Cho nên cần thiết phải cải tiến "Cách ra đề làm văn nghị luận văn học theo hướng phát huy sáng tạo cho học sinh Trung học cơ sở" để học sinh hứng thú với việc học, tự rèn luyện mình, từn
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đề làm văn là một khâu quan trọng của quá trình giáo dục văn học cho học sinh trung học cơ sở Đề văn hội tụ những năng lực của tư duy, đòi hỏi học sinh phải suy luận, phán đoán Quá trình xử lý đề, học sinh phải vận dụng các thao tác tư duy, kỹ năng biểu đạt Đề văn còn điều chỉnh việc học của trò và việc dạy của thầy
Đề văn “Nêu ra những đầu đề buộc học sinh phải suy nghĩ, phải tìm tòi trong ký ức của mình, kinh nghiệm của mình, đời sống của mình những gì đáng nói” Như vậy, học sinh phải đối diện với chính mình, cảm nhận được sự thiếu hụt, non kém hoặc bày tỏ được những hiểu biết, những đánh giá của cá nhân về vấn đề mà đề văn đặt ra Thông qua bài viết của học sinh người thầy đánh giá được việc dạy văn của mình Nếu lối dạy áp đặt, lối học thụ động thì việc giải đề văn chỉ là sao chép thông tin một cách máy móc
Đề văn gợi mở được hứng thú sáng tạo sẽ giúp cho học sinh bộc lộ trình
độ nhận thức, quan niệm cá nhân, thái độ và tình cảm đối với quê hương đất nước, lòng nhân ái được vun đắp và phát triển Đề văn chính là tiền đề để phát huy năng lực sáng tạo cho học sinh
Tuy nhiên, việc ra đề làm văn nghị luận văn học ở các trường phổ thông còn phổ biến lối ra đề sao chép tái hiện kiến thức Giáo viên ra đề kiểm tra kiến thức văn học là chính Tình trạng học sinh sử dụng các bài văn mẫu để đối phó với đề ra của cô giáo là phổ biến
Cho nên cần thiết phải cải tiến "Cách ra đề làm văn nghị luận văn học theo hướng phát huy sáng tạo cho học sinh Trung học cơ sở" để học sinh hứng thú với việc học, tự rèn luyện mình, từng bước nâng dần năng lực cảm thụ văn học
II MỤC ĐÍCH – Ý NGHĨA
Đề tài nhằm mục đích sau đây:
- Đánh giá thực trạng ra đề ở trường trung học cơ sở
- Đề xuất một quan niệm về ra đề làm văn nghị luận văn học
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Chúng tôi tiến hành phương pháp chủ yếu sau:
1 Phương pháp khảo sát phân loại thống kê
- Khảo sát 25 đề nghị luận văn học trung học cơ sở
- Phân loại thống kê theo tiêu chí
Trang 2NỘI DUNG
CHƯƠNG I KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH RA ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
I KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH RA ĐỀ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ.
Đề nghị luận văn học được tập trung ở những kiểu bài cơ bản và kiểu bài hỗn hợp
Đề số 1: “Thơ văn Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XV chứa chan tình cảm yêu nước và tự hào dân tộc”
Bằng các tác phẩm: Hịch tướng sĩ (Trần Hưng Đạo), Nước Đại Việt ta (Nguyễn Trãi), Nam Quốc Sơn Hà (Lý Thường Kiệt) em hãy chứng minh ý kiến trên
Đề số 2: Có ý kiến cho rằng: “Nước Đại Việt ta của Nguyễn Trãi là bài ca
yêu nước chứa chan niềm tự hào dân tộc” Em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên
Đề số 3: Đọc đoạn trích “Trong lòng mẹ” (Những ngày thơ ấu – Nguyên
Hồng) ta thấy bé Hồng có một tình cảm yêu thương mẹ thật là thắm thiết
Em hãy chứng minh nhận xét trên
Đề số 4: “Văn học Việt Nam từ cách mạng Tháng Tám đã sáng tạo được những hình tượng nghệ thuật cao đẹp về con người Việt Nam” Phân tích một số tác phẩm đã học, đã đọc mà em yêu thích làm sáng tỏ nhận định trên
Đề số 5: Phân tích nhân vật Vũ Nương (Vũ Thị Thiết) trong “Chuyện người con gái Nam Xương” (Truyền kỳ mạn lục) của Nguyễn Dữ
Đề số 6: Phân tích vẻ đẹp hào hùng của nhân vật Lục Vân Tiên trong đoạn thơ:
“ Vân Tiên ghé lại bên đàng
Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vôKêu rằng bớ đảng hung đồChớ quen làm thói hồ đồ hại dânPhong Lai mặt đỏ phừng phừngThằng nào lại dám lẫy lừng vào đâyTrước gây việc dữ tại màyTruyền quân bốn phía bổ vây bịt bùng
Vân Tiên tả đột hữu xungKhác nào Triệu Tử mở vòng Đương Dương
Lâu la bốn phía vỡ tanĐều quăng gươm giáo tìm đường chạy ngay
Phong Lai chẳng kịp trở tay
Bị Tiên một gậy thác rày thân vong”
(Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu)
Đề số 7: Phân tích nhân vật Ông Hai trong truyện ngắn “Làng” của Kim Lân để cảm nhận được tình yêu tha thiết làng quê hoà quyện với tình yêu nước
Trang 3Đề số 11: Phân tích nhân vật con hổ trong vườn thú trong bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ.
Đề số 12: Phân tích nhân vật Chị Dậu trong đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” (Ngữ văn 8 tập I )
Đề số 13: Phân tích tâm trạng nhân vật Thuý Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích trong các câu sau:
“ Buồn trông cửa bể chiều hômThuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xaBuồn trông mặt nước mới saHoa trôi man mác biết là về đâuBuồn trông nội cỏ rầu rầuChân mây mặt đất một màu xanh xanhBuồn trông gió cuốn mặt dềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”
(Truyện Kiều – Nguyễn Du )
Đề số 14: Hình ảnh người chiến sĩ cộng sản trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 Những suy nghĩ của em về lẽ sống và tâm hồn của người chiến sĩ đó
Đề số 15: Phân tích đoạn truyện “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” (Ngữ Văn 9, tập 1) để thấy rõ Lục Vân Tiên đã hành động rất đúng với lý tưởng của mình
“ Nhớ câu kiến ngãi bất viLàm người thế ấy cũng phi anh hùng”
Đề số 16: Có ý kiến cho rằng: Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn là “Bài
văn sôi sục nhiệt huyết, tràn đầy khí thế quyết chiến thắng Đó là tác phẩm tiêu biểu cho chủ nghĩa yêu nước cao đẹp nhất của thời đại chống Nguyên Mông”
Phân tích Hịch tướng sĩ để làm sáng tỏ ý kiến trên.
Đề số 17: Phân tích bài thơ “Ông đồ” của Vũ Đình Liên
Đề số 18: Phân tích 4 khổ thơ trong bài “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận
“Thuyền ta lái gió với buồm trăngLướt giữa mây cao với biển bằng
Ra đậu dặm xa dò bụng biểnDàn đan thế trận lưới vây giăng
Cá nhụ, cá chim cùng cá đé
Trang 4Cá song lấp lánh đuốc đen hồngCái đuôi em quẫy trăng vàng choéĐêm thở sao lùa nước Hạ Long
Ta hát bài ca gọi cá vào
Gõ thuyền đã có nhịp trăng caoBiển cho ta cá như lòng mẹNuôi lớn đời ta tự thuở nào
Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặngVẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng…”
Đề số 19: Phân tích bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu để thấy được tình đồng chí của những người chiến sĩ trong buổi đầu chống Pháp
Đề số 20: Khổ thơ nào trong bài “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương làm cho người đọc xúc động
Chọn một khổ thơ trong bài thơ trên và phân tích khổ thơ đó nhằm tán thành ý kiến đã nêu
Đề số 21: Trong phần thứ nhất của bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” Thanh Hải viết:
“ Mọc giữa dòng sông xanhMột bông hoa tím biếc
Ôi con chim chiền chiệnHót chi mà vang trờiTừng giọt long lanh rơiTôi đưa tay tôi hứng”
Đoạn thơ đẹp như một bức tranh Em hãy phân tích đoạn thơ để làm sáng tỏ nhận xét đó
Đề số 22: Mở đầu đoạn trích “Nước Đại Việt ta” trong tác phẩm “Bình Ngô Đại Cáo”, Nguyễn Trãi viết:
“ Việc nhân nghĩa cốt ở yên dânQuân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Suy nghĩ của em về câu đó và hãy chứng minh rằng tư tưởng tình cảm này
đã được thể hiện trong suốt “Bình Ngô đại cáo” và các tác phẩm khác của Nguyễn Trãi mà em đã học, đã đọc
Đề số 23: Từ đoạn trích “Nước Đại Việt ta” em hãy bình luận về quan điểm “Lấy dân làm gốc” của Nguyễn Trãi
Đề số 24: Phân tích nhân vật anh thanh niên
Đề số 25: Phân tích đặc điểm nghệ thuật và lòng nhân đạo qua tác phẩm
“Kiều ở lầu Ngưng Bích" của Nguyễn Du
Phân loại theo đề
Số
T
T
Loại đề Số đề Tổng số khảo sát
Trang 51 Loại đề yêu cầu học sinh sao chép tái hiện kiến thức 11 25
2 Đề nghị luận văn học phát huy khả năng sáng tạo của học sinh 10 25
4 Đề chưa chuẩn xác về nội dung khoa học và phương pháp diễn đạt 2 25 Phân loại theo kiểu bài nghị luận và hỗn hợp
1 Tình hình ra đề làm văn ở trường trung học cơ sở:
Theo phân phối chương trình Ngữ Văn của trường trung học cơ sở, học sinh lớp 7 được học các kiểu bài nghị luận :
- Văn chứng minh
- Văn giải thích
Học sinh lớp được học các kiểu bài nghị luận
- Tìm hiểu các yếu tố biểu cảm, tự sự, miêu tả trong văn nghị luận
- Viết đoạn văn trình bày luận điểm trong văn nghị luận
Học sinh lớp 9 được học các kiểu bài nghị luận :
- Nghị luận về sự việc, hiện tượng trong đời sống xã hội
- Nghị luận về tư tưởng đạo lí
- Nghị luận về tác phẩm truyện, đoạn trích
- Nghị luận về đoạn thơ, bài thơ
Trong thực tế, kiểu bài giải thích có nội dung xã hội phổ biến hơn là đề giải thích vấn đề văn học Trong 25 đề khảo sát, không bắt gặp một đề giải thích hỗn hợp có nội dung văn học
Ở các trường nhiều giáo viên sử dụng đề theo cuốn sách “60 đề văn dùng cho học sinh trung học cơ sở” của nhóm tác giả: Mai Đắc Lượng, Đoàn Minh Ngọc, Phạm Thị Dừa, Tạ Đức Hiền, Nguyễn Xuân Mộc Cuốn thứ 2 : “Hướng dẫn ôn tập thi tốt nghiệp lớp 9” do Sở Giáo dục và đào tạo ban hành ( Đây là tài liệu lưu hành nội bộ)
Khảo sát ở 3 trường chúng tôi thấy đề sử dụng trong 2 cuốn trên chiếm 60%
Ngoài ra còn có một số cuốn khác:
"27 đề tuyển chọn tập làm văn lớp 9" của nhóm tác giả Trần Văn Sáu, Đặng Văn Khương, “Những bài làm văn chọn lọc lớp 9” của nhóm tác giả:
Trang 6Nguyễn Hữu Kiều – Vũ Nho - Vũ Băng Tú.
- Số đề do giáo viên tự soạn chiếm 30% trong tổng số đề ra cho học sinh luyện tập
- Đề kiểm tra chất lượng, kiểm tra học kỳ là đề thống nhất của Phòng giáo dục và Sở giáo dục đào tạo
- Đa số các đề đã ra (trong số đề đã khảo sát) là dành cho học sinh đại trà Loại đề này kết cấu theo kiểu mệnh đề mệnh lệnh: “Em hãy…” và chỉ ra kiểu bài: “…phân tích” hoặc “chứng minh…” Kiểu kết cấu đề như vậy có ưu điểm: Chỉ rõ thể loại, kiểu bài Nó phù hợp với đông đảo học sinh có trình độ trung bình khá trở xuống Hạn chế của kiểu kết cấu trên là một số đề sa vào yêu cầu sao chép, tái hiện kiến thức
- Kiểu bài phân tích nhân vật và phân tích tác phẩm chiếm đa số trong tổng
Đối với loại đề nặng về sao chép, tái hiện kiến thức, các em học sinh thường thụ động khi làm bài Lối làm bài phổ biến khi gặp đề yêu cầu tái hiện kiến thức là học sinh chép các tài liệu có liên quan đến nội dung được đề cập và
ít chú ý đến yêu cầu cụ thể của đề
Hai cô giáo dạy hai lớp cùng khối 9 cho hai đề sau:
Đề 1: Phân tích bài “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận
Đề 2: Bài thơ "Đoàn thuyền đánh cá" của Huy Cận là một khúc tráng ca về thiên nhiên và con người lao động Em hãy phân tích bài thơ để làm rõ nhận định trên.Khi xem bài làm của học sinh, giáo viên thấy bất ngờ vì nhiều em ở hai lớp làm bài có nội dung không khác nhau nhiều Đề số 2 yêu cầu phân tích tác phẩm
để làm rõ nhận định nhưng học sinh dường như không nhận thấy Phần bài làm của các em ở cả hai lớp chỉ tập trung phân tích bài thơ còn yêu cầu cụ thể của từng đề các em không xem xét kỹ
Vấn đề chỉ hiểu chủ đề của đề cũng xảy ra ở hai đề khác nhau khi cho học sinh so sánh:
Đề 1: Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết:
“Sự nghiệp và tác phẩm của Nguyễn Trãi là một bài ca yêu nước chứa chan niềm
tự hào dân tộc” Bằng hiểu biết về các tác phẩm và cuộc đời Nguyễn Trãi, hãy làm sáng tỏ ý kiến trên
Đề 2: “Nước Đại Việt ta” của Nguyễn Trãi là một bài ca yêu nước chứa chan niềm tự hào dân tộc
Em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên
Có 17/25 em được hỏi ý kiến đều cho rằng hai đề không có sự khác nhau.Một trong những nguyên nhân của việc học sinh “Nói như sách, viết như sách” là do các đề làm văn ra không tính tới đối tượng học sinh Các đề văn đó được sao chép từ các loại sách, các bộ đề ôn Nhiều đề văn quá sức đối với học
Trang 7sinh đại trà Loại đề văn khô khan chỉ biểu hiện yêu cầu kiểu bài và nội dung nghị luận (như: phân tích bài thơ…) có nhiều ở quyển đề ôn, đề luyện tập và kèm theo đó là các bài văn mẫu Một số học sinh chỉ cần thấy tên tác phẩm, tác giả hoặc chủ đề đề văn đề cập đến thì cho rằng các đề này giống nhau Do đó các
em chép bài văn mẫu của đề này để giải quyết một đề khác… Có không ít bài chép kiểu “râu ông nọ cắm cằm bà kia” Phổ biến là hiện tượng nhầm tác giả, nhầm thời đại Có học sinh viết về lòng nhân đạo của Nguyễn Du:
“ Lòng yêu thương con người nhất là người phụ nữ ở Nguyễn Du không phải chỉ là lời than: “Đau đớn thay phận đàn bà…” Ông còn viết “Chuyện người con gái Nam Xương” để tố cáo chế độ phong kiến đã bắt chồng Vũ Nương đi bộ đội, gây ra sự nghi ngờ khủng khiếp”
Hoặc có học sinh nhầm lẫn : Nguyễn Duy viết “Sang thu” để cho thấy cảm nhận tinh tế của nhà thơ trước sự giao mùa của trời đất, của lòng người.Môn làm văn ở trường trung học cơ sở có một trách nhiệm nặng nề: Chuẩn
bị cho học sinh thi vào Phổ thông trung học gây áp lực lớn tâm lý của học sinh
và phụ huynh của các em Do đó, giáo viên cần cho học sinh những đề văn để kiểm tra kiến thức văn học, kỹ năng kiểu bài Việc học sinh cần phải làm đúng kiểu bài đã cho, trình bày đủ các kiến thức cơ bản trở nên cần thiết hơn việc các
em bày tỏ xúc cảm riêng, ý kiến riêng về một vấn đề, một khía cạnh văn học…
Ví dụ: Trong một cuốn Ôn tập Ngữ văn lớp 9 có hướng dẫn phần kiến thức
văn học của bài Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải
- Thời điểm sáng tác bài thơ
- Nhan đề bài có ý nghĩa biểu tượng
- Mùa xuân là đối tượng cảm xúc của tác giả, là hình tượng trung tâm của bài thơ-
Mạch cảm xúc và tư tưởng theo trình tự xúc cảm của bài thơ: Từ mùa xuân thiên nhiên của đất trời đến mùa xuân đất nước, của cách mạng, sau cùng là mùa xuân của mỗi con người hoà trong mùa xuân lớn lao của đất nước, của cách mạng
- Cảnh sắc quê hương tươi đẹp, gợi cảm, giàu màu sắc Huế – Nghệ thuật miêu tả đặc sắc, giọng thơ tha thiết lắng sâu
- Lời tâm niệm chân thành, thành kính thiêng liêng, thái độ tự nguyện hiến dâng sự nghiệp đời mình dù nhỏ nhoi như “mùa xuân nho nhỏ” vào mùa xuân Cách mạng lớn lao
Đây là một hướng dẫn đầy đủ cho một tác phẩm: "Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải Bộ đề có ba đề văn về tác phẩm này:
Đề 1: Phân tích bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải
Đề 2: Trong phần thứ nhất của bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” Thanh Hải viết
“Mọc giữa dòng sông xanhMột bông hoa tím biếcÔi! con chim chiền chiệnHót chi mà vang trờiTừng giọt long lanh rơiTôi đưa tay tôi hứng”
Trang 8Đoạn thơ đẹp như một bức tranh.
Phân tích đoạn thơ để làm sáng tỏ nhận xét đó
Đề 3:
“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà caMột nốt trầm xao xuyếnMột mùa xuân nho nhỏLặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Ra đề tốt để học sinh có hứng thú sáng tạo là thước đo năng lực văn chương, năng lực sư phạm, trình độ nhiều mặt của người giáo viên văn học Nhiều thầy cô giáo đã ý thức được vai trò của mình, xác định được tầm quan trọng của môn làm văn nên đã ra đề phù hợp với trình độ đối tượng trong từng lớp
Khảo sát đề văn ở một số lớp, tôi thấy nhiều đề văn cô giáo cho đã tạo được niềm say mê trong học sinh
Ví dụ: Từ một người phụ nữ nhún nhường, nín nhịn nhưng khi cần chị Dậu cũng có những phản kháng chống trả quyết liệt Em hãy làm rõ điều đó qua đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” (Sách Ngữ văn lớp 8 tập II)
Có học sinh viết:
“ Sức mạnh ấy phải chăng khởi nguồn từ trái tim ngập tràn tình yêu thương chồng tha thiết của chị Dậu? Khi chị Dậu mệt mỏi chờ anh Dậu trở về, lòng thắc thỏm lo lắng thì bỗng bọn cai lệ trả anh Dậu lại cho chị: “rũ ra như cái chết” chị tìm mọi cách cứu chồng vì tính mạng anh giờ đây chỉ tính từng giây từng khắc ”
Như vậy, ít nhiều các em đã bộc lộ sự đồng cảm với chị Dậu trong nỗi đau
và sự uất ức
Trong mỗi lớp học, bên cạnh 60% - 70% học sinh trung bình, có khoảng 5
% - 15% học sinh có năng khiếu văn hoặc có hứng thú học văn Việc ra đề văn nghị luận văn học nhằm gợi khả năng sáng tạo sẽ tạo ra sự phát triển của các mầm non văn học Năng lực văn học được bồi dưỡng, vun đắp trong suốt quá trình phổ thông là cơ sở để có nhân tài mai sau
Ngoài các loại tái hiện sao chép, đề có khả năng gọi hứng thú còn tồn tại một số đề ra chưa chuẩn xác về nội dung khoa học và phương pháp diễn đạt.Xin đơn cử một số đề thuộc loại này:
Đề 1: Phân tích đặc điểm nghệ thuật và lòng nhân đạo qua tác phẩm “Kiều
Trang 9ở lầu Ngưng Bích" của Nguyễn Du.
Trong đề này yêu cầu về nội dung diễn đạt không phù hợp, từ ngữ diễn đạt chưa chuẩn xác
Đề 2: Phân tích nhân vật anh thanh niên
Đề chưa nêu đủ xuất xứ nhân vật (tác phẩm – tác giả)
2 Đánh giá chung về tình hình ra đề làm văn hiện nay ở trung học cơ sở.
- Đề kiểm tra, đề thi chuyển cấp còn sử dụng nhiều đề văn sao chép tái hiện kiến thức
- Đề sao chép tái hiện kiến thức chiếm đa số là do chế độ thi cử và mục đích thi cử còn đè nặng trong học sinh và giáo viên
- Rải rác vẫn còn đề sai sót về nội dung, về cách diễn đạt
- Tình trạng sao chép đề tràn lan từ sách bộ đề phổ biến không chỉ ở một vùng mà còn ở nhiều vùng Các sách văn mẫu hay và đủ đầy bài nên khi gặp đề văn tương tự là học sinh viết, chép từ sách ra Khả năng tự suy nghĩ, tự bộc lộ bị giảm đi Đa số học sinh trung bình muốn có bài văn hoàn chỉnh như văn mẫu nên việc phân tích đề cụ thể không được coi trọng dẫn tới sự sa sút về kỹ năng suy luận, khả năng diễn đạt chính xác tư duy của học sinh
- Nguyên nhân của tình trạng trên là do năng lực của giáo viên và cũng còn
do ra đề tuỳ tiện, thiếu cẩn thận
Để có những đề văn gợi mở, phát huy sự sáng tạo của học sinh cần bồi dưỡng đội ngũ giáo viên về năng lực văn học, ngôn ngữ văn học, kiến thức về lĩnh vực Tập làm văn và nhất là xác định được quan niệm dạy học
A Những khả năng của học sinh trung học cơ sở:
A-1 Học sinh trung học cơ sở đã có hứng thú với văn học và bước đầu đã đánh giá văn học bằng tiêu chuẩn thẩm mĩ.
Nghị luận văn học được dạy trong trường trung học cơ sở ở lớp 8 và lớp 9 Các nhà khoa học nhất trí khẳng định: Học sinh ở vào độ tuổi 13, 14, 15 đã có sự biến chuyển đáng kể trong sự phát triển về năng lực văn học
Quan hệ của học sinh với nghệ thuật đã được xác định Các em đã trở thành độc giả thực thụ Ở lứa tuổi này, việc đánh giá tác phẩm đã chuyển từ đánh giá về đạo đức sang đánh giá bằng tiêu chuẩn thẩm mĩ Quan hệ của học sinh với nghệ thuật dần dần mang tính thẩm mĩ, có ý thức Học sinh lĩnh hội sách báo không chỉ căn cứ vào nội dung thông tin mà còn lĩnh hội giá trị nghệ thuật
Học sinh lứa tuổi 13, 14, 15 thường chú ý vào những gì mà mình yêu thích Các em bắt đầu xem tác phẩm là nguồn cung cấp niềm vui, nỗi buồn cho mình Các em cũng đánh giá tác phẩm tuỳ theo sự trải nghiệm của bản thân
Trang 10Yêu cầu tự biểu hiện ở một số học sinh khá mạnh mẽ dẫn đến việc phân tích tác phẩm được thay thế bằng phân tích có so sánh hoặc suy luận về những chủ đề mình thích thú.
Cảm nhận về hai câu thơ “Cỏ non xanh tận chân trời- Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” trích "Cảnh ngày xuân" của Nguyễn Du, một học sinh lớp 9 viết:
Hai câu thơ trên trích trong bài "Cảnh mùa xuân" ("Truyện Kiều" - Nguyễn Du) là hai câu thơ đặc sắc tả cảnh thiên nhiên mùa xuân trong tiết thanh minh Nguyễn Du không miêu tả nhiều mà ông chỉ chọn tả một số hình ảnh đặc sắc, tiêu biểu, đó là hình ảnh "cỏ non xanh" tận chân trời, "cành lê trắng" điểm
vài bông hoa Cỏ xanh non, tươi tốt mơn mởn, mỡ màng được trải dài đến tận chân trời dường như còn được nối với xanh của bầu trời mùa xuân Thảm cỏ non làm nền để làm nổi bật vẻ đẹp của mấy cành lê đang ra hoa, hoa nở điểm xuyết
trên cành Bằng nghệ thuật đảo ngữ "trắng điểm", tác giả đã tạo nên một điểm
nhấn cho bức tranh, tô đậm sắc trắng tinh khiết của hoa lê nổi bật trên nền xanh non của cỏ Hai câu thơ của Nguyễn Du thực ra có mượn tứ của hai câu thơ cổ của Trung Quốc:
" Phương thảo liên thiên bích
Lê chi sổ điểm hoa"
(Cỏ thơm liền với trời xanh
Cành lê có điểm một vài bông hoa)
Hai câu thơ cổ Trung Quốc chỉ gợi mà không tả, còn hai câu thơ của Nguyễn Du
tả rõ màu sắc khiến câu thơ sinh động, có hồn với màu sắc tươi tắn đậm chất hội hoạ Từ câu thơ ngũ ngôn mang phong vị Đường thi, dưới ngòi bút tài hoa của
Nguyễn Du thành câu thơ lục bát uyển chuyển mang đậm hồn thơ dân tộc Chỉ với hai câu thơ tả cảnh với bút pháp chấm phá, Nguyễn Du cho ta cảm nhận được bức tranh xuân tươi tắn, tràn đầy sức sống phơi phới của mùa xuân
Ở đây, em học sinh đã cảm và đánh giá hai câu thơ theo cách nhìn riêng của em, phù hợp với tính cách của em trong cuộc sống hàng ngày
Trong lúc trao đổi về truyện Kiều, có học sinh thẳng thắn nói: “Kiều vì cha
mà bán mình – Nàng thật có hiếu! Nhưng nàng Kiều cứ khóc lên khóc xuống thì đáng ghét quá Nếu mất chàng Kim Trọng thì yêu người khác Khóc làm gì?” Quả thực đó là thái độ của học sinh chưa trải qua tình yêu và là cách nghĩ của thanh niên ngày nay
Như vậy, học sinh lớp 8, 9 đã có hứng thú với văn chương và cảm thụ văn chương bằng cái nhìn của bản thân Nếu làm cho các em bộc lộ mình, bày tỏ ham thích riêng và đánh giá bằng kinh nghiệm cá nhân đã có sự chắt lọc tổng hợp thì học sinh sẽ phát triển vốn văn học
Nhưng không phải học sinh nào cũng có hứng thú với văn chương và có thái độ chủ quan trong thưởng thức Ở một số em hứng thú cá nhân được bộc lộ
rõ rệt Ở một số khác thì hết sức mờ nhạt Ngay cả trong điều kiện sư phạm giống hệt nhau thì sự phân hoá cũng khá rạch ròi Nếu học sinh chỉ sao chép, tái hiện hiểu biết về tác giả, tác phẩm thì giờ làm văn sẽ trở nên tẻ nhạt, chán ngán đối với học sinh yêu thích văn chương, biết cảm thụ văn chương bằng con mắt
Trang 11chủ quan Nhưng nếu đề văn chỉ chú ý đến đối tượng học sinh có năng lực văn thì số học sinh trình độ trung bình sẽ thấy quá sức Do đó các đối tượng khác nhau về trình độ cùng học một lớp nên việc ra đề cần làm sao cho học sinh nào cũng có hứng thú sáng tạo Mức độ sáng tạo có thể khác nhau tuỳ vào năng lực
cá nhân Đánh giá về mức độ cảm thụ chủ quan của độc giả, giáo sư Phan Trọng Luận đã viết: “Đây là một hiện tượng rất nhiều, mỗi người một bản lĩnh, một nhân cách, một chủ thể có ý thức, một tính cách riêng biệt thì nhu cầu thị hiếu thẩm mĩ văn học nghệ thuật càng mang màu sắc cá nhân một cách sâu sắc đậm nét”
A-2 Học sinh lứa tuổi trung học cơ sở đã hình thành trí tưởng tượng sáng tạo– một phẩm chất cần thiết để cảm thụ văn chương.
Khác với học sinh lớp 6, lớp 7 trí tưởng tượng của các em giờ đây không bay bổng như trước song nó phát triển theo chiều hướng nội Các em tưởng tượng có đối chiếu với kiến thức văn học, ngôn ngữ, kiến thức khoa học xã hội khác và cả kinh nghiệm đời sống của bản thân Bởi vậy, học sinh sẽ vấp những vấn đề mà tất cả kiến thức có trong qúa trình học tập không đủ sức lý giải Thái
độ của thầy giáo và thái độ của xã hội về vấn đề đó sẽ hỗ trợ cho các em Năng lực tưởng tượng càng mạnh mẽ thì hiệu suất cảm thụ càng cao Shemuchesky nói: “ Chính trong cái thiên tài là cái mà người ta gọi là tưởng tượng sáng tạo”.Tóm lại: Nếu xét về khả năng thì học sinh trung học cơ sở lứa tuổi 13, 14,
15 đã có tiền đề để cảm thụ văn và trình bày sự hiểu biết đầy cảm hứng đối với tác phẩm văn, hình tượng nghệ thuật và nội dung tác phẩm Trong quá trình nhận thức, chiếm lĩnh, đánh giá tác phẩm, các em đã thể hiện tính sáng tạo khá rõ rệt Trong các em có cả năng lực tái tạo lẫn sáng tạo độc lập rõ rệt, năng lực tìm tòi, suy nghĩ, vận dụng Sự khác biệt trong lứa tuổi này chỉ là mức độ
Vì vậy, những đề nghị luận văn học hay sẽ khơi dậy và phát huy tiềm năng của mình và bồi dưỡng các em theo định hướng của mục tiêu giáo dục
B Trình độ học sinh trung học cơ sở:
B-1 Học sinh trung học cơ sở bước đầu đã có một vốn liếng hiểu biết khá hệ thống về văn học sử.
Chương trình văn học trung học cơ sở cung cấp cho các em một số hiểu biết nhất định về tiến trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc Việt Nam và nhân loại Nhiều học sinh nhớ được các tác giả, tác phẩm ở các giai đoạn khác nhau mà em được học Một số học sinh khá trong các lớp còn nắm được nội dung quan trọng của các xu hướng văn học Cá biệt, còn có em giải thích được
sự xuất hiện các xu hướng văn học
Khi phỏng vấn học sinh lớp 8, 9 nơi tôi đang công tác, nhiều học sinh đã nói được nhiều điều hiểu biết về tác giả tác phẩm, phong cách tác giả, phong cách nghệ thuật trong văn học trung đại, phong cách nghệ thuật thơ Hồ Chí Minh
Tuy mức độ khác nhau nhưng những sự hiểu biết của các em có được là những tiền đề để các em thâm nhập tác phẩm và nâng cao cần vốn hiểu biết văn học
Về văn học sử, cũng còn một bộ phận học sinh không nắm chắc các giai
Trang 12đoạn, các thời kỳ văn học, còn những lầm lẫn về xu hướng, tác giả khá ngây ngô Một số học sinh không thấy được tác động của hoàn cảnh đối với tác phẩm văn học Chính việc xác định hoàn cảnh ra đời của tác phẩm là điều cần thiết để tìm hiểu nội dung nghệ thuật tác phẩm Học sinh còn gặp khó khăn trong việc khái quát phong cách nghệ thuật của tác giả được học trong chương trình.
B-2 Học sinh lứa tuổi trung học cơ sở đã có ít nhiều kết hợp kiến thức văn học cụ thể với kiến thức khái quát.
Đa số học sinh trình bày chính xác nguyên văn câu thơ, đoạn thơ, đoạn văn
đã học trong chương trình Một số học sinh còn có tư liệu ngoài chương trình và biết đưa vào đúng lúc đúng chỗ
Đối với tác phẩm tự sự, học sinh nắm được cốt truyện, tuyến nhân vật và các chi tiết quan trọng Việc nắm vững kiến thức đã giúp các em chủ động trong việc phân tích, bình, cảm nhận tác phẩm Một bộ phận học sinh đã biết khai thác nội dung tư tưởng tác phẩm, cảm xúc trữ tình, chủ đề sáng phẩm trong sự gắn bó giữa các hình thức nghệ thuật của tác phẩm
Trong bài: Ấn tượng của em về “Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao” một em học sinh trường tôi đã viết:
“Lão Hạc thương con hơn cuộc sống của mình Tình thương của lão ẩn chứa nỗi ân hận của một người cha chưa tròn trách nhiệm với con, lo cho con việc lớn “dựng vợ gả chồng”, nỗi lo của người mẹ: Bao bọc, ky cóp giữ gìn mảnh vườn cho con khỏi đói Lão hành động như thể chuộc lỗi, lão hy sinh từ miếng ăn như người mẹ giữ gìn cho con Con Vàng là người bạn thân thiết, tâm tình của lão Nó là hiện thân tình yêu của lão dành cho con trai Nhưng để cho con trai có một cuộc đời không nhục nhã, lão tự từ bỏ những gì liên quan đến lão: lão bòn rau củ ở vườn; lão ăn những thứ không phải đồ ăn cho con người (bốn mươi năm sau, người ta không thể tin đó là đồ ăn của con người) Điều đó
có thể hiểu được theo chân lý loài người đã nhất trí: Ăn để mà sống Nhưng mà Lão Hạc từ bỏ con Vàng, chấp nhận cuộc sống cô đơn để có được một tương lai đẹp hơn cho con trai Sự hy sinh âm thầm của lão cao cả làm sao Vẻ đẹp tâm hồn bừng lên xua đi vẻ thê lương của hình hài Cái chết của Lão Hạc là sự bừng cháy tất yếu của tình yêu vô bờ bến với sự khắc nghiệt cuộc đời đói nghèo ”Cũng đề bài trên, có học sinh lại nghiêng về phân tích sự bất hạnh cuộc đời Lão Hạc, từ đó nghĩ về thân phận những người nông dân trước Cách mạng Tháng Tám
Cảm thụ tác phẩm văn học mang đậm màu sắc chủ quan ở người đọc sáng tạo Bài làm của các em có hay được hay không, phải là sự suy ngẫm trước hiện thực cuộc sống và giá trị đạo đức thẩm mĩ của học sinh Tất cả điều đó chỉ có được khi các em có vốn kiến thức văn học dồi dào, vững chắc Chất văn của bài làm được biểu hiện nhuần nhuyễn khi học sinh nắm vững đặc trưng văn học là phản ánh bằng hình tượng
Học sinh đại trà, bên cạnh ưu điểm trên còn bộc lộ một số hạn chế về kiến thức tác phẩm văn học Học sinh thuộc nhanh những bài thơ trữ tình, đặc biệt thơ văn văn học lãng mạn Học sinh hay quên những dấu hiệu thể hiện dụng ý nghệ thuật của tác giả: Câu hỏi tu từ, câu thơ vắt dòng, ngắt giữa dòng thơ, khổ
Trang 13thơ Đối với văn học trung đại nói chung và thơ văn chữ Hán nói riêng, học sinh
ít thuộc phần chữ Hán, chỉ thuộc thơ dịch Khi phân tích cảm thụ học sinh còn lúng túng trong việc khai thác cảm xúc nhân vật trữ tình được thể hiện qua tác phẩm Cảm xúc của tác giả rất tinh tế, sâu sắc khó nắm bắt Nó thể hiện qua ngôn ngữ, nhạc điệu thơ Lời thơ trữ tình là sự kết tụ của chất thơ, kết tụ của mối quan hệ thơ với đời sống được tích luỹ lâu đời Sự hiểu biết loại thể, ngôn từ, nhịp điệu, phép tu từ chưa đủ để giúp học sinh cảm thụ hết điền tác giả gửi gắm trong tác phẩm Vốn sống, vốn hiểu biết nhiều mặt góp phần giúp học sinh lĩnh hội, thưởng thức tác phẩm
B-3 Ở trường trung học cơ sở học sinh bước đầu được hình thành một số khái niệm về lý luận văn học.
Có thể nói ngay, đây là điểm yếu của học sinh trung học cơ sở Trong chương trình, học sinh không được cung cấp lý luận văn học Một số giáo viên
có năng lực khi dạy đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” trích tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố đã tìm cách cung cấp cho học sinh kiến thức về hoàn cảnh điển hình, nhân vật điển hình
B-4 Vốn kiến thức ngôn ngữ của học sinh lớp 8, lớp 9 khá phong phú và kỹ năng viết được hình thành.
Nghị luận văn học là mảng học sinh thể hiện được điểm mạnh về việc sử dụng vốn từ Đa số các em biết diễn đạt bằng ngôn ngữ phổ thông theo phong cách khoa học Có được điều đó là nhờ quá trình trau dồi, rèn luyện Học sinh thể hiện ngôn từ gợi tả, chính xác và sinh động
Một em học sinh đã viết trong bài phân tích bài thơ "Bếp lửa" của bằng
Việt: "Chỉ là một tiếng gà mái nhảy ổ cục tác trong nắng trưa, chỉ là một bếp lửa chờn vờn trong sương sớm, mà có biết bao nghĩa tình, mà sao tha thiết,
lắng sâu đến thế! Thì ra, có khi những điều nhỏ nhoi, giản dị nhất lại ẩn chứa tâm tình, chắt đọng những điều thiêng liêng, là hiện hình của những tình cảm
thiết tha, chân thành, không thể nào quên Tiếng gà trưa đánh thức trong
Xuân Quỳnh những kỉ niệm về một thời ấu thơ sống trong tình thương yêu
của bà Còn với Bằng Việt, trong bài thơ Bếp lửa (1963), như chính nhan đề của nó (cũng như nhan đề của bài thơ của Xuân Quỳnh: Tiếng gà trưa), "Bếp
lửa" đã trở thành một hình ảnh biểu trưng cho sự ấm áp, nồng đượm của tình
bà cháu "Bếp lửa" khơi gợi, làm nhen lên, lan toả, cháy mãi dòng hồi ức tuổi
ấu thơ, thao thức, đượm buồn
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.
Bài thơ đã bắt đầu như thế Bắt đầu bằng hình ảnh bếp lửa "chập chờn trong sương sớm, chập chờn trong kí ức Hơi ấm của bếp lửa bắt đầu truyền thấm, bắt đầu nhen nhóm, khơi nguồn cho mạch cảm xúc thương yêu của cháu khi nhớ về
bà Hình ảnh "Một bếp lửa" điệp lại hai lần như nhắc nhớ, như hơi thổi vào bếp
lửa đang "ấp iu", để nhịp hồi tưởng bắt đầu
Tuy nhiên học sinh có những hạn chế nhất định về sử dụng ngôn từ Phổ biến