1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vốn lưu động và các giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn lưu động của công ty cơ điện đo lường tự động hóa DKNEC

93 351 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG, SỰ CẦN THIẾT VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1.NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐ

Trang 1

CHƯƠNG I:

LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG, SỰ CẦN THIẾT VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ

TRƯỜNG

1.1.NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ NGUỒN VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

1.1.1.Khái niệm, đặc điểm vốn lưu động

 Khái niệm vốn lưu động:

Để tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh ngoài sức lao động, tư liệu lao động doanh nghiệp cần có đối tượng lao động như nguyên liệu, vật liệu, bán thành phẩm… Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch một lần vào giá trị sản phẩm sản xuất ra

Những đối tượng lao động nói trên, nếu xét về hình thái hiện vật được gọi là các tài sản lưu động, còn về hình thái giá trị được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp Hay nói cách khác vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm vận động của vốn lưu động luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lưu động Tài sản lưu động của doanh nghiệp gồm 2 bộ phận: tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông

- Tài sản lưu động sản xuất bao gồm các tài sản ở khâu dự trữ sản xuất như nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu… và các tài sản ở khâu sản xuất như sản phẩm dở dang đang chế tạo, bán thành phẩm, chi phí trả trước

- Tài sản lưu động lưu thông của doanh nghiệp bao gồm các sản phẩm thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước…

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

1

Trang 2

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn vận động, thay thế và chuyển hoá lẫn nhau đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục.

Để hình thành nên các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải

bỏ ra một số vốn đầu tư nhất định Số vốn này được gọi là vốn lưu động Vì vậy “VLĐ của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên các TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục VLĐ luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần

và được thu hồi toàn bộ, hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh”

Đối với doanh nghiệp sản xuất: sự vận động của VLĐ trải qua 3 giai

+ Giai đoạn tiêu thụ: vốn lưu động từ hình thái sản phẩm hàng hoá chuyển sang hình thành vốn bằng tiền

Đối với doanh nghiệp thương mại: sự vận động của vốn lưu động qua

Trang 3

+ Giai đoạn mua: vốn từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái vốn hàng hoá dự trữ.

+ Giai đoạn bán: vốn lưu động từ hình thái hàng hoá dự trữ chuyển sang vốn bằng tiền

 Đặc điểm vốn lưu động:

- VLĐ trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện

- VLĐ chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kỳ kinh doanh

- VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh

Từ khái niệm và đặc điểm của vốn lưu động ta có nội dung quản lý đối với vốn lưu động như sau:

- Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần vào giá trị sản phẩm và được hoàn lại toàn bộ sau khi doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, cung ứng dịch vụ, thu tiền bán hàng về Do vậy nhiệm vụ công tác quản lý của vốn lưu động là phải thu hồi lại lượng vốn lưu động đó Ngay khi

có tiền bán hàng thu về ở cuối kỳ phải trích ngay một lượng vốn để tái lập vốn lưu động ban đầu đảm bảo sức mua, đảm bảo cho chu kỳ sản xuất tiếp theo

- Do vốn lưu động tuần hoàn liên tục và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất Nên trong quản lý vốn lưu động phải tổ chức đảm bảo vốn lưu động sao cho vốn lưu động tồn tại ở tất cả các hình thái một cách hợp lý, đảm bảo sự đồng bộ và cân đối tạo điều kiện cho vốn lưu động chu chuyển nhịp nhàng

- Đảm bảo cơ cấu vốn lưu động hợp lý

Không những quản lý về công tác tổ chức đảm bảo vốn lưu động mà còn đi sâu quản lý trọng điểm vốn lưu động, doanh nghiệp phải phân bố lượng vốn cho từng thành phần vốn lưu động một cách hợp lý, xác định thành phần nào là thành phần vốn chủ yếu của vốn lưu động phù hợp với tính chất

và đặc điểm kinh doanh của ngành và phù hợp với điều kiện của mình để đưa

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

3

Trang 4

ra biện pháp quản lý phù hợp cho mỗi thành phần đó nhằm nâng cao tốc độ chu chuyển vốn lưu động.

- Đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Công tác quản lý vốn lưu động có ảnh hưởng trực tiếp tới một số hệ số khả năng thanh toán của doanh nghiệp Hệ số khả năng thanh toán thể hiện

“sức khoẻ” tài chính của một doanh nghiệp, một doanh nghiệp đảm bảo được khả năng thanh toán luôn tạo được sự tin tưởng nơi bạn hàng và các chủ nợ,

uy tín của doanh nghiệp vì thế mà được nâng cao Do vậy, một nguyên tắc quan trọng trong công tác quản lý vốn lưu động là phải đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp

- Đảm bảo nhu cầu vốn lưu động cho sản xuất và sử dụng vốn lưu động

có hiệu quả

Mỗi một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cần phải có một lượng vốn lưu động thường xuyên ứng với quy mô mà doanh nghiệp hoạt động Lượng vốn này thể hiện nhu cầu vốn lưu động thường xuyên mà doanh nghiệp cần phải có để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục Do vậy doanh nghiệp cần phải dựa trên quy mô sản xuất kinh doanh của mình để xác định chính xác nhu cầu vốn lưu động đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị thừa, không thiếu vốn lưu động Mặt khác trong quá trình sử dụng vốn lưu động phải đạt được hiệu quả, hoàn thành nhiệm vụ sản xuất

- Sử dụng vốn lưu động phải kết hợp với sự vận động của vật tư hàng hoá

Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của vật tư hàng hoá Sự luân chuyển vốn lưu động và sự vận động của vật tư hàng hoá kết hợp chặt chẽ với nhau, vì vậy sử dụng vốn lưu động phải kết hợp với sự vận động của vật tư hàng hoá

- Doanh nghiệp tự cấp phát và bảo toàn vốn lưu động

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

4

Trang 5

Kể từ khi bước sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp tự đề ra

kế hoạch sản xuất kinh doanh và tự chủ về vốn Để quán triệt nguyên tắc này doanh nghiệp phải chủ động khai thác và sử dụng các nguồn vốn tự có, ngoài

ra còn huy động thêm các nguồn vốn bằng các hình thức linh hoạt và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn

1.1.2.Phân loại vốn lưu động:

Để quản lý và sử dụng có hiệu quả VLĐ cần phân loại VLĐ của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau Thông thường có các tiêu thức phân loại sau:

* Dựa vào hình thái biểu hiện và khả năng hoán tệ của vốn thì VLĐ được chia làm 2 loại:

- Vốn bằng tiền và các khoản phải thu:

+ Vốn bằng tiền gồm: tiền mặt tại quĩ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển

+ Các khoản phải thu: chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng, các khoản trả trước cho người bán, các khoản phải thu khác…

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

5

Trang 6

* Dựa theo vai trò của VLĐ đối với quá trình sản xuất kinh doanh, VLĐ được chia thành các loại chủ yếu sau:

- VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất: bao gồm vốn nguyên vật liệu chính, vốn vật liệu phụ, vốn nhiên liệu, vốn phụ tùng thay thế, vốn vật đóng gói, vốn công cụ dụng cụ nhỏ

- VLĐ trong khâu trực tiếp sản xuất gồm các khoản: vốn sản phẩm đang chế tạo, vốn về chi phí trả trước

- VLĐ trong khâu lưu thông gồm các khoản: vốn thành phẩm, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán, các khoản vốn đầu tư ngắn hạn về chứng khoán, cho vay ngắn hạn…

 Cách phân loại này cho phép biết được kết cấu vốn lưu động theo vai trò Từ đó, giúp cho việc đánh giá tình hình phân bổ VLĐ trong các khâu của quá trình luân chuyển vốn, thấy được vai trò của từng thành phần vốn đối với quá trình kinh doanh Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp tổ chức quản lý thích hợp nhằm tạo ra một kết cấu VLĐ hợp lý, tăng được tốc độ luân chuyển VLĐ

Trên đây là hai cách phân loại VLĐ chủ yếu Mỗi cách phân loại đáp ứng những yêu cầu nhất định của công tác quản lý

1.1.3.Tổ chức đảm bảo nhu cầu vốn lưu động

1.1.3.1.Nhu cầu vốn lưu động và phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động

1.1.3.1.1.Chu kỳ kinh doanh và nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

* Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp:

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên hàng ngày bắt đầu từ việc mua sắm, dự trữ vật tư cần thiết đến sản xuất tạo ra sản phẩm, bán sản phẩm, cung ứng dịch vụ và thu được tiền bán hàng về

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

6

Trang 7

Chu kỳ kinh doanh của một doanh nghiệp là khoảng thời gian trung bình cần thiết để thực hiện việc mua sắm, dự trữ vật tư, sản xuất ra sản phẩm

và bán được sản phẩm, thu được tiền bán hàng.Thông thường, người ta chia chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp thành 3 giai đoạn sau:

• Giai đoạn mua sắm và dự trữ vật tư

Ở giai đoạn này, hoạt động của doanh nghiệp là tạo lập nên một lượng vật tư dự trữ Trường hợp doanh nghiệp phải trả tiền ngay sẽ phát sinh luồng tiền ra khỏi doanh nghiệp gắn liền và ngược chiều với luồng vật tư đi vào doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường khi tín dụng thương mại phát triển, các doanh nghiệp thường mua trước, trả sau Như vậy nhà cung ứng vật

tư đã cung cấp cho doanh nghiệp một khoản tín dụng thương mại để tài trợ nhu cầu VLĐ

• Giai đoạn sản xuất

Trong giai đoạn này vật tư được xuất dần ra để sử dụng và chuyển hóa sang hình thái sản phẩm dở dang và thành phẩm Để thực hiện quá trình sản xuất, doanh nghiệp phải ứng ra một số VLĐ nhất định

• Giai đoạn bán sản phẩm và thu tiền bán hàng

Sau khi thành phẩm hàng hóa đã nhập kho, doanh nghiệp thực hiện việc bán hàng Nếu doanh nghiệp bán và thu tiền ngay thì liền sau khi xuất giao hàng, doanh nghiệp nhận được tiền bán hàng và số vốn doanh nghiệp ứng ra đã được thu hồi Vốn này tiếp tục được sử dụng vào chu kỳ kinh doanh tiếp theo Nếu doanh nghiệp bán chịu cho khách hàng thì sản phẩm, hàng hóa đã được xuất giao nhưng sau một thời gian nhất định doanh nghiệp mới thu được tiền,

từ đó hình thành khoản nợ phải thu từ khách hàng Điều đó, được xem như doanh nghiệp đã cung cấp một khoản vốn cho người mua Chỉ khi nào doanh nghiệp thu được tiền mới thu được số vốn ứng ra

* Nhu cầu vốn lưu động:

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

7

Trang 8

Khái niệm nhu cầu VLĐ: là số tiền cần thiết doanh nghiệp trực tiếp ứng

ra để hình thành một lượng dự trữ hàng tồn kho và khoản cho khách hàng nợ sau khi đã sử dụng khoản tín dụng của nhà cung cấp, có thể xác định theo công thức sau:

+

Khoản phải thu

từ khách hàng

-Khoản phải trả nhà cung cấp và các khoản phải trả khác

+ Nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết được xác định đúng đắn và hợp

lý là cơ sở để tổ chức tốt các nguồn tài trợ

+ Đáp ứng kịp thời đầy đủ VLĐ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành bình thường và liên tục

 Nếu nhu cầu VLĐ xác định quá thấp sẽ gây nhiều khó khăn cho công tác tổ chức đảm bảo vốn, gây căng thẳng giả tạo về vốn, làm gián đoạn quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp gây nên những thiệt hại do ngừng sản xuất, không có khả năng thanh toán và thực hiện các hợp đồng

 Ngược lại, nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu VLĐ quá cao sẽ dẫn đến tình trạng thừa vốn gây ứ đọng vật tư, hàng hoá, sử dụng vốn lãng phí, vốn chậm luân chuyển và phát sinh nhiều chi phí không hợp lý làm giá thành sản phẩm tăng, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

8

Trang 9

1.1.3.1.2.Các phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

Để xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết của doanh nghiệp hiện nay có 2 phương pháp chủ yếu: Phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp

* Phương pháp trực tiếp

- Nội dung cơ bản của phương pháp này là căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến lượng vốn lưu động doanh nghiệp phải ứng ra để xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên

+ Xác định các khoản nợ phải trả cho nhà cung cấp

+ Tổng hợp xác định nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp

 Xác định nhu cầu VLĐ dự trữ hàng tồn kho cần thiết

Nhu cầu

dự trữ HTK =

Nhu cầu

dự trữ NVL (HH)

+

Nhu cầu vốnSPDD

+

Nhu cầu vốnTP

 Dự kiến khoản phải thu

Công thức xác định:

Npt = Kpt × Dn

Npt: nợ phải thu dự kiến kỳ kế hoạch

Kpt: thời hạn trung bình cho khách hàng nợ

Dn: doanh thu bán hàng bình quân một ngày trong kỳ kế hoạch

 Dự kiến khoản phải trả

Công thức xác định:

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

9

Trang 10

Giá trị nguyên vật liệu hoặc hàng hoá mua vào bình quân một ngày trong kỳ kế hoạch (loại mua chịu)  Xác định nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp

+

Khoản phải thu

từ khách hàng

-Khoản phải trả nhà cung cấp và các khoản

nợ phải trả khác có tính chu kỳ

Sau khi xác định được nhu cầu VLĐ (Vnc), có thể xác định tỷ lệ nhu cầu VLĐ trên doanh thu thuần (DTT) bằng công thức sau:

Tỷ lệ nhu cầu VLĐ so với DTT = Vnc

DTT

Tỷ lệ này được coi như tỷ lệ chuẩn sử dụng để xác định Vnc ở các năm tiếp theo

 Nhu cầu VLĐ xác định theo phương pháp này tương đối sát và phù hợp với các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay Tuy vậy, nó có hạn chế việc tính toán phức tạp, khối lượng tính toán nhiều và mất nhiều thời gian

* Phương pháp gián tiếp

Phương pháp này dựa vào thống kê kinh nghiệm để xác định nhu cầu vốn huy động Có thể chia làm 2 trường hợp:

- Trường hợp thứ nhất: Là dựa vào kinh nghiệm thực tế của các doanh

nghiệp cùng loại trong ngành để xác định nhu cầu vốn cho doanh nghiệp mình (Trong trường hợp thành lập doanh nghiệp mới)

Việc xác định nhu cầu vốn theo cách này là dựa vào hệ số vốn lưu động tính theo doanh thu được rút từ thực tế hoạt động của các doanh nghiệp cùng

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

10

Trang 11

loại trong ngành Trên cơ sở đó, xem xét quy mô kinh doanh dự kiến theo doanh thu của doanh nghiệp mình để tính ra nhu cầu vốn lưu động cần thiết.

Phương pháp này tương đối đơn giản, tuy nhiên mức độ chính xác bị hạn chế Nó thích hợp với việc xác định nhu cầu vốn lưu động khi thành lập doanh nghiệp với quy mô nhỏ

- Trường hợp thứ hai: dựa vào tình hình thực tế sử dụng vốn lưu động ở

thời kỳ vừa qua của doanh nghiệp để xác định nhu cầu chuẩn về vốn lưu động cho các thời kỳ tiếp theo

Nội dung chủ yếu của phương pháp này là dựa vào mối quan hệ giữa các yếu tố hợp thành nhu cầu vốn lưu động gồm: hàng tồn kho, nợ phải thu từ khách hàng và nợ phải trả nhà cung cấp (số nợ phải trả phát sinh có tính chất

tự động và có tính chất chu kỳ) với doanh thu thuần của kỳ vừa qua để xác định tỷ lệ chuẩn nhu cầu vốn lưu động tính theo doanh thu và sử dụng tỷ lệ này để xác định nhu cầu vốn lưu động cho các kỳ tiếp theo

Phương pháp này thực hiện theo trình tự sau:

+ Xác định số dư bình quân các khoản hợp thành nhu cầu vốn lưu động trong năm báo cáo Khi xác định số dư bình quân các khoản phải phân tích tình hình để loại trừ số liệu không hợp lý

+ Xác định tỷ lệ các khoản trên so với doanh thu thuần trong năm báo cáo Trên cơ sở đó xác định tỷ lệ nhu cầu vốn lưu động so với doanh thu thuần.+ Xác định nhu cầu vốn lưu động cho kỳ kế hoạch

1.1.3.2.Nguồn tài trợ vốn lưu động

Nguồn tài trợ cho nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp gồm có nguồn VLĐ thuờng xuyên và nguồn VLĐ tạm thời

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

11

Trang 12

- Nguồn VLĐ thường xuyên là nguồn vốn ổn định có tính chất dài hạn

để hình thành hay tài trợ cho tài sản lưu động thường xuyên cần thiết trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

+ Nguồn VLĐ thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm có thể xác định theo công thức sau:

Hoặc có thể xác định bằng công thức sau:

Nguồn VLĐ thường xuyên = TSLĐ - Nợ ngắn hạn

- Nguồn vốn tạm thời: là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm) doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các yêu cầu có tính chất tạm thời phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

+ Nguồn vốn tạm thời thường bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng và các

tổ chức tín dụng, các nợ ngắn hạn khác

* Có 3 mô hình chủ yếu để tài trợ cho VLĐ

+ Mô hình 1: Toàn bộ TSCĐ và TSLĐ thường xuyên được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, toàn bộ TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời

Doanh nghiệp sử dụng mô hình này có lợi ích là hạn chế được rủi ro trong thanh toán, mức độ an toàn cao hơn, giảm bớt được chi phí trong việc

sử dụng vốn

Tuy nhiên nó cũng có hạn chế là chưa tạo ra sự linh hoạt trong việc tổ chức sử dụng vốn, thường vốn nào nguồn ấy, tính chắc chắn được đảm bảo hơn, song kém linh hoạt hơn

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

12

Trang 13

+ Mô hình 2: Toàn bộ TSCĐ, TSLĐ thường xuyên và một phần của TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, và một phần TSLĐ tạm thời còn lại được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời.

Doanh nghiệp sử dụng mô hình này khả năng thanh toán và độ an toàn

ở mức cao, tuy nhiên doanh nghiệp phải sử dụng nhiều khoản vay trung và dài hạn nên chi phí sử dụng vốn cao

+ Mô hình 3: Toàn bộ TSCĐ và một phần TSLĐ thường xuyên được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, còn một phần TSLĐ thường xuyên

và toàn bộ TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời

Khi sử dụng mô hình này, chi phí sử dụng vốn sẽ thấp hơn vì doanh nghiệp sử dụng nhiều hơn nguồn vốn tín dụng ngắn hạn, việc sử dụng vốn sẽ được linh hoạt hơn, nhưng khả năng gặp rủi ro sẽ cao hơn.Trong thực tế đây

là mô hình thường được các doanh nghiệp sử dụng

1.2.SỰ CẦN THIẾT VÀ CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG.

1.2.1.Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động

1.2.1.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp

Đặc trưng cơ bản nhất của vốn lưu động là sự luân chuyển liên tục trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh và chuyển toàn bộ giá trị một lần vào sản phẩm trong chu kỳ kinh doanh Do vậy, khi đánh giá về hiệu quả sử dụng vốn lưu động, người ta chủ yếu đánh giá về tốc độ luân chuyển của nó Tốc

độ luân chuyển vốn lưu động nhanh hay chậm nói lên tình hình tổ chức các mặt như: Công tác mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp hợp lý hay không hợp lý, các khoản vật tư dự trữ sử dụng tốt hay không tốt, các khoản phí tổn trong sản xuất kinh doanh cao hay thấp, tiết kiệm hay không tiết kiệm Ngoài ra, hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn được thể hiện ở khả năng đảm bảo lượng vốn lưu động trong thanh toán sẽ giúp doanh nghiệp

tự chủ hơn trong kinh doanh

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

13

Trang 14

Vì vậy, hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ và năng lực quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp, đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp luôn ở tình trạng tốt và mức chi phí vốn bỏ ra là thấp nhất.

1.2.1.2.Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Phấn đấu nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ là một trong những vấn đề quan trọng của mỗi doanh nghiệp hiện nay Xuất phát từ 3 lý do chủ yếu sau:

* Xuất phát từ vai trò của VLĐ đối với hoạt động sản xuất kinh doanh

- VLĐ là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất VLĐ đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên liên tục Do vậy nếu thiếu VLĐ thì quá trình tái sản xuất

sẽ gặp khó khăn có thể bị gián đoạn, gây ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh

- VLĐ còn là căn cứ phản ánh, đánh giá quá trình vận động của vật tư, hàng hoá trong doanh nghiệp VLĐ nhiều hay ít phản ánh số lượng vật tư, hàng hoá ở các khâu nhiều hay ít VLĐ luân chuyển nhanh hay chậm phản ánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay lãng phí Vì vậy, thông qua tình hình luân chuyển của VLĐ có thể kiểm tra một cách toàn diện việc cung ứng, sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp Sử dụng VLĐ hợp lý cho phép khai thác tối đa năng lực làm việc của các TSCĐ, làm tăng lợi nhuận, góp phần làm tốt công tác bảo toàn và phát triển kinh doanh Vì vậy, việc quản lý, bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ là vấn đề quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp

* Việc nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ trong các doanh nghiệp mang nhiều ý nghĩa

- Đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra thường xuyên, liên tục VLĐ được phân bổ trên khắp các giai đoạn của quá trình tái sản xuất, luân chuyển

và biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau Muốn cho quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục, doanh nghiệp phải có đủ VLĐ đầu tư vào các hình

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

14

Trang 15

thái đó, khiến cho các hình thái đó có được mức tồn tại hợp lý, tối ưu, đồng

bộ với nhau, làm cho việc chuyển hoá hình thái vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi, làm tăng tốc độ luân chuyển VLĐ, góp phần giảm chi phí sản xuất kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường

- Tiết kiệm được VLĐ sử dụng Việc tăng tốc độ luân chuyển VLĐ cho phép rút ngắn thời gian chu chuyển của vốn, qua đó vốn được thu hồi nhanh hơn có thể giảm bớt được VLĐ cần thiết mà vẫn hoàn thành được khối lượng sản phẩm hàng hoá bằng hoặc lớn hơn trước

* Xuất phát từ thực tế sử dụng VLĐ trong các doanh nghiệp hiện nayTình trạng phổ biến ở các doanh nghiệp hiện nay là lượng vật tư bị ứ đọng, hàng hoá kém hoặc mất phẩm chất, chậm luân chuyển, công nợ khó đòi, tài sản bị tổn thất, mất mát chiếm tỷ trọng tương đối cao Vì vậy số VLĐ thực tế tham gia vào quá trình sản xuất chiếm tỷ trọng không cao Do đó tình trạng thiếu VLĐ thường xuyên xảy ra và hiệu quả sử dụng vốn cũng không cao đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước, do cơ chế nhà nước cấp phát vốn, nhà nước quản lý và nhà nước xử lý hậu quả nên hiệu quả sử dụng VLĐ lại càng nhiều vấn đề bất cập

1.2.2.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động

* Chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển vốn lưu động:

- Số lần luân chuyển vốn lưu động (số vòng quay vốn): phản ánh số lần luân chuyển vốn lưu động được thực hiện trong một kỳ nhất định thường là 1 năm

Số lần luân chuyển = Tổng mức luân chuyển VLĐ trong kỳ

VLĐ sử dụng bình quân trong kỳHiện nay, tổng mức luân chuyển vốn lưu động được xác định bằng doanh thu thuần bán hàng của doanh nghiệp trong kỳ

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

15

Trang 16

- Kỳ luân chuyển vốn lưu động (số ngày của một vòng quay vốn): phản ánh số ngày bình quân cần thiết để vốn lưu động thực hiện một lần luân chuyển hay độ dài thời gian một vòng quay của vốn lưu động ở trong kỳ Kỳ luân chuyển vốn lưu động được xác định:

Kỳ luân chuyển vốn lưu động

= Số ngày trong kỳ

Số lần luân chuyển VLĐHoặc:

Kỳ luân chuyển

vốn lưu động

= VLĐ bình quân trong kỳ x Số ngày trong kỳ

Tổng mức luân chuyển VLĐ trong kỳ(Trong đó số ngày trong kỳ thường được tính chẵn một năm là 360 ngày, một quý là 90 ngày, một tháng là 30 ngày)

Kỳ luân chuyển vốn lưu động tỷ lệ nghịch với số lần luân chuyển của vốn lưu động Nếu doanh nghiệp phấn đấu rút ngắn kỳ luân chuyển thì sẽ tăng

số vòng quay vốn lưu động

* Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển vốn:

Chỉ tiêu này phản ánh số vốn lưu động có thể tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động ở kỳ so sánh (kỳ kế hoạch) so với kỳ gốc (kỳ báo cáo)

) (

360 )

( M1 K1 K0

V TK ± = × − hoặc

0

1 1

1 ) (

L

M L

M1: tổng mức luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh, kỳ gốc

K1,K0: kỳ luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh, kỳ gốc

L1, L0: số lần luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh, kỳ gốc

* Hàm lượng vốn lưu động (mức đảm nhiệm vốn lưu động):

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

16

Trang 17

Hàm lượng vốn lưu động

=

VLĐ bình quân trong kỳ Doanh thu thuần trong kỳChỉ tiêu này phản ánh số vốn lưu động cần có để đạt một đồng doanh thu thuần về tiêu thụ sản phẩm Chỉ tiêu này càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược lại

* Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động:

Tỷ suất lợi nhuận VLĐ = Lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế

VLĐ bình quân trong kỳChỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động trong kỳ tham gia tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế Mức doanh lợi càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn càng lớn

* Một số chỉ tiêu khác

- Hệ số khả năng thanh toán

Hệ số khả năng thanh toán hiện thời

Nợ ngắn hạnChỉ tiêu này đo lường khả năng thanh toán tạm thời nợ ngắn hạn (những khoản nợ có thời hạn dưới 1 năm ) bằng các tài sản có thể chuyển đổi trong thời gian ngắn ( thường dưới 1 năm)

Hệ số khả năng = Tổng TSNH – Hàng tồn kho

Nợ ngắn hạn

Hệ số này cho phép đánh giá khả năng trả nợ ngay các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ không dựa vào việc phải bán các loại vật tư, hàng hoá

Trang 18

Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng

số tiền hiện có và tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền trong doanh nghiệp

- Hệ số hiệu suất hoạt động

=

Giá vốn hàng bán Hàng tồn kho bình quânChỉ tiêu này cho biết số lần mà hàng hoá tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ Số vòng quay càng cao thì hàng hoá tồn kho luân chuyển càng nhanh, việc kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt

1.2.3.Các nhân tố ảnh hưởng và các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp

1.2.3.1.Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp chịu sự tác động của nhiều nhân tố làm tăng hoặc giảm hiệu quả sử dụng VLĐ

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

18

Trang 19

* Nhóm nhân tố khách quan:

- Sự ổn định nền kinh tế:

Nền kinh tế của đất nước phát triển ở những mức độ khác nhau sẽ tác động đến tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp Một nền kinh tế phát triển ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh Còn nếu nền kinh tế có lạm phát thì doanh nghiệp không kịp điều chỉnh giá vật tư hàng hoá dẫn đến VLĐ cũng bị mất theo, nếu nền kinh tế lại rơi vào tình trạng suy thoái thì khả năng thu hồi VLĐ cũng khó

- Rủi ro: Hoạt đồng kinh doanh trong nền kinh tế thị trường có nhiều

thành phần tham gia, cùng cạnh tranh gay gắt Những sản phẩm của doanh nghiệp không có vị thế trên thị trường thì dễ gặp rủi ro về khả năng tiêu thụ Mặt khác doanh nghiệp còn có thể gặp phải những rủi ro thiên tai như: hoả hoạn, lũ lụt, động đất, dịch tễ…không lường trước được

- Các chính sách vĩ mô của Nhà nước: Khi nhà nước có sự thay đổi

chính sách về hệ thống pháp luật, thuế khóa…cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến điều kiện hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Một chính sách phù hợp sẽ góp phần thúc đẩy doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn

- Tác động của cuộc khoa học cách mạng khoa học kĩ thuật liên tục có

sự thay đồi về cả chất lượng, mẫu mã với giá cả rẻ hơn Tình trạng giảm giá vật tư hàng hoá gây nên tình trạng mất vốn lưu động tại doanh nghiệp Chính

vì vậy, doanh nghiệp phải liên tục ứng dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật mới nhất đưa vào sản xuất kinh doanh nhằm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, tránh tình trạng ứ đọng

* Nhóm nhân tố chủ quan:

- Do xác định nhu cầu vốn lưu động: Do bản thân doanh nghiệp xác

định nhu cầu vốn lưu động còn thiếu chính xác dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu vốn lưu động trong sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng không tốt

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

19

Trang 20

tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng vốn lưu động.

- Việc lựa chọn phương án đầu tư: Là một nhân tố cơ bản ảnh

hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp Nếu phương án của doanh nghiệp khả thi, sản phẩm sản xuất phù hợp với nhu cầu của thị trường, giá cả hợp lý, chất lượng tốt thì sản phẩm của doanh nghiệp sẽ được tiêu thụ nhiều, nhanh làm tăng vòng quay của vốn, tăng hiệu quả sử dụng vốn Và ngược lại nếu phương án đầu tư không hợp lý, thì sản phẩm làm ra sẽ không tiêu thụ được vốn lưu động sẽ bị ứ đọng, hiệu quả sử dụng vốn lưu động thấp

- Do công tác quản lý: Vốn lưu động của doanh nghiệp trong cùng

một lúc được phân bổ trên các giai đoạn luân chuyển, từ khi mua sắm vật tư

dự trữ, đến giai đoạn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Do vậy, nếu công tác quản lý không chặt chẽ dẫn thất thoát vốn lưu động và đương nhiên ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Ngoài các nguyên nhân chủ yếu trên còn có các nguyên nhân khác làm ảnh hưởng đến công tác tổ chức và sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp

Để hạn chế các nhân tố ảnh hưởng trước khi đi đến quyết định đúng đắn, ta có thể đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác tổ chức, quản lý và sử dụng vốn lưu động có hiệu quả

1.2.3.2.Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp

Để bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động doanh nghiệp cần căn cứ vào điều kiện tình hình kinh doanh cụ thể để đề ra các biện pháp thích ứng quản lý từng thành phần vốn lưu động Tuy nhiên, để quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp có một số biện pháp chủ yếu sau:

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

20

Trang 21

*Thứ nhất: Xác định đúng nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần

thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó đưa ra kế hoạch tổ chức huy động vốn sao cho chi phí thấp nhất, phân bổ nhu cầu vốn lưu động cho từng khâu đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp

-Dựa vào tình hình thực tế của doanh nghiệp mình, các doanh nghiệp nên lựa chọn phương pháp xác định đúng đắn nhu cầu VLĐ sao cho xác đáng.Việc xác định đúng đắn nhu cầu VLĐ cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh giúp doanh nghiệp đưa ra kế hoạch tổ chức huy động vốn nhằm hạn chế tình trạng thiếu vốn gây gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc phải đi vay ngoài kế hoạch với lãi suất cao, làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, đồng thời cũng tránh được tình trạng ứ đọng vốn không phát huy được hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp

Để xác định nhu cầu vốn lưu động, các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp cần phải căn cứ vào các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động

để từ đó có quyết định lựa chọn phương pháp cụ thể và phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp mình

- Khai thác triệt để nguồn vốn bên trong doanh nghiệp, đồng thời tính toán lựa chọn huy động các nguồn vốn bên ngoài với mức độ hợp lýcủa từng nguồn nhằm giảm mức thấp nhất chi phí sử dụng vốn mà vẫn đảm bảo được hiệu quả sử dụng vốn

* Thứ hai, quản lý tốt quá trình sử dụng vốn lưu động.

Quản trị vốn bằng tiền: quản lý tốt quá trình sử dụng vốn bằng tiền

bằng việc xác định mức tồn quỹ hợp lý và dự đoán, quản lý các luồng nhập, xuất ngân quỹ Động lực dự trữ tiền mặt cho các hoạt động là để doanh nghiệp có thể mua sắm vật tư, hàng hoá, thanh toán các chi phí cần thiết cho hoạt động bình thường của doanh nghiệp, đặc biệt còn là để tối ưu hoá tiền mặt tại quỹ, giảm tối đa các rủi ro về lãi suất và sự biến động tỷ giá cũng

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

21

Trang 22

như tối ưu hoá việc đi vay ngắn hạn của doanh nghiệp Để quản trị vốn tiền mặt trước hết cần phải xác định mức tồn quỹ tiền mặt hợp lý.

Làm tốt công việc này giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc tổ chức quản lý vốn bằng tiền, đặc biệt là trong vấn đề cân bằng thu chi tiền mặt của doanh nghiệp Mức dự trữ tiền mặt hợp lý là một trong những căn cứ giúp người quản lý có thể xem xét, dự đoán tình hình vốn bằng tiền trong thời kỳ sắp tới để đề ra biện pháp thích hợp

Trên cơ sở xác định mức tiền mặt tồn quỹ cần dự đoán luồng tiền nhập, xuất quỹ từ đó so sánh dòng tiền thu và chi đối chiếu với số dư tiền mặt thích hợp nhằm cân bằng thu chi Nếu thu lớn hơn chi thì đối chiếu với số dư tiền mặt ở mức cần thiết để có hướng sử dụng vốn tiền mặt tạm thời dư thừa nhằm tăng khả năng sinh lời cho doanh nghiệp

Trong công tác quản lý tiền mặt cần đặc biệt chú ý:

+ Phải xem xét yếu tố về giao dịch kinh doanh, đòi hỏi doanh nghiệp phải có lượng tiền nhất định để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh hàng ngày

+ Đòi hỏi cần phải có một lượng tiền mặt dự phòng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu bất thường nảy sinh ngoài dự đoán

+ Cần phải xem xét mức dự trữ tiền mặt của kỳ trước đó để đánh giá mặt hợp lý, bất hợp lý để làm cơ sở tìm ra một mức phù hợp nhất về nhu cầu tiền mặt dự trữ

Quản trị khoản phải thu: Để quản lý tốt khoản phải thu doanh nghiệp nên

chú trọng tới các biện pháp sau:

+ Phân tích khách hàng, xác định đối tượng bán chịu: Cần đánh giá khả năng trả nợ, uy tín của khách hàng từ đó quyết định hình thức hợp đồng bán chịu cho hợp lý

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

22

Trang 23

+ Phải mở sổ theo dõi chi tiết các khoản nợ phải thu trong và ngoài doanh nghiệp và thường xuyên đôn đốc các khoản nợ đúng hạn.

+ Phân loại các khoản nợ cho khách hàng, thoả ước xử lý nợ, hoặc yêu cầu toà án kinh tế giải quyết theo thủ tục phá sản doanh nghiệp

Quản trị tốt hàng tồn kho: Doanh nghiệp nên chú trọng tới các biện pháp

+ Thường xuyên kiểm tra, nắm vững tình hình dự trữ, phát hiện kịp thời tình trạng vật tư bị ứ đọng, không phù hợp để có biện pháp giải phóng số vật tư đó

Tổ chức tốt quá trình tiêu thụ sản phẩm: Tiêu thụ sản phẩm nhanh sẽ

tạo điều kiện cho Doanh nghiệp tăng doanh thu, giảm bớt chi phí hàng tồn kho, là cơ sở để tăng lợi nhuận, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Muốn vậy doanh nghiệp cần nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí,hạ giá thành sản phẩm, tích cực nghiên cứu tìm hiểu thị trường, tăng cường công tác quảng cáo…và có những chính sách tín dụng thương mại hợp lý nhằm tăng khối lượng tiêu thụ sản phẩm

*Thứ ba, đầu tư công nghệ kỹ thuật hiện đại vào sản xuất:

Việc đưa kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào sản xuất có ý nghĩa đặc biệt cho việc thúc đẩy tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động, vì nhờ đó mà rút ngắn được thời gian sản xuất Tuy nhiên, khi quyết định đầu tư vào tài sản cố định thì cần lưu ý đến tính hiệu quả, sự phù hợp về nguồn vốn, khả năng khai thác sản xuất và nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trên thị trường

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

23

Trang 24

* Thứ tư, tăng cường phát huy vai trò của tài chính trong việc quản lý và

sử dụng vốn lưu động.

Vai trò tài chính của doanh nghiệp trước hết thể hiện ở việc huy động

và đảm bảo đầy đủ kịp thời vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các nhà quản lý tài chính phải xác định được nhu cầu vốn lưu động cần thiết cho hoạt động trong từng thời kỳ, trong tất cả các khâu từ dự trữ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, từ đó lựa chọn hình thức huy động phù hợp mang lại hiệu quả Doanh nghiệp nên khai thác tối đa nguồn vốn bên trong như: khấu hao TSCĐ, lợi nhuận để lại, các khoản thanh lý, nhượng bán…

Phát huy tích cực vai trò giám sát, kiểm tra thường xuyên các mặt hoạt động kinh doanh thông qua các chỉ tiêu tài chính hình thành trong quá trình sử dụng vốn để kiểm tra, kiểm soát

* Thứ năm, Chủ động phòng ngừa rủi ro

Trong quá trình sản xuất kinh doanh mọi rủi ro có thể xảy ra Vì vậy doanh nghiệp cần có biện pháp phòng ngừa rủi ro như: Đóng bảo hiểm, lập quỹ

dự phòng tài chính, quỹ dự phòng nợ phải thu khó đòi, quỹ dự phòng giảm giá hàng tồn kho

Định kỳ tiến hành kiểm kê, kiểm soát đánh giá toàn bộ vật tư hàng hoá, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán Từ đó xác định được số vốn lưu động hiện có của doanh nghiệp theo giá trị hiện tại, trên cơ sở đó điều chỉnh hợp lý phần chênh lệch

Ngoài ra doanh nghiệp phải dự trù một số tiền đảm bảo bù đắp số vốn lưu động bị hao hụt trong điều kiện lạm phát, như vậy sẽ đảm bảo được giá trị hiện tại của đồng vốn…

Tóm lại, vấn đề quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói

chung và của vốn lưu động nói riêng là hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

24

Trang 25

phát triển của doanh nghiệp Nó ảnh hưởng đến sự an toàn về mặt tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

25

Trang 26

CHƯƠNG II:

TÌNH HÌNH TỔ CHỨC VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG Ở CÔNG TY CƠ – ĐIỆN – ĐO LƯỜNG – TỰ ĐỘNG

HOÁ DKNEC

2.1.NHỮNG NÉT KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CƠ – ĐIỆN – ĐO LƯỜNG – TỰ ĐỘNG HOÁ DKNEC.

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty

Tên gọi: Công ty Cơ – Điện – Đo lường – Tự động hóa DKNEC

Tên giao dịch quốc tế: DKNEC Automatic Measurement Electrical Mechanical Company Limited

Tên viết tắt: DKNEC CO., LTD

tự động hóa DKNEC, là một thành viên trong tập đoàn với Công ty Cơ nhiệt Điện lạnh Bách Khoa ( POLYCO )

Trụ sở chính của công ty

Tại thời điểm ban đầu trong giấy phép đăng ký kinh doanh thì trụ sở chính của công ty đóng tại số 8 ngõ Đầm Hồng, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội

Tuy nhiên, do yêu cầu của giao dịch cũng như do sự phát triển ngày càng mạnh của công ty nên giám đốc công ty căn cứ vào nhu cầu thực tế đó

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

26

Trang 27

đã quyết định chuyển trụ sở chính sang số 105 đường Hoàng Văn Thái, Phường Khương Trung, Quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

+ Công ty cổ phần DKNEC Miền Trung

+ Công ty cổ phần DKNEC Hải Phòng

2.1.2 Tình hình tổ chức nhân sự và tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty

2.1.2.1 Ngành nghề kinh doanh chủ yếu

Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh công ty TNHH có hai thành viên trở lên số: 0102000581 ( đăng ký lần đầu ngày 29/05/2000 và theo bổ sung đăng ký kinh doanh lần 5 ngày 18/06/2008) thì doanh nghiệp kinh doanh trên cả 2 lĩnh vực: sản xuất, lắp đặt và thương mại Cụ thể:

- Hệ thống điều hòa trung tâm: Thiết kế, chế tạo, cung cấp và lắp đặt hệ thống điều hòa trung tâm cho các cao ốc, khách sạn, hội trường,…

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

27

Trang 28

 Thiết kế, lắp đặt hệ thống chiếu sang dân dụng, điện tử, tin học,

 Sản xuất, gia công các sản phẩm cơ khí, lắp đặt, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực chế biến thực phẩm,…

 Xây dựng các công trình điện đến 35KV

 Lắp đặt, bảo dưỡng, bảo trì thang máy, các máy móc, thiết bị vật

Trong lĩnh vực thương mại:

• Nhà phân phối chính thức các thiết bị của hãng Danfoss – Đan Mạch và các lĩnh vực:

- Điều khiển: Khởi động mềm, Biến tần, Cảm biến, điều khiển nhiệt độ,

áp suất…

- Điện lạnh: Hệ thống kho lạnh, van, phụ kiện hệ thống lạnh…

- Hệ thống cấp thoát nước: Lưu lượng kế, bơm, van các loại, thiết bị trên đường ống…

- Hệ thống khí nén: máy nén khí, van khí, các thiết bị điều áp, thiết bị

an toàn…

• Nhà phân phối và tích hợp hệ thống các sản phẩm của hãng SIEMENS – Đức

• Nhà phân phối chính thức các thiết bị của hãng Grundfos – Đan Mạch

• Nhà phân phối các thiết bị đóng cắt của hãng Moeller

• Nhà phân phối các thiết bị tự động hóa, đo lương điều khiển, đóng cắt của các hãng: Rockwell, Schneider, Pro-face, Invensys…

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

28

Trang 29

và độ hiện đại hóa cao; điều đó đã được chứng minh qua các công trình do công ty DKNEC đã và đang thực hiện.

Có đội ngũ cố vấn kỹ thuật và cộng tác viên là các nhà khoa học có uy tín của các Viện nghiên cứu, các trường đại học trong nước: ĐHBK Hà Nội, Viện KH&CN Quốc gia,…

Đội ngũ cán bộ kỹ thuật của công ty được các hãng đào tạo nâng cao trình độ thường xuyên với những công nghệ và thiết bị mới nhất: Braumat, PCS7, PLC S7 300-400, Wincc và các công nghệ về Tự động hóa điều khiển DCS thông minh khác

Cơ cấu bộ máy quản lý:

Công ty cơ,điện,đo lường,tự động hóa DKNEC là một công ty có tư cách pháp nhân và tổ chức hạch toán độc lập, công ty chịu hoàn toàn trước pháp luật về các hoạt động của mình trong khuôn khổ nguồn vốn kinh doanh Chính vì vậy, công ty cần tổ chức bộ máy quản lý thích hợp nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ đặt ra Hiện nay, công ty tổ chức bộ máy quản lý theo sơ đồ:

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

29

Trang 30

Sơ đồ cấu tạo tổ chức công ty:

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

TÔNG GIÁM ĐỐCGenneral Director

PHÓ GIÁM ĐỐC

KỸ THUẬT

GĐ NHÀ MÁY CƠ KHÍ TỤ ĐỘNG HÓA DKNEC

PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC KINH DOANH

TRƯỞNG PHÒNG

DỰ ÁN

GIÁM ĐỐC TRUNG TÂM R&D

TRƯỞNG PHÒNG

TC

HÀNH CHÍNH

TRƯỞNG PHÒNG KINH DOANH

TRƯỞNG PHÒNG

KẾ TOÁN

TRƯỞNG PHÒNG CNTT

ĐỘI TRƯỞNG ĐỘI THI CÔNG 3

ĐỘI TRƯỞNG ĐỘI THI CÔNG 4

ĐỘI TRƯỞNG ĐỘI THI CÔNG 5

ĐỘI TRƯỞNG ĐỘI THI CÔNG 6

ĐỘI TRƯỞNG ĐỘI THI CÔNG 7

ĐỘI TRƯỞNG ĐỘI THI CÔNG 8

30

Trang 31

Công ty hoạt động dưới sự quản lý trực tiếp của Giám đốc với chính sách phân quyền cụ thể Theo sơ đồ bộ máy quản lý ở trên, trực thuộc dưới giám đốc

là các phòng: dự án, kế toán, kinh doanh, kỹ thuật và hành chính Các phòng trên đều chịu sự giám sát trực tiếp của Giám đốc nhưng mỗi phòng có nhiệm vụ, chức năng riêng Cụ thể:

- Tổng giám đốc: Là người có quyền cao nhất và cũng đồng thời là người chịu mọi trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty, trực tiếp đưa

ra các quyết định quan trọng cuối cùng của công ty như về mặt tổ chức quản lý, chiến lược kinh doanh, quyết định đầu tư, hợp tác, chế độ kế toán áp dụng trong Công ty, phụ trách chuyên sâu về tổ chức, lao động, kỹ thuật…

- Phó Giám đốc tài chính- kinh doanh và Phó Giám đốc kỹ thuật: là người

hỗ trợ trực tiếp cho giám đốc, chịu trách nhiệm chính trong phạm vi quản lý của mình Các phó giám đốc có trách nhiệm quản lý cũng như chủ động đề ra những phương án sản xuất kinh doanh, chỉ đạo kỹ thuật tới các phòng ban theo quy định của công ty

- Phòng kinh doanh: đây là phòng chịu trách nhiệm đầu tiên trong một dự

án của công ty Trách nhiệm chính của phòng là phát triển thị trường và tìm kiếm các hợp đồng kinh doanh cho công ty Bên cạnh đó phòng kinh doanh cũng có nhiệm vụ phụ trách Showroom, là nơi trưng bày và bán các mặt hàng mà công ty

là tổng đại lý phân phối chính thức

- Phòng dự án: Có nhiệm vụ lập, quản lý dự án, tham gia dự thầu Cùng với đó phòng dự án cũng có nhiệm vụ đặt mua các loại Nguyên vật liệu sử dụng cho dự án theo yêu cầu của phòng kỹ thuật

- Phòng kỹ thuật: Chịu trách nhiệm hoàn toàn về mặt kỹ thuật cho các dự

án Phòng dự án có hai nhiệm vụ chính: Một là viết các phần mềm tự động hóa phục vụ cho dự án cần hoàn thành, nhiệm vụ này thường do các kỹ sư phần mềm

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

31

Trang 32

đảm nhiệm Thứ hai: khi phần mềm đã hoàn thành thì phòng kỹ thuật có nhiệm

vụ triển khai phần mềm đó, nghĩa là thiết kế và lắp đặt các công trình, dự án Phòng kỹ thuật là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu tổ chức của công ty Hiện nay, phòng có đội ngũ kỹ thuật giỏi, có tính chuyên nghiệp cao đang là điểm mạnh của công ty khi tiến hành các dự án

- Phòng kế toán: Thực hiện chức năng tham mưu giúp việc Giám đốc về mặt tài chính-kế toán của công ty Phòng có nhiệm vụ tổ chức quản lý mọi hoạt động liên quan đến công tác tài chính – kế toán của công ty như: tổng hợp, thu chi, công nợ, giá thành, hạch toán, dự toán sử dụng nguồn vốn, quản lý tiền mặt, ngân phiếu, thanh toán

- Phòng hành chính: Thực hiện chức năng giúp việc Giám đốc về tất cả các công việc liên quan đến công tác hành chính trong công ty ( quản trị văn phòng ) Phòng hành chính có nhiệm vụ quản lý về văn thư,lưu trữ tài liệu, bảo mật, đối nội, đối ngoại, quản lý về công tác xây dựng cơ bản và hành chính quản trị, đời sống…

Tổ chức bộ máy kế toán:

Công ty TNHH DKNEC là một đơn vị hạch toán độc lập, vì vậy bộ máy

kế toán được thành lập với đầy đủ các chức năng của nó nhằm hoàn thành nhiệm

vụ của mình Để phù hợp với yêu cầu hạch toán và yêu cầu quản lý tại công ty DKNEC thì công ty đã sử dụng phương thức tổ chức bộ máy kế toán là: quản lý tập trung

Hiện tại, phòng kế toán của công ty có 5 lao động kế toán đảm nhiệm những nhiệm vụ khác nhau, gồm: kế toán trưởng, kế toán ngân hàng và tiền mặt,

kế toán công nợ, kế toán nguyên vật liệu, kế toán tổng hợp Cụ thể, cơ cấu và phân công lao động được thể hiện theo sơ đồ sau:

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

32

Trang 33

Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán:

2.1.2.3 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty

2.1.2.3.1.Đặc điểm đầu vào:

Hiện nay công ty nhập hàng từ hai nguồn chủ yếu là nguồn hàng trong nước và hàng nhập khẩu

Đối với hàng trong nước,công ty tiến hành nhập theo định kỳ, theo yêu cầu tiến độ công trình Hàng hóa được nhập chủ yếu từ các công ty lớn,có uy tín trong lĩnh vực kinh doanh với Công ty như Công ty ASEATEC, Công ty CP Kim Tín, Công ty Tam Anh,…Đây là nguồn hàng ổn định của công ty, chất lượng cao, giá cả hợp lý và chi phí vận chuyển bốc dỡ gần như không có

Đối với hàng nhập khẩu,Công ty chủ yếu nhập khẩu hàng của các hãng lớn như Danfoss, SIEMENS, SCHNEIDER,… Việc nhập khẩu chỉ diễn ra với những loại hình có tính chất nhất định, có hàm lượng công nghệ cao mà trong nước không thể sản xuất được Hàng hóa nhập khẩu chiếm hơn 70% trong tổng giá trị các mặt hàng kinh doanh của công ty và được nhập khẩu chủ yếu theo yêu cầu của khách hàng và theo nhu cầu của Công ty Hàng nhập khẩu chiếm phần lớn trong tổng giá trị lượng hàng nên có vị trí quan trọng trong hoạt động thương mại của công ty Công ty thường nhập khẩu theo giá CIF tại cảng Hải Phòng, giá

FCA, giá FOB hay giá CIF Nội Bài tùy thuộc vào nguồn hàng nhập về

2.1.2.3.2.Đặc điểm đầu ra:

Khách hàng chủ yếu của công ty DKNEC hiện nay chủ yếu là các nhà máy chế biến thực phẩm,các nhà máy Bia rượu nước giải khát trong cả nước

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

Kế toán công nợ Kế toán tổng hợp

Trang 34

Trong đó phải kể đến nhiêu nhà máy lớn thuộc Tổng công ty Rượu bia nước giải khát Sài Gòn; Công ty cổ phần Bia Huế; Công ty cổ phần bia và nước giải khát

Hạ Long;… Bên cạnh đó còn có các Công ty thuộc các lĩnh vực sản xuất xi măng, giấy, chế biến thép, các nhà máy nước,…

Với trên 10 năm kinh nghiệm, Công ty DKNEC đã triển khai thực hiện trên 400 công trình lớn nhỏ liên quan đến Điện, Tự động hoá; trong đó có trên

200 công trình phục vụ cho ngành Rượu Bia Nước giải khát; Công nghệ thực phẩm và các nhà máy công nghiệp

2.1.2.3.3.Quy trình sản xuất, lắp đặt:

Sơ đồ quy trình sản xuất lắp đặt:

Hoạt động lắp đặt là một ngành sản xuất vật chất mang tính chất công nghiệp có đặc điểm khác với ngành sản xuất khác Về tổ chức sản xuất lắp đặt thì phương thức nhận thầu đã trở thành phương thức chủ yếu Sản phẩm của công ty

là không di chuyển được mà cố định tại các công trình Đặc điểm này buộc công

ty phải di chuyển vật tư, máy móc, thiết bị, nhân công tới nơi tổ chức sản xuất lắp đặt

Quá trình nhận thầu bao hay còn gọi là công tác chuẩn bị ban đầu bao gồm

ký hợp đồng sau khi nhận thông báo trúng thầu với chủ đầu tư Sau đó lên dự toán và thiết kế các sơ đồ kỹ thuật Dựa vào các bản vẽ kỹ thuật, tiến hành nhập các máy móc thiết bị cần thiết, đạt tiêu chuẩn theo dự toán và bản vẽ để tập kết tại chân công trình

Trong quá trình tổ chức thực hiện thi công lắp đặt tại công trình luôn phải

so sánh với dự toán và sơ đồ thiết kế, lấy đó làm thước đo Lượng tiêu thụ được xây dựng theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủ đầu tư Quá trình tổ chức

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

34

Nhận thầu

Tổ chức thực hiện lắp đặt

Hoàn thành nghiệm thu

Bàn giao công trình

Trang 35

thực hiện sản xuất lắp đặt bao gồm nhập vật tư hoặc chế tạo, sản xuất thiết bị để chuyển đến công trình, lựa chọn và tập hợp nhân công lắp đặt hệ thống.

Sau khi hoàn thành lắp đặt theo hợp đồng đã thỏa thuận, khi hệ thống hoạt động đạt tiêu chuẩn đã đề ra, hai bên tiến hành nghiệm thu và công ty bàn giao lại hệ thống lắp đặt cho đơn vị sử dụng Do đặc thù là công ty lắp đặt các hệ thống điện tự động hóa, các sản phẩm lắp đặt của công ty phải được bảo hành sau lắp đặt Cũng vì thế mà sản phẩm lắp đặt của công ty luôn phải đảm bảo chất lượng để đảm bảo uy tín và tránh việc hư hỏng của thiết bị trong thời gian bảo hành

2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của công ty

2.1.3.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính của công ty trong năm qua:

Năm 2010 mặc dù nền kinh tế trong nước nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung đang trong giai đoạn phục hồi, còn gặp nhiều khó khăn, tuy vậy nhưng công ty đã cố gắng và đạt được một số thành tựu:

BẢNG 2.1: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY

(Nguồn theo số liệu của phòng kế toán)

Như vậy nhìn chung trong năm qua tình hình tài chính của công ty là khá tốt, các chỉ tiêu tổng tài sản, doanh thu, lợi nhuận, mức lương cho người lao động đều

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

35

Trang 36

được cải thiện Điều này cho thấy sự cố gắng, nỗ lực của công ty trong năm qua Tuy nhiên để đánh giá chính xác ta cần đi sâu phân tích hơn nữa.

2.1.3.2 Những thuận lợi và khó khăn của công ty

Trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay có nhiều yếu tố tác động đến hoạt động kinh doanh của công ty, qua tìm hiểu tình hình thực tế ở công ty có một số thuận lợi

và khó khăn như sau:

Thuận lợi:

+ Công ty có đội ngũ cán bộ công nhân viên với trình độ chuyên môn cao, năng động và khả năng tiếp cận thị trường, tiến bộ khoa học công nghệ nhanh chóng Bên cạnh đó nội bộ công ty đoàn kết một lòng, mọi thành viên đều nhiệt huyết trong công việc Điều này giúp công ty vượt qua được những khó khăn và vững bước phát triển

+ Đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty là theo đơn đặt hàng và theo từng công trình Khách hàng rất đa dạng trong số đó có nhiều khách hàng lại là nhà cung cấp vật tư, hàng hoá của công ty đây là tín hiệu tốt giúp công ty vừa có nguồn cung ứng vật tư ổn định vừa có thể tiêu thụ sản phẩm của mình.Từ đó có

cơ sở trong dự báo được lượng hàng tồn kho, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

+ Đất nước ta đang trong quá trình CNH, HĐH, hội nhập kinh tế quốc tế,

do đó nhu cầu về thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty là rất lớn, nó trở thành tiềm năng để công ty mở rộng phạm vi sản xuất và cung ứng sản phẩm của mình

Trang 37

+ Do lượng hàng hoá, vật tư công ty chủ yếu nhập khẩu ( khoảng 70% - 80% giá trị hàng hoá) bị ảnh hưởng rất lớn bởi rủi ro tỷ giá, thời gian luân chuyển hàng hoá lâu nên vốn dự trữ trong khoản mục này thường cao

+ Mặt khác hệ số nợ của công ty cao nên ảnh hưởng tới khả năng vay vốn của công ty

+ Do nền kinh tế trong nước nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung còn gặp nhiều khó khăn, tỷ giá hối đoái biến động nhiều

2.2 TÌNH HÌNH TỔ CHỨC VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CƠ ĐIỆN ĐO LƯỜNG TỰ ĐỘNG HÓA DKNEC

2.2.1 Khái quát kết quả kinh doanh của công ty trong những năm qua

Để phân tích về tình hình tổ chức sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp thì trước hết đòi hỏi phải có cái nhìn tổng quan về tình hình, kết quả kinh doanh của công ty, cụ thể:

* Vốn và nguồn vốn kinh doanh của công ty

Phân tích tình hình vốn và nguồn vốn kinh doanh của Công ty cho ta biết được cơ cấu vốn hiện tại và nguồn hình thành vốn của Công ty, từ đó thấy được

cơ cấu vốn, nguồn vốn huy động được là hợp lý hay chưa, Công ty được đầu tư chủ yếu bằng nguồn vốn tự có bên trong hay phu thuộc vào nguồn tài trợ bên ngoài, qua đó đánh giá thực trạng tài chính của Công ty Ta có bảng:

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

37

Trang 38

BẢNG 2.2: CƠ CẤU TÀI SẢN VÀ NGUỒN VỐN CỦA CÔNG TY

Đơn vị tính: triệu đồng

TÀI SẢN

I.Tiền và CK tương đương tiền 4,230 5.74% 4,063 4.32% -167 -3.95%II.Các khoản ĐTTC ngắn hạn 5,800 7.87% 5,800 6.17% 0 0.00%III Các khoản phải thu 7,570 10.27% 33,593 35.72% 26,023 343.76%

Trang 39

Qua bảng ta có một số nhận xét như sau:

 Về vốn kinh doanh: tài sản ngắn hạn của Công ty chiếm tỷ trọng lớn hơn so với tài sản dài hạn nên số vốn lưu động cũng luôn chiếm tỷ trọng lớn hơn

so với vốn cố định Điều này là hợp lý với lĩnh vực kinh doanh thương mại của công ty

Trong năm 2010 tổng vốn kinh doanh của Công ty tăng 43,605 triệu đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 49% Trong đó vốn lưu động tăng 20,330 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 27.58% và tài sản dài hạn tăng 23,275 triệu đồng với tỷ lệ tăng

là 152.3% Đi sâu vào xem xét khoản mục vốn lưu động thì hàng tồn kho giảm 9.930 triệu đồng với tỷ lệ 18.23%, tiền và các khoản tương đương tiền giảm 167 triệu đồng với tỷ lệ giảm là 3.95%, các khoản phải thu tăng 26,023 triệu đồng, với tỷ lệ tăng 343.8% Như vậy có thể thấy rằng Công ty đang mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh

 Về nguồn hình thành vốn kinh doanh: Nguồn vốn của Công ty được hình thành từ 2 nguồn là nguồn vốn chủ sở hữu và vốn vay Trong năm 2010 tổng nguồn vốn tăng do vốn chủ sở hữu tăng 56,004 triệu đồng, tương ứng với tỷ

lệ tăng là 366.1% và nợ phải trả giảm 12,399 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ 16.82% Điều này có thể thấy trong năm 2010 công ty đã tăng vốn chủ sở hữu đồng thời giảm vốn vay để mở rộng kinh doanh Đây là một lựa chọn hợp lý khi nền kinh tế trong nước nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung đang gặp nhiều khó khăn

Nợ phải trả của Công ty là nợ ngắn hạn, cho thấy công ty không có áp lực

về nghĩa vụ trả nợ dài hạn nhưng áp lực về nghĩa vụ thanh toán nợ ngắn hạn của Công ty là khá cao Nợ ngắn hạn giảm 12,399 triệu đồng, nợ ngắn hạn giảm chủ yếu là do các khoản phải trả, phải nộp ngắn hạn giảm, phải trả cho người bán giảm, người mua trả tiền trước giảm

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

39

Trang 40

Vốn chủ sở hữu tăng là do tăng vốn góp Công ty trong năm qua đã dùng một phần lợi nhuận để lại để tái đầu tư vào sản xuất kinh doanh, việc mở rộng quy mô kinh doanh cần có nguồn vốn tài trợ doanh nghiệp trước tiên phải huy động từ nguồn nội bộ đảm bảo tính tự chủ, an toàn về mặt tài chính.

Xét tới cơ cấu nguồn vốn của Công ty:

Theo quan hệ sở hữu vốn: Trong tổng nguồn vốn của Công ty tại thời điểm cuối năm nợ phải trả chiếm tỷ trọng nhỏ hơn vốn chủ sở hữu, nếu cuối năm

2009 nợ phải trả chiếm tỷ trọng 82.81% thì đến cuối năm 2010 tỷ lệ này là 46.23% trong tổng nguồn vốn kinh doanh của Công ty

Một số chỉ tiêu đánh giá mức độ tự chủ về mặt tài chính của Công ty năm 2008

Thời điểm đầu năm 2010 Công ty có hệ số nợ 0.82 trong khi hệ số vốn chủ

là 0.18 Hai hệ số cho thấy 1 đồng vốn đem vào kinh doanh thì có 0.82 đồng do vay nợ và 0.18 đồng vốn chủ sở hữu, hệ số đảm bảo nợ là 0.2 có thể thấy công ty không tự chủ về mặt tài chính, tình hình tài chính thì không an toàn Đến cuối năm 2010 thì hệ số nợ là 0.46, hệ số VCSH là 0.54, hệ số đảm bảo nợ là 1.16, như vậy công ty tăng quy mô sản xuất kinh doanh chủ yếu là do tăng VCSH, điều này làm tăng sự tự chủ về mặt tài chính cho công ty

Theo tính ổn định của nguồn tài trợ: Ta có sơ đồ 1 và 2

Sơ đồ 1 : Sơ đồ tài trợ vốn kinh doanh của công ty đầu năm 2010:

Sinh viên Trần Thị Vinh Lớp: CQ45/11.04

40

Ngày đăng: 22/12/2014, 14:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ cấu tạo tổ chức công ty: - Vốn lưu động và các giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn lưu động của công ty cơ điện đo lường tự động hóa DKNEC
Sơ đồ c ấu tạo tổ chức công ty: (Trang 30)
Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán: - Vốn lưu động và các giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn lưu động của công ty cơ điện đo lường tự động hóa DKNEC
Sơ đồ t ổ chức bộ máy kế toán: (Trang 33)
BẢNG 2.2: CƠ CẤU TÀI SẢN VÀ NGUỒN VỐN CỦA CÔNG TY - Vốn lưu động và các giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn lưu động của công ty cơ điện đo lường tự động hóa DKNEC
BẢNG 2.2 CƠ CẤU TÀI SẢN VÀ NGUỒN VỐN CỦA CÔNG TY (Trang 38)
Sơ đồ 2 : Sơ đồ tài trợ vốn kinh doanh của công ty cuối  năm 2010 - Vốn lưu động và các giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn lưu động của công ty cơ điện đo lường tự động hóa DKNEC
Sơ đồ 2 Sơ đồ tài trợ vốn kinh doanh của công ty cuối năm 2010 (Trang 41)
Bảng 2.7: Nguồn VLĐ tại công ty năm 2010 - Vốn lưu động và các giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn lưu động của công ty cơ điện đo lường tự động hóa DKNEC
Bảng 2.7 Nguồn VLĐ tại công ty năm 2010 (Trang 48)
BẢNG 2.8: CƠ CẤU VLĐ TẠI CÔNG TY NĂM 2010 - Vốn lưu động và các giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn lưu động của công ty cơ điện đo lường tự động hóa DKNEC
BẢNG 2.8 CƠ CẤU VLĐ TẠI CÔNG TY NĂM 2010 (Trang 52)
BẢNG 2.10:CÁC CHỈ TIÊU VỀ KHẢ NĂNG THANH TOÁN CỦA CÔNG TY NĂM 2010 - Vốn lưu động và các giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn lưu động của công ty cơ điện đo lường tự động hóa DKNEC
BẢNG 2.10 CÁC CHỈ TIÊU VỀ KHẢ NĂNG THANH TOÁN CỦA CÔNG TY NĂM 2010 (Trang 57)
BẢNG 2.13: SO SÁNH CÁC KHOẢN PHẢI THU VÀ CÁC KHOẢN PHẢI TRẢ CỦA CÔNG - Vốn lưu động và các giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn lưu động của công ty cơ điện đo lường tự động hóa DKNEC
BẢNG 2.13 SO SÁNH CÁC KHOẢN PHẢI THU VÀ CÁC KHOẢN PHẢI TRẢ CỦA CÔNG (Trang 64)
BẢNG 2.16: HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VLĐ CỦA CÔNG TY - Vốn lưu động và các giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn lưu động của công ty cơ điện đo lường tự động hóa DKNEC
BẢNG 2.16 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VLĐ CỦA CÔNG TY (Trang 68)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w