó người bỏ

vốn không trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện vàvận hành kết quả đầu tư

Đầu tư trực tiếp ;là hình thức đầu tư trong đó người bỏ

vốn trực tiếp phtham gia quản lý ,điều hành quá trình thực hiện và vậnhành kết quả đầu tư

2.2 Nhà đầu tư

Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thịtrường chứng khoán

Trang 15

Nhà đầu tư cá nhân : là những người có vốn nhàn rỗi tạm

thời ,tham gia mua bán trên thị trường chứng khoán với mục đích tìmkiếm lợi nhuận

2.3 Mục đích của đầu tư

2.3.1 Đầu tư vì sự an toàn vốn :với mục đích này đầu tư của bạn sẽ

không có hoặc rất it rủi ro ( trái phếu của chính phủ ,của các tổ chức lớn )

2.3.2 Đầu tư vì thu nhập ; với mục tiêu này sẽ giúp cho bạn có được số

tiền lời nhất định để trang trải chi phí cho cuộc sống hiện tại và tương lai

2.4.3.Đầu tư vì quyền lực : đầu tư để thâu tóm tổ chức chiếm lĩnh quyền lực 2.4 Các bước của một quá trình đầu tư chứng khoán

Bước1: Chọn lựa cổ phiếu.

Bước đầu tiên trong việc lựa chọn cổ phiếu là bắt đầu theo dõi diếnbiến các cổ phiếu Đặt một cổ phiếu vào danh sách theo dõi sẽ làm tăng sựchú ý của bạn đối với cổ phiếu đó Nếu theo trường phái kỹ thuật thi khi đódiễn biến giá cổ phiếu là lý do của việc lựa chọn một cổ phiếu để theo dõi Nếu theo về trường phái phân tích cơ bản thì tin tức về thu nhập hay bất

kỳ một tin tức nào về công ty lại là lý do chính để bạn quan tâm đến cổ phiếunáy Một cổ phiếu đã nằm trong danh sách theo dõi của bạn thi nen so sánhdiễn biến giá của cổ phiếu đó với giá của cổ phiếu khác.Nhà đầu tư nên kếthợp cả thông tin về phân tích cơ bản lẫn phân tích kỹ thuật để có được lựachọn chính xác

Bước2: Chấp nhận vị thế.

Chấp nhận vị thế là công việc khá đơn giản chỉ cần liên hệ với nhà môgiới và thực hiện giao dịch Tuy nhiên cũng cần lưu ý một số điều trước tiênlà loại giao dịch mà bạn thực hiện dài hạn hay ngắn hạn.Mặc dù xu hướngchung của giá cổ phiếu là đi lên nhưng trong ngắn hạn cổ phiếu có khả nằng

đi xuống hơn là đi lên

Ngày đăng: 28/03/2013, 16:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w