Kinh doanh thực phẩm là một trong số hàng nghìn hình thức kinh doanh, là lĩnh vực kinh doanh hàng tiêu dùng, nó có đặc điểm chung giống như trênnhưng có những đặc điểm riêng đó là: - Ngư
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng vàlãnh đạo, ngành thương mại đã cùng các ngành, địa phương nỗ lực phấn đấu, đạtđược những thành tựu bước đầu quan trọng trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá
và dịch vụ, góp phần tạo nên những biến đổi sâu sắc trên thị trường trong nước
và vị thế trên thị trường nước ngoài Các loại hình dịch vụ gắn với lưu thônghàng hoá phát triển mạnh, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, góp phần phục vụ đờisống và giải quyết việc làm cho người lao động Trong số đó không thể khôngnhắc tới ngành sản xuất kinh doanh thực phẩm là ngành sản xuất hàng tiêu dùngluôn gắn liền với đời sống hàng ngày của người dân
Mỗi doanh nghiệp đều thấy rõ sự quan trọng của thị trường tác động tớikinh doanh, thấy được các nhân tố tác động tới hiệu quả sản xuất kinh doanh, từ
đó xây dựng phương án kinh doanh phù hợp Đối với xí nghiệp khai thác vàcung ứng thực phẩm tổng hợp thì vấn đề thúc đẩy tiêu thụ hàng hoá quan trọnghơn bao giờ hết vì chức năng chủ yếu của xí nghiệp là khai thác và kinh doanhthực phẩm Qua thời gian thực tập tại xí nghiệp, có được một sự hiểu biết ít ỏi vềthực trạng, tình hình sản xuất kinh doanh của xí nghiệp Bằng những kiến thứccủa bản thân cộng với sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn và các cô,chú trong xí nghiệp, em xin đề xuất một số giải pháp nhỏ để góp một phần nàovào sự thúc đẩy phát triển kinh doanh của xí nghiệp
Với đề tài: "Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh thực phẩm tại xí nghiệp Khai thác và Cung ứng thực phẩm tổng hợp" Ngoài lời
mở đầu và kết luận được chia làm 3 chương:
- Chương I: lý luận chung về kinh doanh thực phẩm của doanh nghiệp
- Chương II: Thực trạng hoạt động kinh doanh thực phẩm tại xí nghiệp Khai thác và Cung ứng thực phẩm tổng hợp
- Chương III: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh kinh doanh thực phẩm tại
xí nghiệp khai thác và cung ứng thực phẩm tổng hợp
Trang 2CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH DOANH THỰC PHẨM
CỦA DOANH NGHIỆP
1 Khái niệm và vai trò của kinh doanh thực phẩm đối với quá trình sản xuất kinh doanh
1.1 Khái niệm kinh doanh và kinh doanh thực phẩm
Hiện có nhiều cách hiểu khác nhau về kinh doanh sau đây là một vài địnhnghĩa:
Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn củaquá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trênthị trường nhằm mục đích sinh lời
(Trích luật doanh nghiệp Việt Nam)
Kinh doanh là một hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của chủ thểkinh doanh trên thị trường
(Trích từ giáo trình lý thuyết quản trị kinh doanh)
Khi tiến hành bất cứ hoạt động kinh doanh nào thì đều phải sử dụng tậphợp các phương tiện, con người, nguồn vốn… và đưa các nguồn lực này vàohoạt động để sinh lời cho doanh nghiệp Nhưng chúng đều có đặc điểm chung làgắn liền với sự vận động của nguồn vốn, một chủ thể kinh doanh không chỉ cócần vốn mà cần cả những cách thức làm cho đồng vốn của mình quay vòngkhông ngừng, để đến cuối chu kỳ kinh doanh số vốn lại tăng thêm Mặt khác chủthể kinh doanh phải có được doanh thu để bù đắp chi phí và có lợi nhuận
Kinh doanh thực phẩm là một trong số hàng nghìn hình thức kinh doanh,
là lĩnh vực kinh doanh hàng tiêu dùng, nó có đặc điểm chung giống như trênnhưng có những đặc điểm riêng đó là:
- Người tiêu dùng ít hiểu biết về hàng hoá có hệ thống: trên thị trường cótới hàng chục ngàn mặt hàng, dù người ta đã tận dụng được nhiều phương phápgiới thiệu hàng hoá, về doanh nghiệp nhưng người tiêu dùng vẫn chưa hiểu rõ
Trang 3hết được về địa chỉ sản xuất, chất lượng, đặc tính, công dụng và cách thức sửdụng của tất cả các loại hàng hoá.
- Sức mua trên thị trường biến đổi lớn, theo thời gian, theo địa phương…người tiêu dùng có thể cân nhắc rất kỹ khi cần mua sắm nhất là vào thời điểm córất nhiều hàng tiêu dùng có khả năng thay thế lẫn nhau
- Sự khác biệt về người tiêu dùng rất lớn: giữa tầng lớp dân cư, địa vị, cáctập đoàn khác nhau về nghề nghiệp, dân tộc, giới tính, trình độ văn hóa, độ tuổi,tập quán sinh hoạt nên sự hiểu biết và tiêu dùng của họ về các loại sản phẩm vềthực phẩm khác biệt nhau
- Nhiều người mua vì hàng thực phẩm gắn với cuộc sống hàng ngày củanhân dân, các thành viên trong xã hôi đều có nhu cầu tiêu dùng nhưng mỗi lầnmua không nhiều, lặt vặt và phân tán vì nhu cầu đời sống rất đa dạng
Ở đây mặt hàng kinh doanh là hàng thực phẩm gắn liền với nhu cầu sinhhoạt của con người: lương thực, đường, sữa, đồ hộp, dầu ăn, bia, rượu, bột mì,bánh kẹo… Nguyên liệu của nó là các sản phẩm của ngành nông nghiệp, lâmnghiệp, chăn nuôi, thuỷ sản, và một số ngành chế biến khác Hàng nông sảndùng làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất kinh doanh hàng thực phẩm nên taphải hiểu rõ đặc điểm của nó để chủ động khai thác tốt nhất nguồn đầu vào này.Kinh doanh hàng nông sản có những đặc điểm sau:
+ Tính thời vụ: vì chăn nuôi, trồng trọt có tính thời vụ nên cần phải biếtquy luật sản xuất các mặt hàng nông sản để làm tốt công tác chuẩn bị trước mùathu hoạch, đến kỳ thu hoạch phải tập trung nhanh nguồn lao động để triển khaicông tác thu mua và chế biến sản phẩm từ các ngành này
+ Tính phân tán: hàng nông sản phân tán ở các vùng nông thôn và trongtay hàng triệu nông dân, sức tiêu thụ thì tập trung ở thành phố và khu côngnghiệp tập trung Vì vậy phải bố trí địa điểm thu mua, phương thức thu mua,chế biến và vận chuyển đều phải phù hợp với đặc điểm nói trên
+ Tính khu vực: tuỳ theo địa hình của từng nơi mà có vùng thì thích hợpvới trồng trọt cây nông nghiệp, nơi thì cây công nghiệp, nơi thì với nghề chăn
Trang 4nuôi, vì thế có những cơ sở sản xuất sản phẩm hàng nông sản rất khác nhau với
tỷ lệ hàng hoá khá cao
+ Tính không ổn định: Sản xuất hàng nông sản không ổn định, sản lượnghàng nông nghiệp có thể lên xuống thất thường, vùng này được mùa vùng khácmất mùa…
Hàng nông sản rất phong phú, nơi sản xuất và tiêu thụ rải rác khắp nơi,quan hệ cung cầu rất phức tạp, vì vậy ngành kinh doanh hàng nông sản phải nắmvững quy luật luân chuyển của chúng: nắm chắc khu vực sản xuất, nắm đượchướng và khu vực tiêu thụ hàng nông sản truyền thống, nắm chắc đặc điểm, chấtlượng và thời vụ hàng hoá nông sản Chủ thể kinh doanh có thể là một công tythương mại chỉ làm cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng hoặc là một nhà sảnxuất, chế biến Những sản phẩm sản xuất ra ngoài việc cần giấy phép đăng kýkinh doanh ra còn phải có giấy chứng nhận đạt chất lượng vệ sinh an toàn thựcphẩm do bộ y tế cấp
1.2 Vai trò của kinh doanh thực phẩm
1.2.1 Vai trò của kinh doanh thực phẩm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Kinh doanh thực phẩm là một quá trình bao gồm nhiều khâu, nhiều côngđoạn, nhiều bộ phận phức tạp và liên tục có mối liên hệ chặt chẽ, gắn bó vớinhau Kết quả của khâu này bộ phận này có ảnh hưởng tới chất lượng của cáckhâu khác hay toàn bộ quá trình kinh doanh, trong đó khâu tiêu thụ sản phẩmđược đánh giá là khâu then chốt quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp.Sản xuất được mà không tiêu thụ được hay sản phẩm thực phẩm tiêu thụ chậmthì làm cho doanh nghiệp đó kinh doanh lỗ rồi dẫn tới phá sản
Thực phẩm là một nhân tố quan trọng đối với toàn xã hội nói chung vàđối với mỗi con người nói riêng Thực phẩm cung cấp cho con người những chấtdinh dưỡng như: tinh bột, chất béo, các loại vitamin, prôtêin và các chất khoángkhác… giúp con người có sức khoẻ để tồn tại và lao động, phát triển Tiêu thụsản phẩm có vai trò trong việc cân đối giữa cung và cầu thực phẩm trên thịtrường Thực phẩm có thể ở dạng tự nhiên hay là đã qua chế biến, sản xuất sản
Trang 5phẩm rồi được tiêu thụ tức là vấn đề sản xuất kinh doanh thực phẩm được diễn
ra bình thường, liên tục tránh được những mất cân đối trong cung và cầu vềhàng thực phẩm Doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm có nhu cầu sử dụng cácnguồn lực của xã hội để bảo đảm đầu vào cho sản xuất như nguyên liệu, vốn,nhân lực, thiết bị máy móc, công nghệ… đã tác động tới một loạt các hoạt độngkhác, các lĩnh vực kinh doanh khác như người chăn nuôi, trồng trọt, yếu tố conngười, yếu tố văn hoá xã hội Tức nó đã trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tới sựphát triển của các ngành khác hay toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Tiêu thụ sản phẩm nói chung và tiêu thụ thực phẩm nói riêng không trựctiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội mà nó chỉ phục vụ quá trình tiếp tục sảnxuất trong khâu lưu thông Kinh doanh thực phẩm có tác dụng nhiều mặt tới lĩnhvực sản xuất và tiêu dùng xã hội, nó cung cấp những sản phẩm là lương thực,thực phẩm là những hàng hóa thiết yếu tới toàn bộ con người một cách đầy đủ,kịp thời đồng bộ, đúng số lượng, chất lượng một cách thuận lợi, với quy môngày càng mở rộng Đối với các lĩnh vực sản xuất, các doanh nghiệp thươngmại, đại lý bán buôn bán lẻ có thể nhận được các sản phẩm, vật tư kỹ thuật đầuvào một cách kịp thời, đồng bộ, đúng số lượng, chất lượng Đối với lĩnh vực tiêudùng, các cá nhân có thể dễ dàng thoả mãn nhu cầu về hàng thực phẩm trên thịtrường một cách kịp thời và văn minh, nhờ hàng loạt các cửa hang, quầy hàng,siêu thị… Cung cấp cho mọi người, mọi gia đình và các nhu cầu đa dạng củamọi tầng lớp dân cư, lứa tuổi, nghề nghiệp Nó có tác dụng nữa là kích thích nhucầu, gợi mở nhu cầu, hướng người tiêu dùng tới những hàng thực phẩm có chấtlượng cao, thuận tiện trong sử dụng, đồng thời đa dạng về sản phẩm với phongcách phục vụ đa dạng, văn minh, hiện đại
1.2.2 Vai trò của kinh doanh thực phẩm đối với sự phát triển của doanh nghiệp
Kinh doanh thực phẩm từ khâu mua nguyên liệu đầu vào, sản xuất chếbiến và khâu tiêu thụ sản phẩm, khâu nào cũng quan trọng để tăng hiệu quả củahoạt động kinh doanh nếu một khâu nào đó hoạt động kém, chậm tiến độ sẽ ảnhhưởng tới khâu khác Nhưng phải nói rằng trong kinh doanh nói chung và kinh
Trang 6doanh thực phẩm nói riêng thì tiêu thụ hàng hoá là giai đoạn quan trọng, vì nóảnh hưởng trực tiếp tới các khâu khác, tới sự tồn tại và phát triển của doanhnghiệp Để tiếp tục, đẩy mạnh kinh doanh trên thị trường thì doanh nghiệp hoạtđộng trong ngành thực phẩm luôn tìm cách tái sản xuất, mở rộng thị trường saocho có nhiều sản phẩm đáp ứng được tối đa nhu cầu của khách hàng Thì điềukiện cần và đủ là doanh nghiệp phải tiêu thụ được sản phẩm sao cho thu đượcmột lượng tiền bảo đảm bù đắp chi phí bỏ ra, có lợi nhuận từ đó doanh nghiệp
có đủ nguồn lực để tiếp tục tái sản xuất mở rộng cho chu kỳ sản xuất sau, cònnếu doanh nghiệp không tiêu thụ được thì sẽ gây ứ đọng nguồn vốn, tăng các chiphí kho, bảo quản… gây đình trệ cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Đối với ngành thực phẩm tiêu thụ sản phẩm có vai trò quan trọng trongviệc duy trì và phát triển mở rộng thị trường Tiêu thụ được càng nhiều sảnphẩm tức là sản phẩm về thực phẩm đã được thị trường chấp nhận, và cầng cónhiều khách hàng biết tới sản phẩm, biết tới thương hiệu, và biết tới doanhnghiệp kinh doanh thực phẩm đó Trong bất kỳ một hình thức kinh doanh nàocũng vậy thì mục tiêu duy trì và mở rộng thị trường là một mục tiêu rất quantrọng để doanh nghiệp có thể duy trì và phát triển Doanh nghiệp đó phải đề racác biện pháp để kích thích khối lượng tiêu thụ, tăng doanh số bán không chỉ ởthị trường hiện tại mà cả ở thị trường tiềm năng Khối lượng hàng bán ra ngàymột lớn hơn thì doanh nghiệp có thêm điều kiện để mở rộng và phát triển kinhdoanh, từ đó phát hiện thêm nhu cầu và cho ra sản phẩm thực phẩm mới
Tiêu thụ thực phẩm trong doanh nghiệp còn góp phần nâng cao hiệu quảsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thông qua chỉ tiêu lợi nhuận, tốc độ quaycủa vốn, mức chi phí trên một đồng vốn Hiệu quả kinh doanh là một phạm trùkinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình kinh doanh ở doanhnghiệp nhằm đạt kết quả cao nhất, với chi phí nhỏ nhất Nó không chỉ là thước
đo trình độ tổ chức kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp,tiêu thụ thực phẩm tác động trực tiếp tới quá trình tổ chức quản lý, thúc đẩy việc
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao chất lượng thực phẩm, hạ giá thànhsản xuất của doanh nghiệp trong ngành thực phẩm Tổ chức tốt hoạt động tiêu
Trang 7thụ góp phần giảm các chi phí lưu thông, giảm thời gian dự trữ thành phẩm,nguyên liệu, tăng nhanh vòng quay của vốn, rút ngắn chu kỳ sản xuất kinhdoanh… từ đó giúp doanh nghiệp tăng doanh thu và đem lại lợi nhuận cao.
Tiêu thụ thực phẩm đem lại chỗ đứng và độ an toàn cao hơn cho doanhnghiệp kinh doanh thực phẩm trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt hiện nayvới các doanh nghiệp trong ngành và ngoài ngành, đây cũng chính là một mụctiêu mà bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng muốn hướng tới Vị thế được đánhgiá qua doanh số bán, số lượng hàng hoá bán ra, phạm vi thị trường mà nóchiếm lĩnh Mỗi doanh nghiệp luôn luôn phảỉ chú ý tới uy tín, tới niềm tin củakhách hàng vào sản phẩm của doanh nghiệp, tới thương hiệu của doanh nghiệp,
để từ đó tạo đà cho việc mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng khả năng cạnh tranh
Tiêu thụ thực phẩm có vai trò gắn kết người sản xuất, chế biến thực phẩmđối với người tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp mình Nó giúp cho các nhàsản xuất thực phẩm hiểu rõ thêm về kết quả của quá trình sản xuất kinh doanhcủa mình thông qua sự phản ánh của người tiêu dùng thực phẩm, qua đó cũngnắm bắt được nhu cầu mới của họ Đồng thời qua hoạt động tiêu thụ còn giúpcho các doanh nghiệp có thể kiểm tra tình hình hoạt động kinh doanh của cácđơn vị, cửa hàng, đại lý, chi nhánh… Trên cơ sở đó doanh nghiệp sẽ có nhữngbiện pháp hữu hiệu đối với từng đoạn thị trường để có thể khai thác được tối đanhu cầu của khách hàng
Đối với hoạt động đầu vào của doanh nghiệp là giai đoạn đầu của quátrình sản xuất kinh doanh, nếu không có nó thì không có sản xuât dẫn tới không
có sản phẩm để tiêu thụ Nếu giai đoạn này được tổ chức tốt từ các khâu nghiêncứu nguồn hàng, tổ chức thu mua, vận chuyển, bảo quản, sơ chế… sẽ giúp chohoạt động sản xuất kinh doanh nghiệp được diễn ra liên tục, nhịp nhàng không
bị gián đoạn Luôn có sản phẩm để đáp ứng tốt nhất đầy đủ nhất kể cả những lúckhối lượng mua hàng thực phẩm đẩy tới mức cao nhất trong chu kỳ kinh doanh (vào gần tết Nguyên Đán hàng năm ) Từ đó nâng cao chất lượng của sản phẩm,
hạ giá thành trên một đơn vị sản phẩm, giúp cho doanh nghiệp kinh doanh trong
Trang 8lĩnh vực thực phẩm thắng thế trong cạnh tranh kể cả với cả những sản phẩm thaythế, lợi nhuận ngày một tăng.
2 Nội dung của kinh doanh thực phẩm
2.1 Hoạt động mua sắm vật tư cho sản xuất (tạo nguồn)
Để hoạt động sản xuất và tiêu thụ được diễn ra liên tục không bị giánđoạn đòi hỏi phải bảo đảm thường xuyên, liên tục nguyên nhiên vật liệu và máymóc thiết bị… Chỉ có thể đảm bảo đủ số lượng, đúng mặt hàng và chất lượngcần thiết với thời gian quy định thì sản xuất mới có thể được tiến hành bìnhthường và sản xuất kinh doanh mới có hiệu quả Vật tư (nguyên, nhiên vậtliệu…) cho sản xuất ở các doanh nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng, gópphần nâng cao trình độ công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầucông nghiệp hoá đất nước Nguyên liệu đầu vào cho sản xuất thực phẩm như:các sản phẩm nông sản tươi, khô (gạo, ớt, măng, tỏi, đậu nành, mía, dưa…), cácthiết bị máy móc, vốn, cơ sở hạ tầng, điện, nước
Đảm bảo tốt vật tư cho sản xuất là đáp ứng các yêu cầu về số lượng, chấtlượng, đúng thời gian, chủng loại và đồng bộ Điều này ảnh hưởng tới năng suấtcủa doanh nghiệp, đến chất lượng của sản phẩm, đến việc sử dụng hợp lý và tiếtkiệm vật tư, đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, đến hiệu quả sản xuấtkinh doanh, đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường nội dung của công tác đầu vào cho sản xuấtkinh doanh nói chung và cho lĩnh vực thực phẩm nói riêng (Hậu cần vật tư chosản xuất) bao gồm từ khâu nghiên cứu thị trường, xác định nguồn vật tư, lập kếhoạch mua sắm vật tư, tổ chức mua sắm, tổ chức tiếp nhận, bảo quản và cấpphát đến việc quản lý sử dụng và quyết toán
Xây dựng kế hoạch y.cầu vật tư
XĐ các p.p đảm bảo vật tư
Thương lượng v à đặt h ng à Theo dõi đặt
Lập v à t.chức t.hiện
KH mua sắm vtư
Trang 9Sơ đồ 1.1: Mô hình tổ chức mua sắm và quản lý vật tư
2.1.1 Xác định nhu cầu
Mỗi loại vật tư đều có những đặc tính cơ, lý, hoá học và trạng thái khácnhau, có nhu cầu tiêu dùng cho các đối tượng khác nhau Doanh nghiệp thựcphẩm phải tính toán, dựa vào các chỉ tiêu để xác định được nhu cầu cần tiêudùng trong kỳ kinh doanh, số lượng nguyên nhiên, vật liệu loại gì chất lượng rasao để sản xuất thực phẩm Đồng thời doanh nghiệp phải nghiên cứu xác địnhkhả năng của nguồn hàng, để có thể khai thác đặt hàng và thu mua đáp ứng chonhu cầu của sản xuất, nguồn hàng có thể mua lại của các nhà kinh doanh kháchay tới tận nơi trồng trọt chăn nuôi để thu mua nguyên vật liệu
Nhu cầu vật tư cho sản xuất được xác định bằng 4 phương pháp:
a Phương pháp trực tiếp ( dựa vào mức tiêu dùng vật tư và khối lượng sản
phẩm sản xuất trong kỳ)
- Tính theo mức sản phẩm:
n SP
Nsx: Nhu cầu vật tư để sản xuất sản phẩm trong kỳ
QSP: Số lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ kế hoạch
mSP: Mức sử dụng vật tư cho đơn vị sản phẩm
n: Số sản phẩm sản xuất (khối lượng công việc)
- Tính theo mức chi tiết sản phẩm
Trang 10n ct
Nct: Nhu cầu vật tư để sản xuất các chi tiết sản phẩm trong kỳ
Qct: Số lượng chi tiết sản phẩm sản xuất trong kỳ kế hoạch
mct: Mức sử dụng vật tư cho một đơn vị chi tiết sản phẩm
n: Số chi tiết sản xuất
- Tính theo mức của sản xuất tương tự
Nsx = Qsp.mtt Kđ
Nsx: Nhu cầu vật tư tiêu dùng để sản xuất sản phẩm trong kỳ
Qsp: Số lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ kế hoạch
mtt: Mức tiêu dùng vật tư của sản phẩm tương tự
Kđ: hệ số điều chỉnh giữa 2 loại sản phẩm
- Tính theo mức của sản phẩm đại diện
Nsx = Qsp mđd
Nsx: Nhu cầu vật tư tiêu dùng để sản xuất sản phẩm trong kỳ
Qsp: Số lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ kế hoạch
mđd: mức sử dụng vật tư của sản phẩm đại diện
K
K m
(Với Ksp: tỷ trọng từng cỡ loại trong tổng khối lượng sản xuất, %)
b Phương pháp tính dựa trên cơ sở số liệu về thành phần chế tạo sản phẩm
Nhiều loại sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, sản phẩm đúc,sản phẩm bê tông… được sản xuất từ nhiều loại nguyên, vật liệu khác nhau, thìnhu cầu được xác định theo 3 bước
Bước 1: Xác định nhu cầu vật tư để thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm(NVT)
NVT = ∑n Q H
1
.
Q: Khối lượng sản phẩm sản xuất theo kế hoạch tiêu thụ trong kỳ
H: Trọng lượng tinh của sản phẩm (kg, tấn, m2)
n: Số lượng sản phẩm sản xuất
Trang 11Bước 2: Xác định nhu cầu vật tư cần thiết cho sản xuất có tính tổn thấttrong quá trình sử dụng.
Nx: Nhu cầu của từng loại vật tư, hàng hoá
h: Tỷ trọng của từng loại so với tổng số
c Phương pháp tính nhu cầu dựa trên cơ sở thời hạn sử dụng
Nbc: Số lượng vật tư sử dụng trong năm báo cáo
Tsx: Nhịp độ phát triển sản xuất kỳ kế hoạch
Htk: hệ số tiết kiệm vật tư năm kế hoạch so với năm báo cáo
2.1.2 Nghiên cứu thị trường đầu vào
Đây là quá trình nghiên cứu, phân tích các thông tin về thị trường đầu vàonhằm tìm kiếm thị trường đáp ứng tốt nhất nhu cầu vật tư cho sản xuất củadoanh nghiệp Vì thị trường vật tư là thị trường yếu tố đầu vào của sản xuất nênmục tiêu cơ bản nhất của nghiên cứu thị trường vật tư là phải trả lời được cáccâu hỏi: Trên cơ sở phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì nên sửdụng loại vật tư nào sẽ đem lại hiệu quả cao nhất? Chất lượng, số lượng loại vật
tư đó như thế nào? Mua sắm vật tư ở đâu? Khi nào? Mức giá vật tư trên thịtrường là bao nhiêu? Phương thức mua bán và giao nhận như thế nào?…
Để nghiên cứu thị trường thường phải trải qua 3 bước cơ bản: thu thậpthông tin, xử lý thông tin và ra quyết định Cùng với việc nghiên cứu thị trườngthì công tác dự báo thị trường vật tư đối với doanh nghiệp cũng có một vị tríquan trọng Việc nghiên cứu và dự báo thị trường phải tiến hành đồng thời với
Trang 12cung, cầu, giá cả… từ đó doanh nghiệp sẽ xây dựng được chiến lược kinh doanhphù hợp.
2.1.3 Lập kế hoạch mua sắm vật tư ở doanh nghiệp
Kế hoạch mua sắm vật tư ( đầu vào cho sản xuất kinh doanh thực phẩm)
là một bộ phận quan trọng của kế hoạch sản xuất-kỹ thuật-tài chính của doanhnghiệp và có mối quan hệ mật thiết với các kế hoạch khác như kế hoạch tiêu thụ,
kế hoạch sản xuất, kế hoạch xây dựng cơ bản Kế hoạch mua sắm vật tư củadoanh nghiệp là các bản tính toán nhu cầu cho sản xuât hàng thực phẩm củadoanh nghiệp và nguồn hàng rất phức tạp nhưng có tính cụ thể và nghiệp vụ cao.Nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch là bảo đảm vật tư tốt nhất cho hoạt động sảnxuất kinh doanh hàng thực phẩm, nó phản ánh được toàn bộ nhu cầu vật tư củadoanh nghiệp trong kỳ kế hoạch như nhu cầu vật tư cho sản xuất, cho sửa chữa,
dự trữ, cho xây dựng cơ bản… Đồng thời nó còn phản ánh được các nguồn vật
tư và cách tạo nguồn của doanh nghiệp gồm nguồn từ hàng tồn kho đầu kỳ,nguồn động viên tiềm lực nội bộ doanh nghiệp, nguồn mua trên thị trường
2.1.4 Tổ chức mua sắm vật tư
Trên cơ sở của kế hoạch mua sắm vật tư và kết quả nghiên cứu thị trườngdoanh nghiệp lên đơn hàng vật tư và tổ chức thực hiện việc đảm bảo vật tư chosản xuất Lên đơn hàng là quá trình cụ thể hoá nhu cầu, là việc xác định tất cảcác quy cách, chủng loại và thời gian nhận hàng, lập đơn hàng là công việc hếtsức quan trọng của quá trình tổ chức mua sắm vật tư, vì nó ảnh hưởng trực tiếptới quá trình mua sắm vật tư và hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Bất cứ một sai sót nào cũng có thể dẫn tới việc đặt mua những vật
tư mà nhu cầu sản xuất không cần tới hoặc không đủ so với nhu cầu Để lậpđược đơn hàng chính xác bộ phận lập đơn hàng phải tính đến các cơ sở như:nhiệm vụ sản xuất, hệ thống định mức tiêu dùng vật tư, định mức dự trữ vật tư,lượng tồn kho, kế hoạch tác nghiệp đảm bảo vật tư quý, tháng … Nhiệm vụquan trọng trong công tác lập đơn hàng là chọn và đặt mua những loại vật tưhàng hoá có hiệu quả kinh tế cao
2.1.5 Tổ chức chuyển đưa vật tư về doanh nghiệp
Trang 13Vận chuyển vật tư hàng hoá về doanh nghiệp đóng vai trò quan trọngtrong việc đảm bảo vật tư kịp thời, đầy đủ và đồng bộ cho sản xuất Công việcnày ảnh hưởng trực tiếp tới việc giữ gìn số lượng, chất lượng vật tư hàng hoá,đảm bảo sử dụng có hiệu quả và hạ giá thành sản phẩm Chuyển đưa vật tư vềdoanh nghiệp có thể thực hiện bằng hình thức tập trung hoặc phi tập trung tuỳtheo khối lượng vật tư và tình hình cụ thể từng doanh nghiệp.
2.1.6 Tiếp nhận và bảo quản vật tư về số lượng và chất lượng
Vật tư hàng hoá chuyển về doanh nghiệp trước khi nhập kho phải quakhâu tiếp nhận về số lượng và chất lượng Mục đích của tiếp nhận là kiểm tra sốlượng và chất lượng vật tư nhập kho, kiểm tra việc thực hiện hợp đồng và đưahàng xem có bảo đảm số lượng và chất lượng hay không để xác định rõ tráchnhiệm của những đơn vị và cá nhân có liên quan đến hàng nhập
2.1.7 Tổ chức cấp phát vật tư trong nội bộ doanh nghiệp
Cấp phát vật tư cho các đơn vị tiêu dùng trong doanh nghiệp (phânxưởng, tổ đội sản xuất, nơi làm việc của công nhân) là một khâu công hết sứcquan trọng Tổ chức tốt khâu này sẽ bảo đảm cho sản xuất của doanh nghiệp tiếnhành được nhịp nhàng, góp phần tăng năng suất lao động của công nhân, tăngnhanh vòng quay của vốn lưu động, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sảnphẩm, tiết kiệm vật tư trong tiêu dùng sản xuất, nâng cao hiệu quả cho hoạt độngsản xuất kinh doanh
2.2 Quá trình sản xuất sản phẩm
Quá trình sản xuất là quá trình con người sử dụng tư liệu để tác động vàođối tượng lao động làm thay đổi hình dáng, kích thước, tính chất lý hoá của đốitượng lao động để tạo ra những sản phẩm có chất lượng ngày càng cao, thỏamãn đầy đủ nhu cầu đa dạng của con người
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế tham gia các hoạt động sản xuất kinhdoanh, nhằm cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ thoả mãn nhu cầu của thị trường
và thu về cho mình một khoản lợi nhuận nhất định Để thực hiện được mục tiêucủa mình, mỗi doanh nghiệp phải tổ chức tốt các bộ phận cấu thành nhằm thựchiện chức năng cơ bản Sản xuất là một trong những phân hệ chính có ý nghĩa
Trang 14quyết định đến việc tạo ra sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ cho xã hội Hìnhthành, phát triển và tổ chức điều hành tốt hoạt động sản xuất là cơ sở và yêu cầuthiết yếu để mỗi doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển trên thị trường.chỉ có hoạt động sản xuất hay dịch vụ mới là nguồn gôc của mọi sản xuất vàdịch vụ được tạo ra trong doanh nghiệp Sự phát triển của sản xuất và dịch vụ là
cơ sở làm tăng giá trị gia tăng cho doanh nghiệp, tăng trưởng kinh tế cho nềnkinh tế quốc dân tạo cơ sở vật chất thúc đẩy xã hôi phát triển Quá trình sản xuấtđược tổ chức và quản lý tốt góp phần tiết kiệm được các nguồn lực cần thiết chosản xuất, giảm giá thành, tăng năng suất và hiệu quả sản xuất kinh doanh Chấtlượng sản phẩm và dịch vụ do khâu sản xuất và dịch vụ tạo ra, nếu hoàn thiệnđược quản trị sản xuất sẽ tạo ra tiềm năng to lớn cho nâng cao năng suất, chấtlượng và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
2.3 Tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinhdoanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tiêu thụsản phẩm là thực hiện mục đích của sản xuất hàng hoá, là đưa sản phẩm từ nơisản xuất tới nơi tiêu dùng Nó là khâu lưu thông hàng hoá, là cầu nối trung gianmột bên là sản xuất và phân phối còn một bên là tiêu dùng
Tiêu thụ sản phẩm là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu từ việcnghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu của khách hàng, thực hiện các nghiệp
vụ tiêu thụ, xúc tiến bán hàng… nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất Hoạtđộng tiêu thụ sản phẩm ở các doanh nghiệp bao gồm hai loại quá trình liên quantrực tiếp tới sản phẩm: các nghiệp vụ kỹ thuật sản xuất và các nghiệp vụ kinh tế,
tổ chức và kế hoạch hoá tiêu thụ Việc chuẩn bị hàng hoá để xuất bán là nghiệp
vụ tiếp tục sản xuất trong khâu lưu thông, các nghiệp vụ sản xuất ở các kho baogồm: tiếp nhận, phân loại, bao gói, lên nhãn hiệu sản phẩm, xếp hàng ở kho, bảoquản và chuẩn bị đồng bộ hàng để xuất bán và vận chuyển hàng theo yêu cầucủa khách Khi sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ, tức là nó đã đượcngười tiêu dùng chấp nhận để thoả mãn một nhu cầu nào đó Sức tiêu thụ sảnphẩm ở doanh nghiệp thể hiện ở mức bán ra, uy tín của doanh nghiệp, chất
Trang 15lượng của sản phẩm, sự thích ứng với nhu cầu người tiêu dùng và sự hoàn thiện
ở các hoạt động dịch vụ
Tiêu thụ sản phẩm gắn người sản xuất với người tiêu dùng, nó giúp chocác nhà sản xuất hiểu thêm về kết quả sản xuất của mình và nhu cầu của kháchhàng Về phương diện xã hội thì nó có vai trò trong việc cân đối giữa cung vàcầu, sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ tức là sản xuất đang diễn ra một cáchbình thường trôi chảy, tránh được sự mất cân đối, giữ được bình ổn trong xã hội.Đồng thời tiêu thụ sản phẩm giúp các đơn vị xác định phương hướng và bước đicủa kế hoạch sản xuất cho giai đoạn tiếp theo
Sơ đồ 1.2: Mô hình tiêu thụ sản phẩm
2.3.1 Nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường
Thông tin thị trường Lập kế hoạch tiêu thụ sản
phẩmThị trường
Q.lý dự trữ v à
ho n thi à ện SP
Quản lý lực lượng bán
Tổ chức bán
h ng v cung à à cấp dịch vụ
Phối hợp v à
tổ chức thực hiện các kế hoạch
Thị trường Sản phẩm Dịch vụ Giá, phân số Phân phối, giao tiếp Ngân quỹ
Trang 16Nghiên cứu thị trường là công việc đầu tiên và cần thiết đối với mỗidoanh nghiệp trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Nghiên cứu thị trườngnhằm trả lời các câu hỏi: sản xuất những sản phẩm gì? sản xuất như thế nào? sảnphẩm bán cho ai?… Mục đích của việc nghiên cứu thị trường là nghiên cứu xácđịnh khả năng tiêu thụ những loại hàng hoá (hoặc nhóm hàng) trên một địa bànnhất định trong một khoảng thời gian nhất định Trên cơ sở đó nâng cao khảnăng cung cấp để thoả mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường Nghiên cứu thịtrường có ý nghĩa vô cùng quan trọng, vì đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đếnkhối lượng, giá bán, mạng lưới và hiệu quả của công tác tiêu thụ Việc nghiêncứu còn giúp doanh nghiệp biết được xu hướng, sự biến đổi nhu cầu của kháchhàng, sự phản ứng của họ đối với sản phẩm của doanh nghiệp, thấy được cácbiến động của thu nhập và giá cả, từ đó có các biện pháp điều chỉnh cho phùhợp Khi nghiên cứu thị trường sản phẩm, doanh nghiệp phải giải đáp được cácyêu cầu:
- Đâu là thị trường có triển vọng đối với sản phẩm của doanh nghiệp?
- Khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường đó ra sao?
- Doanh nghiệp cần phải xử lý những biện pháp gì có liên quan và có thể
sử dụng những biện pháp nào để tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ?
- Những mặt hàng nào, thị trường nào có khả năng tiêu thụ với khối lượnglớn phù hợp với năng lực và đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp?
- Với mức giá nào thì khả năng chấp nhận của thị trường là lớn nhất trongtừng thời kỳ
- Yêu cầu chủ yếu của thị trường về mẫu mã, bao gói, phương thức thanhtoán, phương thức phục vụ
- Tổ chức mạng lưới tiêu thụ và phương thức phân phối sản phẩm
Nghiên cứu cần về một loại sản phẩm là phạm trù phản ánh một bộ phậnnhu cầu có khả năng thanh toán của thị trường về sản phẩm đó Phải giải thíchđược sự thay đổi của cầu, do những nhân tố nào sự ưu thích, thu nhập và mứcsống của người tiêu dùng
Trang 17Nghiên cứu cung để hiểu rõ về các đối thủ cạnh tranh, xác định được sốlượng đối thủ cạnh tranh, phân tích các nhân tố có ý nghĩa đối với các chínhsách tiêu thụ, chương trình sản xuất, chính sách giá cả và các hoạt động kháccủa đối thủ cạnh tranh.
Nghiên cứu mạng lưới tiêu thụ cần phải chỉ rõ các ưu điểm, nhược điểmcủa từng kênh tiêu thụ của doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh, phân tíchđược các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả tiêu thụ
Trên cơ sở điều tra nghiên cứu thị trường doanh nghiệp tiến hành lựachọn sản phẩm thích ứng với nhu cầu của thị trường Đây là nội dung quan trọngquyết định hiệu quả của hoạt động tiêu thụ, vì trong nền kinh tế thị trường cácdoanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải sản xuất kinh doanh dựa trêncái mà thị trường cần chứ không phải dựa vào cái mà doanh nghiệp sẵn có Từnhững thông tin và xử lý thông tin do thị trường đem lại doanh nghiệp tiến hànhlựa chọn sản phẩm thích ứng, thực hiện đơn đặt hàng và tiến hành tổ chức sảnxuất, tiêu thụ
2.3.2 Lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm
Xây dựng kế hoạch tiêu thụ là cơ sở quan trọng đảm bảo cho quá trình sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành nhịp nhàng, liên tục theo kế hoạch
đã định Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm là căn cứ để xây dựng kế hoạch hậu cần vật
tư và các bộ phận khác của kế hoạch sản xuất - kỹ thuật - tài chính doanhnghiệp… Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm phản ánh được các nội dung cơ bản như:khối lượng tiêu thụ sản phẩm về hiện vật và giá trị có phân theo hình thức tiêuthụ, cơ cấu sản phẩm và cơ cấu thị trường tiêu thụ Trong xây dựng kế hoạchtiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp có thể sử dụng các phương pháp như phươngpháp cân đối, phương pháp quan hệ động và phương pháp tỷ lệ cố định Để xâydựng kế hoạch tiêu thụ cần dựa vào các căn cứ cụ thể: doanh thu bán hàng ở các
kỳ trước, các kết quả nghiên cứu thị trường, năng lực sản xuất, chi phí sản xuấtkinh doanh tiêu thụ của doanh nghiệp, các hợp đồng đã ký hoặc dự kiến ký.Trong kế hoạch tiêu thụ phải lần lượt lập được các kế hoạch như: kế hoạch bánhàng, marketing, quảng cáo, chi phí cho tiêu thụ, …
Trang 182.3.3 Chuẩn bị hàng hoá để xuất bán
Chuẩn bị hàng hoá để xuất bán cho khách hàng là hoạt động tiếp tục sảnxuất kinh doanh trong khâu lưu thông Muốn cho quá trình lưu thông hàng hoáđược liên tục, không bị gián đoạn thì các doanh nghiệp phải chú trọng đến cácnghiệp vụ như: tiếp nhận, phân loại, lên nhãn hiệu sản phẩm, bao gói, sắp xếphàng hoá ở kho, bảo quản và ghép đồng bộ để xuất bán cho khách hàng Đối vớicác hoạt động này thì doanh nghiệp cần phải lập kế hoạch từ trước, tiếp nhậnđầy đủ về số lượng và chất lượng hàng hoá từ các nguồn nhập kho (từ các phânxưởng, tổ đội sản xuất của doanh nghiệp) theo đúng mặt hàng qui cách, chủngloại hàng hoá thông thường, kho hàng hoá của doanh nghiệp đặt gần nơi sảnxuất của doanh nghiệp, nếu kho hàng đặt xa nơi sản xuất thì phải tổ chức tốtviệc tiếp nhận hàng hoá bảo đảm kịp thời, nhanh chóng, góp phần giải phóngnhanh phương tiện vận tải, bốc xếp, an toàn sản phẩm, tiết kiệm chi phí lưuthông
2.3.4 Lựa chọn các hình thức tiêu thụ sản phẩm
Trong nền kinh tế thị trường, việc tiêu thụ sản phẩm được thực hiện bằngnhiều kênh khác nhau, theo đó các sản phẩm được bán và vận động từ các doanhnghiệp sản xuất kinh doanh đến tận tay các hộ tiêu dùng cuối cùng Để hoạtđộng tiêu thụ có hiệu quả cao cần phải lựa chọn kênh tiêu thụ sản phẩm mộtcách hợp lý trên cơ sở tính đến các yếu tố như đặc điểm sản phẩm, các điều kiệnvận chuyển, bảo quản, sử dụng…
Căn cứ vào mối quan hệ giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng cuốicùng, có 2 hình thức tiêu thụ trực tiếp và gián tiếp
Kênh tiêu thụ trực tiếp là hình thức doanh nghiệp sản xuất bán thẳng sảnphẩm của mình cho người tiêu dùng cuối cùng không qua các khâu trung gian Vớihình thức này có thể giảm được chi phí lưu thông, thời gian sản phẩm tới tay ngườitiêu dùng nhanh hơn, các doanh nghiệp có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với ngườitiêu dùng, hiểu biết rõ nhu cầu của khách hàng và tình hình giá cả từ đó tạo điềukiện thuận lợi để gây uy tín và thanh thế cho doanh nghiệp Nhưng nó cũng gặpphải nhược điểm là doanh nghiệp phải thường xuyên tiếp xúc với nhiều bạn hàng,
Trang 19phải dành nhiều công sức, thời gian vào quá trình tiêu thụ, nhiều khi làm tốc độ chuchuyển của vốn lưu động chậm hơn…
Sơ đồ 1.3: Tiêu thụ trực tiếp
Kênh tiêu thụ gián tiếp là hình thức mà doanh nghiệp xuất bán sản phẩmcủa mình cho người tiêu dùng cuối cùng có qua khâu trung gian bao gồm: ngườibán buôn, bán lẻ, đại lý… sự tham gia nhiều hay ít của người trung gian trongquá trình tiêu thụ sẽ làm cho kênh tiêu thụ dài hay ngắn khác nhau Với hìnhthức tiêu thụ này các doanh nghiệp có thể tiêu thụ được một khối lượng lớn hànghoá trong thời gian ngắn nhất, từ đó thu hồi vốn nhanh, tiết kiệm chi phí bảoquản hao hụt… Tuy nhiên hình thức này làm cho thời gian lưu thông hàng hoádài hơn, tăng chi phí tiêu thụ và doanh nghiệp khó có thể kiểm soát được cáckhâu trung gian…
Doanh nghiệp sản xuất
Người tiêu dùng cuối cùng
Trang 20Sơ đồ 1.4: Tiêu thụ gián tiếp
Việc áp dụng hình thức tiêu thụ này hay hình thức tiêu thụ khác phần lớn
do đặc điểm của sản phẩm quyết định Mỗi hình thức tiêu thụ sản phẩm có ưunhược điểm nhất định, nhiệm vụ của phòng kinh doanh là phải lựa chọn hợp lýcác hình thức tiêu thụ sản phẩm cho phù hợp với tình hình thực tế của doanhnghiệp
2.3.5 Tổ chức các hoạt động xúc tiến bán hàng
Xúc tiến là hoạt động thông tin marketing tới khách hàng tiềm năng củadoanh nghiệp gồm các thông tin: về doanh nghiệp, về sản phẩm, về phươngthức phục vụ và những lợi ích mà khách hàng sẽ thu được khi mua sản phẩm củadoanh nghiệp, cũng như những thông tin phản hồi từ phía khách hàng, qua đó đểdoanh nghiệp tìm ra cách thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng Trong hoạtđộng xúc tiến bán hàng là toàn bộ các hoạt động nhằm tìm kiếm và thúc đẩy cơhội bán hàng trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm Xúc tiến bán hàng chứa đựngtrong đó các hình thức, cách thức và những biện pháp nhằm đẩy mạnh khả năngbán ra của doanh nghiệp Xúc tiến bán hàng có ý nghĩa quan trọng trong việcchiếm lĩnh thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá trên thươngtrường, nhờ đó quá trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp được đẩy mạnh cả
về số lượng và thời gian Yểm trợ là các hoạt động nhằm hỗ trợ, thúc đẩy, tạođiều kiện thuận lợi để thực hiện tốt hoạt động tiêu thụ ở doanh nghiệp Nhữngnội dung chủ yếu của hoạt động xúc tiến, yểm trợ bán hàng phải kể đến là:Quảng cáo, chào hàng, khuyến mại, tham gia hội chợ, triển lãm…
2.3.5.1 Quảng cáo
Quảng cáo là biện pháp truyền bá thông tin của các doanh nghiệp về hànghoá, dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh Mục đích của quảng cao là đẩy mạnhtiêu thụ hàng hoá và dịch vụ qua đó thu lợi nhuận
Mục tiêu của quảng cáo: giúp tăng số lượng hàng tiêu thụ trên thị trườngtruyền thống, mở ra thị trường mới, giới thiệu sản phẩm mới Mặt khác nó còngiúp xây dựng và củng cố uy tín của sản phẩm (nhãn hiệu), doanh nghiệp
Trang 21Phương tiện quảng cáo: qua phương tiện thông tin đại chúng báo chí,truyền hình, truyền thanh, quảng cáo ngoài trời (biểu ngữ trên đường, pano-aphich, phương tiện vận tải…), băng đĩa, internet…
- Quảng cáo trực tiếp: Catalo gửi qua đường bưu điện, phát tờ rơi
- Quảng cáo tại nơi bán hàng: loại quảng cáo này hướng vào loại kháchhàng khi họ ở những vị trí gần quầy cửa hàng, thu hút sự chú ý của khách hàng,làm cho khách hàng phấn khích ở mức độ nhất định, tiến về chỗ bán hàng, tìmhiểu sản phẩm từ đó cộng thêm một số tác động của xúc tiến khác thúc đẩy hành
vi mua của khách hàng
Yêu cầu của thông điệp quảng cáo: phải có độ biểu cảm; phù hợp với nộidung quảng cáo; ngôn ngữ và hình ảnh phải rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với đại quầnchúng; thông tin phải đảm bảo độ tin cậy; dung lượng quảng cáo phải cao…
2.3.5.2 Khuyến mại
Khuyến mại là hành vi thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việcbán hàng, cung ứng dịch vụ trong phạm vi kinh doanh của thương nhân bằngcách giành những lợi ích nhất định cho khách hàng
Khuyến mại là hình thức xúc tiến bổ sung cho quảng cáo, thông thường
nó được sử dụng cho những hàng hoá mới tung ra thị trường, áp lực cạnh tranhcao đặc biệt là các sản phẩm có đơn giá thấp vừa đem lại doanh thu cao Thôngqua các kỹ thuật khuyến mại, doanh nghiệp sẽ thu hút thêm những người dùngthử mới, kích thích những người mua trung thành kể cả những người thỉnhthoảng mới mua
Các hình thức khuyến mại:
- Giảm giá
- Phân phát mẫu hàng miễn phí: doanh nghiệp sẽ cho nhân viên tiếp thị tớitận nhà khách hàng mục tiêu hoặc gửi qua bưu điện hoặc phát tại cửa hàng kèmtheo những sản phẩm khác
- Phiếu mua hàng: là một loại giấy xác nhận người cầm giấy sẽ đượchưởng ưu đãi khi mua sản xuất của doanh nghiệp
Trang 22- Trả lại một phần tiền: người mua hàng sẽ gửi cho người bán 1 chứng từchứng tỏ đã mua hàng của doanh nghiệp và sẽ hoàn trả lại một phần tiền quabưu điện.
Ngoài ra còn có các biện pháp khuyến mại khác như: thương vụ có triết giánhỏ, thi - cá cược - trò chơi, phần thưởng cho các khách hàng thường xuyên, dùngthử hàng hoá khôngphải trả tiền, tặng vật phẩm mang biểu tượng quảng cáo, chiếtgiá, thêm hàng khi khách hàng mua với số lượng hàng nhất định…
2.3.5.3 Hội chợ, triển lãm
Triển lãm là hoạt động xúc tiến thương mại thông qua việc trưng bàyhàng hoá, tài liệu về hàng hoá để giới thiệu, quảng cáo nhằm mở rộng và thúcđẩy việc tiêu thụ hàng hoá Hội chợ thương mại là hoạt động xúc tiến thươngmại tập trung trong một thời gian và một địa điểm nhất định, trong đó tổ chức,
cá nhân sản xuất kinh doanh được trưng bày hàng hoá của mình nhằm mục đíchtiếp thị, ký kết hợp đồng mua bán
Khi tham gia hội chợ, triển lãm giúp các doanh nghiệp góp phần thực hiệnchiến lược marketing của mình Tạo cơ hội để các doanh nghiệp tiếp cận kháchhàng mục tiêu, trình bày giới thiệu sản phẩm với khách hàng, củng cố danh tiếng
và hình ảnh của doanh nghiệp Qua hội chợ triển lãm doanh nghiệp có cơ hội đểthu thập thông tin cần thiết về nhu cầu của khách hàng, về đối thủ cạnh tranh,tạo cơ hội để doanh nghiệp mở rộng thị trường, có cơ hội nhận được sự tài trợ vàủng hộ của tổ chức quốc tế…
Trang 24Bán hàng là khâu trung gian liên lạc thông tin giữa doanh nghiệp vớikhách hàng, thông qua hoạt động mua bán, nhằm kinh doanh nắm bắt nhu cầutốt hơn đồng thời người tiêu dùng sẽ hiểu hơn về nhà sản xuất kinh doanh Hoạtđộng bán hàng thúc đẩy sự tương tác giữa người bán và người mua để dẫn tớimột giải pháp có hiệu quả và tiết kiệm thời gian cho cả người mua và người bán.Bán hàng có vai trò quan trọng trong việc khuyếch trương hàng hoá cho doanhnghiệp, thông qua bán hàng nhân viên bán hàng sẽ tạo nên sự khác biệt của sảnphẩm.
2.3.5.5 Quan hệ công chúng và các hoạt động xúc tiến khác
Quan hệ công chúng là những quan hệ với quần chúng nhằm tuyên truyềntin tức tới dân chúng khác nhau ở trong và ngoài nước như: nói chuyện, tuyêntruyền, đóng góp từ thiện, tham gia mua đấu giá…
Các hoạt động khuếch trương khác có thể như: hoạt động tài trợ, hoạtđộng họp báo, tạp chí của công ty
Thông thường các doanh nghiệp luôn phải tìm cách thu hút sự ủng hộ củacông chúng Bộ phận làm nhiệm vụ quan hệ với công chúng phải luôn theo dõithái độ của công chúng, tìm cách giao tiếp, thông tin với công chúng để tạo ra uytín cho doanh nghiệp Khi có dư luận xấu, bộ phận này có nhiệm vụ đứng ra dànxếp, xoá bỏ dư luận xấu Làm tốt những công tác này giúp cho doanh nghiệp cókhả năng được mục tiêu xuác tiến đề ra
2.3.6 Tổ chức hoạt động bán hàng
Bán hàng là một trong những khâu cuối cùng của hoạt động kinh doanh.Hoạt động bán hàng là hoạt động mang tính nghệ thuật, tác động đến tâm lýngười mua nhằm đạt mục tiêu bán được hàng Doanh nghiệp phải đặc biệt quantâm đến quá trình tác động vào tâm lý của khách hàng, thường thì tâm lý trải qua
4 giai đoạn: sự chú ý → quan tâm hứng thú → nguyện vọng mua → quyết địnhmua Nghệ thuật của người bán hàng là làm chủ quá trình bán hàng về tâm lý, đểđiều khiển có ý thức quá trình bán hàng
Trang 25Để bán được nhiều hàng doanh nghiệp phải đáp ứng được các yêu cầu củakhách hàng như: chất lượng, mẫu mã, giá cả… và phải biết lựa chọn các hìnhthức bán hàng cho phù hợp.
2.3.7 Phân tích hoạt động tiêu thụ sản phẩm
Sau mỗi chu kỳ kinh doanh, doanh nghiệp cần phải phân tích, gấnh giáhoạt động tiêu thụ sản phẩm nhằm xem xét khả năng mở rộng hay thu hẹp thịtrường tiêu thụ, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, các nguyên nhân ảnhhưởng đến kết quả tiêu thụ… nhằm kịp thời có các biện pháp thích hợp để thúcđẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm Đánh giá hiệu quả hoạt động tiêu thụ có thểxem xét trên các khía cạnh: tình hình tiêu thụ sản phẩm theo khối lượng, mặthàng, giá trị, thị trường và giá cả các mặt hàng tiêu thụ
3 Những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh thực phẩm của doanh nghiệp
3.1 Những nhân tố thuộc môi trường kinh doanh
Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh là các yếu tố khách quan màdoanh nghiệp không thể kiểm soát được Môi trường kinh doanh tác động liêntục tới hoạt động của doanh nghiệp theo những xu hướng khác nhau, vừa tạo ra
cơ hội vừa hạn chế khả năng thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp
3.1.1 Môi trường văn hóa xã hội
Yếu tố văn hóa - xã hội luôn bao quanh doanh nghiệp và khách hàng, cóảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, các yếu tố trongnhóm này tác động mạnh đến qui mô và cơ cấu của thị trường
Dân số quyết định qui mô của nhu cầu và tính đa dạng của nhu cầu Tiêuthức này ảnh hưởng đến dung lượng thị trường có thể đạt đến, thông thường thìdân số càng lớn thì qui mô thị trường càng lớn, nhu cầu về tiêu dùng tăng, khốilượng tiêu thụ một số sản phẩm nào đó lớn, khả năng đảm bảo hiệu quả kinhdoanh càng cao, cơ hội kinh doanh lớn… và ngược lại
Xu hướng vận động của dân số, tỷ lệ sinh tử, độ tuổi trung bình và các lớpngười già, trẻ ảnh hưởng đến nhu cầu và việc hình thành các dòng sản phẩm
Trang 26thỏa mãn nó trên dòng thị trường các yêu cầu và cách thức đáp ứng của doanhnghiệp.
Hộ gia đình và xu hướng vận động, độ lớn của một gia đình có ảnh hưởngđến số lượng, qui cách sản phẩm cụ thể… khi sản phẩm đó đáp ứng nhu cầuchung của cả gia đình
Sự dịch chuyển dân và xu hướng vận động ảnh hưởng đến sự xuất hiện cơhội mới hoặc suy tàn cơ hội hiện tại của doanh nghiệp Thu nhập và phân bố thunhập của người tiêu thụ ảnh hưởng đến sự lựa chọn sản phẩm và chất lượng cầnđáp ứng của sản phẩm Còn nghề nghiệp của tầng lớp xã hội tức là vị trí củangười tiêu thụ trong xã hội có ảnh hưởng lớn đến quyết định và cách thức ứng
xử trên thị trường, họ sẽ đòi hỏi được thỏa mãn nhu cầu theo địa vị xã hội
Còn yếu tố dân tộc, chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, nền văn hóa phản ánhquan điểm và cách thức sử dụng sản phẩm, vừa yêu cầu đáp ứng tính riêng biệt
về nhu cầu vừa tạo ra cơ hội đa dạng hóa khả năng đáp ứng của doanh nghiệpcho nhu cầu
3.1.2 Môi trường chính trị pháp luật
Các yếu tố thuộc chính trị, pháp luật chi phối mạnh mẽ sự hình thành cơhội kinh doanh và khả năng thực hiện mục tiêu của bất kỳ doanh nghiệp nào Sự
ổn định của môi trường chính trị được xác định là một trong những tiền đề quantrọng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Hệ thống chính sách, luậtpháp hoàn thiện, nền chính trị ổn định tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cạnhtranh bình đẳng trên thị trường, hạn chế tệ nạn vi phạm pháp luật như buôn lậu,trốn thuế, hàng giả Mức độ hoàn thiện, sự thay đổi và thực thi pháp luật trongnền kinh tế có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định và tổ chức thực hiện chiếnlược kinh doanh của doanh nghiệp
3.1.3 Môi trường kinh tế và công nghệ
Các yếu tố thuộc môi trường này qui định cách thức doanh nghiệp và toàn
bộ nền kinh tế trong việc sử dụng tiềm năng của mình và qua đó cũng tạo ra cơhội kinh doanh cho từng doanh nghiệp Xu hướng vận động và bất cứ thay đổinào của các yếu tố thuộc môi trường này đều tạo ra hoặc thu hẹp cơ hội kinh
Trang 27doanh của doanh nghiệp ở những mức độ khác nhau và thậm chí dẫn đến yêucầu thay đổi mục tiêu và chiến lược của doanh nghiệp.
Tiềm năng của nền kinh tế phản ảnh các nguồn lực có thể huy động vàchất lượng của nó: tài nguyên, con người, vị trí địa lý, dự trữ quốc gia… liênquan đến các định hướng và tính bền vững của cơ hội chiến lược của doanhnghiệp
Tốc độ tăng trưởng kinh tế tác động thay đổi vị trí, vai trò và xu hướngphát triển của ngành kinh tế của nền kinh tế quốc dân kéo theo khả năng mởrộng, thu hẹp qui mô doanh nghiệp Sự thay đổi về cơ cấu kinh tế liên quan trựctiếp hoặc gián tiếp đến khả năng tăng trưởng, mở rộng của từng doanh nghiệp
Lạm phát và khả năng điều khiển lạm phát ảnh hưởng đến hiệu quả thực,thu nhập, tĩch lũy, kích thích hoặc kìm hãm tăng trưởng, xu hướng đầu tư, xuhướng tiêu dùng… Hoạt động ngoại thương, xu hướng mở, đóng của nền kinh tếtác động đến cơ hội phát triển của doanh nghiệp, các điều kiện cạnh tranh, khảnăng sử dụng ưu thế quốc gia và thế giới về công nghệ, nguồn vốn, hàng hóa,
mở rộng qui mô hoạt động … tỷ giá hối đoái và khả năng chuyển đổi của đồngtiền quốc gia ảnh hưởng đến khả năng thành công của một chiến lược và từngthương vụ cụ thể
Trình độ trang thiết bị công nghệ gồm các điều kiện phục vụ sản xuất dkmột mặt nó tạo cơ sở cho kinh doanh thuận lợi khi khai thác cơ sở hạ tầng sẵn cócủa nền kinh tế hoặc cung cấp sản phẩm để phát triển cơ sở hạ tầng Mặt khác
nó lại hạn chế khả năng đẩy mạnh phát triển kinh doanh ảnh hưởng đến điềukiện lẫn cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp Nó còn ảnh hưởng trực tiếp đếnyêu cầu đổi mới trang thiết bị, khả năng sản xuất sản phẩm với các cấp chấtlượng, năng suất lao động, khả năng cạnh tranh, lựa chọn và cung cấp côngnghệ, thiết bị…
3.1.4 Môi trường cạnh tranh
Cạnh tranh được xác định là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh
tế thị trường với nguyên tắc ai hoàn thiện hơn, thỏa mãn nhu cầu tốt hơn và hiệuquả hơn người đó sẽ thắng, sẽ tồn tại và phát triển Cạnh tranh vừa mở ra các cơ
Trang 28hội để nd kiến tạo hoạt động của mình vừa yêu cầu các doanh nghiệp phải vươnlên phía trước vượt qua đối thủ.
Điều kiện chung về cạnh tranh trên thị trường: Các quan điểm khuyếnkhích hay hạn chế cạnh tranh, vai trò và khả năng của doanh nghiệp trong việcđiều khiển cạnh tranh, các qui định về cạnh tranh và ảnh hưởng của nó trongthực tiễn kinh doanh… có liên quan đến quá trình đánh gia cơ hội kinh doanh vàlựa chọn giải pháp cạnh tranh
Số lượng đối thủ cạnh tranh gồm cả các đối thụ cạnh tranh sơ cấp (cùngtiêu thụ các sản phẩm đồng nhất) và các đối thủ cạnh tranh thứ cấp (sản xuất tiêuthụ những sản phẩm có khả năng thay thế) là cơ sở để xác định mức độ khốc liệtcủa cạnh tranh trên thị trường thông qua đánh giá trạng thái cạnh tranh của thịtrường mà doanh nghiệp tham gia Trong cạnh tranh có 4 trạng thái: trạng tháithị trường cạnh tranh thuần túy; hỗn tạp; độc quyền và trạng thái thị trường độcquyền
Khi nghiên cứu về cạnh tranh phải nắm được ưu nhược điểm của đối thủ,nắm bắt được quy mô, thị phần kiểm soát, tiềm lực tài chính, kỹ thuật-côngnghệ, tổ chức-quản lý, lợi thế cạnh tranh, uy tín hình ảnh của doanh nghiệp…qua đó xác định được vị thế của đối thủ và doanh nghiệp trên thị trường
3.1.5 Môi trường địa lý sinh thái
Vị trí địa lý ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng, khoảng cách (không gian) khi liên hệ với các nhóm khách hàng mà doanh nghiệp có khả năng trinh phục, liên quan đến sự vận chuyển ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí vận chuyển, thời gian cung cấp, khả năng cạnh tranh… Khoảng cách tới cách tới các nguồn cung cấp hàng hoá, lao động, nguyên vật liệu cho doanh nghiệp, liên quan trực tiếp tới chi phí đầu vào và giá thành trên một đơn vị sản phẩm Địa điểm thuận lợi cho việc giao dịch, mua bán của khách hàng: nơi tập trung đông dân cư, trung tâm mua bán, trung tâm sản xuất nông nghiệp, công nghiệp,… liên quan đến hình thức bán, xây dựng kênh phân phối.
Trang 29Khí hậu, thời tiết, tính chất mùa vụ ảnh hưởng tới chu kỳ sản xuất, tiêu dùng trong khu vực, đến nhu cầu về các loại sản phẩm được tiêu dùng của khách hàng Liên quan đến khâu bảo quản dự trữ, vận chuyển… đều ảnh hưởng tới chi phí.
3.2 Những nhân tố thuộc về doanh nghiệp
Tiềm lực phản ánh những nhân tố mang tính chất chủ quan và dường như
có thể kiểm soát được ở một mức độ nào đó mà doanh nghiệp có thể sử dụng đểkhai thác cơ hội kinh doanh và thu lợi nhuận Tiềm lực của doanh nghiệp khôngphải là bất biến, có thể phát triển theo hướng mạnh lên hay yếu đi, có thể thayđổi toàn bộ hay một vài bộ phận Đánh giá tiềm lực hiện tại đẻ lựa chọn cơ hộihấp dẫn và tổ chức khai thác đưa vào chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển, tiềm lực tiềm năng củadoanh nghiệp để đón bắt cơ hội mới và thích ứng với sự biến động theo hướng
đi lên của môi trường, đảm bảo thế lực, an toàn và phát triển trong kinh doanh
3.2.1 Tiềm lực tài chính
Là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông quakhối lượng nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khảnăng phân phối (đầu tư) có hiệu quả các nguồn vốn, khả năng quản lý có hiệuquả các nguồn vốn trong kinh doanh được biểu hiện qua các chỉ tiêu:
+ Vốn chủ sở hữu (vốn tự có): số tiền của chủ sở hữu hoặc của các cổđông tham gia góp vốn vào doanh nghiệp là yếu tố chủ chốt quyêt định đến qui
mô của doanh nghiệp và tầm cỡ cơ hội có thể khai thác
+ Vốn huy động: vốn vay, trái phiếu doanh nghiệp… phản ánh khả năng,thu hút các nguồn đầu tư trong nền kinh tế vào hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp, yếu tố này tham gia vào việc hình thành và khai thác cơ hội của doanhnghiệp
+ Tỷ lệ tái đầu tư về lợi nhuận: Tỷ lệ được tính theo % từ nguồn lợi nhuậnthu được dành cho bổ sung nguồn vốn tự có, phản ánh khả năng tăng trưởngvốn, quy mô kinh doanh
Trang 30+ Giá cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị trường: phản ánh xu thế pháttriển của doanh nghiệp và sự đánh giá của thị trường về sức mạnh của doanhnghiệp trong kinh doanh
+ Khả năng trả nợ ngắn hạn và dài hạn: gồm các khả năng trả lãi cho nợdài hạn và trả vốn trong nợ dài hạn, nguồn tiền mặt và khả năng nhanh chóngchuyển thành tiền mặt để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn… thường thể hiệnqua vòng quay của vốn lưu động, vòng quay dự trữ hàng hoá, tài khoản thuchi… phản ánh mức độ "lành mạnh" của tài chính doanh nghiệp, có thể trực tiếpliên quan đến phá sản hoặc vỡ nợ
+ Các tỷ lệ về khả năng sinh lời: phản ánh hiệu quả đầu tư và kinh doanhcủa doanh nghiệp Thể hiện qua các chỉ tiêu cơ bản như: phần % lợi nhuận trêndoanh thu (lượng lợi nhuận thu được trên 1 đơn vị tiền tệ doanh thu), tỷ suất thuhồi đầu tư (phần % về số lợi nhuận thu được trên tổng số vốn đầu tư)…
3.2.2 Tiềm lực con người
Tiềm lực con người là một trong các yếu tố đảm bảo thành công trongkinh doanh Tiềm lực con người của doanh nghiệp thể hiện khả năng ở tất cả cáccán bộ công nhân viên với năng lực thực sự của họ mới lựa chọn đúng cơ hội và
sử dụng sức mạnh khác mà họ đã và sẽ có: vốn, tài sản, kỹ thuật, công nghệ…một cách có hiệu quả để khai thác cơ hội
Lực lượng lao động có khả năng, có năng suất, có tinh thần tự giác, sángtạo: liên quan đến khả năng tập hợp và đào tạo một đội ngũ những người laođộng có khả năng đáp ứng cao yêu cầu kinh doanh của doanh nghiệp Mộtdoanh nghiệp có sức mạnh về con người là doanh nghiệp có khả năng (và thựchiện) lựa chọn đúng và đủ số lượng lao động cho từng vị trí công tác và sắp xếpđúng người trong một hệ thống thống nhất theo yêu cầu của công việc Chiếnlược con người và phát triển nguồn nhân lực liên quan đến sức mạnh tiềm năngcủa doanh nghiệp Chiến lược con người và phát triển nguồn nhân lực cho thấykhả năng chủ động phát triển sức mạnh con người của doanh nghiệp nhằm đápứng yêu cầu tăng trưởng và đổi mới thường xuyên, cạnh tranh và thích nghi củanền kinh tế thị trường Chiến lược này còn có khả năng thu hút nguồn lao động
Trang 31xã hội nhằm kiến tạo cho doanh nghiệp nguồn đội ngũ lao động trung thành vàluôn hướng về doanh nghiệp, có khả năng chuyên môn cao, văn hoá giỏi, năngsuất và sáng tạo, có sức khoẻ, có khả năng hoà nhập và đoàn kết tốt
3.2.3 Tiềm lực vô hình của doanh nghiệp
Tiềm lực vô hình tạo nên sức mạnh của doanh nghiệp trong hoạt động sảnxuất kinh doanh thông qua "bán hàng gián tiếp của doanh nghiệp" Sức mạnh thểhiện ở khả năng ảnh hưởng và tác động đến sự lựa chọn, chấp nhận và quyếtđịnh mua hàng của khách hàng
Hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp trên thương trường: một hình ảnh tốt
về doanh nghiệp liên quan đến hàng hoá, dịch vụ, chất lượng sản phẩm, giá cả…
là cơ sở tạo ra sự quan tâm của khách hàng đến sản phẩm của doanh nghiệp Sựcảm tình tin cậy, hiểu biết đầy đủ về doanh nghiệp có thể giúp đỡ nhiều đếncông việc quyết định có tính ưu tiên khi mua hàng của khách hàng Điều nàycho phép doanh nghiệp dễ bán được sản phẩm của mình hơn
Mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu hàng hoá liên quan đến một loại sảnphẩm với nhãn hiệu cụ thể của doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến quá trìnhmua sắm và ra quyết định của khách hàng Uy tín và mối quan hệ xã hội củalãnh đạo có ảnh hưởng lớn đến các giao dịch thương mại, đặc biệt trong hìnhthức bán hàng ở "cấp cao nhất", trong các hợp đồng lớn… mặt khác nó có thểtạo ra các bạn hàng, nhóm khách hàng trung thành với doanh nghiệp
3.2.4 Khả năng kiểm soát, chi phối, độ tin cậy của nguồn cung cấp hàng hoá và dự trữ hợp lý hàng hoá của doanh nghiệp
Yếu tố này ảnh hưởng đến đầu vào của doanh nghiệp và tác động mạnh
mẽ đến kết quả thực hiện các chiến lược kinh doanh cũng như ở khâu cuối cùng
là tiêu thụ sản phẩm Không kiểm soát, chi phối hoặc không đảm bảo được sự ổnđịnh, chủ động về nguồn cung cấp hàng hoá, nguyên nhiên vật liệu cho doanhnghiệp có thể phá vỡ hoặc làm hỏng toàn bộ kế hoạch kinh doanh của doanhnghiệp
3.2.5 Trình độ tổ chức, quản lý
Trang 32Sự hoàn hảo của cấu trúc tổ chức, tính hiệu quả của hệ thống quản lý vàcông nghệ quản lý sẽ tạo ra sự ổn định ăn khớp giữa các bộ phận, thúc đẩy hoạtđộng sản xuất kinh doanh đi tới hiệu quả cao nhất Một doanh nghiệp muốn đạtđược mục tiêu của mình thì đồng thời phải đạt đến một trình độ tổ chức, quản lýtương ứng Khả năng tổ chức quản lý của doanh nghiệp dựa trên quan điểm tổnghợp, bao quát tập trung vào những mối quan hệ tương tác của tất cả các bộ phận tạothành tổng thể tạo nên sức mạnh thật sự cho doanh nghiệp.
3.2.6 Trình độ tiên tiến của trang thiết bị, công nghệ, bí quyết công nghệ của doanh nghiệp
Ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất, chi phí, giá thành và chất lượng hànghoá được đưa ra đáp ứng thị trường Liên quan đến mức độ chất lượng thoả mãnnhu cầu, khả năng cạnh tranh, lựa chọn cơ hội và các tác nghiệp khác của doanhnghiệp trên thị trường
3.2.7 Vị trí địa lý, cơ sở vật chất - kỹ thuật của doanh nghiệp
Doanh nghiệp sở hữu và khai thác những địa điểm đẹp, hệ thống cửa hàngđược thiết kế sạch đẹp, khoa học sẽ tạo cơ hội lớn cho thúc đẩy tiêu thụ Doanhnghiệp được trang bị một hệ thống máy móc, công nghệ phục vụ cho sản xuất,quản lý sẽ là điều kiện để tăng năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm Cơ
sở vật chất-kỹ thuật phản ánh nguồn tài sản cố định, doanh nghiệp có thể huyđộng vào kinh doanh (thiết bị, máy móc, nhà xưởng, văn phòng…) phản ánhtiềm lực vật chất và liên quan đến quy mô, khả năng, lợi thế kinh doanh củadoanh nghiệp
3.2.8 Mục tiêu, khả năng theo đuổi mục tiêu của ban lãnh đạo doanh nghiệp
Ban lãnh đạo giỏi sẽ đề ra, xây dựng được mục tiêu và biện pháp để thựchiện được mục tiêu sao cho có hiệu quả nhất
4 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh hàng thực phẩm ở doanh nghiệp
4.1 Kết quả
Trang 33Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp không chỉ tạo ra kết quả (sảnphẩm, dịch vụ) mà còn phải bán được các kết quả đó và quá trình bán hàng vớiquá trình tạo ra kết quả luôn không trùng nhau Một doanh nghiệp ở một thờiđiểm nào đó có thể sản xuất được rất nhiều sản phẩm song lại tiêu thụ được rất
ít, như thế không thể nói doanh nghiệp đã đạt kết quả (mục tiêu) Nếu xét trêngóc độ giá trị, đại lượng kết quả của đại lượng sản xuất kinh doanh không phải
là đại lượng được đánh giá dễ dàng vì ngoài những nhân tố ảnh hưởng trên, kếtquả sản xuất kinh doanh còn chịu ảnh hưởng của thước đo giá trị - đồng tiền vớinhững thay đổi của nó trên thị trường
4.1.1 Chỉ tiêu doanh thu
Doanh thu từ hoạt động kinh doanh là toàn bộ tiền bán sản phẩm, hàng hoá, cung ứng dịch vụ trên thị trường sau khi đã trừ đi các khoản chiết khấu bán hàng, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thu từ phần trợ giá của Nhà nước khi thực hiện việc cung cấp các hàng hoá và dịch vụ theo yêu cầu của Nhà nước và các nguồn thu khác Doanh thu thực hiện trong năm
từ hoạt động bán hàng và dịch vụ được xác định bằng cách nhân giá bán với số lượng hàng hoá, khối lượng dịch vụ.
i
n
i Q P
1
∑
=
DT: tổng doanh thu từ hoạt động bán hàng và dịch vụ
Pi: giá cả một đơn vị hàng hoá hay dịch vụ thứ i
Qi: Khối lượng hàng hoá hay dịch vụ thứ i bán ra trong kỳ
n: Loại hàng hoá hay dịch vụ
Doanh thu từ hoạt động kinh doanh là toàn bộ tiền bán sản phẩm hànghoá, cung ứng dịch vụ sau khi trừ đi cac khoản giảm trừ gồm các khoản phí thuthêm ngoài giá bán (nếu có), trợ giá, phụ thu theo quy đinh của Nhà nước màdoanh nghiệp được hưởng đối với hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ trong kỳ, giá trị cácsản phẩm đem biếu, tặng, trao đổi hoặc tiêu dùng cho sản xuất trong nội bộdoanh nghiệp
Trang 34Còn doanh thu từ các hoạt động khác bao gồm các khoản thu nhập từ hoạtđộng đầu tư tài chính và các hoạt động bất thường Thu nhập từ hoạt động tàichính gồm các khoản như: thu từ hoạt động liên doanh, liên kết, góp vốn cổphần, lãi tiền gửi, lãi tiền cho vay, tiền lãi trả chậm của việc bán hàng trả góp,tiền hỗ trợ lãi suất của nhà nước trong kinh doanh nếu, thu từ hoạt động mua bántrái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu…Thu từ hoạt động bất thường gồm những khoảnthu như: thu từ bán vật tư, hàng hoá, tài sản dôi thừa, bán công cụ, dụng cụ đãphân bổ hết giá trị, bị hư hỏng hoặc không cần sử dụng, các khoản phải trảnhưng không trả được từ nguyên nhân chủ nợ; thu từ chuyển nhượng, thanh lýtài sản, nợ khó đòi đã xoá sổ nay thu hồi được, hoàn nhập khoản dự phòng giảmgiá hàng hoá tồn kho; thu do sử dụng hoặc chuyển quyền sở hữu trí tuệ, thu vềtiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế, các khoản thuế phải nộp được Nhà nướcgiảm.
4.1.2 Chi phí kinh doanh
Chi phí của doanh nghiệp bao gồm chi phí hoạt động kinh doanh và chiphí cho hoạt động khác Chi phí hoạt động kinh doanh gồm các chi phí có liênquan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí nguyênnhiên vật liệu, khấu hao tài sản cố định, tiền lương và các khoản chi phí có tínhchất lương, các khoản trích nộp theo quy định của Nhà nước như: bảo hiểm xãhội, bảo hiểm y tế, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền…
Chi phí từ hoạt động khác gồm chi phí hoạt động tài chính và chi phí chohoạt động bất thường Chi cho hoạt động tài chính là các khoản đầu tư tài chính
ra ngoài doanh nghiệp nhằm mục đích sử dụng hợp lý các nguồn vốn, tăng thêmthu nhập và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp như chi cho muatrái phiếu, tín phiếu, cổ phiếu, chi phí cho thuê tài sản… Chi phí bất thường làcác khoản chi không thường xuyên như chi phí nhượng bán, thanh lý tài sản cốđịnh, giá trị tài sản tổn thất thực tế sau khi đã giảm trừ tiền đền bù của ngườiphạm lỗi và tổ chức bảo hiểm, chi phí tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế
Trong đánh giá kết quả của sự hạ thấp chi phí người ta có thể sử dụng chỉtiêu chi phí trung bình Chi phí này được xác định trên cơ sở của tổng chi phí
Trang 35với số lượng hàng hoá, dịch vụ bán ra Thường thì khối lượng hàng hoá dịch vụbán ra càng nhiều thì chi phí trung bình cho một đơn vị sản phẩm càng ít đi Chiphí lưu thông được kế hoạch hoá theo 4 chỉ tiêu cụ thể: tổng chi phí lưu thông,
tỷ lệ phí lưu thông, mức giảm phí nhịp độ giảm phí
4.1.3 Tình hình hoàn thành kế hoạch sản xuất mặt hàng
Để đánh giá kết quả tình hình hoàn thành kế hoạch sản xuất mặt hàngtrong kỳ của doanh nghiệp, có thể dùng thước đo hiện vật So sánh số lượngthực tế với số lượng kế hoạch của từng loại sản phẩm chủ yếu, nếu thấy các loạisản phẩm đều đạt hay vượt kế hoạch sản xuất sẽ kết luận doanh nghiệp đó hoànthành kế hoạch mặt hàng do giá trị sử dụng các loại sản phẩm khác nhau, nênkhi tính tỷ lệ hoàn thành kế hoạch sản xuất mặt hàng không lấy số vượt kế hoạchsản xuất của loại sản phẩm này bù cho số hụt kế hoạch của loại sản phẩm khác
4.2.1 Chỉ tiêu khái quát
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụngcác nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trongquá trình kinh doanh với chi phí thấp nhất Để hiệu quả hoạt động kinh doanhcao thì khi sử dụng các yếu tố cơ bản lao động, tư liệu lao động, đối tượng laođộng của quá trình kinh doanh phải có hiệu quả
Để đánh giá chính xác, có cơ sở khoa học hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp, cần phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp bao gồm các chỉ tiêu tổnghợp (khái quát), các chỉ tiêu chi tiết (cụ thể) Các chỉ tiêu đó phải phản ánh đượcsức sản xuất, suất hao phí cũng như sức sinh lời của từng yếu tố, từng loại vốn
và phải thống nhất với công thức đáng giá hiệu quả chung
Hiệu quả
Kết quả đầu raYếu tố đầu vào
Trang 36Kết quả đầu ra được đo bằng chỉ tiêu như: giá trị tổng sản lượng, tổngdoanh thu thuần, lợi nhuận thuần, lợi tức gộp… còn yếu tố đầu vào bao gồm laođộng, tư liệu lao động, đối tượng lao động, vốn chủ sở hữu, vốn vay…
4.2.2 Những chỉ tiêu cụ thể
4.2.2.1 Tổng lợi nhuận thu được trong kỳ
Lợi nhuận của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của bộ phận sản phẩmthặng dư do người lao động tạo ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
Nó là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện hiệu quả của quá trính sản xuất kinhdoanh, nó phản ánh đầy đủ số lượng, chất lượng, kết quả của việc sử dụng các yếu
tố cơ bản của sản xuất như lao động, vật tư, tài sản cố định…của doanh nghiệp Lợinhuận là một đòn bẩy quan trọng có tác dụng khuyến khích người lao động và cácđơn vị ra sức phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng caođời sống của cán bộ công nhân viên
P = DT - CPP- Lợi nhuận thực hiện trong kỳ
DT- Doanh thu của doanh nghiệp
CP- Chi phí bỏ ra trong quá trình hoạt động kinh doanh
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh thu được từ hoạt động tiêu thụ sảnphẩm, bộ phận này chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng lợi nhuận của doanhnghiệp Nó phụ thuộc vào các yếu tố như: khối lượng hàng hóa, dịch vụ bán ratrên thị trường, giá mua và bán hàng hóa, dịch vụ, các chi phí…
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính được xác định bằng khoản chênh lệchgiữa khoản thu về và chi cho hoạt động tài chính như mua bán chứng khoán,mua bán ngoại tệ, lãi cho vay vốn, lợi tức cổ phần…
Lợi nhuận bất thường là những khoản lợi nhuận mà doanh nghiệp không
dự tính trước hoặc có khả năng dự tính nhưng khó thực hiện được, hoặc nhữngkhoản thu không thường xuyên như: khoản phải trả nhưng không phải trả dophía chủ nợ, lợi nhuận từ quyền sở hữu, nhượng bán tài sản, dự phòng nợ phảithu khó đòi
Trang 37Tỷ suất lợi nhuận giá thành
(hay) lãi suất sản xuất =
Lợi nhuận
x 100Giá thành sản xuất
Chỉ tiêu lãi suất sản xuất được xác định bằng cách so sánh lợi nhuận với tổng giá thành sản xuất, chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả kinh tế theo lợi nhuận và chi phí sản xuất.
4.2.2.2 Mức doanh lợi trên doanh số bán
% 100
1 : Mức doanh lợi của doan số bán trong kỳ (%)
P: Lợi nhuận thực hiện trong kỳ
DS: Doanh số bán thực hiện trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh số bán thực hiện mang lại bao nhiêu lợi nhuận cho doanh nghiệp trong kỳ Do đó nó có ý nghĩa quan trọng trong việc chỉ ra cho doanh nghiệp thấy kinh doanh những mặt hàng nào, thị trường nào mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp.
4.2.2.3 Mức doanh lợi trên vốn kinh doanh
% 100
Trang 38VKD: Tổng vốn kinh doanh trong kỳ.
Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ Một đồng vốn kinh doanh mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
4.2.2.4 Mức doanh lợi trên chi phí kinh doanh
% 100
3 : Mức doanh lợi của chi phí kinh doanh trong kỳ (%)
CFKD: Tổng chi phí kinh doanh trong kỳ.
Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả sử dụng chi phí kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ Một đồng chi phí kinh doanh mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
4.2.2.5 Năng suất lao động bình quân của một lao động
TN
W =
Trong đó:
W: Năng suất lao động bình quân của một lao động trong kỳ
DT: Doanh thu (doanh số bán) thực hiện trong kỳ.
TN: Tổng thu nhập
LD bq : Tổng số lao động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho thấy trung bình một lao động của doanh nghiệp thực hiện được bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ hoặc bao nhiêu đồng thu nhập trong kỳ.
Trang 39CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THỰC PHẨM TẠI
XÍ NGHIỆP KHAI THÁC VÀ CUNG ỨNG THỰC PHẨM TỔNG HỢP
1 Khái quát về thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp Khai thác và cung ứng thực phẩm tổng hợp
1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển
Xí nghiệp Khai Thác và Cung ứng thực phẩm tổng hợp thuộc công ty thựcphẩm Hà Nội là một trong những đơn vị được thành lập đầu tiên của sở thươngmại Hà Nội chuyên cung ứng thực phẩm cho các thành phố lớn Cùng với sựquan tâm của cấp trên nhiều năm qua cán bộ công nhân viên của xí nghiệp đãkhông ngừng phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao và đạt được
nhiều thành tích trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Công ty thực phẩm Hà Nội được thành lập vào 10/7/1957 theo NĐ388của chính phủ Và công ty được thành lập lại căn cứ Quyết định 490 QĐ/UBngày 26/01/1993 của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội về việc thành lậpcông ty Thực phẩm Hà Nội và Quyết định 299 QĐ /STM ngày 09/11/2001 vềviệc ban hành quy chế quản lý cán bộ của Sở Thương mại Hà Nội Cùng với sự
mở rộng và phát triển của công ty thì Xí nghiệp Khai thác và Cung ứng thựcphẩm tổng hợp trực thuộc công ty được thành lập
Căn cứ Quyết định 388TN/TCCB ngày 12/4/1989 của Sở Thương nghiệp
Hà Nội nay là sở thương mại Hà Nội về việc thành lập Xí nghiệp khai thác vàCung ứng Thực phẩm Tổng hợp trực thuộc Công ty Thực phẩm Hà Nội
Từ khi ra đời Xí nghiệp đã có được những thành tựu bước đầu, sản phẩmcủa xí nghiệp đã được phần lớn thị trường chấp nhận Để tiếp tục thực hiệnphương án tổ chức lại sản xuất kinh doanh phù hợp với cơ chế quản lý và yêucầu phát triển của công ty, dưới sự đề nghị của Trưởng phòng Tổ chức Hànhchính Công ty Thực phẩm Hà Nội Giám đốc công ty Thực phẩm Hà Nội quyếtđịnh thành lập Xí nghiệp Khai thác và Cung ứng Thực phẩm Hà Nội kể từ ngày01/4/2003
Trang 40Xí nghiệp nằm ở vị trí được xem là trung tâm thương mại Hà Nội (gầnchợ Đồng Xuân), là nơi giao lưu buôn bán lớn nhất thành phố, giao thông thuậnlợi cho việc buôn bán lớn, lượng hàng trao đổi lớn Đây là nơi có nhiều điềukiện thuận lợi cho việc kinh doanh của xí nghiệp Ngành nghề kinh doanh chủyếu của xí nghiệp gồm: Kinh doanh thực phẩm, nông sản, tổ chức sản xuất giacông, chế biến thực phẩm, làm đại lý các sản phẩm hàng hóa khác và tổ chứclàm dịch vụ thuê kho, cửa hàng…Cùng với sự chuyển đổi của công ty thì xínghiệp cũng dần dần cải tổ dần bộ máy, không ngừng hiện đại hoá thiết bị côngnghệ, đội ngũ cán bộ công nhân viên được nâng cao cả về trình độ văn hoá vàkinh nghiệm Chính vì thế xí nghiệp đã được nhà nước trao tặng huân chươnglao động hạng 3, huy chương vàng cho sản phẩm mới, các sản phẩm khi thamgia hội chợ đều đạt chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm
1.2 Đặc điểm về hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp
1.2.1 Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của xí nghiệp
Tổ chức, bộ máy, chức năng nhiệm vụ của xí nghiệp thực hiện theoquyết định số 490 QĐ/UB ngày 26 tháng 01 năm 1993 của Uỷ ban Nhân dânThành phố
- Bộ máy tổ chức của Xí nghiệp bao gồm Giám đốc, các Phó Giám đốc,
các Trưởng phòng, Trưởng bộ phận và Tổ trưởng sản xuất
- Giám đốc xí nghiệp chịu trách nhiệm trước công ty và Sở Thương mại
Hà Nội, UBND thành phố về toàn bộ mọi hoạt động kinh doanh sản xuất củacông ty trong việc thực hiện những nhiệm vụ được quy định