1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

định hướng và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của công ty dâu tằm tơ i trong thời gian tới

108 281 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 708,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian thực tập tại công ty, thấyđược thực trạng như vậy, đồng thời nhận thức được tầm quan trọng của củacông tác xuất khẩu đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, vớ

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay quốc tế hoá, toàn cầu hoá đang là xu thế chung của nhân loại,không một quốc gia nào có thể thực hiện một chính sách đóng cửa mà vẫn có thểphồn vinh được Trong bối cảnh đó TMQT là một lĩnh vực hoạt động đóng vaitrò mũi nhọn thúc đẩy nền kinh tế trong nước hội nhập với nền kinh tế thế giới,phát huy những lợi thế so sánh của đất nước, tận dụng tiềm năng về vốn, côngnghệ, khoa học kỹ thuật, kỹ năng quản lý tiên tiến từ bên ngoài, duy trì và pháttriển văn hoá dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hoá của nhân loại Trong xuthế hội nhập kinh tế quốc tế, chiến lược phát triển kinh tế mà Đảng và Nhà nước

ta đã lựa chọn là hướng mạnh về xuất khẩu, từng bước thay thế nhập khẩu.Vớichiến lược đó các nhà doanh nghiệp đã có nhiều cơ hội để tăng trưởng và pháttriển mạnh, tham gia vào TMQT

Công ty dâu tằm tơ I- Hà Nội là một điển hình, trong những năm vừa quanhờ hoạt động xuất khẩu tơ lụa công ty đã đạt được những thành tựu đáng kể,lợi nhuận liên tục gia tăng, uy tín được tăng cường, đời sống của cán bộ côngnhân viên ngày một cải thiện Tuy vậy, trong quá trình xuất khẩu công ty khôngtránh khỏi những khó khăn hạn chế Trong thời gian thực tập tại công ty, thấyđược thực trạng như vậy, đồng thời nhận thức được tầm quan trọng của củacông tác xuất khẩu đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, với sựgiúp đỡ hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn cùng các cô chú, các anh

chị trong công ty, em đã chọn đề tài: “Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu ở công ty dâu tằm tơ I- Hà Nội”.

Báo cáo được chia làm 3 phần:

Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu.

Chương II: Thực trạng hoạt động xuất khẩu ở công ty dâu tằm tơ I- Hà Nội.

Chương III: Định hướng và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu ở công ty dâu tằm tơ I- Hà Nội trong thời gian tới.

Trang 2

Do những hạn chế về thời gian, tài liệu nghiên cứu và khả năng của ngườiviết, bài viết chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Em mong nhận được

sự góp ý chân thành để đề tài được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình và quý báu của thầy giáohướng dẫn và các cô chú, các anh chị trong công ty đã nhiệt tình giúp đỡ emhoàn thành bài viết này

Trang 3

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU

I Tổng quan về hoạt động xuất khẩu

Nằm trên những vùng khác nhau của quả đất, mỗi một quốc gia có điềukiện tự nhiên đất đai khí hậu khác nhau Cho đến nay trên thế giới chưa có mộtquốc gia nào có đủ tất cả các nguồn lực để tự sản xuất tất cả các hàng hoá chotiêu dùng trong nước một cách có hiệu quả Chính vì thế từ xưa tới nay, thươngmại quốc tế (TMQT) dù dưới hình thức nào thì cũng luôn có vai trò rất quantrọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Vậy TMQT là gì?

TMQT là sự trao đổi hàng hoá và dịch vụ (hàng hoá hữu hình và hàng hoá

vô hình) giữa các quốc gia, thông qua mua bán, lấy tiền tệ làm môi giới tuântheo nguyên tắc trao đổi ngang giá Sự trao đổi đó là một hình thức của mốiquan hệ xã hội phản ánh sự phụ thuộc lấn nhau về kinh tế giữa những người sảnxuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia trên thế giới TMQT cho phép mộtnước tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng nhiều hơn mức có thể tiêu dùngvới ranh giới của khả năng sản xuất trong nước khi thực hiện chế độ tự cung tựcấp không buôn bán TMQT là một lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện chocác nước tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làmgiàu cho đất nước.TMQT bao gồm nhiều hoạt động khác nhau trên giác độ mộtquốc gia đó chính là hoạt động ngoại thương Nội dung của TMQT bao gồm:

- Xuất và nhập khẩu hàng hoá, hữu hình và vô hình

- Gia công thuê cho nước ngoài và thuê nước ngoài gia công

- Tái xuất khẩu và chuyển khẩu

- Xuất khẩu tại chỗ

Thương mại hàng hoá và dịch vụ với nước ngoài không thể là quan hệ banphát cho không, không phải chỉ có nhập mà phải có xuất, phải cân đối được xuấtnhập và tiến tới xuất siêu ngày càng lớn Vậy xuất khẩu là gì? Xuất khẩu là việc

Trang 4

bán sản phẩm hàng hoá sản xuất ra nước ngoài nhằm mục đích thu ngoại tệ, tăngtích luỹ cho ngân sách nhà nườc, phát triển sản xuất kinh doanh khai thác ưu thếtiềm năng đất nước và nâng cao đời sống nhân dân Khác với hoạt động mua bánsản phẩm diễn ra trên thị trường nội địa, hoạt động xuất khẩu phức tạp hơnnhiều, bởi đây là hoạt động buôn bán trao đổi qua biên giới quốc gia, thị trường

vô cùng rộng lớn khó kiểm soát, thanh toán bằng ngoại tệ đồng thời phải tuânthủ theo những tập quán thông lệ quốc gia cũng như luật pháp của từng địaphương

Hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực trong mọi điều kiện

từ xuất nhập khẩu hàng hoá tiêu dùng, máy móc thiết bị và cả công nghệ cao.Tất cả các hoạt động buôn bán trao đổi này đều nhằm mục đích là đem lại lợi íchcho các quốc gia tham gia

1 Nguồn gốc của TMQT

TMQT có từ hàng ngàn năm nay, nó ra đời sớm nhất và hiện nay vẫn giữ

vị trí trung tâm trong các quan hệ kinh tế quốc tế

TMQT trước hết là sự trao đổi hàng hoá dịch vụ giữa các quốc gia Tiền

đề xuất hiện sự trao đổi là phân công lao động xã hội Với tiến bộ khoa học kỹthuật, phạm vi chuyên môn hoá ngày càng tăng, số sản phẩm và dịch vụ để thoảmãn nhu cầu con người ngày một dồi dào, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốcgia ngày càng lớn Thương mại bắt nguồn từ sự đa dạng và điều kiện tự nhiêncủa sản xuất giữa các nước, nên chuyên môn hoá sản xuất một số mặt hàng cólợi thế và nhập khẩu các mặt hàng khác từ nước ngoài mà sản xuất trong nướckém lợi thế thì chắc chắn đem lại lợi nhuận lớn hơn

Sự khác nhau về điều kiện sản xuất ít nhất cũng giải thích được sự hìnhthành TMQT giữa các nước trong kinh doanh các mặt hàng như dầu lửa, lươngthực, dịch vụ du lịch Song như chúng ta đã biết phần lớn số lượng thương mạitrong các mặt hàng không xuất phát từ điều kiện tự nhiên vốn có của sản xuất.Một nước có thể sản xuất được mặt hàng này tại sao lại nhập khẩu chính mặthàng đó từ một nước khác? Làm sao nước ta với xuất phát điểm thấp, chi phí sản

Trang 5

vẫn duy trì quan hệ thương mại với các nước đó? Để giải thích những câu hỏitrên chúng ta hãy xem xét quy luật lợi thế tương đối (hay lý thuyết về lợi thế sosánh) của nhà kinh tế học David Ricardo (1772- 1823)

Quy luật lợi thế tương đối nhấn mạnh sự khác nhau về chi phí sản xuất coi

đó là chía khoá của các phương thức thương mại Lý thuyết này khẳng định nếumỗi quốc gia chuuyên môn hóa sản xuất các sản phẩm mà nước đó có lợi thếtương đối hay có hiệu quả sản xuất cao nhất thì thương mại có hiệu quả cho cảhai nước Nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc gia khác trongviệc sản xuất tất cả các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vàoTMQT để tạo ra lợi ích Khi tham gia vào TMQT quốc gia đó sẽ chuyên mônhoá sản xuất và xuất khẩu các loại hàng hoá mà việc sản xuất chúng ít bất lợinhất (đó là những hàng hoá có lợi thế tương đối) Còn nhiều lý do khác nhaukhiến TMQT ra đời và ngày càng trở lên quan trọng, đặc biệt trong một thế giớihiện đại Một trong những lý do đó có thể là TMQT tối cần thiết cho việcchuyên môn hoá để có hiệu quả kinh tế cao trong các ngành công nghiệp hiệnđại Chuyên môn hoá quy mô lớn làm chi phí sản xuất giảm và hiệu quả kinh tếtheo quy mô sẽ được thực hiện trong hàng hoá các nước sản xuất Sự khác nhau

về sở thích và mức cầu cũng là một nghuyên nhân khác để có TMQT Ngay cảtrong trường hợp hiệu quả tuyệt đối ở hai nơi giống hệt nhau, TMQT vẫn có thểdiễn ra do sự khác nhau về sở thích

Trong xu thế quốc tế hoá nền kinh tế, con đường xây dựng nền kinh tếđộc lập tự chủ theo kiểu cô lập với bên ngoài, tự cấp, tự túc hay thay thế nhậpkhẩu đã hoàn toàn không có sức thuyết phục Thực tế cho thấy con đường dẫnđến phát triển nhanh, bền vững không phải qua chuyên môn hoá ngày càng sâurộng để sản xuất ra những sản phẩm sơ chế, mà thông qua việc mở rộng và pháttriển các ngành sản xuất chế biến sâu, có giá trị thặng dư cao, hướng về xuấtkhẩu là chính, đồng thời thay thế những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệuquả hơn để khai thác tốt nhất lợi thế so sánh về nguồn nhân lực, tài nguyên thiênnhiên, vốn, kỹ thuật, công nghệ, thị trường cho sự phát triển Để thấy rõ điều

Trang 6

này chúng ta hãy xem xét những vai trò sau đây của TMQT nói chung và củaxuất khẩu nói riêng.

2 Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với sự phát triển của mỗi quốc gia

Quốc gia cũng như cá nhân không thể sống một cách riêng rẽ mà có đượcđầy đủ mọi thứ hàng hoá Buôn bán quốc tế có ý nghĩa sống còn, mở rộng khảnăng tiêu dùng của một nước Xuất khẩu là một hoạt động TMQT có vai tròquan trọng thể hiện trên các mặt sau:

2.1 Xuất khẩu nhằm khai thác lợi thế, phát triển có hiệu quả kinh tế trong nước

Trong thế giới hiện đại không một quốc gia nào bằng chính sách đóng cửacủa mình lại phát triển có hiệu quả kinh tế trong nước Muốn phát triển nhanhmỗi nước không thể đơn độc dựa vào nguồn lực của mình mà phải biết tận dụngcác thành tựu kinh tế khoa học kỹ thuật của loài người để phát triển Nền kinh

tế “mở cửa”, trong đó xuất khẩu đóng vai trò then chốt sẽ mở hướng phát triểnmới tạo điều kiện khai thác lợi thế tiềm năng sẵn có trong nước nhằm sử dụngphân công lao động quốc tế một cách có lợi nhất

Đối với những nước mà trình độ phát triển kinh tế còn thấp như nước ta,những nhân tố tiềm năng là: tài nguyên thiên nhiên và lao động Còn những yếu

tố thiếu hụt là vốn, kỹ thuật, thị trường và kĩ năng quản lý Xuất khẩu là giảipháp mở cửa nền kinh tế nhằm tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, kếthợp chúng với tiềm năng trong nước về lao động và tài nguyên thiên nhiên đểtạo sự tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế, góp phần rút ngắn khoảng cách chênhlệch với các nước giàu

2.2 Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, tạo nguồn vốn

và kỹ thuật bên ngoài cho quá trình sản xuất trong nước

Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển mạnh trở thành nhân tốquyết định cho sự phát triển của sản xuất Xuất khẩu để tăng khả năng tiếp thu

kỹ thuật mới, làm cho nền kinh tế nông nghịêp lạc hậu sản xuất nhỏ là phổ biến

có nguồn bổ sung kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả lao

Trang 7

Quá trình phát triển của nền kinh tế đỏi hỏi phải nhập khẩu một lượngngày càng nhiều máy móc thiết bị và nguyên liệu công nghiệp Trong cácnguồn như đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ thì bằng cách này hay cáchkhác đểu phải trả Chỉ có xuất khẩu mới là hoạt động có hiệu quả nhất taọ ranguồn vốn nhập khẩu bởi chúng không phải trả bất cứ một khoản chi phí nàokhác như nguồn vốn vay ngoài hơn nữa còn thể hiện tính tự chủ của nguồn vốn.Trong thực tiễn, xuất khẩu và nhập khẩu có mối quan hệ mật thiết với nhau, vừa

là kết quả, vừa là tiền đề của nhau, đẩy mạnh xuất khẩu là để tăng cường nhậpkhẩu, tăng nhập khẩu để mở rộng và tăng khả năng xuất khẩu

Trong tương lai nguồn vốn bên ngoài sẽ tăng lên nhưng mọi cơ hội đầu tư

và vay nợ của nước ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ thuận lợi khi các chủ đầu tư

và người cho vay thấy được khả năng xuất khẩu- nguồn vốn duy nhất để trả trở thành hiện thực

nợ-2.3 Xuất khẩu góp phần mở rộng tiêu thụ hàng hoá, giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân

Thị trường trong nước nhỏ hẹp, không đủ bảo đảm cho sự phát triển côngnghiệp với quy mô hiện đại, sản xuất hàng loạt do đó không tạo thêm công ănviệc làm, một vấn đề mà các nước nghèo luôn luôn phải giải quyết

Với phạm vi vượt ra ngoài biên giới quốc gia, hoạt động xuất khẩu mở ramột thị trường tiêu thu rộng lớn với nhu cầu vô cùng đa dạng của mọi tầng lớp,mọi dân tộc trên toàn thế giới Sản xuất phải gắn với thị trường, có thị trường làđiều kiện tiên quyết để thúc đẩy sản xuất hàng xuất khẩu, đến lượt nó sản xuấthàng xuất khẩu lại là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và tăng thunhập Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiếtyếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêu dùngcủa nhân dân

2.4 Xuất khẩu góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển

Thay đổi cơ cấu sản xuất và tiêu dùng một cách có lợi nhất đó là thànhquả của công cuộc khoa học và công nghệ hiện đại Sự chuyển dịch cơ cấu kinh

Trang 8

tế trong qúa trình công nghiệp hoá phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tếthế giới là tất yếu đối với đất nước ta Vì vậy xuất khẩu có vai trò quan trọng đốivới sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuậnlợi, tức là sự phát triển của ngành hàng xuất khẩu này sẽ kéo theo sự phát triểncủa một ngành khác có quan hệ mật thiết

- Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranhtrên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng

ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi với thịtrường

- Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sảnxuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước

- Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế- kỹ thuật nhằm cải tạo và nângcao năng lực sản xuất trong nước

- Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới, hoàn thiệncông việc quản trị sản xuất và kinh doanh

2.5 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta

Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại luôn có tác động qua lại phụthuộc lẫn nhau Xuất khẩu là một bộ phận rất quan trọng của kinh tế đối ngoại

Vì vậy khi hoạt động xuất khẩu phát triển sẽ kéo theo các bộ phận khác của kinh

tế đối ngoại phát triển như dịch vụ, quan hệ tín dụng, đầu tư, hợp tác, liên doanh,

mở rộng vận tải quốc tế Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại này lạitạo điều kiện mở rộng xuất khẩu Vì vậy đẩy mạnh xuất khẩu có vai trò tăngcường sự hợp tác quốc tế giữa các nước, nâng cao địa vị và vai trò của nước tatrên trường quốc tế, góp phần vào sự ổn định kinh tế chính trị của đất nước

Nói tóm lại, với những vai trò của hoạt động xuất khẩu trong nền kinh tế,phát triển hoạt động xuất khẩu luôn là chiến lược để phát triển kinh tế ở nước ta

3 Chức năng và nhiệm vụ của hoạt động xuất khẩu

Trang 9

- Tạo vốn và kỹ thuật bên ngoài cho quá trình sản xuất trong nước.

- Thay đổi cơ cấu vật chất sản phẩm có lợi cho quá trình sản xuất trongnước

- Tăng hiệu quả sản xuất

Từ những chức năng trên hoạt động xuất khẩu tự đặt ra cho mình một sốnhiệm vụ chủ yếu sau:

- Nghiên cứu chiến lược, chính sách và công cụ nhằm phát triển TMQTnói chung, hoạt động xuất khẩu nói riêng, hướng tiềm năng, khả năng kinh tếnói chung và sản xuất hàng hoá dịch vụ của nước ta nói riêng vào sự phân cônglao động quốc tế Ra sức khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực cua đất nước,không đánh giá mình quá cao, quá lạc quan cũng như không tự ti đánh giá mìnhquá thấp, từ đó bỏ lỡ cơ hội làm ăn với nước ngoài, liên kết và đan xen vàochương trình kinh tế thế giới

- Nâng cao năng lực sản xuất hàng xuất khẩu theo hướng ngày càng chứađựng nhiều hàm lượng chất xám, kỹ thuật và công nghệ để tăng nhanh khốilượng và kim ngạch xuất khẩu

- Tạo ra những mặt hàng, nhóm hàng xuất khẩu có khối lượng và giá trịlớn đáp ứng những đòi hỏi cuả thị trường thế giới và của khách hàng về chấtlượng và số lượng, có sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh cao

Mở rộng thị trường và đa phương hoá đối tác

- Hình thành các vùng, các ngành sản xuất hàng xuất khẩu tạo các chânhàng vững chắc, phát triển hệ thống thu mua hàng xuất khẩu

- Xây dựng các mặt hàng chủ lực ở phạm vi chiến lược, từ đó có kế hoạchphát triển và mở rộng mặt hàng chủ lực

4 Các loại hình xuất khẩu

Xuất khẩu có thể được tổ chức theo nhiều hình thức khác nhau phụ thuộcvào số lượng và các loại hình trung gian thương mại Mỗi phương thức có đặcđiểm riêng, có kỹ thuật tiến hành riêng Thông thường có các loại hình xuấtkhẩu chủ yếu sau:

4.1 Xuất khẩu trực tiếp

Trang 10

Giống như các hoạt động mua bán thông thường trực tiếp ở trong nước,phương thức xuất khẩu trực tiếp trong kinh doanh TMQT có thể được thực hiện

ở mọi lúc, mọi nơi trong đó người mua và người bán trực tiếp gặp mặt ( hoặcthông qua thư từ, điện tín ) để bàn bạc và thoả thuận với nhau về hàng hoá, giá

cả, điều kiện giao dịch, phương thức thanh toán mà không qua người trunggian Những nội dung này được thoả thuận một cách tự nguyện, việc muakhông nhất thiết gắn liền với việc bán

Tuy nhiên, hoạt động mua bán theo phương thức này khác với hoạt độngnội thương ở chỗ: bên mua và bên bán là những người có trụ sở ở các quốc giakhác nhau, đồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ đối với một trong hai bên,hàng hoá là đối tượng của giao dịch được di chuyển qua khỏi biên giới của mộtnước

Hoạt động xuất khẩu trực tiếp thường có những ưu điểm sau:

- Thông qua thảo luận trực tiếp dễ dàng dẫn đến thống nhất, ít xảy ra nhữnghiểu lầm đáng tiếc

- Giảm được chi phí trung gian

- Có điều kiện xâm nhập thị trường, kịp thời tiếp thu ý kiến của kháchhàng, khắc phục thiếu sót

- Chủ động trong việc sản xuất tiêu thụ hàng hoá

Tuy nhiên hoạt động này cũng gặp phải một số hạn chế đó là:

- Đối với thị trường mới còn nhiều bỡ ngỡ, dễ bị ép giá trong mua bán

- Khối lượng mặt hàng cần giao dịch phải lớn để bù đắp được chi phí: giấy

tờ, đi lại, điều tra tìm hiểu thị trường

4.2 Xuất khẩu gián tiếp

Nếu trong xuất khẩu trực tiếp người bán tìm đến người mua, người muatìm đến người bán và họ trực tiếp thoả thuận quy định những điều kiện mua bán,thì trong xuất khẩu gián tiếp, một hình thức giao dịch qua trung gian, mọi việckiến lập quan hệ giữa người bán và người mua và việc quy định các điều kiệnmua bán đều phải thông qua người thứ ba Người thứ ba này gọi là người trung

Trang 11

gian buôn bán Người trung gian buôn bán phổ biến trên thị trường thế giới làđại lý và môi giới

Đại lý: là tự nhiên nhân hoặc pháp nhân tiến hành một hay nhiều hành vitheo sự uỷ thác của người uỷ thác (principal) Quan hệ giữa người uỷ thác vớiđại lý là quan hệ hợp đồng đại lý

Môi giới: là loại thương nhân trung gian giữa người mua và người bán,được người bán hoặc người mua uỷ thác tiến hành bán hoặc mua hàng hoá haydịch vụ Khi tiến hành nghiệp vụ, người môi giới không được đứng tên củachính mình mà đứng tên của người uỷ thác, không chiếm hữu hàng hoá vàkhông chịu trách nhiệm cá nhân trước người uỷ thác về việc khách hàng khôngthực hiện hợp đồng Người môi giới không tham gia vào việc thực hiện hợpđồng, trừ trường hợp được uỷ quyền Quan hệ giữa người uỷ thác với người môigiới dựa trên sự uỷ thác từng lần, chứ không dựa vào hợp đồng dài hạn

Việc sử dụng những người trung gian thương mại (đại lý và môi giới) có những lợi ích như:

 Những người trung gian thường có hiểu biết rõ tình hình thị trường,pháp luật và tập quán địa phương, do đó, họ có khả năng đẩy mạnh việc buônbán và tránh bớt rủi ro cho người uỷ thác

 Những người trung gian, nhất là các đại lý thường có cơ sở vật chấtnhất định, do đó, khi sử dụng họ, người uỷ thác đỡ phải đầu tư trực tiếp ra nướcngoài

 Nhờ dịch vụ của trung gian trong việc lựa chọn, phân loại, đóng gói,người uỷ thác có thể giảm bớt chi phí vận tải

Tuy nhiên việc sử dụng trung gian có khuyết điểm như:

 Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu mất sự liên hệ trực tiếp với thịtrường Công ty cũng thường phải đáp ứng những yêu sách của đại lý hoặc môigiới

 Lợi nhuận bị chia sẻ

Trước sự phân tích lợi hại như vậy, người ta chỉ thường sử dụng trunggian trong những trường hợp cần thiết như: khi thâm nhập vào một thị trường

Trang 12

mới, khi mới đưa vào thị trường mới một mặt hàng mới, khi tập quán đòi hỏiphải bán hàng qua trung gian, khi mặt hàng đỏi hỏi sự chăm sóc đặc biệt nhưhàng tươi sống chẳng hạn.

4.3 Buôn bán đối lưu

Buôn bán đối lưu (counter- trade) là một phương thức giao dịch trao đổihàng hoá, trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồngthời là người mua, lượng hàng giao đi có giá trị tương xứng với lượng hàngnhận về Ở đây mục đích của xuất khẩu không phải nhằm thu về một khoảnngoại tệ, mà nhằm thu về một hàng hoá khác có giá trị tương đương

Buôn bán đối lưu đã ra đời lâu trong lịch sử quan hệ hàng hoá- tiền tệ,trong đó sớm nhất là “ hàng đổi hàng”, rồi đến trao đổi bù trừ Ngày nay, ngoàihai hình thức truyền thống đó, đã có nhiều loại hình mới ra đời từ sau Chiếntranh thế giới thứ hai

Các loại hình buôn bán đối lưu phải kể đến như:

 Nghiệp vụ hàng đổi hàng (barter): trong nghiệp vụ này hai bên trao đổitrực tiếp với nhau những hàng hoá có giá trị tương đương, việc giao hàngdiễn ra gần như đồng thời

 Nghiệp vụ bù trừ (compensation): đây là hình thức phát triển nhanh nhấtcủa buôn bán đối lưu Trong nghiệp vụ này hai bên trao đổi hàng hoá vớinhau trên cơ sỏ giá trị hàng giao và hàng nhận đến cuối kỳ hạn, hai bênmới đối chiếu sổ sách, so sánh giữa giá trị hàng giao với giá trị hàng nhận.Nếu sau khi bù trừ tiền hàng như thế, mà còn số dư thì số tiền đó được giữlại để chi trả theo yêu cầu của bên chủ nợ về những khoản chi tiêu của bênchủ nợ tại nước bị nợ

 Nghiệp vụ mua đối lưu (counter- purchase): trong nghiệp vụ này một bêngiao thiết bị cho khách hàng của mình và để đổi lại mua sản phẩm củacông nghiệp chế biến, bán thành phẩm, nguyên vật liệu

 Giao dịch bồi hoàn (offset): người ta đổi hàng hoá và/hoặc dịch vụ lấynhững dịch vụ và ưu huệ ( như ưu huệ trong đầu tư và giúp đỡ bán sản

Trang 13

 Nghiệp vụ mua lại sản phẩm (buy- backs): trong nghiệp vụ này một bêncung cấp thiết bị toàn bộ và/hoặc sáng chế hoặc bí quyết kỹ thuật (know-how) cho bên khác, đồng thời cam kết mua lại những sản phẩm do thiết bịhoặc sáng chế hoặc bí quyết kỹ thuật đó chế tạo ra.

4.4 Gia công quốc tế

Gia công quốc tế là một phương thức kinh doanh thương mại trong đómột bên (gọi là bên đặt gia công) giao (hoặc bán) nguyên liệu hoặc bán thànhphẩm cho một bên khác (gọi là bên nhận gia công) để chế biến ra thành phẩmgiao lại (hoặc bán lại) cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công).Như vậy trong gia công quốc tế hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạtđộng sản xuất

Gia công quốc tế ngày nay khá phổ biến trong buôn bán ngoại thương củanhiều nước Đối với bên đặt gia công, phương thức này giúp họ tận dụng đượcgiá rẻ về nguyên liệu phụ và nhân công của nước nhận gia công Đối với bênnhận gia công, phương thức này giúp họ giải quyết công ăn việc làm cho nhândân lao động trong nước hoặc nhận được thiết bị hay công nghệ mới về nướcmình, nhằm xây dựng một nền công nghiệp dân tộc Nhiều nước đang phát triển

đã nhờ vận dụng được phương thức gia công quốc tế mà có được một nền côngnghiệp hiện đại như Hàn Quốc, Thái Lan, Xingapo

4.5 Giao dịch tái xuất

Là hoạt động xuất khẩu trở ra nước ngoài những hàng trước đây đã nhậpkhẩu chưa qua chế biến ở nước tái xuất

4.6 Xuất khẩu theo nghị định thư

Là hình thức xuât khẩu hàng hoá (hay trả nợ) được kí theo nghị định thưcủa chính phủ Xuất khẩu theo hình thức này có ưu điểm: khả năng thanh toánchắc chắn (do nhà nước trả cho đối tác xuất khẩu), giá cả hàng hóa dễ chấpnhận

II Nội dung của hoạt động xuất khẩu

Kinh doanh TMQT là hoạt động thương mại phức tạp hơn nhiều so vớikinh doanh thương mại nội địa bởi nhiều lý do: bất đồng ngôn ngữ, hệ thống

Trang 14

luật pháp, phong tục tập quán, thói quen tâm lý rất khác nhau Hoạt động xuấtkhẩu được tổ chức thực hiện với nhiều nghiệp vụ, nhiều khâu từ điều tra thịtrường, lựa chọn thị trường xuất khẩu cho đến khi hàng hoá chuyển đến cảngchuyển giao quyền sở hữu cho người mua hoàn tất các thủ tục thanh toán Đó là

cả một qua trình phức tạp cần phải được nghiên cứu đầy đủ kĩ lưỡng, đặt chúngtrong mối quan hệ lẫn nhau, tranh thủ nắm bắt những lợi thế nhằm đảm bảo hiệuquả cao nhất, phục vụ đầy đủ và kịp thời cho sản xuất và tiêu dùng trong nước

Nội dung của hoạt động xuât khẩu bao gồm những nghiệp vụ cơ bản sau:

1 Nghiên cứu và lựa chọn thị trường xuất khẩu

Không chỉ riêng với hoạt động xuất khẩu mà với bất kỳ hoạt động kinhdoanh nào trước khi bước vào nghiên cứu thực hiện các khâu nghiệp vụ ngườikinh doanh phải nắm bắt được các thông tin về thị trường Nghiên cứu thịtrường xuất khẩu là vấn đề đầu tiên cần thiết được tiến hành hết sức kỹ lưỡngtrong hoạt động xuất khẩu Nghiên cứu thị trường tốt tạo khả năng cho các nhàkinh doanh nhận ra được quy luật vận động của từng loại hàng hoá cụ thể thôngqua sự biến đổi cung cầu và giá cả trên thị trường giúp họ giải quyết được cácvấn đề của thực tiễn kinh doanh như yêu cầu của thị trường, khả năng tiêu thụ,khả năng cạnh tranh của hàng hoá từ đó mà lựa chọn thị trường xuất khẩuthích hợp nhất cho sản phẩm của mình

1.1 Nghiên cứu thị trường

Nghiên cứu thị trường theo nghĩa rộng đó là quá trình điều tra để tìm triểnvọng bán hàng cho một sản phẩm cụ thể hay một nhóm sản phẩm, kể cả phươngpháp thực hiện mục tiêu đó Quá trình nghiên cứu thị trường là quá trình thuthập thông tin, số liệu về thị trường, so sánh, phân tích những số liệu đó và rút

ra kết luận Những kết luận này sẽ giúp cho nhà quản lý đưa ra các quyết địnhđúng đắn để lập kế hoạch kinh doanh Công tác nghiên cứu thị trường phải gópphần chủ yếu trong phương châm hành động “ chỉ bán cái thị trường cần chứkhông bán cái có sẵn”

 Có hai loại thông tin cần thu thập trong nghiên cứu thị trường:

Trang 15

- Thông tin sơ cấp (primary information): là những thông tin thu thập

mang tính chất trực tiếp từ thị trường đó

Đối với loại thông tin này người ta thường áp dụng phương pháp nghiêncứu tại thị trường (Field study): đây là việc thu thập thông tin chủ yếu thông quatiếp xúc với mọi người trên thị trường Nói cách khác, đó là cách thu thập thôngtin từ trực quan, qua các quan hệ giao tiếp với thương nhân và với người tiêudùng Biện pháp cụ thể: điều tra, phỏng vấn, quan sát, thực nghiệm

Như vậy, xét về tính phức tạp và mức độ chi phí, nghiên cứu tại thị trường

là một hoạt động tốn kém và không phải ai cũng đủ trình độ để làm được Tuyvậy, phương pháp nghiên cứu này cho kết quả khá chính xác Vì vậy, trước hếtcần sơ bộ xử lý các thông tin về các thị trường đã đề cập, chọn ra những thịtrường có nhiều triển vọng nhất Sau đó căn cứ vào kết quả lựa chọn để tiếnhành nghiên cứu hiện trường và lập kế hoạch khảo sát

+ Thông tin thứ cấp (Secondary information):

Đối với loại thông tin này người ta sử dụng phương pháp nghiên cứu tạibàn (Desk study) Về cơ bản nghiên cứu tại bàn bao gồm việc thu thập thông tin

từ các nguồn tư liệu xuất bản hay không xuất bản và tìm những nguồn đó Chìakhoá thành công của nghiên cứu tại bàn là phát hiện ra các nguồn thông tin vàtriệt để khai thác những nguồn thông tin đó Ngày nay, trong thời đại tin học,thông tin về thị trường, hàng hoá, giá cả rất phong phú Có thể lấy được thôngtin từ các nguồn như: qua hệ thống Internet, qua các cơ quan xúc tiến thươngmại, các cơ quan thống kê, qua các sách báo thương mại được xuất bản, quaquan hệ với thương nhân Trong đó, số liệu thông kê là một trong những loạithông tin quan trọng nhất, được sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu thị trường,đặc biệt là nghiên cứu tại bàn Đó là những số liệu thống kê về sản xuất, tiêu thụ,xuất khẩu, dự trữ tồn kho, giá cả Nó giúp cho người nghiên cứu có một cáinhìn bao quát về dung lượng thị trường và xu hướng phát triển

Nghiên cứu tại bàn, có thể nói là phương pháp phổ thông nhất về nghiêncứu thị trường, vì nó đỡ tốn kém và phù hợp với khả năng của những người xuấtkhẩu mới tham gia vào thị trường thế giới Tuy nhiên, nó cũng có những hạn chế

Trang 16

như chậm và mức độ tin cậy có hạn Kết quả nghiên cứu tại bàn cũng cần phải

bổ sung bằng nghiên cứu tại thị trường

 Nội dung thông tin cần thu thập khi nghiên cứu thị trường: nghiên cứutình hình cung cầu hàng hoá trên thị trường, giá cả hàng hoá và một sốyếu tố khác

+ Nghiên cứu tình hình cung- cầu hàng hoá:

Nghiên cứu tình hình cung cầu hàng hoá cần nắm được các vấn đề sau:

- Số lượng các doanh nghiệp cung ứng mặt hàng đó trên thị trường và khảnăng cung ứng của từng doanh nghiệp đó

- Nghiên cứu chu kỳ đưa hàng ra thị trường của từng doanh nghiệp cungứng đó

- Sảnphẩm của hãng đang ở giai đoạn nào trên thị trường (mặt hàng đang

ở pha nào của chu kỳ sống)

Về mặt tiêu thụ nhà kinh doanh phải biết mặt hàng định xuất khẩu đang ở

giai đoạn nào của chu kỳ sống của nó trên thị trường Chu kỳ này là tiến trìnhphát triển việc tiêu thụ một mặt hàng bao gồm 4 giai đoạn (gđ) sau đây:

Giai đoạn triển khai: đây là giai đoạn đầu tiên trong chu kỳ sống của sảnphẩm Trong giai đoạn này về cơ bản chưa có sản phẩm cạnh tranh, sản phẩmcủa doanh nghiệp chưa được người tiêu dùng biết đến, doanh nghiệp cần nỗ lựclàm cho khách hàng biết đến sản phẩm của mình

Giai đoạn tăng trưởng: đây là giai đoạn phát triển của sản phẩm, trong giaiđoạn này sản phẩm được người tiêu dùng biết đến và được thị trường chấp nhận,cần đẩy nhanh quá trình đưa sản phẩm có tính độc đáo của mình vào thị trường,qua đó tạo được môi trường tốt, tăng phạm vi lựa chọn sản phẩm

Giai đoạn bão hoà: trong giai đoạn này doanh thu tiêu thụ vẫn tăng nhưngtăng chậm và có xu hướng giảm Giai đoạn này có sự cạnh tranh kịch liệt giữacác đối thủ vào thị trường và một hình ảnh mà doanh nghiệp cần thấy rõ là sựtràn ngập hàng hoá trên thị trường

Giai đoạn suy thoái: đây là giai đoạn cuối cùng trong chu kỳ sống của sản

Trang 17

của sản phẩm giảm đi rất nhiều Để tránh khả năng bị loại khỏi thị trường đòihỏi doanh nghiệp phải có những biện pháp cải tiến, đổi mới mẫu mã kỹ thuật,hoặc thay thế bằng sản phẩm mới

Từ sự phân tích như trên ta nhận thấy, việc xuất khẩu những mặt hàngđang ở giai đoạn triển khai và tăng trưởng gặp thuận lợi lớn nhất Tuy vậy, cókhi mặt hàng đã ở giai đoạn suy thoái nhưng nhờ thực hiện các biện pháp xúctiến tiêu thụ (như quảng cáo, cải tiến hệ thống tổ chức tiêu thụ, giảm giá )người ta vẫn có thể đẩy mạnh được xuất khẩu

Tóm lại, có nắm vững mặt hàng ta đang dự định kinh doanh đang ở giaiđoạn nào của chu kỳ sống thì mới có thể xác định những biện pháp cần thiết đểlàm tăng doanh số bán hàng và tăng lợi nhuận

Cấu trúc của cung, nghĩa là xác định tình hình cạnh tranh trên thị trường.

Nếu sự cạnh tranh đã gay gắt, điều đó không có nghĩa là doanh nghiệp phải rútlui, nó có thể giữ vị trí thế thủ chờ đợi giai đoạn chuyển sang tấn công

Nghiên cứu những sản phẩm khác cùng đáp ứng nhu cầu còn phải xácđịnh xem sự cạnh tranh ấy tồn tại được bằng cách nào, tỷ lệ hoa hồng thườngđược chấp nhận là bao nhiêu, hậu quả của cạnh tranh như thế nào, nó sẽ diễnbiến ra sao và khả năng phản ứng của nó trước một đối thủ mới

Phân tích tình hình cầu:

Từ những thông tin về hàng hoá đang bán cần xác định xem những sảnphẩm nào có thể thương mại hoá được Người tiêu dùng hiện nay là những ai, họđược phân nhóm như thế nào, nhóm xã hội, nghề nghiệp, tuổi, dân tộc, tôn giáo,nam nữ, cách sống

Thống kê số lượng khách hàng có nhu cầu mua hàng hoá

Sức mua trung bình của một doanh nghiệp, một khách hàng

Nhịp độ mua hàng của họ (chu kỳ mua lặp lại)

Sản phẩm của hãng đang ở thế hệ nào

Lý do mua hàng của khách hàng là gì?

Ai có khả năng trở thành người tiêu dùng? Cần xác định sự tăng dân số,nhất là sự tăng của bộ phận xác định và tiến hành phân tích sự tăng mức sống

Trang 18

Nếu không có yêu cầu mua vào thời điểm phân tích thì phải xác định xem cóyêu cầu không và khi nào.

+ Nghiên cứu giá cả hàng hoá xuất khẩu:

Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá đồng thời là một nhân tốcấu thành thị trường Do việc mua bán giữa các khu vực khác nhau diễn ra trongmột thời gian dài, hàng vận chuyển qua nhiều nước với các chính sách thuế quankhác nhau, giá cả thị trường lại càng trở lên phức tạp, trong đó giá cả hàng hoáđược coi là giá tổng hợp bao gồm giá vốn hàng hoá, bao bì, chi phí vận chuyển,chi phí bảo hiểm và các chi phí khác tùy theo các bước thực hiện và sự thoảthuận giữa các bên tham gia Nghiên cứu giá cả bao gồm việc nghiên cứu giá cảcủa từng mặt hàng tại từng thời điểm trên thị trường, xu hướng biến động củagiá cả thị trường và các nhân tố ảnh hưởng đến nó như: nhân tố chu kỳ, nhân tốlũng loạn của các công ty siêu quốc gia, nhân tố cạnh tranh, nhân tố cung cầu,nhân tố lạm phát, nhân tố thời vụ và một số nhân tố khác như: chính sách củachình phủ, tình hình an ninh chính trị của các quốc gial Từ đó mới có thể dựđoán một cách tương đối chính xác về giá cả quốc tế của hàng hoá Rõ ràng việcnghiên cứu và tính toánh một cách chính xác giá cả của các hợp đồng kinhdoanh xuất nhập khẩu là một công việc khó khăn đòi hỏi phải được xem xét trênnhiều khía cạnh, nhưng đó lại là một nhân tố quan trọng quyết định hiệu quảthực hiện các hợp đồng kinh doanh TMQT

+ Nghiên cứu các loại hình kinh doanh khác trên thị trường như điều kiệnvận tải, tốc độ, phương tiện vận tải như thế nào, chi phí vận tải ra sao, bảo hiểm,vận chuyển

+ Nghiên cứu một số yếu tố khác liên quan đến hoạt động kinh doanh trênthị trường như: quan hệ chính trị, văn hoá: làm việc với ai phải hiểu văn hoá củangười đó, đồng thời có cái nhìn khách quan về nền văn háo của họ, không thể

so bì với văn hoá của ta mà cho rằng nền văn hoá của họ không tốt, kinh doanhTMQT cần luôn hiểu “ không có một nền văn hoá nào là tốt hay xấu mà chỉ có

sự khác biệt” Nghiên cứu chính sách, thể chế của quốc gia khác đặc biệt là yếu

Trang 19

tố về luật, thể chế tài chính Nghiên cứu yếu tố tự nhiên của từng đoạn thịtrường: vị trí địa lý, khí hậu

1.2 Lựa chọn thị trường xuất khẩu

Trên cơ sở nghiên cứu tình hình thị trường xuất khẩu giúp đơn vị kinhdoanh lựa chọn thị trường, việc lựa chọn thị trường phải căn cứ vào những tiêuchuẩn mà các thị trường phải đáp ứng được:

Tiêu chuẩn chung:

- Về chính trị: có những chính thể này thuận lợi hơn những chính thể khácđối với hoạt động xuất khẩu, nghiên cứu cả những bất chắc chính trị và sự ổnđịnh của chính thể

- Về địa lý: khoảng cách địa lý, khí hậu, tháp dân số

- Về kinh tế: những chỉ tiêu về tổng sản phẩm quốc nội (GDP), GDP bìnhquân đầu người, tỷ lệ tăng GDP

- Về kỹ thuật: những khu vực phát triển và triển vọng phát triển

Tiêu chuẩn về quy chế thương mại và tiền tệ:

- Biện pháp bảo hộ mậu dịch: thuế quan, các giấy phép và hạn ngạch

- Tình hình tiền tệ: tỷ lệ lạm phát, sự diễn biến của tỷ giá hối đoái

Tiêu chuẩn về thương mại:

- Phần của sản xuất nội địa

- Sự hiện diện của hàng hoá Việt Nam trên các thị trường

- Sự cạnh tranh quốc tế trên các thị trường lựa chọn

Những tiêu chuẩn này sau đó phải được cân nhắc, điều chỉnh tuỳ theomức quan trọng của chúng đối với doanh nghiệp

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp kết quả hoạt động kinh doanh còn phụthuộc vào khách hàng Trong cùng những điều kiện như nhau việc giao dịch vớikhách hàng cụ thể này thì thành công, với khách hàng khác thì bất lợi Vì vậymột nhiệm vụ quan trọng của đơn vị kinh doanh trong lựa chọn thị trường là lựachọn khách hàng Việc lựa chọn khách hàng (hay lựa chọn thương nhân) để giaodịch không nên căn cứ vào những lời quảng cáo, tự giới thiệu mà cần tìm hiểukhách hàng về:

Trang 20

- Tình hình sản xuất kinh doanh của họ, năng lực, phạm vi kinh doanh và

tư cách pháp nhân

- Khả năng về vốn và cơ sỏ vật chất kỹ thuật

- Năng lực con người và năng lực quản lý của họ

- Trình độ và quan điểm kinh doanh của thương nhân đó

- Uy tín của họ trong kinh doanh

Trong việc lựa chọn thương nhân giao dịch tốt nhất là nên lựa chọn nhữngđối tác trực tiếp, tránh những đối tác trung gian, trừ trường hợp doanh nghiệpmuốn thâm nhập vào các thị trường mới mà mình chưa có kinh nghiệm

Việc lựa chọn các đối tượng giao dịch có căn cứ khoa học là điều kiện cầnthiết để thực hiện thắng lợi các hợp đồng TMQT, song nó phụ thuộc nhiều vàokinh nghiệm của người làm công tác giao dịch

Nghiên cứu thị trường hàng hoá quốc tế trong TMQT nói chung và trongkinh doanh xuất khẩu nói riêng là hết sức cần thiết trong hoạt động kinh doanh

Đó là bước chuẩn bị và là tiền đề để doanh nghiệp có thể tiến hành các hoạtđộng kinh doanh TMQT một cách có hiệu quả nhất

2 Lập phương án kinh doanh hàng xuất khẩu

Trên cơ sở những kết quả thu lượm được trong quá trình nghiên cứu tiếpcận thị trường, đơn vị kinh doanh lập phương án kinh doanh Phương án này là

kế hoạch hoạt động của đơn vị nhằm đạt đến những mục tiêu xác định trongkinh doanh

Việc xây dựng phương án kinh doanh bao gồm các bước sau:

- Đánh giá tình hình thị trường và thương nhân: trong bước này, ngườilập phương án rút ra những nét tổng quát về tình hình, phân tích thuận lợi và khókhăn trong kinh doanh

- Lựa chọn mặt hàng, thời cơ, điều kiện và phương thức kinh doanh Sựlựa chọn này phải có tính thuyết phục trên cơ sở phân tích những tình hình có

Trang 21

- Đề ra mục tiêu Những mục tiêu đề ra trong một phương án kinh doanhbao giờ cũng là mục tiêu cụ thể như: sẽ bán được bao nhiêu hàng với giá cả baonhiêu, sẽ thâm nhập vào những thị trường nào

- Đề ra biện pháp thực hiện Những biện pháp này có thể bao gồm nhiềubiện pháp trong nước (như đầu tư vào sản xuất, cải tiến bao bì, ký hợp đồng kinh

tế, tăng giá thu mua ) và cả các biện pháp ở ngoài nước (như đẩy mạnh quảngcáo, lập chi nhánh ở nước ngoài, mở rộng mạng lưới đại lý )

- Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của việc kinh doanh thông qua một sốchỉ tiêu chủ yếu: chỉ tiêu tỷ suất ngoại tệ, chỉ tiêu thời gian hoàn vốn, chỉ tiêu tỷsuất doanh lợi, chỉ tiêu điểm hoà vốn

Sau khi phương án đã được đề ra, đơn vị kinh doanh phải cố gắng để thựchiện phương án, tức là tiến tới ký kết hợp đồng mua bán với khách hàng đãchọn Nhưng để tiến tới ký kết hợp đồng mua bán với nhau người xuất khẩu vànhập khẩu thường phải qua một quá trình giao dịch, thương thảo về các điềukiện giao dịch Quá trình đó có thể bao gồm những bước chính như: hỏi hàng,chào hàng, đặt hàng

- Hỏi hàng: hỏi hàng còn gọi là hỏi giá, tuy không ràng buộc trách nhiệm

của người hỏi, nhưng nếu hỏi nhiều nơi, nhiều hãng quá có thể gây lên hiểu lầm

về nhu cầu của mình Vả lại, hỏi nhiều sẽ kéo theo việc trả lời và các công việchành chính văn thư khác Điều này cũng dễ gây nên tốn thời gian và chi phí

- Chào hàng: là lời đề nghị biểu thị muốn bán hàng do người bán đưa ra.

Trước khi chào hàng cần nắm được quan hệ cung cầu về hàng hoá đó trên thếgiới, mức giá hiện hành trên thị trường, nhu cầu của đối phương và khả năng của

ta Trên cơ sở đó, ta xác định nên đưa ra đơn chào hàng cố định hay đơn chàohàng tự do

Chào hàng cố định: là lời đề nghị ký hợp đồng của người bán chỉ gửi chomột đối tác, trong thời hạn có hiệu lực của chào hàng thì không được gửi chocác đối tác khác Nếu người nhận chào hàng cố định chấp nhận mua coi nhưchào hàng được ký

Trang 22

Chào hàng tự do:là lời đề nghị chào bán một mặt hàng nào đó được gửicho nhiều người và không ràng buộc về mặt pháp lý Nếu người nhận chào hàng

tự do đồng ý mua nhưng người bán vẫn có thể không thực hiện lời chào hàngđó

Có khi, bên mua chưa hỏi mua, nhưng ta chủ động tìm hiểu thấy họ cónhu cầu và ta đưa ra đơn chào hàng (chào hàng chủ động) Cũng có khi, trên cơ

sỏ hỏi hàng của bên mua, chúng ta chào hàng để đáp lại thư hỏi hàng của đốiphương (chào hàng thụ động)

Dù chào hàng theo cách nào, đơn chào hàng cũng cần rõ ràng và có sứchấp dẫn Sự hấp dẫn không chỉ thể hiện ở giá thấp, ở sự giảm giá, mà có thể ở cảdịch vụ cung cấp cho người mua, phẩm chất hàng tốt, điều kiện thanh toán có lợicho người mua

- Đặt hàng: đặt hàng là lời đề nghị chắc chắn về việc ký kết hợp đồng,

xuất phát từ người mua Do đó, người mua chỉ đặt hàng ở nhà cung cấp nào mà

đã biết rõ về chất lượng hàng, mức giá cả, khả năng giao hàng của họ Ngườibán cần nắm được điều này để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng tănghiệu quả kinh doanh

3 Ký kết hợp đồng xuất khẩu

Việc giao dịch đàm phán nếu có kết quả sẽ dẫn tới việc ký kết hợp đồngngoại thương: là sự thoả thuận giữa những đương sự có trụ sở kinh doanh ở cácnươc khác nhau, theo đó một bên gọi là bên xuất khẩu (bên bán) có nghĩa vụchuyển giao quyền sở hữu cho một bên khác gọi là bên nhập khẩu (bên mua)một tài sản nhất định, gọi là hàng hoá, bên mua có nghĩa vụ nhận tiền hàng vàtrả tiền hàng

+ Về điều kiện hiệu lực của hợp đồng TMQT, theo điều 81 của LuậtThương mại Việt Nam, hợp đồng mua bán quốc tế có hiệu lực khi có đủ cácđiều kiện sau đây:

- Chủ thể của hợp đồng là bên mua và bên bán phải có đủ tư cách pháp lý

- Hàng hóa theo hợp đồng là hàng hóa được phép mua bán theo quy định

Trang 23

- Hợp đồng mua bán quốc tế phải có các nội dung chủ yếu mà luật pháp

đã quy định.Theo điều 50 của Luật Thương mại Việt Nam, những điều khoảnsau buộc phải có trong hợp đồng bao gồm: tên hàng, số lượng, quy cách chấtlượng, giá cả, phương thức thanh toán, địa điểm và thời hạn giao hàng Ngoài ra,các bên có thể thoả thuận thêm những nội dung, những điều khoản khác tronghợp đồng

- Hình thức của hợp đồng phải là văn bản

- Nội dung chủ yếu của một hợp đồng TMQT thường bao gồm những nộidung sau:

Số hợp đồng

Địa điểm và ngày tháng ký kết hợp đồng

Tên và địa chỉ của các đương sự

Những định nghĩa dùng trong hợp đồng

Cơ sở pháp lý để kí kết hợp đồng

Các điều khoản và điều kiện của hợp đồng: điều khoản thương phẩm, điều khoản tài chính, điều khoản vận tải, điều khoản pháp lý

4 Thực hiện hợp đồng xuất khẩu

Sau khi hợp đồng mua bán ngoại thương được ký kết, đơn vị kinh doanhxuất khẩu- với tư cách là một bên ký kết- phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó.Đây là một công việc rất phức tạp Nó đòi hỏi phải tuân thủ luật quốc gia vàquốc tế, đồng thời bảo đảm được quyền lợi quốc gia và đảm bảo uy tín kinhdoanh của đơn vị

Trình tự thực hiện hợp đồng xuất khẩu bao gồm các bước sau:

4.1 Kiểm tra L/C

Nếu trong điều khoản thanh toán của hợp đồng ngoại thương quy định sửdụng phương thức tín dụng chứng từ thì bước đầu tiên đơn vị kinh doanh xuấtkhẩu cần phải làm đó là đôn đốc người nhập khẩu ở nước ngoài mở L/C đúnghạn và nội dung như hợp đồng quy định Sau khi nhận được L/C, người xuấtkhẩu phải kiểm tra so sánh với nội dung và điều kiện ghi trong hợp đồng, nếuphù hợp người xuất khẩu mới tiến hành làm những công việc thực hiện hợp

Trang 24

đồng còn chưa phù hợp phải yêu cầu bên nhập khẩu sửa đổi bổ sung bằng vănbản.

4.2 Xin giấy phép xuất khẩu

Giấy phép xuất khẩu là vấn đề quan trọng đầu tiên về mặt pháp lý để tiếnhành các khâu trong quá trình xuất khẩu hàng hoá Với xu hướng mở rộng quan

hệ hợp tác quốc tế, nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sản xuấtkinh doanh làm hàng xuất khẩu và xuất khẩu những mặt hàng nhà nước khônghạn chế

 Nhà nước quản lý xuất nhập khẩu bằng hạn ngạch và bằng luậtpháp, hàng hoá là đối tượng quản lý có 3 mức:

+ Những danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu:

Việc điều chỉnh danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu doThủ tướng Chính phủ quyết định trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thươngmại Trong trường hợp đặc biệt, việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá trong danhmục cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu phải được Thủ tướng Chính phủ xem xét,quyết định từng trường hợp cụ thể

+ Hàng hoá xuất nhập khẩu theo giấy phép của Bộ Thương mại:

Bộ Thương mại chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan cụ thểhoá danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép của Bộ Thươngmại theo mã số của danh mục biểu thuết xuất, biểu thuế nhập khẩu (nếu có).Việc điều chỉnh danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép của BộThương mại, bao gồm cả lộ trình bãi bỏ loại giấy phép này, do Thủ tướng Chínhphủ quyết định trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thương mại Việc ký hợpđồng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá trong danh mục này chỉ được thực hiện saukhi đã có giấy phép của Bộ Thương mại

+ Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thuộc diện quản lý chuyên ngành:

Việc điều chỉnh bổ sung danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thuộcdiện quản lý chuyên ngành và nguyên tắc áp dụng do Thủ tướng Chính phủquyết định trên cơ sở đề nghị của Thủ trưởng cơ quan quản lý chuyên ngành và

Trang 25

Bộ trưởng Bộ Thương mại, các bộ ngành quản lý chuyên ngành hướng dẫn thựchiện việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá trong danh mục này.

 Thủ tục cấp giấy phép:

Khi đối tượng hợp đồng trong phạm vi phải xin giấy phép xuất nhập khẩu,doanh nghiệp phải xuất trình hồ sơ xin phép gồm:

+ Bản sao hợp đồng xuất/nhập

+ Phải có bản giải trình với mặt hàng cấm xuất/nhập

+ Đơn xin cấp giấy phép

Đối với hàng hoá xuất nhập khẩu có điều kiện ngoài bản sao giấy tờ, đơnxin phép phải có bản sao hạn ngạch Sau khi hoàn tất thủ tục gửi đến cơ quancấp giấy phép (Bộ Thương mại), sau đó Bộ Thương mại gửi hồ sơ đến các bộquản lý chuyên ngành

 Thời gian cấp giấy phép:

+ Riêng mặt hàng cấm xuất/nhập thì không quy định thời gian

+ Với mặt hàng xuất nhập khẩu có điều kiện thì giao cho nhân viên quản

lý thụ lý hồ sơ, sau 3 ngày phải trả lời với những hồ sơ xin phép cần bổ sung,cần sửa đổi hoặc những hồ sơ không cấp giấy phép

+ Đối với những hồ sơ hợp lệ cấp giấy phép sau 7 ngày

4.3 Chuẩn bị hàng xuất khẩu

Thực hiện cam kết trong hợp đồng xuất khẩu, chủ hàng xuất khẩu phảitiến hành chuẩn bị hàng xuất khẩu Căn cứ để chuẩn bị hàng xuất khẩu là hợpđồng đã ký với nước ngoài và/hoặc L/C (nếu hợp đồng quy định thanh toán bằngL/C)

Công việc chuẩn bị hàng xuất khẩu bao gồm 3 khâu chủ yếu: thu gom tậptrung làm thành lô hàng xuất khẩu, đóng gói bao bì và kẻ ký mã hiệu hàng xuấtkhẩu

 Thu gom tập trung làm thành lô hàng xuất khẩu:

Việc mua bán ngoại thương thường tiến hành trên cơ sở số lượng lớn.Trong khi đó sản xuất hàng xuất khẩu ở nước ta, về cơ bản, là một nền sản xuấtmanh mún, phân tán; nguồn hàng để xuất khẩu chủ yếu là hàng sơ cấp (nguyên

Trang 26

vật liệu qua sơ chế, hàng bán thành phẩm), hàng thủ công mĩ nghệ, hàng nônglâm, thổ, thuỷ sản Vì vậy trong rất nhiều trường hợp muốn làm thành lô hàngxuât khẩu chủ hàng xuất khẩu phải tiến hành thu gom tập trung từ các cơ sở sảnxuất nhỏ, từ trong nhân dân, từ các cơ sở thương mại (gọi tắt là các chânhàng) Cơ sở để thực hiện thu gom hàng xuất khẩu là hợp đồng kinh tế giữadoanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu với các chân hàng Những loại hợp đồngkinh tế thường được sử dụng để huy động hàng xuất khẩu có thể là: hợp đồngmua bán hàng xuất khẩu, hợp đồng gia công, hợp đồng đổi hàng, hợp đồng uỷthác thu mua hàng xuất khẩu, hợp đồng liên doanh liên kết xuất khẩu

 Bao bì đóng gói hàng xuất khẩu:

Trong buôn bán quốc tế, tuy không ít mặt hàng để trần hoặc để rời, nhưngđại bộ phận hàng hoá đòi hỏi phải được đóng gói và bao bì trong qúa trình vậnchuyển và bảo quản Tổ chức đóng gói, bao bì là khâu quan trọng của việcchuẩn bị hàng hoá bởi những tác dụng to lớn sau:

+ Bao bì đóng gói bảo đảm được phẩm chất hàng hoá trong quá trình vậnchuyển, tránh được rủi ro mất mát

+ Tạo điều kiện thuận lợi cho bốc xếp, di chuyển, vận chuyển và giaonhận hàng hoá

+ Tạo điều kiện cho việc nhận biết phân loại hàng hoá

+ Gây ấn tượng và làm cho người mua thích thú hàng hoá

Trong kinh doanh TMQT người ta thường dùng các loại bao bì như: hòm,bao, kiện hay bì, thùng đây là bao bì bên ngoài, ngoài ra còn có loại bao bì bêntrong và bao bì trực tiếp Nói chung tuỳ thuộc đặc điểm và tính chất của hànghoá cần bao gói, vào những điều đã thoả thuận trong hợp đồng mà lựa chọn loạibao bì thích hợp Ngoài ra cần phải xét đến những nhân tố: điều kiện khí hậumôi trường, điều kiện vận tải, bốc xếp hàng, điều kiện luật pháp thuế quan, chiphí vận chuyển

 Kẻ ký mã hiệu hàng xuất khẩu:

Trang 27

Ký mã hiệu là những ký hiệu bằng chữ, bằng số hoặc bằng hình vẽ đượcghi trên các bao bì bên ngoài nhằm thông báo những chi tiết cần thiết cho việcgiao nhận, bốc dỡ và bảo quản hàng hoá.

4.4 Kiểm tra chất lượng hàng xuất khẩu (kiểm nghiệm và kiểm dịch hàng xuất khẩu)

Một nguyên tắc cơ bản trong mọi khâu, mọi công việc đều cần có kiểmtra, kiểm nghiệm để có thể hạn chế và loại trừ những lỗi sai trong quá trình thựchiện

Trong kinh doanh xuất khẩu cũng vậy, trước khi giao hàng người xuấtkhẩu có nghĩa vụ phải kiểm tra hàng về phẩm chất, số lượng, trọng lượng, baobì (tức kiểm nghiệm) hoặc nếu hàng hoá xuất khẩu là động vật, thực vật phảikiểm tra về khả năng lây lan bệnh tật (tức là kiểm dịch động vật, kiểm dịch thựcvật)

Việc kiểm nghiệm và kiểm dịch phải được tiến hành ở hai cấp: ở cơ sở và

ở cửa khẩu Trong đó việc kiểm tra ở cơ sở do phòng KCS tiến hành có vai tròquyết định và có tác dụng triệt để nhất Còn việc kiểm tra ở cửa khẩu có tácdụng thẩm tra lại kết quả kiểm tra ở cơ sở và thực hiện thủ tục quốc tế

4.5 Thuê tàu, lưu cước

Trong quá trình thực hiện hợp đồng ngoại thương, việc thuê tàu chở hàngđược tiến hành dựa vào 3 căn cứ sau đây: những điều khoản của hợp đồng muabán ngoại thương, đặc điểm hàng mua bán và điều kiện vận tải Tàu biển được

sử dụng để chuyên chở hàng hoá có thể là tàu chợ, tàu chuyến hoặc tàu địnhhạn Việc thuê tàu, lưu cước đòi hỏi có kinh nghiệm nghiệp vụ, có thông tin vềtình hình thị trường thuê tàu và tinh thông các điều kiện thuê tàu Vì vậy, trongnhiều trường hợp, chủ hàng xuất nhập khẩu thường uỷ thác việc thuê tàu, lưucước cho một công ty hàng hải có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn hơn

Trong buôn bán quốc tế, phương thức chuyên chở hàng hoá bằng đườngbiển là phương thức vận tải được sử dụng nhiều nhất, chiếm đến 80% khốilượng vận chuyển trong chuyên chở quốc tế Bên cạnh đó, người ta còn sử dụngmột số phương thức khác như: vận tải đường bộ, vận tải đường sắt, vận tải

Trang 28

đường sông, vận tải hàng không Ngoài ra còn còn có hình thức vận tải đườngống, vận tải đa phương thức.

4.6 Mua bảo hiểm

Hàng hoá chuyên chở trên biển thường gặp nhiều rủi ro, tổn thất Vì thếbảo hiểm hàng hoá đường biển là loại bảo hiểm phổ biến nhất trong ngoạithương

Hợp đồng bảo hiểm có hai loại: hợp đồng bảo hiểm bao và hợp đồng bảohiểm chuyến

Hợp đồng bảo hiểm bao: đơn vị mua bảo hiểm ký hợp đồng từ đầu năm,

còn đến khi giao hang xuống tàu xong, chủ hàng chỉ gửi đến công ty bảo hiểm(Bảo Việt) một thông báo bằng văn bản gọi là “giấy báo bắt đầu vận chuyển”.Hình thức hợp đồng bảo hiểm này thường áp dụng đối với các tổ chức buôn bánngoại thương hoặc doanh nghiệp buôn bán hàng xuất khẩu thường xuyên nhiềulần trong một năm

Hợp đồng bảo hiểm chuyến: khi mua bảo hiểm chuyến chủ hàng gửi đến

công ty bảo hiểm một văn bản gọi là “giấy yêu cầu bảo hiểm” Trên cơ sở giấyyêu cầu này, chủ hàng và công ty bảo hiểm đàm phán ký hợp đồng bảo hiểm.Hình thức này thường áp dụng với các đợt mua bán riêng lẻ

Khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, cần nắm vững các điều kiện bảo hiểm, có

3 điều kiện bảo hiểm chính: bảo hiểm mọi rủi ro (điều kiện A), bảo hiểm có bồithường tổn thất riêng (điều kiện B), bảo hiểm miễn bồi thường tổn thất riêng(điều kiện C) Ngoài ra, còn có một số điều kiện bảo hiểm đặc biệt khác như bảohiểm chiến tranh, đình công, bạo động

4.7 Làm thủ tục hải quan

Hàng hoá vận chuyển qua biên giới quốc gia để xuất khẩu hay nhập khẩuđều phải làm thủ tục hải quan Thủ tục hải quan là công cụ để quản lý hành vibuôn bán theo pháp luật của nhà nước, để ngăn chặn xuất nhập khẩu lậu quabiên giới, để kiểm tra giấy tờ sai sót giả mạo, để thống kê số lượng về hàng xuấtnhập khẩu Việc làm thủ tục hải quan bao gồm 3 bước chủ yếu sau:

Trang 29

+ Khai báo hải quan: chủ hàng khai báo các chi tiết về hàng hoá lên tờkhai để cơ quan kiểm tra các thủ tục giấy tờ.

+ Xuất trình hàng hoá: hàng hoá phải được sắp xếp trật tự thuận tiện choviệc kiểm soát Thông thường đối với hàng khối lượng ít, người ta vận chuyểnhàng hoá tới kho của hải quan để kiểm lượng, làm thủ tục hải quan và nộp thuế(nếu có) đối với hàng xuất khẩu Còn đối với hàng hoá xuất nhập khẩu có khốilượng lớn việc kiểm tra giấy tờ hàng hoá có thể diễn ra ở các nơi sau:

- Tại nơi đóng gói bao kiện

- Tại nơi giao nhận hàng cuối cùng

- Tại cửa khẩu

+ Thực hiện các quyết định của hải quan

4.8 Giao hàng xuất khẩu

Phần lớn số hàng xuất khẩu ở nước ta được vận chuyển bằng đường biển,đường sắt và bằng container

 Nếu hàng hoá được giao bằng đường biển, chủ hàng phải tiến hànhcác công việc sau đây:

- Căn cứ vào chi tiết hàng xuất khẩu lập bản đăng ký hàng chuyên chở

- Xuất trình bản đăng ký hàng chuyên chở cho người vận tải để lấy hồ sơsếp hàng

- Trao đổi với cơ quan điều độ cảng để nắm vững ngày giờ làm hàng

- Bố trí phương tiện đưa hàng vào cảng, xếp hàng lên tàu

- Lấy biên lai thuyền phó (Mate,s Receipt) và đổi biên lai thuyền phó lấyvận đơn đường biển Vận đơn đường biển phải là vận đơn hoàn hảo, đã bốchàng (Clean on board B/L) và phải chuyển nhượng được (negotiable) Vận đơncần được chuyển gấp về bộ phận kế toán để lập bộ chứng từ thanh toán

 Nếu hàng được chuyên chở bằng đường sắt, chủ hàng phải kịp thờiđăng ký với cơ quan đường sắt để xin cấp toa xe phù hợp với tính chất hàng hóa

và khối lượng hàng hóa Khi đã được cấp toa xe, chủ hàng tổ chức bốc xếp,niêm phong cặp chì và làm các chứng từ vận tải, trong đó chủ yếu là vận đơn

Trang 30

đường sắt Vận đơn đường sắt chuyển về phòng kế toán để lập bộ chứng từthanh toán.

 Nếu hàng được chở bằng container thì giao theo hai phương thức:hàng đủ một container và hàng chưa đủ một container Hàng chiếm đủ mộtcontainer (Full container load- FCL), thì chủ hàng đăng ký thuê container, chịuchi phí chuyển container rỗng từ bãi về cơ sở của mình, đóng hàng vào container

và giao đến ga container để giao cho người vận tải Hàng chưa đủ một container(Lessthan container load- LCL), thì chủ hàng phải làm đăng ký hàng chuyên chởxuất trình cho vận tải Sau khi được chấp nhận chở hàng, chủ hàng đưa hàng đến

ga container và giao cho người vận tải Cơ quan vận tải chịu trách nhiệm đónghàng vào container và bốc lên tàu

4.9 Làm thủ tục thanh toán

Có thề nói thanh toán là khâu trọng tâm và là kết quả cuối cùng của tất cảcác giao dịch kinh doanh TMQT Có 2 phương thức thanh toán chủ yếu sau:

 Thanh toán bằng thư tín dụng

Thanh toán tiền hàng bằng L/C là một phương thức thanh toán bảo đảmhợp lý, thuận tiện an toàn, hạn chế rủi ro cho cả bên mua và bên bán Khi thựchiện hợp đồng xuất khẩu, người xuất khẩu phải yêu cầu người nhập khẩu mở L/

C đúng hạn và nội dung như hợp đồng quy định Sau khi nhận được thông báo

đã mở L/C của người nhập khẩu, người xuất khẩu phải đối chiếu L/C với nộidung hợp đồng mua bán xem co phù hợp không, nếu phù hợp thì tiến hành giaohàng, còn nếu thấy còn có chỗ chưa hợp lý thì yêu cầu bên nhập khẩu phải sửađổi, bổ xung Đến thời hạn giao hàng, cùng với việc giao hàng người xuất khẩuphải lập bộ chứng từ hoàn hảo, phù hợp với nội dung trong L/C để yêu cầu bênnhập khẩu thanh toán tiền hàng cho mình

 Thanh toán bằng phương thức nhờ thu

Nếu hợp đồng xuất khẩu quy định thanh toán tiền hàng bằng phương thứcnhờ thu, thì ngay sau khi giao hàng, bên xuất khẩu phải hoàn thành việc lậpchứng từ và phải xuất trình cho ngân hàng để uỷ thác cho ngân hàng thu tiền hộ

Trang 31

Chứng từ thanh toán cần được lập hợp lệ, chính xác và được nhanh chóng giaocho ngân hàng nhằm nhanh chóng thu hồi vốn.

5 Đánh giá hiệu quả xuất khẩu

Việc đánh giá hiệu quả hoạt động xuất khẩu sẽ cho phép doanh nghiệpxác định được doanh thu tiêu thụ, lỗ lãi trong kinh doanh và kết quả kinh doanh.Đánh giá hiệu quả hoạt động thông qua các chỉ tiêu sau:

 Chỉ tiêu tổng hợp

Hqdth = Tsd/ Tsx

Trong đó:

Tsd: thu nhập quốc dân có thể sử dụng được

Tsx: thu nhập quốc dân được sản xuất ra

Chỉ tiêu này cho biết thu nhập quốc dân của một quốc gia tăng giảm nhưthế nào trong thời kỳ tính toán khi có TMQT Nếu tương quan lớn hơn 1 TMQT

đã làm tăng thu nhập quốc dân, và ngược lại nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 thì thunhập quốc dân giảm

 Chỉ tiêu lợi nhuận

Dx: Doanh lợi xuất khẩu

Tx: Thu nhập về bán hàng xuất khẩu tính ra tiền Việt Nam

Cx: Tổng chi phí cho việc xuất khẩu

-Tỷ suất ngoại tệ xuất khẩu

Tỷ suất ngoại tệ xuất khẩu = Tổng chi phí (VND)/ Doanh thu xuất khẩu(USD)

Trang 32

Điểm hoà vốn là điểm mà TSNTXK = TGHĐ ( Tỷ giá hối đoái)

Nếu TSNTXK > TGHĐ : không nên xuất khẩu

Trong buôn bán quốc tế, với mọi trường hợp đều không thể dùng các thủthuật gian dối Muốn nâng cao lợi nhuận phải cố gắng từng bước, cải tiến hoạtđộng thương mại, phải nẵm vững và tiến hành theo quy trình, không thể nóngvội đốt cháy giai đoạn Nếu không tôn trọng nguyên tắc trên dễ dẫn đến thuathiệt trong kinh doanh Dù là có kinh nghiệm sành sỏi lão luyện hay người mớivào nghề, đều phải tuân thủ các bước đi Đó là việc quan trọng nhất của các nhàkinh doanh xuất nhập khẩu

III Khái quát về lịch sử tơ tằm thế giới và đặc điểm của hàng tơ tằm xuất khẩu

1 Lịch sử tơ tằm thế giới

1.1 Những chặng đường lịch sử tơ tằm thế giới

Theo Khổng Tử, vào năm 2640 trước công nguyên, nàng công chúa TâyLinh Chi của Trung Quốc là người đầu tiên kéo được sợi tơ từ con kén, mà cũngtheo truyền thuyết, đã tình cờ rơi vào cốc nước trà của nàng Kể từ khoảnh khắclịch sử ấy, người Trung Quốc phát hiện ra vòng đời của con tằm và mãi cho đến

3000 năm sau đó họ vẫn giứ độc quyền về tơ tằm

Vào thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, vải lụa tơ tằm của Trung Quốc đãbắt đầu được đưa đến khắp vùng Châu Á, được vận chuyển bằng đường bộ sangphương Tây và bằng đường biển sang Nhật Bản theo các lộ trình dài được gọi làcon đường tơ lụa Chính tại Châu Á, người La Mã đã khám phá ra loại vải lụatuyệt vời này, nhưng họ lại không biết gì về nguồn gốc của chúng cả

Vào năm 552 sau công nguyên, Hoàng đế Justinien cử hai giáo sĩ sangcông cán ở Châu Á và khi trở về Byzance họ đã mang theo những trứng tằmđược cất giấu trong những cây gậy trúc (đây là một điển hình xa xưa nhất củaviệc tình báo kinh tế!) Kể từ đó nghề dâu tằm đã lan rộng đến vùng Tiểu Á và

Hy Lạp

Trang 33

Vào thế kỷ 7, người Ả Rập chinh phục được Ba Tư, trong tiến trình đó họ

đã cướp đi nhiều lô hàng vải lụa và truyền bá nghề dâu tằm tơ lụa theo từngchặng đường chiến thắng của họ tại Châu Phi, Sicily và Tây Ban Nha

Vào thế kỷ 10, Andalusia là trung tâm sản xuất tơ tằm lớn nhất của ChâuÂu

Tiếp đến là những cuộc Thập tự chinh, sự hình thành đế quốc Mông Cổ

và những cuộc hành trình của Marco Polo đến Trung Quốc đã làm phát triểnnhững trao đổi thương mại giữa Đông và Tây và việc tiêu dùng hàng tơ tằmngày càng tăng lên, nhờ đó Ý đã bắt đầu ngành tơ tằm ngay từ thế kỷ 12

Trong thời kỳ từ 1450- 1466, Lyon đã trở thành nơi tồn trữ hàng tơ tằmnhập khẩu lớn nhất Tuy nhiên việc nhập khẩu này đã gây ra tổn hại cho nguồnvốn chi, cho nên vào năm 1466, vua Luois XI đã công bố ý định của mình là

“đưa nghệ thuật cũng như ngành nghề kim hoàn và tơ tằm vào thành phố Lyon”

Sau đó vào năm 1536, vua Fancois I đã cho Lyon được độc quyền vềnhập khẩu và kinh doanh tơ tằm, vì vậy đã tạo ra ngành công nghiệp tơ tằm làviệc “Huỷ bỏ chỉ dụ Nantes” vào năm 1685 Những tín đồ Calvin của Pháp, mộtlần nữa lại bị khủng bố về tôn giáo, đã bỏ nước ra đi với số lượng đông đảo

Nhiều tín đồ Calvin của Pháp là những chuyên gia về xe tơ và dệt lụa và

họ đã có công lớn trong việc phát triển ngành công nghiệp tơ tằm tại Đức, Anh,

Ý và Thuỵ Sĩ

Trong suốt thế kỷ 18, ngành tơ tằm tiếp tục hưng thịnh tại Châu Âu, Nhật

và nhất là Trung Quốc Những công sứ Châu Âu đến Trung Quốc đã kể lại rằng

“ngay cả những binh lính bình thường nhất cũng được trang phục bằng tơ lụa”

Vào năm 1804, Jacquard đã hoàn thiện được phương pháp sản xuất lụadệt có hoa văn bằng cách dùng những tấm bìa có đục lỗ Đây là một cuộc cáchmạng trong kỹ thuật dệt đã tạo ra một động lực lớn cho việc hình thành nền côngnghiệp tơ tằm ở Lyon và sau đó tại các nước Châu Âu

Thế kỷ 19 được đánh dấu bởi hai tình hình trái ngược nhau, một mặt là sự

cơ khí hoá dẫn đến việc tăng năng suất trong nền công nghiệp tơ tằm và mặtkhác là sự bắt đầu suy giảm của ngành dâu tằm tơ Châu Âu trong phần tư cuối

Trang 34

thế kỷ Từ năm 1872, với sự khai thông kênh đào Suez, giá tơ nhập khẩu từ Nhật

đã trở lên rẻ hơn, đây cũng là nhờ những tiến bộ về ươm tơ của Nhật Sự côngnghiệp hoá nhanh chóng của các nước sản xuất tơ tằm Châu Âu, nhất là Pháp, đãlàm chuyển dịch nguồn lao động nông nghiệp về các thành phố và thị xã Nhữngloại bệnh tật gây hại cho con tằm, mặc dù đã được khắc phục bởi Pasteur, cũng

đã làm cho việc nuôi tằm trở thành một nguồn thu nhập không ổn định, và rồinhững loại sợi nhân tạo đầu tiên bắt đầu thâm nhập vào thị trường mà theotruyền thống vẫn được dành cho mặt hàng tơ tằm

Vào đầu thế kỷ 20, trong khi nghề dâu tằm Châu Âu vẫn tiếp tục suy giảmvới tốc độ chậm chạp thì nền công nghiệp tơ tằm đã thành công trong việc duytrì một vị trí vững mạnh với những cải tiến kỹ thuật và sự phát triển mặt hàng tơtằm pha trộn với các loại sợi khác

Bước ngoặt chủ yếu tiếp theo là chiến tranh thế giới thứ hai, vì nguồncung cấp tơ từ Nhật đã bị cắt đứt và những loại sợi tổng hợp mới đã xâm chiếmnhiều thị trường của tơ tằm, chẳng hạn như mặt hàng bít tất và dù Sự gián đoạncủa các hoạt động tơ tằm tại Châu Âu và Hoa Kỳ đã gióng lên hồi chuông báo tửcho ngành dâu tằm tại Châu Âu

Sau chiến tranh, Nhật đã khôi phục việc sản xuất tơ tằm với những cảitiến rộng lớn trong việc ươm tơ, kiểm ngiệm tơ và phân loại tơ của họ Nhật đãduy trì là nước sản xuất tơ tằm lớn nhất và đã thật sự là nước xuất khẩu tơ chủyếu cho đến thập niên 1970 Sau đó Trung Quốc, nhờ những nỗ lực đáng kểtrong công tác tổ chức và kế hoạch, đã dần dần chiếm lại vị trí lịch sử của mình

là một nước sản xuất và xuất khẩu tơ lớn nhất thế giới Vào năm 1985, sảnlượng tơ nõn của thế giới là khoảng 56.000 tấn (bằng sản lượng của năm 1938)trong đó hơn một nửa được sản xuất tại Trung Quốc.Và cho đến nay, TrungQuốc vẫn chiếm ngôi đầu bảng trong sản xuất và xuất khẩu tơ

Những nước sản xuất tơ lớn khác phải kể đến như Nhật Bản, Ấn Độ, Liên

Xô cũ, Cộng hoà Triều Tiên và Braxin Ngoài ra, tơ còn được sản xuất với sốlượng nhỏ tại các nước khác và còn nhiều nước đang phát triển đã và vẫn đang

Trang 35

1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ tơ tằm trên thế giới và ở Việt Nam

Tình hình sản xuất tơ tằm trên thế giới và ở Việt Nam

Trải qua nhiều thế kỷ diện tích cây dâu và sản lượng tơ tằm thế giớikhông ngừng tăng lên Trước chiến tranh thế giới thứ hai, sản lượng tơ tằm trênthế giới đạt cao nhất vào năm 1938 là 46.548 tấn Lúc đó Nhật là nước phát triểnmạnh nghề trồng dâu nuôi tằm, chiếm 76% sản lượng tơ thế giới Nhưng sau đósản lượng tơ của Nhật giảm dần, đến năm 1989 chỉ chiếm khoảng 9% sản lượng

tơ thế giới Một trong những nguyên nhân là do nghề này cần sử dụng nhiều laođộng, trong khi ngành công nghiệp của Nhật Bản phát triền và thu hút khánhiều lao động

Những năm gần đây, Trung Quốc vươn lên đứng đầu thế giới về sảnlượng tơ tằm, từ chỗ dâu tằm chỉ chiếm 8% sản lượng tơ thế giới đã vươn lên vịtrí đứng đầu thế giới về sản lượng tơ tằm 1989 Hiện nay, Trung Quốc có 22trong số 25 tỉnh sản xuất tơ tằm và đã thu hút trên 20 triệu hộ gia đình tham gia,trên 1 triệu công nhân làm việc trong ngành công nghiệp tơ lụa Đồng thời vớitrên 2240 doanh nghiệp tơ lụa cho tổng sản lượng của công nghiệp tơ lụa lênđến 82,9 tỷ nhân dân tệ

Ngoài ra, Ấn Độ cũng là nước đang có xu thế phát triển mạnh nghề này.Khác với Trung Quốc và Nhật, ở Ấn Độ 80% sản lượng tơ tằm sản xuất ra chỉdùng cho nhu cầu trong nước Sản xuất dâu tằm là ngành công nghiệp nông thôncủa Ấn Độ và đã tạo công ăn việc làm thường xuyên cho khoảng 6 triệu người.Nền công nghiệp tơ tằm được coi là thế mạnh trong nền kinh tế Ấn Độ và cóvai trò quan trọng là luân chuyển của cải từ tầng lớp giàu có sang tầng lớp nghèocủa xã hội

Hiện nay trên thế giới có trên 40 nước phát triển nghề trồng dâu nuôi tằmcho sản lượng là 80.000 tấn năm 2000 Trong khi đó nhu cầu tiêu thụ của cácnước là 100.000 tấn Điều này chứng tỏ sản xuất dâu tằm chưa đáp ứng nhu cầucon người

Ở nước ta, nghề trồng dâu nuôi tằm đã có lịch sử phát triển hàng ngànnăm và đã hình thành những vùng dâu tằm tập trung với các địa danh nổi tiếng

Trang 36

như: Phú Thọ, Hà Tây, Bảo Lộc Thậm chí có cả những nương dâu, làng tằmgắn liền với tên tuổi của những nguyên phi, công chúa các triều đình phong kiếnnhư: Kinh Bắc, Quảng Bá Tuy nhiên, từ bao đời xa xưa nghề trồng dâu nuôitằm cũng chỉ gói gọn trong cái gọi là “tằm tang, canh cửi” nhằm tự cung tự cấpcái mặc cho một bộ phận dân cư Trước cách mạng tháng 8, diện tích trồng dâucao nhất chiếm 21.000 hecta vào năm 1939 nhưng sau đó giảm dần Sau ngàyhoà bình lập lại (1954), Đảng và Chính phủ ta rất quan tâm đến ngành tơ tằm.Nghị quyết hội nghị trung ương lần thứ 14 của trung ương Đảng đã ghi rõ: “ cần khuyến khíc, khôi phục và phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm” Vì vậy, nghềtrồng dâu ươm tơ nước ta ngày một đẩy mạnh, sản lượng tơ của ta mỗi năm mộttăng Chỉ tính riêng diện tích trồng dâu đến năm 1965 miền Bắc đã tăng gấp 3,5lần so với năm 1961 Từ cuối năm 1964, mở ra một bước ngoặt trong lịch sửngành tơ tằm, chúng ta đã bước đầu xây dựng nhà máy ươm tơ với thiết bị tựtrang tự chế, đầu năm 1966 nhà máy ươm tơ Ba- thá bắt đầu đi vào hoạt động.

Do cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, các xí nghiệp sản xuất dâu tằm bịthua lỗ, gặp nhiều khó khăn về vốn, khoa học kỹ thuật và thị trường tiêu thụ tơnên diện tích dâu từ năm 1974 đến năm 1984 giảm mạnh Đến năm 1985, với sựchuyển đổi từ cục dâu tằm trung ương thành liên hiệp các xí nghiệp dâu tằm tơViệt Nam theo nghị định só 225-HĐBT của Chính phủ đã tạo đà cho sản xuấtdâu tằm phát triển

Năm 1991, cả nước sản xuất được 633 tấn tơ trong đó có 510 tấn tơ đủtiêu chuẩn xuất khẩu

Năm 1992, diện tích dâu cả nước là 35.000 hecta và sản lượng kén 12.000tấn, chế biến được 800 tấn tơ các loại, kim ngạch xuất khẩu đạt 16 triệu USD

Đến 31/12/1995, bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã ký quyếtđịnh 408/QĐ-BNN- TCCB thành lập Tổng công ty dâu tằm tơ Việt Nam(VISERI) trên cơ sở Liên hiệp các xí nghiệp dâu tằm tơ trước đây, chính thức

mở ra một giai đoạn mới cho lịch sử phát triển nghành dâu tằm tơ Việt Nam

Trang 37

Năm 2000, sản lượng tơ đạt 125.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 25.000USD Năm 2003, cả nước có 30 cơ sở sản xuất ươm tơ thuộc Tổng công ty dâutằm tơ Việt Nam, 8 cơ sở ươm tơ thuộc địa phương và các cơ sở tư nhân khác.

Tình hình tiêu thụ tơ tằm trên thế giới và ở Việt Nam:

Theo tổ chức thương mại thế giới thì thị trường tơ lụa thế giới chưa baogiờ đáp ứng đủ nhu cầu do người tiêu dùng ngày càng tăng, trong khi đó quátrình công nghiệp hoá của các nước sản xuất tơ tằm làm cho sản lượng tơ ngàymột giảm sút

Cho đến nay, Trung Quốc vẫn là nước cung cấp tơ lụa lớn nhất cho thếgiới Hàng năm, Trung Quốc xuất khẩu hơn 4 tỷ USD các sản phẩm tơ lụa,chiếm 80% doanh số các sản phẩm tơ lụa toàn thế giới Năm 2000 vừa qua, giátrị xuất khẩu tơ tằm và các sản phẩm hoàn tất của Trung Quốc đạt 2,7 tỷ USD.Trong những năm qua, Trung Quốc chủ yếu xuất khẩu tơ nõn, tuy nhiên trongnhững năm gần đây Trung Quốc đã chuyển hướng tơ tăm sang chế biến Tỷ lệxuất khẩu tơ nõn giảm từ 49% (1980) xuống còn 25% (1985) Tỷ lệ xuất khẩuquần áo lụa tơ tằm và các sản phẩm hoàn tất từ tơ tằm tăng từ 17% (1980) lên40% (2000)

Thái Lan, Ấn Độ, Bangladesh, Cam-pu-chia là những nước vừa sảnxuất đồng thời vừa phải nhập khẩu để tiêu dùng trong nước Các nước này chỉ tựtúc được khoảng 20% nhu cầu còn 80% là nhập khẩu

Còn những nước chủ yếu nhập khẩu tơ lụa phải kể đến như: các nước Tây

Âu, một số nước Bắc Âu, Nhật Bản, Mỹ, các nước Trung Đông Đây là nhữngnước có đời sống kinh tế cao, hàng năm có nhu cầu tiêu thụ khá lớn Chỉ riêngNhật Bản phải nhập khẩu 20.000 tấn tơ/năm Năm 2000, nhóm nước nhập khẩu

tơ lụa có nhu cầu nhập khoảng 50.000 tấn tơ Sau năm 2000, nếu các nước sảnxuất tơ lụa tăng sản lượng thêm 30% thì vẫn thiếu hụt khoảng 5000 tấn tơ.Trong khi đó khả năng sản xuất của các quốc gia tăng lên không nhiều so với tốc

độ tăng nhu cầu về tơ lụa của thế giới

Sau hơn 10 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có những bước tăngtrưởng mạnh mẽ, đời sống xã hội có nhiều thay đổi lớn Trước đây, người dân

Trang 38

chỉ có nhu cầu được mặc ấm, nay người dân không chỉ xét đến mặc ấm mà cònmặc đẹp Nhu cầu tiêu dùng của nhân dân đối với sản phẩm tơ lụa ngày càng cao

do họ có thu nhập cao hơn dẫn đến khả năng chi tiêu của người dân cũng tănglên Nhu cầu nội tiêu tăng từ 150.000 mét vải lụa năm 1995 lên 1,5 triệu métnăm 1999 Với những lợi thế đó, trong những năm tới nhu cầu về sử dụng sảnphẩm tơ lụa còn tăng mạnh, thị trường tiêu dùng trong nước sẽ còn được mởrộng hơn nữa

Thị trường xuất khẩu của nước ta trong một vài năm trở lại đây đã cónhững bước tiến đáng kể Tổng công ty dâu tằm tơ đã tạo lập và củng cố đượclòng tin của bạn hàng trên thế giới, đã có được thị trường xuất khẩu tơ ổn định

và lâu dài với nhu cầu lớn mà năng lực của tổng công ty hiện nay chỉ đáp ứngđược 5% nhu cầu của bạn hàng và mới tham gia được khoảng 1,02% thị trường

tơ thế giới

Tơ lụa Việt Nam đã xâm nhập thị trường Nhật Bản, Tây Âu và khối lượnghàng năm khoảng 150- 200 tấn tơ cao cấp vào thị trường Hàn Quốc, Xingapo,Hồng Kông Tơ cấp thấp tiêu thụ ở ấn Độ, Thái Lan, Bangladesh, Lào,Campuchia khoảng 300 tấn tơ mỗi năm

Tóm lại, thị trường tơ lụa thế giới mở rộng với tất cả các nước sản xuất vàxuất khẩu tơ lụa trong đó có Việt Nam Vấn đề cần quan tâm đó là làm thế nào

để xâm nhập và phát huy vai trò của mình trong các thị trường đó đang là vấn đềđược các doanh nghiệp xuất khẩu tơ lụa hết sức quan tâm

2 Các yếu tố đặc trưng của hàng tơ tằm xuất khẩu

2.1 Yếu tố tự nhiên

Nói lên đặc tính của hàng tơ tằm xuất khẩu từ đó cho chúng ta thấy đượcgiá trị của mặt hàng này Trong các nguyên liệu của ngành công nghiệp dệt như:bông thiên nhiên, bông sợi hoá học, tơ tằm và các loại cây có sợi khác như đay,gai, lanh thì từ sưa tới nay tơ tằm vẫn là loại sợi quý, có giá trị cao, tơ lụa thiênnhiên vẫn giữ được địa vị độc đáo Tơ tằm có đặc tính nhẹ, giai bền, hút được

ẩm và cách nhiệt; quần áo bằng lụa tơ tằm vừa nhẹ, vừa bền, có màu bóng tự

Trang 39

nhiên, mặc mùa hè thì thoáng mát, mùa đông thì ấm Hơn nữa, tơ tằm dễ bắtmàu nên nhuộm được nhiều màu đẹp và bền.

Độ dài của tơ tằm chỉ sau các loại xơ xợi hoá học, còn dài hơn bất cứ loại

tơ thiên nhiên nào, tính chất hút ẩm của nó rất cao: có thể hút tới 30- 35% hơinước mà vẫn không có vẻ ẩm ướt (trong khi đó, sợi ny-long chỉ có thể hútkhoảng 5%) Vì vậy nó đảm bảo tốt cho sự hoạt động bình thường của da (sựthoát mồ hôi) Tính chịu nóng cũng khá cao, khi gia nhiệt tới 110oC bề ngoài của

nó không thay đổi Về mặt vệ sinh nó có một ưu điểm đáng quý là không hề gâycho cơ thể con người một dị ứng nào cả

Ngoài việc dùng tơ tằm để dệt ra các mặt hàng có giá trị sử dụng và kinh

tế cao như: các loại lụa, gấm vóc, the, nhung nó còn được dùng trong cácngành quốc phòng và y học như dệt lụa cách điện, lót bao lớp máy bay, bọcdây của các máy phát điện, dệt vải dù, áo chống độc, bao đựng thuốc nổ, làm chỉkhâu khi mổ sẻ

Mấy chục năm gần đây khoa học phát triển, ngành công nghiệp hoá học

đã sản xuất thành công nhiều loại tơ sợi nhân tạo, tổng hợp tuy một vài loại có

ưu điểm hơn hẳn tơ tằm như giai bền, đều đặn hơn ( VD: nylong, vinylong )nhưng đó chỉ là tính chất thứ yếu, vì dùng các loại tơ đó để dệt các mặt hàng sẽ

bị cứng, hút ẩm kém gây cho người mặc có cảm giác bí hơi, vướng víu Rõràng các loại tơ sợi nhân tạo tuy có khả năng sản xuất ra số lượng lớn, mauchóng thoả mãn nhu cầu may mặc, cũng bóng đẹp nhưng kém hẳn tơ tằm về tínhchất cách nhiệt, về sức nhẹ và hút ẩm Do đó tơ tằm có những ưu điểm đặc biệt

mà các loại tơ sợi khác không thể sánh được

2.2 Yếu tố địa lý

Hàng tơ tằm chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố địa lý như thời tiết, khí hậu,vùng lãnh thổ và thay đổi về màu sắc hoa văn theo sự thay đổi của các yếu tốnày Mùa hè khí hậu nóng, các trang phục bằng chất liệu vải nhẹ, mát, hút ẩmtốt rất được ưa chuộng Và hàng tơ tằm đáp ứng một cách tốt nhất các nhu cầu

đó Chính vì vậy hàng tơ tằm được tiêu thụ mạnh hơn vào mùa hè

2.3 Yếu tố văn hoá

Trang 40

Bao gồm thời trang, tính dân tộc, tính tôn giáo

Mỗi dân tộc có một gu thẩm mỹ riêng về thời trang, về kiểu dáng, màusắc, chất liệu vải Điều đó tạo lên những trang phục truyền thống của từng dântộc: Việt Nam có áo dài kín đáo mềm mại với chất liệu tơ tằm truyền thống,người Nhật có áo kimono hay áo xorong của người Lào Tôn giáo cũng có ảnhhưởng tới sở thích và sự lựa chọn trang phục của người tiêu dùng Nhìn chungtất cả các yếu tố trên có ảnh hưởng lớn đến cách ăn mặc của mỗi người, từ đóảnh hưởng đến ngành sản xuất kinh doanh may mặc trong và ngoài nước, đếnchất liệu vải cho phù hợp với các loại trang phục đó và tất nhiên không loại trừchất liệu tơ tằm Một điển hình là Ấn Độ, mặc dù là nước sản xuất tơ lớn thứ haitrên thế giới nhưng với văn hoá và truyền thống mạnh mẽ, nhu cầu may mặc củangười dân sử dụng chất liệu tơ tằm rất lớn, chính điều đó đã chi phối thị trường

tơ lụa trong nước đồng thời phải nhập khẩu và đến nay Ấn Độ trở thành thịtrường tiêu thụ tơ lớn nhất thế giới

2.4 Yếu tố xã hội

Hàng tơ lụa xuất khẩu luôn chú trọng đến yếu tố xã hội và khả năng đápứng nhu cầu cho các tâng lớp xã hội với những mức thu nhập khác nhau củatừng người dân

Hàng tơ tằm chịu ảnh hưởng lớn bởi thu nhập của người tiêu dùng,thường thì thu nhập càng cao người tiêu dùng có nhu cầu tiêu dùng sản phẩm tơtằm càng lớn Trên thực tế, theo Tổng công ty dâu tằm tơ Việt Nam, từ khi nềnkinh tế nước ta đổi mới, thu nhập của người dân tăng lên làm cho nhu cầu tiêudùng lụa tơ tằm trong nước tăng lên từ 150.000 m (năm 1990) lên 1.500.000 m(1997) Thị hiếu của người tiêu dùng cũng thường xuyên thay đổi dó đó hàng tơlụa cũng luôn phải nắm bắt được thị hiếu và dự đoán được những thay đổi đểđáp ứng nhu cầu kịp thời nhất

Tơ tằm là nguyên liệu quý có giá trị cao trên thị trường thế giới đượcdùng để sản xuất ra các loại quần áo, cà vạt Sản phẩm được làm từ lụa tơ tằmrất được ưa chuộng, tuy nhiên vẻ đẹp mềm mại, nhẹ nhàng sang trọng và quý

Ngày đăng: 22/12/2014, 22:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Trang Web: http://www.indiansilk.kar.nic.in Link
1. Giáo trình: Thương mại quốc tế (PGS.PTS Nguyễn Duy Bột- NXB thống kê, Hà Nội- 1997) Khác
2. Giáo trình: Marketing thương mại quốc tế (PGS.PTS Nguyễn Duy Bột- Hà Nội- 1997) Khác
3. Giáo trình: Quản trị kinh doanh thương mại quốc tế (PGS.PTS Trần Chí Thành- NXB Giáo Dục) Khác
4. Giáo trình: Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương (Vũ Hữu Tửu- NXB Giáo Dục- 2002) Khác
5. Luật thương mại (NXB chính trị quốc gia, Hà Nội- 1997) Khác
6. Tạp chí Thị trường - giá cả. số 11-2000: Dâu tơ tằm Việt Nam thực trạng và giải pháp Khác
7. Báo cáo tổng kết hàng năm của công ty dâu tằm tơ I- Hà Nội và một số tài liệu khác Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty dâu tằm tơ I - định hướng và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của công ty dâu tằm tơ i trong thời gian tới
Sơ đồ 1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty dâu tằm tơ I (Trang 49)
Sơ đồ 2: Quy trình công nghệ ươm tơ - định hướng và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của công ty dâu tằm tơ i trong thời gian tới
Sơ đồ 2 Quy trình công nghệ ươm tơ (Trang 55)
Bảng 1: Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty dâu tằm tơ I - định hướng và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của công ty dâu tằm tơ i trong thời gian tới
Bảng 1 Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty dâu tằm tơ I (Trang 59)
Bảng 4: Doanh thu tiêu thụ hàng hoá - định hướng và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của công ty dâu tằm tơ i trong thời gian tới
Bảng 4 Doanh thu tiêu thụ hàng hoá (Trang 64)
Bảng sau để thấy rõ hơn một số chỉ tiêu chủ yếu của công ty cần phấn đấu đạt  được trong thời gian tới: - định hướng và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của công ty dâu tằm tơ i trong thời gian tới
Bảng sau để thấy rõ hơn một số chỉ tiêu chủ yếu của công ty cần phấn đấu đạt được trong thời gian tới: (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w