1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp cho chính sách phát triển công nghiệp giai đoạn 2001-2020

69 287 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 536 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách công nghiệp thường được thể hiện dưới dạng tổ chức ngành, chọn ngành ưu tiên, chính sách tài chính và tín dụng thuế, tợ cấp, đầu tư trực tiếp của Nhà nước, tín dụng ưu đãi đố

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong quá trình phát triển kinh tế, nhiều nước trên thế giới đã có được những thành công to lớn nhờ có các chính sách phát triển kinh tế − xã hội đúng đắn mà một trong những yếu tố cơ bản là có được chính sách phát triển công nghiệp phù hợp Tiêu biểu cho sự thành công này phải kể đến các nước NIC Mặc dù với xuất phát điểm không cao nhưng nhờ có chính sách phát triển công nghiệp đúng đắn, các nước này đã nhanh chóng trở thành những con rồng châu á

và đang cạnh tranh với những nước có nền kinh tế phát triển khác

Dự thảo báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII trình Đại hội đại biểu toanf quốc lần thứ IX có nêu: “ Mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế − xã hội 10 năm 2001− 2010 là: Đẩy mạnh CNH− HĐH đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, tập trung sức xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng quan trọng và công nghệ cao sản xuất

tư liệu sản xuất cần thiết để trang bị và trang bị lại kỹ thuật; công nghệ chế biến tiên tiến cho các ngành kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và đáp ứng nhu cầu quốc phàng, tạo nền tảng đến 2020 nước ta trở thành một nước công nghiệp“

Để thực hiện mục tiêu đó, Việt Nam cần thiết phải xây dựng vf thực hiện được một chính sách phát triển kinh tế nói chung và một chính sách phát triển công nghiệp hữu hiệu nói riêng Song đối với Việt Nam quan niệm về chính sách công nghiệp còn chưa áo sự nhất uán vì vậy việc nghiên cứu chính sách công nghiệp Việt Nam là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng cho việc thực hiện dường lối đẩy mạnh CNH−HĐH đất nước, đưa Việt Nam cơ bản trở thành một cước công nghiệp vào năm 2020

Đó cũng là lý do khiến em chọn đề tài: “Một số giải pháp hoàn thiện

chính sách phát triển công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2001 2020”, với mong

muốn góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào công cuộc xây dựng đất nước

Trang 2

Do có hạn chế vì thời gian và trình độ, đề tài chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót, Em rất mong có được sự phê bình, sửa chữa của thầy cô để chuyên đề thực tập được hoàn thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP

I BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP

Hai thập kỷ sau Chiến tranh thế giới thứ II, có thể coi là thời kỳ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất của chủ nghĩa tư bản Tất cả các nước công nghiệp chính trong giai đoạn này đều trải qua mọt giai đoạn tăng trưởng nhanh với lạm phát và thất nghiệp thấp Đây cũng là lý do đưa học thuyết của J Keynes- Nhà kinh tế học người Mỹ (1883-1946) trở thành một tư tưởng kinh tế phổ biến rộng rãi ở các trung tâm quyền lực của thế giới tư bản

Thế nhưng, với các cú sốc dầu lửa thập kỷ 70s đã mở đầu cho sự sụp đổ của một giai đoạn tăng trưởng đầy ấn tượng trước đây.Đã có rất nhiều những thay đổi mang tính chất cơ cấu trong nền kinh tế thế giới Sự dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp truyền thống sang các ngành công nghiệp và dịch

vụ tạo ra một thị trường lao động vói giá nhân công tăng và sự lớn mạnh của các

tổ chức nghiệp đoàn

Bên cạnh các nước công nghiệp phát triển phương Tây, Nhật Bản xuất hiện với tư ccách là một trung tâm kinh tế lớn của thế giới Các nước mới công nghiệp hoá ở Đông á và Đông nam á ciếm vị trí hàng đầu trên một số thị trường thế giới như : dệt may, điện tử dân dụng, đóng tàu và sắt thép Những thay đổi này đã làm phong phú hơn cho bức tranh công nghiệp thế giới Tăng trưởng nhanh chóng trong giai đoạn 1970 đã che dấu một thực tế là các nền kinh tế tư bản có nhiều điểm khác nhau về hệ thống chính sách kinh tế

Trước những thay đổi ở tren, đi kèm với sự chấm dứt của thời kỳ tăng trưởng nhanh với lạm phát và thất nghiệp thấp, các nước công nghiệp phát triển

đã buộc phải điều chỉnh tư tưởng kinh tế chủ đạo, xuất hiện rất nhiều các cố gắng tìm kiếm những phương thức can thiệp của Chính phủ

Một trong những cố gắng đó được thể hiện qua thuật ngữ “Chính sách công nghiệp ”

Trang 4

Mặc dù chính sách công nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với một số nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Pháp và các nước NIC Châu á như: Hàn Quốc, Đài Loan, Singapo thời kỳ sau Chiến tranh thế giới II, song cho đến cuối những năm 1970 khái niệm ít được nhắc đến trên phương diện lý thuyết Những người ủng hộ chính sách công nghiệp chủ yếu tập trung vào xem xét chính sách công nghiệp trên khía cạnh các vấn đề chính sách thực thế mà không nghiên cứu nhiều về nền tảng lý thuyết của chính sách công nghiệp Thưc tế này dẫn đến tình trạng ngay cả những người ủng hộ rất mạnh mẽ chính sách công nghiệp cũng không thể mô tả thực tế chính sách công nghiệp vận hành như thế nào.

II TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP

1 Khái niệm về chính sách phát triển công nghiệp

1.1 Các quan điểm

Chính sách công nghiệp là một khái niệm gây nhiều tranh cãi Chỉ xét riêng ở Nhật Bản đã có những quan điểm bất đồng về chính sách công nghiệp

Ông là một trong những người phản đối công nghiệp công nghiệp và cho rằng trợ cấp của Chính phủ và các khoản vay ưu đãi cho khu vực doanh nghiệp Nhật Bản là nhỏ hơn tương đối so vơí một quyết định thành công của Nhật Bản

Là một trong những học giả ủng hộ rất mạnh mẽ quan điểm về chính sách công nghiệp ở Mỹ Theo quan điểm của ông, chính sách công nghiệp bao gồm những nội dung sau:

+ Các chính sách đối với những khu vực công nghiệp được ưu tiên

+ Chính sách phát triển nguồn nhân lực

+ Chính sách phát triển cơ sở hạ tầng

+ Chính sách phát triển vùng

Nội dung của chính sách công nghiệp gồm:

+ Các chính sách trợ giúp phát triển công nghiệp

Trang 5

+ Các ưu đãi về tài chính cho đầu tư

+ Chương trình đầu tư công cộng

+ Dự trữ của khu vực công cộng

+ Trợ cấp tài chính cho R & D

+ Chống độc quyền

+ Lập luận ngàn công nghiệp non trẻ

+ Các biện pháp khuyến khích ưu đãi các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ

+ Chính sách phát triển vùng

+ Các biện pháp bảo hộ mậu dịch

1.2 Khái niệm chính sách phát triển công nghiệp

Trên phương diện lý thuyết, chính sách công nghiệp được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau Một chính sách công nghiệp có thể có phạm vi tổng quát hay mục tiêu cụ thể, nhấn mạnh vào sử dụng các công cụ theo chiều dọc hay chiều ngang, và có thể có tác dụng tiêu cực hoặc tích cực đối với tăng trưởng kinh tế

Một chính sách công nghiệp có phạm vi rộng nhằm vào khuyến khích tất

cả các ngành công nghiệp , trong khi đó một chính sách công nghiệp có phạm vi hẹp thì chỉ tập trung vào một hay một số khu vực công nghiệp được lựa chọn theo những tiêu thức nhất định

Như vậy, chính sách phát triển công nghiệp được hiểu là sự can thiệp

trực tiếp hay gián tiếp của Chính phủ hướng vào những ngành nhất định để đạt được những ngành nhất định để đạt được mục tiêu cụ thể (Mục tiêu này có thể là tăng trưởng, xây dựng năng lực cạnh tranh, tạo công ăn việc làm) Chính sách công nghiệp thường được thể hiện dưới dạng tổ chức ngành, chọn ngành

ưu tiên, chính sách tài chính và tín dụng (thuế, tợ cấp, đầu tư trực tiếp của Nhà nước, tín dụng ưu đãi) đối với ngành, chính sách phát triển nguồn nhân lưc của ngành, chính sách tăng tỷ lệ nội địa hoá các sản phẩm của ngành, chính sách đầu tư nước ngoài vào các ngành, chính sách kinh tế đối với các ngành , chính sách đối với các khu vực chế xuất và khu công nghiệp tập trung

Trang 6

2 Nội dung và mục tiêu của chính sách phát triển công nghiệp

2.1 Nội dung

Một là, chính sách phát triển công nghiệp bao gồm toàn bộ những hoạt động hoạch định của một nước ngằm phát triển công nghiệp, liên quan tới những hoạt động hoạch dịnh này là những vấn đề điều chỉnh cơ cấu sản xuất và đầu tư , hiện đại hoá và cải tổ cơ cấu công nghiệp, chính sách thị trường và xuất nhập khẩu, chính sách khuyến khích R & D , chính sách đối với sản xuất quy mô nhỏ

và các chính sách có liên quan đến phát triển nguồn lực và năng lượng

Hai là, trong chính sách công nghiệp cần định rõ các ngành công nghiệp

cụ thể sẽ được khuyến khích và dành cho nhừng lĩnh vực này những ưu tiên khác nhau trong một thời gian nhất định nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của đất nước vào việc đẩy nhanh tốc độ phát triển và tăng trưởng kinh tế

Ba là, xây dựng đồng bộ hệ thống các phương tiện khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp đã dược lựa chọn Liên quan đến các phương tiện này là khuyến khích về tài chính, xây dựng hệ thống kiểm soát thích hợp hỗ trợ hoạt động R & D, đặc biệt quan tâm tới các mục tiêu và kế hoạch dài hạn ,

2.2 Mục tiêu.

Vấn đề có ý nghĩa quan trọng là xác định mục tiêu của chính sách phát triển công nghiệp Phần lớn ở các nước khi xây dựng chính sách phát triển công nghiệp thường đưa ra nhiều mục tiêu Tuy nhiên, có thể nêu lên 2 mục tiêu chính

là : phát triển công nghiệp cân đối và công bằng

- Phát triển công nghiệp cân đối đòi hỏi phải đảm bảo được sự cân đối giữa ngành công nghiệp, giữa các địa phương và vùng lãnh thổ Hầu hết các nước trong quá trình phát triển công nghiệp đều không tập trung đầu tư quá mức vào một ngành công nghiệp nào và tìm cách để duy trì được các thị trường có khả năng cạnh tranh lớn

Ngoài ra, mục tiêu phát triển cân đối còn được thể hiện ở chỗ : Bên cạnh các trung tâm công nghiệp của các thành phố lớn, nhiều nước ddax khuyến khích phát triển các vùng nông thôn và coi việc định vị lại công nghiệp như là phương tiện quan trọng cho mục tiêu này

Trang 7

Để thiết lầp được một cơ cấu công nghiệp cân đối, các cước chú ý vào hai vấn đề là thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp quy mô nhỏ và lựa chọn, phát triển một số ngành công nghiệp mũi mhọn.

- Mục tiêu công bằng là một trong hai mục tiêu chính của chính sách công nghiệp Nó bao gồm các mặt như công bằng xã hội và công bằng giữa các nhà đầu tư trong và ngoài nước Việc thực hiện mục tiêu này có ý ngiã đảm bảo cho

sự phát triển bền vững của công nghiệp nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung

Ngoài hai mục tiêu trên còn có những mục tiêu khác như: đảm bảo “chất lượng cuộc sống” thông qua việc thiết lập các quy tắc xã hội để kiểm soát ô nhiễm và chất thải, ban hạnh luật về lương thực, thực phẩm, hoặc cũng có nước đặt mục tiêu của chính sách phát triển công nghiệp là nhằm tăng thu nhập về ngoại hối nhằm cải thiện cán cân thanh toán Trong những năm gần đây, gới xu thế gia tăng về hội mhaapj kinh tế, các nước còn coi mục tiêu tăng cường hợp tác kinh tế với thế giới và khu vực là mục tiêu của chính sách phát triển công nghiệp…

3 Trọng tâm của chính sách phát triển công nghiệp.

Chính sách công nghiệp đặt trọng tâm vào phát triển khu vực chế tạo của nền kinh tế Những người ủng hộ chính sách công nghiệp cho rằng hiện tượng phi công nghiệp hoá ở Anh và Mỹ trong khoảng 3 thập kỷ qua xuất phát từ việc coi nhẹ vai trò của khu vực chế tạo, lam giảm đóng góp của khu vực này vào GDP và tạo công ăn việc làm cho người lao động

Theo Cohen và Zysman (1987): với tầm quan trọng của khu vực chế tạo thì đây là một sự sai lầm về định hướng chính sách Thêm vào đó, các biện pháp điều chỉnh kinh tế vĩ mô có thể lầ chưa đủ để có thể thúc đẩy sự phát triển của khu vực chế tạo vì đối với tăng trưởng năng suất của khu vực này, sự phân bổ vốn còn có ý nghĩa quan trọng hơn là tổng giá trị vốn đầu tư Chính vì vậy, Chính phủ cần can thiệp trực tiếp để thúc đẩy phát triển công nghiệp

Tuy nhiên, đó cũng là trong tâm gây nhiều tranh cãi Những người phản đối quan điển chính sách công nghiệp cho rằng tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ

Trang 8

hậu công nghiệp ở các nước tư bản phát triển đặt trọng tâm vào khu vực dịch vụ, dịch vụ trở thành trung tâm của các hoạt động kinh tế Vì vậy, các biện pháp can thiệp của Chính phủ theo hướng ưu tiên khu vực công nghiệp mà không tập trung cho phát triển khu vực dịch vụ không nhưngx là không cần thiết mà còn có ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế Chính sách công nghiệp sẽ cản trở cơ chế chọn lọc tự nhiên của thị trường và ngăn cản việc tái phân bổ các nguồn lực khan hiếm của nền kinh tế cho khu vực dịch vụ, vì vậy ảnh hưởng tiêu cực đến triển vọng tăng trưởng lâu dài của nên kinh tế (quan điểm của Burtơn-1983).

Song sự thay đổi về cơ cấu theo hướng phát triển dịch vụ không phải chỉ đơn thuần là vì con người mong muốn tiêu dùng nhiều dịch vụ khi đới sống được cải thiện Lý do chủ yếu nhất của sự dịch chuyển về cơ cấu này là do chi phí lạm phát tương đối của khu vực dịch vụ tăng trưởng chậm trong năng suất của khu vực này, chứ không phải là do sự dịch chuyển thật sự của nhu cẩu thị trường về phía khu vực dịch vụ khi thu nhập gia tăng

Bên cạnh đó, xu hướng phi công nghiệp hoá quan sát được ở một số nước công nghiệp phát triển là một kết quả tất yếu trong dài hạn của sự chênh lệch năng suất lao động giữa hai khu vực này chứ không nhất thiết là do khu vực công nghiệp suy giảm sức cạnh tranh Ngay cả các nền kinh tế hướng mạnh vào xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp như Nhật Bản, Đức cũng chịu những ảnh hưởng nhất định của phi công nghiệp hoá Nói cách khác, phi công nghiệp hoá

và sự suy giảm của khu vực công nghiệp là hai khái niệm khác nhau, mặc dù sự giảm sút của khu vực công nghiệp có thể ảnh hưởng đến mức độ phi công nghiệp hoá Vì vậy, không thể kết luận rằng khu vực công nghiệp của một nền kinh tế nào đó đang xuống dốc nếu chỉ căn cứ vào những biểu hiện của phi công nghiệp hoá mà nó đang phải trải qua theo định nghĩa ở trên

4 Tính tất yếu của chính sách công nghiệp.

Chính sách bao hàm ý nghĩa có sự can thiệp của Chính phủ dưới bất cứ hình thức nào Cần phải có chính sách là vì thị trường có những khiếm khuyết nhất định:

Trang 9

4.1 Do những thất bại của thị trường và vai trò can thiệp của Chính phủ

Lý thuyết phổ biến nhất lý giải cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế là lý thuyết về sự thất bại của thị trường Tư tưởng trong tâm của trường phái này tập trung vào thất bại của cơ chế thị trường trong việc cân bằng giữa chi phí và lợi ích giữa cá nhân và xã hội, đồng thời cho rằng Chính phủ có thể can thiệp để khắc phục khuyết tật của thị trường

Hàng hoá công cộng là một thất bại hay được nhắc đến nhất của cơ chế thị trường Vì tính không ngoại trừ của hàng hoá công cộng, các cá nhân luôn có đông lực thực hiện hành vi của những người ăn theo, ảnh hưởng của vấn đề những người ăn theo là các hàng hoá công cộng sẽ được cung cấp ít hơn mức xã hội mong muốn Vì vậy Chính phủ cần can thiệp thông qua trực tiếp cung cấp hàng hoá công cộng

Tiếp nữa, sự tồn tại của tính kinh tế nhờ quy mô có thể là một yếu tố dẫn đến những cơ cấu thị trường cạnh tranh không hoàn hảo Trong một cơ cấu thị trường như vậy, mức giá cung cấp sẽ cao hơn mức giá cạnh tranh hoàn hảo dẫn đến tổn thất thặng dư tiêu dùng Phần tổn thất này được chuyển một phần vào thặng dư sản xuất dưới dạng lợi nhuận độc quyền, phần còn lại là lợi ích mất không của xã hội Mặc dù lý thuyết “Điều tốt thứ nhì”và quan điểm cho rằng can thiệp của Chính phủ có thể là nguyên nhân của thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, sự tồn tại của cơ cấu thị trường này vẫn là một lý do quan trọng biện minh cho vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường

4.2 Xuất phát từ lý thuyết về sự thất bại của Chính phủ

Trong thực tế, cũng như khả năng thị trường tự do có những khuyết tật, sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế cũng có thể không thành công vì bản thân Chính phủ cũng có những thát baị của nó

Có hai yếu tố chính cản trở Chính phủ có thể đạt được mục tiêu can thiệp vào nền kinh tế

Trang 10

Thứ nhất, chi phí cần thiết để Chính phủ có thể thu thập đủ và xử lý tốt

các thông tin về thất bại thị trường trong nhiều trường hợp có thể còn lớn hơn cả lợi ích mà các biện pháp khắc phục khuyết tật thị trường mang lại

Thứ hai, vì có sự xuất hiện của việc thu thập , xử lý thông tin, sự can

thiệp của Chính phủ có thể lại dẫn đến những chi phí nhất định đối với xã hội,

và chi phí này cũng có thể lớn hơn lợi ích mà nó mang lại

4.3 Lý thuyết thể chế mới về sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế

Như đã phân tích trong phần trên, can thiệp của Chính phủ để khắc phục những khuyết tật củâ thị trường sẽ dẫn đến những chi phí nhất định mà những chi phí này có thể lớn hơn cả lợi ích thu được từ sự can thiệp của Chính phủ Tuy nhiên, điều đó không đủ để có thể kết luận rằng Chính phủ không thể can thiệp có hiệu quả vào nền kinh tế

Lý thuyết thể chế mới cho rằng chi phí về thông tin có thể giảm thong qua những thay đổi thichs hợp trong hệ thống tổ chức của bộ náy hành chính và trong quan niệm về giá trị của các cá nhân là thành viên của bộ váy chính quyền

và xã hội Những chi phí thu thập và xử lý thông tin sẽ có thể được loại bỏ thông qua việc cho phép cạnh tranh giữa các Đảng phái và sử dụng các công cụ can thiệp thích hợp

Ngoài ra, lý thuyết này còn cho rằng thị trường không phải là một cơ chế điều phối duy nhất đối với sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế Thị trường,Chính phủ, các hãng, và các thể chế kinh tế khác đều có vai trò trong một

cơ chế phối hợp để dưa ra các quyết định chính sách Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng Chính phủ có thể giải quyết vấn đề phối hợp giữa các tác nhân ở trên với chi phí thấp hơn mức chi phí phối hợp của thị trường, thông qua việc xác lập một hệ thống quyền sở hữu phù hợp, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ

mô, tái cấu trúc xã hội theo các nhóm, tầng lớp lớn, điều phối và định hướng đầu

tư, xây dựng tự hào và bản sắc dân tộc

Trang 11

4.4 Quan điểm kinh tế chính trị

Lý thuyết thất bại thị trường biện minh cho sự can thiệp của Chính phủ dựa trên giả định cho rằng mục tiêu của Chính phủ là phải can thiệp vào thị trường, phục vụ lợi ích của xã hội

Quan điểm kinh tế chính trị, ở một thái cực là các nhà kinh tế Marxist, ở thái cực khác là trường phái Chicago xuất phát từ những quan điểm khác

Chính phủ có thể có một mức độ độc lập nhất định đối với đai chúng, nhất

là khi không có giai cấp nào có đủ khả năng ảnh hưởng mạnh đến các quyết định chính sách Trong tình huống này Chính phủ có thể hành động theo mục tiêu tối

đa hoá nguồn thu vào ngân sách

Theo Findlay (1990), Chính phủ có thể được coi như là một lực lượng độc lập đưa ra các quyết định không nhất thiết phải xuất phát từ lợi ích của xã hội

Quan điểm về nhóm lợi ích coi Chính phủ như là chiếc hộp đen mà các nhóm lợi ích trong xã hội có thể đối kháng, hay liên minh với nhau để đưa ra các quyết định về chính sách Khi một khu vực công nghiệp nào đó có tầm quan trọng đối với nền kinh tế, sức ép của nhóm lợi ích này có thể dẫn đến các quyết định về chính sách thuận lợi đối với nhóm lợi ích đó mà có thể gây phương hại đến những nhóm lợi ích khác trong xã hội

Một số nhà kinh tế Marxist cho rằng sự tồn tại của một Nhà nước phu thuộc chặt chẽ vào phương thức tái sản xuất của xã hội, và vì vậy, Chính phủ phải hành động vì lợi ích của giai cấp đóng vai trò chủ đạo về kinh tế trong cấu trúc xã hội

Nói tóm lại, khác với lý thuyết về thất bại của thị trường, quan điểm

kinh tế chính trị cho rằngcp có thể có sự can thiệp vào nền kinh tế nhưng có thể đươc biện minh bởi những nguyên nhân xuất phát từ đặc điểm, mức độ độc lậpcủa từng hệ thống chính quyền

Từ những lý do nói trên dẫn đến nền kinh tế nói chung và lĩnh vực công nghiệp nói riêng cần phải có một chính sách để phát triển đó là Chính sách phát triển công nghiệp

Trang 12

5 Phân loại chính sách công nghiệp

Bản thân nền công nghiệp, đối tượng của chính sách, là thực thể luôn luôn động Hơn nữa, chính sách công nghiệp là cái luôn biến đổi từng giờ, từng phút với sự biến động của thời đại của xã hội và có rất nhiều loại đối tượng Không

có lý luận chung cho chính sách công nghiệp Do vậy, phải phân loại chính sách công nghiệp theo mục đích, chủng loại, và tính chất

5.1 Phân loại theo vai trò của Nhà nước trong sự phân công giữa Nhà nước và các doanh nghiệp

Theo cách phân loại này, chức năng của chính sách công nghiệp hướng vào 3 mục đích chính:

- Hỗ trợ phát triển ngành: chính sách tạo khả năng đối kháng với doanh nghiệp tư nhân (chỉ đạo hay quy chế cho pjhép công nghiệp hợp tác, bổ sung hoặc hỗ trợ đối với doanh nghiệp tư nhân) Các chính sách này khác nhau ở chỗ

là dựa vào pháp luật (quyề lực hay chỉ đạo hướng dẫn, …)

- Khống chế các giao dịch bất chính: Bao gồm chính sách có mục đích duy trì trật tự (chỉ đạo, ngăn cấm, cho phép) hay các chính sách có tính phán quyết hình thức (đăng ký, thông báo,…)

- Dự thảo luật: gồm chính sách tạo lập môi trường mới hay chính sách xuất phát từ thái độ thụ động tạo ra trật tự để đối phó với môi trường mới

5.2 Phân loại theo đối tượng mục đích của chính sách

- Các vấn đề cơ cấu công nghiệp : gồm chính sách có đối tượng là toàn bộ

cơ cấu công nghiệp với chính sách có đối tượng là từng ngành (hay từng doanh nghiệp )

Chính sách điều chỉnh ngược với các ngành suy thoái hay chính sách chấn hưng cho các ngành mới (tỷ trọng công nghệ cao trong cơ cấu công nghiệp )

- Vấn đề thị trường

+ Phân biệt chính sách bổ sung khắc phục các thất vại của thị trường với chính sách bổ ưung hoàn thiện hạn chế của thị trường

Trang 13

+ Phân biệt chính sách điều chỉnh trật tự thị trường bị lệch lạc (tổ chức ngành sản xuất ) với chính sách điều chỉnh yếu tố bên ngoài bị lệch lạc(môi trường tự nhiên, quyền lợi người tiêu dùng).

+ Phân biệt chính sách ngay trong bản thân trật tự sẵn có với chính sách

để tiến hành trật tự mới

- Vấn đề phát triển công nghiệp có tính chiến lược

Cần phân biệt rõ chính sách phát triển ngành có tính chiến lược (ngành xuất khẩu, điện tử …) với chính sách phát triển các ngành sản xuất cơ sở hạ tầng (sản xuất nguyên vật liệu chủ yếu, linh kiện, phụ kiện, …)

5.3 Phân biệt theo thủ pháp chính sách (theo cách thức để thực hiện mục tiêu)

- Vấn đề hoàn thiện cơ sở hạ tầng

+ Phân biệt chính sách hoàn thiện cơ sở hạ tầng phần cứng và chính sách hoàn thiện cơ sở hạ tầng phần mềm (môi trưowngf công nghiệp)

+ Phân biệt chính sách phát triển cơ sở hạ tầng (như tài chính, tiền tệ, thuế…) với chính sách phát triển kỹ thuật cho phần cơ sở hạ tầng (như nghiên cứu , quy cách hoá, chế độ quyền sở hữu công nghiệp) và cả chính sách cơ cấu công nghiệp cơ sở hạ tầng (như cơ cấu sản xuất phụ tùng của các doanh nghiệp trong ngành cơ khí)

Trang 14

hoàn thiện môi trường (như cung cấp thông tin, đưa ra quy cách, phát triển kỹ thuật,…) hay chính sách mang tính hướng đạo.

Tốm lại, có thể tổng kết chính sách phát triển công nghiệp như sau:

Chính sách nhằm ảnh hưởng tới cơ cấu của một nước Tức là một chính sách can thiệp vào hoạt động giao dịch với nước ngoài như : ngoại thương, đầu

tư trực tiếp, chính sách hỗ trợ phát triển và bảo hộ (trợ cấp thuế) chính sách điều tiết và sử dụng nguồn lực

Các chính sách sửa chữa các thất bại của thị trường do tính không hoàn thiện của hoạt động kỹ thuật và thông tin Tức là một chính sách khắc phục các dạng thất bại của thị trường bằng cách cung cấp thông tin chính xác, sử dụng các công cụ chính qua trợ cấp, thuế và chỉ đạo việc phân phối nguồn lực theo hướng mông muốn

Chính sách can thiệp về mặt hành chính vào tổ chức sản xuất theo từng ngành nhằm nâng cao phúc lợi kinh tế Cụ thẻ là chính sách nhằm trực tiếp can thiệp vào cơ cấu cạnh tranh và phân bổ nguồn lực trong các nhành sản xuất thông qua hình thức liên minh giảm giá, liên minh đầu tư thiết bị,…

Chính sách được hoạch định theo yêu cầu chính trị là củ yếu chứ không phải mang tính kinh tế Tức là chính sách bao gồm quy chế tự chủ xuất khẩu hay hiệp định đa phương nhằm xử lý mâu thuẫn ngoại thương

6 Khái quát về chính sách công nghiệp của Việt Nam

Như đã phân téch trong các phần ở trên, chính sách công nghiệp là một khái niệm rộng, phức tạp và vòn tương đối mới mẻ đối với các nhà nghiên cứu trên thế giới, nhất là trên phương diện lý thuyết

Trong bối cảnh như vậy:

a Có nên tồn tại hay không một chính sách công nghiệp của Việt Nam

b Nếu là có tồn tại thì chính sách công nghiệp Việt Nam có thể được

mô tả như thế nào?

c Ảnh hưởng của nó đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam (nhất là trong những năm đổi mới) như thế nào

Trang 15

Trong phần này, em sẽ đi sâu tìm hiểu câu hỏi (b) trên phưong diện lý thuyết, các vấn đề còn lại là nội dung nghiên cứu của Chương II và III- Phần thực trạng và các giải pháp.

Thuật ngữ “chính sách công nghiệp” cho đến nay vẫn rất ít xuất hiện trên các pgương tiên thông tin đại chúng của Việt Nam, cũng như trong các công trình nghiên cứu của các tác giả nước Trong khi đó, một thuật ngữ khác hay được sử dụng có liên quan đến nội dung chính sách công nghiệp là thuật ngữ

“công nghiệp hoá, hiện đại hoá ”

Xét về bản chất, thuật ngữ “công nghiệp hoá, hiện đại hoá “ ở Việt Nam bao hàm hệ thống các mục tiêu, các định hướng và hệ thống các chính sách nhằm chuyển Việt Nam từ một nước nông nghiệp thành một nước công nghiệp Trong hệ thống các mục tiêu và định hướng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam, vấn đề phát triển các ngành, các khu vực, các loại hình quy mô và các thành phần kinh tế chiếm vị trí quan trọng, ở đây, những vấn đề chung được đề cập thường là:

- Cơ cấu ngành kinh tế : công nghiệp – nông nghiệp- dịch vụ , ở đây, các

cơ cấu được chú ý trong thiết kế chính sách là : cơ cấu công nghiệp khai thác- công nghiệp chế biến- công nghiệp điện nước; cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi, cơ cấu các loại hình dịch vụ

- Cơ cấu gữa đo thị và nông thôn

- Cơ cấu giữa quy mô doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ

-Cơ cấu giữa doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trên cơ sở các mục tiêu và định hướng phát triển công nghiệp như vậy, phải thiết lập hệ thống các chính sách được sử dụng để hỗ trợ cho phát triển công nghiệp, trong đó phải kể đến một số chính sách chính như : chính sách vốn, chính sách nguồn nhân lực, chính sách phát triển khoa học và chính sách thuế quan

Trang 16

Như vậy, chính sách công nghiệp của Việt Nam có thể được hiể là tập hợp của các định hướng, chính sách, công cụ điều chỉnh đối với một số ngành công nghiệp để đạt được mục tiêu đưa Việt Nam từ một nước nông nghiệp sang một nước công nghiệp vào năm 2020 Nhiệm vụ của chính sách công nghiệp có thể thay đổi qua mỗi thưòi kỳ nhưng đều có mục tiêu chung là điều chỉnh các hoạt động cuả các khu vực công nghiệp theo chiều hướng có lợi cho sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước

Nhiệm vụ này được thể hiện trên hai mặt sau :

Một là, tạo điều kiện thuân lợi cho các doanh nghiệp trong nước mở

rông thị trường ra nước ngoài, tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động quốc

tế và mậu dịch quốc tế, khai thác triệt để lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nước

Hai là, bảo vệ thị trường nội địa, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp

trong nước đứng vững và vươn lên trong hoạt động kinh doanh quốc tế, đáp ứng cho yêu cầu tăng cường lợi ích quốc gia

Thêm vào đó, cũng cần phải nhấn mạnh rằng cách hiểu ở các phần trên về chính sách công nghiệp là quan điểm áp dụng cho các nền kinh tế thị trường Rất nhiều mô tả về chính sách công nghiệp đươc khái quát từ thực tế vận hành chính sách công nghiệp ở những nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, là những nước có hệ thống chính trị khác với Việt Nam và hiện đang ở trình độ phát triển cao hơn Việt Nam

Nhận định về chính sách công nghiệp Việt Nam cần phải được xẽmét trong bối cảnh Việt Nam là một nền kinh tế đang chuyển đổi sang một nền kinh

tế thị trường , Chính phủ đang phải đối mặt với vấn đề cải cách khu vực doanh nghiệp Nhà nước, là một trong những trọng tâm của công cuộc cải cách kinh tế

ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay Khu vực doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam chủ yếu tập trung trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp Cải cách khu vực doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam được thực hiện thông qua nhiều phương thức, bán doanh nghiệp, cổ phần hoá, cho thuê, khoán kinh doanh, sáp nhập, giải thể,… Vì vậy,mô tả chính sách công nghiệp của Việt Nam bên cạnh những đặc diểm

Trang 17

chung của một chính sách công nghiệp theo lý thuyết cần phải đề cập đến những công cụ chính sách sắp xếp lại khu vực doanh nghiệp Nhà nước.

Ngoài ra, sự tham gia của Việt Nam vào AFTA, APEC, và quá trình đàm phán về khả năng gia nhập WTO với tư cách thành viên chính thức là những minh chứng mạnh mẽ đối với xu hướng tự do hoá thương mại ở Việt Nam Xét

về môi trường chính sách tự do hoá thương mại vừa khuyến khích xuất khẩu nhưng cũng không tạo ra các rào cản đối với nhập khẩu Bối cảnh đó không cho phép Việt Nam có thể sử dụng các rào cản bảo hộ thuế quan và phi thuế quan

để trọ giúp cho phát triển công nghiệp trong dài hạn

III CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA ĐÔNG Á VÀ BÀI HỌC KINH NGHIÊM CHO VIỆT NAM (NHẬT BẢN, HÀN QUỐC, ĐÀI LOAN)

Kinh nghiệm phát triển của các nước Đông á cho thấy chính sách công nghiệp là một công cụ hữu hiệu để các nước Đông á xây dựng kinh tế sau sự tàn phá của chiến tranh và phát triển trở thành các nền kinh tế công nghiệp hoá mới như : Hàn Quốc, Đài Loan, hay nền kinh tế công nghiệp phát triển như Nhật Bản

Chính sách công nghiệp của các nước này có hai đặc điểm chính :

1 Tập trung vào xây dựng cơ sở kinh tế trong nước.

Với xuất phát điểm là các nền kinh tế bị tàn phá và kiệt quệ sau chiến tranh, vấn đề đặt ra đầu tiên trong chiến lược công nghiệp hoá ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan là tái thiết nền kinh tế

Đài Loan, bắt tay vào công cuộc xây dựng lại nền kinh tế sau 1949 với

việc quốc hữu hoá các cơ sở kinh tế từ tay người Nhật thành các doanh nghiệp Nhà nước trong các lĩnh vực như: tinh chế đường, diện lực, lọc dầu Các công ty thuộc lĩnh vực xi măng, giấy và những công ty nhỏ hơn được tư nhân hoá, nhờ

đó giúp chuyển vốn của các địa chủ từ sản xuất nông nghiệp vào khu vực công nghiệp Đồng thời Chính phủ ủng hộ sự phát triển của các khu vực thay thế nhập khẩu bằng các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, chú ý phát triển các công ty

tư nhân thông qua việc nhập khẩu máy móc thiết bị bằng nguồn viện trợ của Mỹ

Trang 18

Nhật Bản, nền kinh tế sau chiến tranh đang trong tình trạng đổ nát và tụt

hậu khá xa về công nghệ so với các quốc gia công nghiệp hoá những năm đầu sau chiến tranh, chiến lược của Mỹ đối với Nhật Bản là kiềm chế tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng nhanh của Liên Xô cũ và sự mở rộng nhanh chóng của thế giới cộng sản buộc Mỹ thay đôỉ chiến lược đối ngoại đối với Nhật Bản Kế hoạch Marshall do Mỹ đưa ra nhằm mục tiêu hỗ trợ quá trình tái thiết Nhật Bản

và Châu Âu sau chiến tranh Các nỗ lực phát triển kinh tế của Chính phủ Nhật Bản trong thời kỳ đầu là tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng, khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp như điên, than, sắt théo, và đong tàu Cũng trong giai đoạn này, mộtkhuôn khổ cơ bản của chính sách ccn đã được xác lập với các lĩnh vực ưu tiên khuyến khích về thuế, tài chính và đầu tư nước ngoài Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản còn quản lý chặt chẽ, phân bổ các chỉ tiêu nhập khẩu máy móc và nguyên vật liệu, kiểm soát về giá cả áp dụng cho các khu vực

Nằm trong tổng thể chiến lược củng cố sức mạnh của quốc gia để đối phó với các thế lực cộng sanr, phát triển công nghiệp được coi là một nội dung ưu tiên hàng đầu Trong thời gian 1953-1958, các tập đoàn kinh tế tư nhân có quy

mô lớn (gọi là Cheabols) được thành lập với sự hậu thuẫn của chính quyền TW

Trang 19

Trong những năm 50s, công nghiệp Hàn Quốc chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ trên cả hai lĩnh vực công nghiệp nặng(hoá chât, luyện kim…) và công nghiệp nhẹ (như dệt may, chế biến lương thực thực phẩm).

Để đảm bảo sự tập trung ủng hộ về thể chế, chính quyền cũng sử dụng những biện pháp bạo lực và các chính sách quản lý xã hội chặt chẽ để ngăn ngừa

và dẹp bỏ mội sự chống đối từ các phe phái đối lập Sự phát triển của các Cheabols trong khu vực công nghiệp nặng và hoá chất là sự thể hiện rõ nét của một chiến lược phát triển công nghiệp hướng nội, nhằm vào mục tiêu độc lập kinh tế

Để khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu, Chính phủ Hàn Quốc duy trì chế độ tỷ giá hối đoái kép, đưa ra mức tỷ giá cố định quy định riêng cho xuất khẩu và nhập khẩu Đồng thời giảm thuế cho máy móc , thiết bị nhập khẩu

Bảng 1 - Tóm tắt các chính sách khuyến khích công nghiệp ở Nhật Bản,

Hàn Quốc và Đài Loan.

Hợp lý hoá công nghiệp

(nửa đầu thập kỷ 50)

Ưu tiên đầu tư nhập khẩu

thiết bị, đầu tư vào máy

móc/ các khoản cho vay

của ngân hàng phát triển

Nhật Bản / Miễn giảm

thuế

Sau nội chiến Triều Tiên

(Những năm 50)Phát triển và khuyến khích các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu/ hệ thống trợ cấp bằng hạn ngạch/ tỷ giá hối đoái kép/

miễn giảm thuế cho máy móc, nguyên liệu nhập khẩu

Công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu

(nửa đầu thập kỷ 50)Điều chỉnh các ngành công nghiệp công cộng chủ chốt (đường,

xi măng, phân hoá học…)/ khuyến khích công nghiệp dệt bằng hạn chế số lượng

Hình thành những ngành công nghiệp

Trang 20

Tăng trưởng cao

(những năm 60)

Phát triển một nên kinh

tế mở/ hợp tác giữa Nhà

nước và tư nhân/ điều

chỉnh cơ cấu đầu tư/ phối

khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo thông qua can thiệp của Chính phủ và đầu tư cho nghiên cứu ứng dụng

Công nghiệp hoá hướng xuất khẩu

(những năm 60)Tăng cường sử dụng vốn nước ngoài (các khoản vay và đầu tư trực tiếp)/ tập trung vào khu vực kinh tế tư nhân/ lập các KCX/ miễn giảm thuế/ khuyến khích các công

(những năm 70)

Kế hoạch chiến lược phát triển công nghiệp nặng, hoá chất/ tài trợ có kiểm soát cho các hoạt động kinh doanh/ cho vay lãi suất đối với các ngành công nghiệp nặng, hoá

CNH hướng xuất khẩu

(những năm 70)Lập kế hoạch phát triển chính thức cho các công ty Nhà nước

về sắt thép, hoá dầu,

và đóng tàu/ hình thành quỹ vốn đầu tư

xã hội

Trang 21

chất và sản xuất hàng xuất khẩu/ khuyến khích mở rộng trang thiết bị trong các xí nghiệp tư nhân.

Tự do hoá phối hợp các ngành công nghiệp nặng, hoá chất.

(những năm 80)

Tự do hoá kinh tế/ tư nhân hoá một số khu vực công cộng/ tự do hoá quản lý cốn đầu tư nước ngoài/ tự

do hoá tài chính/ tiếp tục khuyến khích phát triển doanh nghiệp quy mô vừa

và nhỏ

Khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp kỹ thuật cao.

(những năm 80)Xác định các ngành công nghiệp chiến lược/ miễn thuế đối với các ngành điện tử

và máy móc/ lãi suất cho vay thấp/ khuyến khích công nghiệp ô tô

2 Công nghiệp hoá hướng nội, thay thế nhập khẩu được chuyển hướng thành công nghiệp hoá hướng ngoại, khuyến khích xuất khẩu vào thời điểm thích hợp

Đây là điểm phân biệt quyết định sự thành công của các nước NIE so với các nền kinh tế Latin America Chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu

đã xuất hiện đầu tiên ở các nước Mỹ Latin Nhưng do duy trì quá lâu chính sách này nên đã biểu hiện những nhược điểm rõ rệt

Kinh nghiệm của Brazil thực hiện công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu cho thấy việc duy trì ưu tiên theo hướng thay thế nhập khẩu trong một khoảng thời gian dài có thể là một nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến sự thất bại của chiêns lược công nghiệp hoá hướng nội

- Khác với Brazil, ấn Độ, NIEs và Nhật Bản đều đã thực hiện các bươc chuyển hướng ngoạn mục từ ưu tiên tái thiết kinh tế trong nước thông qua thay thế nhập khẩu bằng việc chuyển ưu tiên phát triển sang các khu vực khuyến

Trang 22

khích xuất khẩu vào nửa cuối thập kỷ 50(đối với Nhật Bản và Đài Loan ) và những năm đầu của thập kỷ 60 (đối với Hàn Quốc).

Bảng 2- Khuyến khích công nghiệp xuất khẩu và các chính sách kuyến khích xuất khẩu ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan

Hợp lý hoá công nghiệp

(nửa đầu thập kỷ 50)

Tài trợ ưu đãi, trợ cấp ưu

tiên cho xuất khẩu/ cho

vay với lãi suất thấp của

thu nhập cho xuất khẩu/

phát triển bảo hiểm xuất

khẩu/ thành lập JETRO

Sau nội chiến Triều Tiên

(những năm 1950)Khuyến khích xuất khẩu cũng là 1 phần của CNH thay thế nhập khẩu ở Hàn Quốc/ thành lập quỹ khuyến khích xuất khẩu/

trợ cấp tín dụng cho xuất khẩu, trợ cấp khác cho xuất khẩu

CNH thay thế nhập khẩu (nửa đầu thập

kỷ 50)

Thành lập các ngành công nghiệp công cộng chủ đạo/ lán sóng viện trợ của Mỹ/ hạn ngạch nhập khẩu để bảo hộ/ chế độ tỷ giá kép/ áp dụng hệ thống hai giá để khuyến khích xuất khẩu

Khuyến khích phát triển

công nghiệp

(cửa sau những năm 50)

Xuất khẩu tàu biển/ cho

vay lãi suất thấp của

(nửa sau những năm 50)

Bắt đẩu xuất khẩu gạo, đường và nông sản chế biến của khu vực công cộng/ cải cách hệ thống tỷ giá theo hướng khuyến khích xuất khẩu

Tăng trưởng cao

(những năm 60)

Tự do hoá kinh tế, tăng

Chuyển sang CNH hướng xuất khẩu

(những năm 60)

CNH hướng xuất khẩu hoàn toàn

(những năm 60)

Trang 23

sức cạnh tranh/ xuất khẩu

thiết bị máy móc/ tiếp tục

cho vay lãi suất thấp của

NHPT Nhật Bản/ khấu

trừ đặc biệt đối với xuất

khẩu/ phát triển thị

trường nước ngoài/ mở

rộng quy mô và hiệu quả

hoạt động JETRO

Khuyến khích các xí nghiệp tư nhân trong các ngành CNXK/ các khoản trợ cấp trực tiếp/ cho vay lãi suất thấp/ miễn giảm thuế, khấu hao theo gia tốc/ khuyến khích phát triển xuất khẩu sản phẩm công nghiệp nhẹ/ thành lập KOTRA

Các khoản cho vay đặc biệt/ cho vay xuất khẩu/ phát triển KCX/ khuyến khích các công ty thương mại/ miễn giảm thuế/ ban hành luật đầu tư/ tăng cường sử dụng vốn nước ngoài

Tăng trưởng nhanh của Công nghiệp xuất khẩu

(những năm 70)

Mở rộng các khoản cho vay lãi suất thấp/ phát triển các EPZ/ phá giá nội tệ/ thành lập ngân hàng XNK/ áp dụng thuế VAT

Sự tiến bộ của các ngành công nghiệp xuất khẩu

(những năm 70)Củng cố các xí nghiệp Nhà nước/ phát triển BHXK/ hệ thống cho vay trung và dài hạn của NH XNK/ hiệp hội phát triển ngoại thương

Đối phó với xung đột thương mại

(những năm 80)Hạn chế xuất khẩu tự nguyện/ các công ty phát triển đầu tư kinh doanh tại Mỹ(xuất khẩu tại chỗ)/ khuyến khích thị trường tự do

Nhật Bản

Trang 24

Bắt đầu từ nửa cuối của thập kỷ 50, Nhật Bản đã thực hiện hàng loạt những cải tiến về công nghệ và đề ra một chính sách công nghiệp đa dạng nhằm

mở rộng cơ sở công nghiệp trong nước, khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp mới, cơ cấu lại các khu vực đang giảm sút

Mục tiêu của chính sách công nghiệp trong thời kỳ này gồm hai phần: thay thế nhập khẩu và khuyến khích xuất khẩu Các ngành như sợi tổng hợp, hoá dầu, máy móc, phụ tùng, điện tử được xác định là các khu vực ưu tiên và được hưởng các ưu đãi của Chính phủ về miễn giảm thuế kinh doanh về thuế xuất khẩu, cho vay lãi suất thấp, cho phép nhập khẩu công nghệ nước ngoài, và miễn phải chịu luật chống độc quyền Bên cạnh đó, Chính phủ Nhật Bản cũng chủ ý thay đổi về thể chế để khuyến khích xuất khẩu

Mục tiêu chính sách công nghiệp những năm 60 được bổ sung thêm nội dung bảo vệ các ngành công nghiệp trước những tác động của tự do hoá Nếu như việc bảo vệ các ngành công nghiệp này vẫn sử dụng những công cụ chính sách như thời kỳ trước đây thì sẽ không có sự chuyển hướng của chính sách công nghiệp Thay vào đó, các công cụ chính sách theo chiều ngang được thực hiện để tăng cường sức cạnh tranh cho công nghiệp Nhật Bản Mục tiêu nâng cao sức cạnh tranh của công nghiệp Nhật Bản được thông qua việc Chính phủ khuyến khích việc phối hợp giữa các ngành công nghiệp, tăng cường hợp tác, trao đổi thông tin giữa khu vực tư nhân và khu vực Nhà nước Tuy nhiên, chính sách công nghiệp vẫn sử dụng các công cụ theo chiều dọc đối với một vài ngành công nghiệp cụ thể như ô tô và hoá dầu, được coi là những ngành có tính chiến lược, song những công cụ theo chiều dọc này trong thực tế đã không có hiệu lực như mong muốn

Thay vào đó, cơ chế thị trường và sự phối hợp giữa Chính phủ với các ngành công nghiệp theo phương châm “Chính phủ không phải là cha, Chính phủ chỉ là người anh trai đối với các ngành công nghiệp ”.Kết quả là, trong thời kỳ này, công nghiệp Nhật Bản đạt được mức tăng trưởng cao chưa từng có, với hệ thống kinh tế tự do được hình thành và củng cố vững chắc

Hàn Quốc

Trang 25

Sự chuyển hướng từ công nghiệp hoá hướng nội sang khuyến khích các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu ở Hàn Quốc có nhiều điểm khác biệt so với Nhật Bản Nếu như Chính phủ Nhật Bản đã bắt đầu có dấu hiệu chuyển hướng từ nửa cuối 1950s và cho đến 1960s thì hầu như các công cụ của chính sách công nghiệp được sử dụng đều là các công cụ chính sách theo vhiều ngang, thì Chính phủ Hàn Quốc vẫn sử dụng nhiều các công cụ chính sách theo chiều dọc ngay cả khi nền kinh tế đã bắt đầu chuyển hưoứng theo hướng khuyến khích xuất khẩu.

Năm 1961, Chính phủ Hàn Quốc thực hiện quốc hữu hoá toàn bộ hệ thống ngân hàng Bằng các mệnh lệnh hành chính, Chính phủ phân phối các nguồn tín dụng khan hiếm cho các ngành công nghiệp được ưu tiên

Vào đầu thập niên 70, khi chi phí nhân công ngày càng cao, Chính phủ sử dụng hệ thống tín dụng để khuyến khích các doanh nghiệp chuyển hướng đầu tư mạnh vào các ngành công nghiệp nặng hướng ra xuất khẩu như hoá chất, đóng tàu, luyện thép Tỷ trọng của xuất khẩu hàng hoá công nghiệp nặng trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tăng lên từ 14% năm 1974 lên 60% năm1984 Đồng thời Chính phủ cũng tiếp tục sử dụng hỗ trợ tín dụng để hậu thuẫn cho các Cheabol phát triển mở rộng Ztrong thời gian từ 1972 đến 1979 số lượng các doanh nghiệp trong nước thuộc sở hữu các cheabol tăng từ 7,5% đến 25,4%, tốc

độ tăng trưởng của các cheabol trong thời kỳ này đạt 44,7% trong khi đó tốc độ tăng GDP là 10,2%

Để khuyến khích xuất khẩu chính phủ cho phép phá giá đồng tiền ở mức

độ đáng kể Năm 1961 đồng won phá giá 50% Các biện pháp phá giá mạnh mẽ hơn vào năm 1963 và trong thời kỳ 1971 – 1972 đã có tác dụng rất quan trọng

để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá Hàn Quốc trên thị trường quốc tế Theo đánh giá của WB, đây là một trong những biểu hiện của sự thành công của chính phủ Hàn Quốc trong việc nới lỏng dânf các hàng rào bảo hộ để làm cho nền công nghiệp trong nước có sức cạnh tranh cao hơn

Đồng thời chính phủ cũng rất chú ý đến phối hợp trao đổi thông tin giữa khu vực tư nhân và các cơ quan quản lý kinh tế vĩ mô, đực biệt là cơ chế phối

Trang 26

hợp thông qua uỷ ban kế hoạch kinh tế Hàn Quốc Bên cạnh đó trung tâm thương mại Hàn Quốc ( Kotra ) được thành lập cũng đã đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các ngành xuất khẩu phát triển

Thời kỳ này chính phủ Hàn Quốc mới dần dần sử dụng ít đi các công cụ chính sách theo chiều dọc để chuyển sang sử dụng các chính sách theo chiều ngang Vào đầu những năm 1980 chính phủ chủ yếu thực hiện sự lãnh đạo của mình đối với khu vực công nghiệp thông qua việc kiểm soát các tổ chức tài chính tài trợ cho phát triển các ngành công nghiệp sanr xuất hàng xuất khẩu

Đài Loan :

Bắt tay vào khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp hướng ra xuất khẩu vào cuối những năm 1950, sớm hơn vài năm so với Hàn Quốc Việc nới lỏng đối với xuất nhập khẩu được thực hiện từ sau 1958 Chính sách tỷ giá hối đoái kép được thay bằng một hệ thống tỷ giá thống nhất Đầu tư nước ngoài bắt đầu được chú ý vào đầu những năm 1960 Chính phủ cho phép các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu được sử dụng các khoản tín dụng ưu đãi và các miễn giảm về thuế

Điểm nổi bật trong khuyến khích công nghiệp xuất khẩu của Đài Loan là việc thành lập các khu chế xuất ( EPZ ) Đài Loan là nước thành công nhất trong việc sử dụng mô hình EPZ vào khuyến khích phát triển xuất khẩu

Kết quả của những cố gắng đã tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn với cơ sở

hạ tầng hiện đại, các ưu đãi về thuế, thủ tục hành chính đơn giản là các lĩnh vực hành chính như dệt, chế biến thực phẩm, công nghiệp nhẹ, linh kiện điện tử, đồ gia dụng đã phát triển nhanh chóng trong khuôn khổ các EPZ

Vào đầu những năm 1970 Đài Loan tiếp tục đẩy mạnh các ngành công nghiệp hướng vào xuất khẩu và thông qua 10 dự án xây dựng lớn ( 1973 ) Chính phủ tiếp tục tăng cường đầu tư xây dựng mới và hiện đại hoá cơ sở hạ tầng Các ngành công nghiệp như sắt thép, hoá dầu, đòng tầu được tiếp tục củng

cố thông qua các khoản đầu tư khổng lồ của các tập đoàn kinh tế nhà nước Việc

ưu đãi phát triển cho khu vực này là nguyên nhân dẫn đến những khó khăn của

Trang 27

nền kinh tế cuôí những năm 1970 dưới ảnh hưởng của cú sốc dầu lửa lần thứ 2 vào năm 1979

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VIỆT

1975, chính sách công nghiệp hoàn toàn khác nhau

Trang 28

Miền Bắc thực hiện cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung theo mô hình

và với sự giúp đỡ của các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô, Trung Quốc và các nước Đông Âu Trong khi đó, ở Miền Nam, với sự

có mặt của Hoa Kỳ, một nền kinh tế phục vụ chiến tranh theo cơ chế thị trường được kiến tạo mạnh, đặc biệt bắt đầu từ 1960

Do đó, Việt Nam tồn tại song song hai mô hình kinh tế khác nhau và tất nhiên là với hai chính sách công nghiệp khác nhau

Nét đặc trưng của chính sách công nghiệp giai đoạn 1954-1957 ở Miền Bắc là giai đoạn cải tạo công thương nghiệp Các cơ sở công nghiệp thưong mại của thực dân Pháp để lại và của các nhà tư sản Việt Nam đèu được quốc hữu hoá ở giai đoạn này, thay đổi quan hệ sở hữu là chính sách được tập trung thực hiện để đảm bảo Nhà nước có được trong tay tiềm lực kinh tế cho sự quản lý tập trung Kết quả là nền kinh tế nói chung Công nghiệp nói tiêng có 3 hình thức tổ chức :

- Các nhà máy xí nghiệp và công ty thương mại dịch vụ thuộc sở hữu Nhà nước (gọi chung là các doanh nghiệp Nhà nước )

- Các hợp tác xã dựa trên sở hữu tập thể

- Một số cơ sở công tư hợp doanh, hình thức này chỉ còn lại rất ít cho đến đầu những năm 1960

Chính sách bao trùn của thời kỳ này trong công nghiệp là đặt nền móng cho một nền công nghiệp dưới sự kiểm soát tập trung của Nhà nước Cũng trong thời kỳ này, những nhà quản lý học tập cách điều hành xí nghiệp theo phương thức “vừa làm , vừa học” và chờ đợi gào sự chỉ đạo trực thiếp của cấp trên Đây

là giai đoạn mà công nghiệp hầu như chưa có sự đầu tư mới nào

1.2 Giai đoạn 1958-1960.

Cùng với kế hoạch khôi phục kinh tế 3 năm, công nghiệp Việt Nam lần đầu tiên được phác thảo bởi một chính sách phát triển khá rõ nét Đặc trưng của giai đoạn này nhằm:

- Khôi phục lại và nâng cao công suất của các cơ sở công nghiệp có từ trước theo phương thức quản lý dựa trên chée độ công hữu

Trang 29

- Tiếp nhận sự giúp đỡ của các nước theo hệ thống Xã hội chủ nghĩa để xây dựng một nền công nghiệp tự lập, tự cường Đây là thời kỳ khởi công cho ciệc xây dựng một nền công nghiệp của nước Việt Nam mới.

- Sự quản lý tập trung được đặt trực tiếp vào Bộ Công nghiệp

1.3 Giai đọan (1960-1965)

Đây là giai đoạn có những bước tiến nhảy vọt của công nghiệp Việt Nam Với sự giúp đỡ của các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, hàng loạt cơ sở công nghiệp ra đời, trong đó phải kể đến các ngành công nghiệp cơ bản như: luyện kim, điện lực, đặc biệt là cơ sở thuỷ điện đầu thiên xuất hiện , khai thác,

cơ khí chế tạo và đóng tàu, dệt may, da giầy, phân bón và hoá chất, vật liệu xây dựng Bên cạnh đó hàng loạt cơ sở sx hàng tiêu dùng thiết yếu được xây dựng

để đáp ứng cho nhu cầu trong nước

Có thể nói, đây là giai đoạn thực hiện chính sách công nghiệp thay thế nhập khẩu theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng làm nền tảng cho sự

tự lực phát triển Những đặc trưng cơ bản của thời kỳ này là :

- Công nghiệp phát triển nhanh chóng với sự ưu tiên cho công nghiệp nặng.Bộ công nghiệp nặng ta đời đặc trách các ngành khai thác, điện lực, luyện kim cơ khí sản xuất tư liệu sản xuất

- Nền công nghiệp phát triển dàn trải trên mọi ngành theo sự trợ giúp của các nước Trình độ công nghệ dựa trên một mặt bằng thấp, lại không đồng đều

và thiếu đồng bộ

- Công suất và năng lực sản xuất nói chung không đáp ứng đủ nhu cầu, nền kinh tế vẫn ở trạng thái khan hiếm trầm trọng và phải trông chờ vào sự viện gíup của nước ngoài

- Sự quản lý tập trung của Nhà nước dựa vào nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo địa phương, vùng lãnh thổ Như vậy, các cơ sở công nghiệp

có hai loại: cơ sở của Trung ương và của địa phương, vừa chịu sự quản lý theo ngành kỹ thuật vừa theo địa phương

Trang 30

- Thời kỳ này không tồn tại các tổ chức dạng hiệp hội mà hầu hết các ngành có xu hướng tổ chức sản xuất khép kín trong các xí nghiệp liên hợp (liên hiệp theo chiều dọc) hay liên hiệp các xí nghiệp (liên hiệp theo chiều ngang).

4.1 Giai đoạn (1965-1975)

Giai đoạn này nền công nghiệp chịu sự phá hoại khóc liệt của cuộc chiến tranh do Hoa Kỳ thực hiện Toàn bộ các cơ sở công nghiệp non trể đều bị đánh phá dữ dội Một số cơ sở được dời chuyển, sơ tán, một số cơ sở thiếp tục sản xuất trong điều kiện bị ném bom, số còn lại phải tạm ngừng sản xuất , lương thực, thực phẩm, quân trang, quân dụng Nền kinh tế nói chung phụ thuộc rất lớn vào sự viện trợ, giúp đỡ của cước ngoài, hệ thống phân phối hiện vật dược

áp dụng để đảm bảo mức sống tối thiểu trong điều kiện khan kiếm

- Quan điểm thứ nhất cho rằng nên tiếp tục duy trì công nghiệp phía Nam như vốn có để tranh thủ những mặt mạnh của cơ chế thị trường , của các quan hệ truyền thống và kinh nghiệm quản lý

- Quan điểm thứ hai cho rằng cần ngay lập tức cải tạo quan hệ kinh tế và công nghiệp phía Nam theo mô hình kế hoạch hoá tập trung hiện có của các nước xã hội chủ nghĩa Quan điểm này đã thắng thế hoàn toàn và công cuộc cải tạo, hoà nhập hai nền công nghiệp được thực thi

Trang 31

- Như vậy nét đặc trưng của thời kỳ này là sự cải tạo và nhất thể hoá nền công nghiệp trên cơ sở công hữu và tập trung vào hệ thống quản lý Nhà nước

Nền công nghiệp Việt Nam ở giai đoạn này gặp nhiều khó khăn: máy móc thiết bị và công nghệ lạc hậu, nguyên liệu mà trước đây được trợ giúp từ các nước xã hội chủ nghĩa không còn, nên năng suất suy giảm tuyệt đối Các vấn đề

xã hội cốn đã nặng lề với một đất nước trải qua cuộc chiến tranh tàn khốc, nay lại càng nặng lề hơn khi cền kinh tế sau chiến tranh không những không được cải thiện mà lại trầm trọng hơn

Năm 1986 Việt Nam khởi xướng sự đổi mới bắt đẩu từ cơ chế quản lý kinh tế , theo đó những đấu hiệu của sự tự do kinh tế xuất hiện, quyền chủ động của các doanh nghiệp được đề cao, các thành phần kinh tế khác được thừa nhận, mối quan hệ kinh tế đa phương được thiết lập … Tất cả những cấn đề đó đã cho phép phục sinh và phát triển trở lại nền công nghiệp Việt Nam

2 Nhận xét chung về chính sách phát triển công nghiệp thời kỳ (1954-1989)

Từ các biến động khách quan của lịch sử, công nghiệp Việt Nam đã qua những bước thăng trầm khiến cho sự đánh giá rất khó khăn Tuy nhiên, có thể khái quát một số nhận xét về chính sách phát triển công nghiệp thời kỳ này như sau:

- Chính sách xây dựng một cền công nghiệp tự lập, tự cường dựa trên chủ trương ưu tiên công nghiệp nặng là điểm xuyên suốt thời kỳ này Đáng tiếc là các nhân tố cần thiết để có thể tự lực , tự cường lại thiếu thốn hoặc chưa xuất

Trang 32

hiện nên trên thực tế là chúng ta có một nền công nghiệp dàn trải, què quặt và thiếu mũi nhọn.

- Tư tưởng tự lập và sự đóng cửa nền kinh tế đã khiến cho các dòng chảy công nghệ và kỹ thuật bị chặn laị, kết quả là công nghệ của chúng ta lạc hậu nhiều thế hệ

-Cơ chế quản lý hành chính đã dồn nén nền công nghiệp vốn yếu ớt thành các cơ sở xơ cứng, thiếu năng động, xa lạ với các nguyên tắc của thị trường Cách thức tổ chức hệ thống công nghiệp và thương mại gần như biệt lập nhau đã càng làm cho công nghiệp thuần tuý chỉ là cơ sở sản xuất đến mức không phải tự bán sản phẩm do chính họ sản xuất ra, càng không biết đến khách hàng của họ

Ba năm cuối thời kỳ này (1989-1970) là thời kỳ nỗ lực mang tính chất bản lề để

có được những thành công bước đầu ở thời kỳ sau

II THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM GIAI ĐOẠN (1990-2000)

1 Thực trạng công nghiệp giai đoạn (1990-2000)

1.1 Tình hình phát triển chung

Trong những năm qua công nghiệp Việt Nam đã có những thành tựu đáng

kể, góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế do phát huy được lợi thế so sánh trong việc khai thác tài nguyên và phát huy lợi thế về sử dụng nguồn lao động

Bảng 3: Tổng sản phẩm trong nước theo giá hiện hành

Đơn vị: Tỷ đồng

S

tt

1995

1996

1997

1998

1999

28.892

272.037

313.624

361.016

399.942

1 Nông, lâm, ngư

nghiệp

62.219

75.514

80.826

93.072

101.723

2 Công nghiệp,

XD

65.820

80.877

100.595

117.299

137.959

Trang 33

1997

1998

1999

2000

00,0

100,0

100,0

100,0

100,0

100,0

1 Nông, lâm, ngư

nghiệp

27,2

27,8

25,8

25,8

25,4

22,7

2 Công nghiệp,

XD

28,8

29,7

32,1

32,5

34,5

35,5

1,1

42,5

42,2

41,7

40,1

41,8

Tỷ lệ công nghiệp chiếm trong tổng sản phẩm trong nước từ 21,86% năm

1995 đến năm 1998 đã tăng lên 26,71% và 29,05% năm 1999 (Nếu kể cả xây dựng tỷ lệ này tương ứng là 28,8%; 32,5% và 34,5%)

Trong khi đó tỷ trọng nông nghiệp giảm tương ứng là từ 27,2% năm 1995 xuống còn 25,8% năm 1998 và 25,4% năm 1999

Tốc độ tăng trưởng trong những năm vừa qua đạt bình quân trên 12,7% năm Công nghiệp là lĩnh vực chịu tác động trực tiếp của cuộc khủng hoảng kinh

tế khu vực, năm 1999 vẫn giữ được nhịp đọ tăng trưởng 10,5% , có thấp hơn mấy năm trước (năm 1996 là 14,2%; năm 1997 là 13,8%; năm 1998 là 12,5%).Song năm 2000 đã đạt được tỷ lệ tăng trưởng cao hơn 15,7% Dự báo đến năm 2001 là 14%

Công nghiệp đã góp phần quan trọng trong giá trị xuất khẩu , chiến khoảng 60% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Một số sản phẩm xuất khẩu có giá trị kim ngạch lớc là : dầu thô, hàng dệt may, hàng da giầy, hàng nông sản chế biếc Gần đây kim ngạch xuất khẩu sản phẩm linh kiện diện tử cũng đã đạt trên 500 triệu USD

Bảng 5- Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu

Trang 34

1995 KH

2000

DK 2005

2000

1995-2005

b Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) vào phát triển công nghiệp , phát triển các khu công nghiệp

Nguồn vốn FDI hiện chiếm khoảng 32% tổng vốn đầu tư phát triển toàn

xã hội Trong đó đầu tư cho công nghiệp chiếm 61% (bao gồm cả dầu khí), các ngành dịch vụ khoảng 17%…Hoạt động FDI đã tạo ra nhiều năng lực sản xuất mới, ngành nghề mới, sản phẩm mới và công nghệ mới, hiện đại trong nhiều lĩnh vực công nghiệp như : khai thác dầu khí, sản xuất sắt thép, xi măng, lắp ráp

và sản xuất ô tô, xe máy , hàng điện tử…

Năm 1995, khu vực có vốn FDI đã tạo ra 25% giá trị sản xuất ngành công nghiệp , năm 1998 giá trị này đã tăng lên 32% và năm 1999 là 34,7% Với tốc

độ tăng trưởng thời kỳ 1995-1999 tới trên 22,3% năm , đóng góp của khu vực có vốn FDI trong giá trị sản xuất ngành công nghiệp sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới Khu vực này hiện chiếm 100% về khai thác dầu thô; 70% về sản xuất, sửa chữa xe có động cơ ; 49% điện tử dân dụng; trên 50% về thép ; 14% sản lường hoá chất của cả nước…

Đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp ngày càng tăng vào hoạt động xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp ( dầu thô, sản phẩm linh kiện điện tử, hàng may mặc…), góp phần vào cải thiện cán cân thương mại và cán cân thanh toán của

Ngày đăng: 22/12/2014, 22:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 - Tóm tắt các chính sách khuyến khích công nghiệp ở Nhật Bản, - giải pháp cho chính sách phát triển công nghiệp giai đoạn 2001-2020
Bảng 1 Tóm tắt các chính sách khuyến khích công nghiệp ở Nhật Bản, (Trang 19)
Bảng 2- Khuyến khích công nghiệp xuất khẩu và các chính sách kuyến  khích xuất khẩu ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan . - giải pháp cho chính sách phát triển công nghiệp giai đoạn 2001-2020
Bảng 2 Khuyến khích công nghiệp xuất khẩu và các chính sách kuyến khích xuất khẩu ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan (Trang 22)
Bảng 3:  Tổng sản phẩm trong nước theo giá hiện hành - giải pháp cho chính sách phát triển công nghiệp giai đoạn 2001-2020
Bảng 3 Tổng sản phẩm trong nước theo giá hiện hành (Trang 32)
Bảng 4- Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước theo giá hiện hành - giải pháp cho chính sách phát triển công nghiệp giai đoạn 2001-2020
Bảng 4 Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước theo giá hiện hành (Trang 33)
Bảng 6- Số liệu về KCN, KCX - giải pháp cho chính sách phát triển công nghiệp giai đoạn 2001-2020
Bảng 6 Số liệu về KCN, KCX (Trang 35)
Bảng 7- Giá trị sản xuất công nghiệp (cơ cấu theo ngành công nghiệp ) - giải pháp cho chính sách phát triển công nghiệp giai đoạn 2001-2020
Bảng 7 Giá trị sản xuất công nghiệp (cơ cấu theo ngành công nghiệp ) (Trang 36)
Bảng 7- Giá trị sản xuất công nghiệp (theo ngành) - giải pháp cho chính sách phát triển công nghiệp giai đoạn 2001-2020
Bảng 7 Giá trị sản xuất công nghiệp (theo ngành) (Trang 36)
Bảng 9- Một số sản phẩm công nghiệp chế tác. - giải pháp cho chính sách phát triển công nghiệp giai đoạn 2001-2020
Bảng 9 Một số sản phẩm công nghiệp chế tác (Trang 37)
Bảng 10- Tỷ trọng các ngành công nghiệp trong tổng GDP công nghiệp. - giải pháp cho chính sách phát triển công nghiệp giai đoạn 2001-2020
Bảng 10 Tỷ trọng các ngành công nghiệp trong tổng GDP công nghiệp (Trang 40)
Bảng 11- Cơ cấu giá trị công nghiệp theo vùng - giải pháp cho chính sách phát triển công nghiệp giai đoạn 2001-2020
Bảng 11 Cơ cấu giá trị công nghiệp theo vùng (Trang 41)
Bảng 12 – Tỷ trọng công nghiệp theo thành phần kinh tế - giải pháp cho chính sách phát triển công nghiệp giai đoạn 2001-2020
Bảng 12 – Tỷ trọng công nghiệp theo thành phần kinh tế (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w