Nhận thức rõ vai trò của GDNT cho bộ đội qua ca khúc về BĐCH, những năm qua, hoạt động GDNT cho bộ đội qua ca khúc về BĐCH đã được các cơ quan, đơn vị trong toàn quân triển khai tích cực
Trang 1VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Đặng Mỹ Hạnh
GIÁO DỤC NGHỆ THUẬT CHO BỘ ĐỘI HIỆN NAY QUA CA KHÚC
VỀ BỘ ĐỘI CỤ HỒ (sáng tác từ năm 1944 đến năm 1975)
LUẬN ÁN TIẾN SỸ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội - 2014
Trang 2VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Đặng Mỹ Hạnh
GIÁO DỤC NGHỆ THUẬT CHO BỘ ĐỘI HIỆN NAY QUA CA KHÚC
VỀ BỘ ĐỘI CỤ HỒ (sáng tác từ năm 1944 đến năm 1975)
Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số: 62 31 06 40
LUẬN ÁN TIẾN SỸ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS NGUYỄN CHÍ BỀN
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Luận án tiến sỹ: Giáo dục nghệ thuật cho bộ đội hiện nay qua ca
khúc về Bộ đội Cụ Hồ (sáng tác từ năm 1944 đến năm 1975) là do
tôi viết và chưa công bố
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Hà Nội, ngày 30 - 11 - 2014
Tác giả luận án
ĐẶNG MỸ HẠNH
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
MỤC LỤC 2
CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN 3
MỞ ĐẦU 4
NỘI DUNG 12
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC NGHỆ THUẬT 12
1.1 Nghệ thuật và quan niệm về giáo dục nghệ thuật 12
1.2 Chức năng của giáo dục nghệ thuật 19
1.3 Các lý thuyết về giáo dục nghệ thuật 21
1.4 Điều kiện giáo dục nghệ thuật 29
Tiểu kết chương 1 40
Chương 2: GIÁO DỤC NGHỆ THUẬT CHO BỘ ĐỘI QUA CA KHÚC VỀ BỘ ĐỘI CỤ HỒ - LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG 42
2.1 Ca khúc về Bộ đội Cụ Hồ và vai trò của ca khúc về Bộ đội Cụ Hồ 42
2.2 Một số vấn đề lý luận và nhân tố tác động đến giáo dục nghệ thuật cho bộ đội qua ca khúc về Bộ đội Cụ Hồ 67
2.3 Thực trạng giáo dục nghệ thuật cho bộ đội hiện nay qua ca khúc về Bộ đội Cụ Hồ 77
Tiểu kết chương 2 95
Chương 3: BÀN LUẬN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG TRONG GIÁO DỤC NGHỆ THUẬT CHO BỘ ĐỘI HIỆN NAY QUA CA KHÚC VỀ BỘ ĐỘI CỤ HỒ 98
3.1 Bàn luận về kết quả nghiên cứu 98
3.2 Bàn luận về ứng dụng kết quả nghiên cứu trong giáo dục nghệ thuật cho bộ đội hiện nay qua ca khúc về Bộ đội Cụ Hồ 107
Tiểu kết chương 3 132
KẾT LUẬN 134
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ .137
TÀI LIỆU THAM KHẢO 138
PHỤ LỤC 151
Trang 5CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
CLB : Câu lạc bộ CNXH : Chủ nghĩa xã hội CTĐ, CTCT : Công tác đảng, Công tác chính trị
GDNT : Giáo dục nghệ thuật KHXH&NV: Khoa học xã hội và nhân văn KTQS : Kỹ thuật quân sự
NCS : Nghiên cứu sinh
Nxb : Nhà xuất bản
QCPK, KQ : Quân chủng Phòng không, Không quân
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình giáo dục, bồi dưỡng con người đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN nói chung, giáo dục, bồi dưỡng quân nhân đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng, GDNT có vai trò hết sức quan trọng Thông qua các loại hình GDNT, trong đó có giáo dục âm nhạc, sẽ góp phần bồi dưỡng, phát triển, hoàn thiện nhu cầu nhận thức và thị hiếu thẩm mỹ, giáo dục, bồi dưỡng, phát triển nhân cách Đặc biệt, hoạt động GDNT trong quân đội, nhất
là GDNT qua ca khúc về BĐCH sẽ góp phần giáo dục, bồi dưỡng nhu cầu nhận thức và thị hiếu thẩm mỹ cho bộ đội, hoàn thiện nhân cách người quân nhân cách mạng - nhân cách Bộ đội Cụ Hồ
Thực tiễn 70 năm xây dựng, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã khẳng định rằng, trong các hoạt động VHNT của quân đội, hoạt động GDNT cho bộ đội qua các ca khúc về BĐCH, nhất là các ca khúc sáng tác từ năm 1944 đến năm 1975 là hoạt động không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần của bộ đội Các ca khúc về BĐCH thuộc dòng CKCM Việt Nam, là sản phẩm văn hóa của một thời đại mới, thời đại
mà cả dân tộc ta đã cống hiến, hy sinh trong hai cuộc kháng chiến nhằm giành lại độc lập, tự do, thống nhất đất nước để đi lên chủ nghĩa xã hội Vì vậy, nó có vai trò rất to lớn trong đời sống tinh thần của bộ đội, đặc biệt khi được sử dụng làm “chất liệu” GDNT cho bộ đội
Nhận thức rõ vai trò của GDNT cho bộ đội qua ca khúc về BĐCH, những năm qua, hoạt động GDNT cho bộ đội qua ca khúc về BĐCH đã được các cơ quan, đơn vị trong toàn quân triển khai tích cực, đảm bảo sâu sắc về nội dung, phong phú, đa dạng về hình thức thể hiện và đã đem lại nhiều kết quả rất đáng khích lệ, góp phần quan trọng nâng cao nhận thức, nhu cầu, thị hiếu thẩm
mỹ cho bộ đội, xây dựng và bồi dưỡng nhân cách người quân nhân cách mạng
Trang 7Tuy nhiên, trong những năm qua, hoạt động GDNT cho bộ đội qua ca khúc
về BĐCH trong các cơ quan, đơn vị của quân đội vẫn còn những biểu hiện hạn chế, bất cập cả trong nhận thức và trong tổ chức hoạt động thực tiễn Những hạn chế, bất cập đó có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, nhất là chưa được phân tích, lý giải một cách đầy đủ, sâu sắc và thấu đáo những cơ sở lý luận khoa học của hoạt động GDNT cho bộ đội qua các ca khúc về BĐCH
Trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam XHCN, yêu cầu, nhiệm vụ của huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và thực hiện chức năng, nhiệm vụ đội quân chiến đấu, công tác, lao động sản xuất của Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung, của mỗi cơ quan, đơn vị trong quân đội nói riêng trong bối cảnh mới của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, thì hơn lúc nào hết, hoạt động GDNT cho bộ đội qua ca khúc về BĐCH càng trở nên quan trọng và cấp thiết nhằm góp phần phát triển nhân cách người quân nhân cách mạng, giữ vững và phát huy phẩm chất BĐCH trong thời kỳ mới
Trong thời gian qua, có nhiều công trình nghiên cứu từ các góc độ tiếp cận khác nhau đã đi sâu luận giải về GDNT, GDNT cho công chúng nói chung, đã đưa ra được những kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn có giá trị về mặt khoa học Tuy nhiên, vẫn còn thiếu vắng những công trình chuyên sâu nghiên cứu về GDNT cho bộ đội qua ca khúc về BĐCH, nhất là các ca khúc sáng tác từ năm 1944 đến năm 1975 Chính vì vậy, NCS lựa chọn
vấn đề “Giáo dục nghệ thuật cho bộ đội hiện nay qua ca khúc về Bộ đội Cụ
Hồ (sáng tác từ năm 1944 đến năm 1975)” làm đề tài luận án của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về GDNT và GDNT qua ca khúc về BĐCH, phân tích, bàn luận, đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp ứng dụng kết quả nghiên cứu trong GDNT cho bộ đội hiện nay qua ca khúc về BĐCH, đáp ứng yêu
Trang 8cầu giáo dục nhận thức thẩm mỹ cho bộ đội, giáo dục và hoàn thiện nhân cách quân nhân
Từ mục đích trên, luận án hướng tới những mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
2.1 Nghiên cứu, tổng hợp và hình thành các quan điểm lý luận như: nghệ thuật và GDNT, chức năng, lý thuyết và điều kiện GDNT
2.2 Nghiên cứu ca khúc về BĐCH và vai trò, giá trị của nó trong đời sống tinh thần của bộ đội
2.3 Nghiên cứu lý luận, khảo sát thực trạng GDNT cho bộ đội hiện nay qua ca khúc về BĐCH
2.4 Bàn luận về kết quả nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu trong GDNT cho bộ đội hiện nay qua ca khúc về BĐCH
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Giáo dục nghệ thuật cho bộ đội qua ca khúc về Bộ đội Cụ Hồ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về lý luận, các tài liệu nước ngoài được luận án sử dụng trong nghiên cứu tổng quan về GDNT chủ yếu là tài liệu của Nga được sưu tầm từ nguồn Thư viện điện tử của Viện GDNT thuộc Viện Hàn lâm GDNT Nga từ năm
1999 đến nay Bên cạnh đó nghiên cứu, tổng hợp, kế thừa các tài liệu nước ngoài về nghệ thuật và GDNT đã được dịch và một số công trình của các tác giả trong nước Các ca khúc về BĐCH sáng tác từ năm 1944 đến năm 1975
được NCS nghiên cứu tập trung trong tuyển tập Anh bộ đội Cụ Hồ qua các tác
phẩm âm nhạc của Trường Đại học VHNT Quân đội sưu tầm Bên cạnh đó
NCS nghiên cứu mở rộng thêm các ca khúc về BĐCH trong tuyển tập Những
khúc quân hành vượt thời gian (2004), Nxb Quân đội nhân dân; Hát trên
Trang 9đường đánh giặc (1999), Nxb Trẻ và tuyển tập ca khúc Hành khúc ngày và đêm (2004), Nxb Hà Nội
Về thực tiễn, nghiên cứu GDNT cho bộ đội hiện nay qua các ca khúc
về BĐCH, khảo sát ở một số đơn vị tiêu biểu là các ĐVCS, các học viện, nhà trường đào tạo sĩ quan kỹ thuật, sỹ quan chính trị, đơn vị nghệ thuật Cụ thể là: f 395 (QK3), e 95 (f 325, QĐ 2), f 312 (QĐ 1), Học viện KTQS, Học viện Hải quân, Đại học Biên phòng, Đại học Chính trị, Đại học VHNT Quân đội, Nhà hát Ca múa nhạc Quân đội, Đoàn Nghệ thuật Quân chủng PKKQ, Đoàn văn công QK 7, từ đó có cái nhìn toàn diện về GDNT cho bộ đội qua ca khúc
về BĐCH trong quân đội hiện nay
Bên cạnh việc phân tích khái quát GDNT cho bộ đội qua các ca khúc
về BĐCH của các đơn vị này, luận án sẽ đi sâu nghiên cứu trường hợp hoạt động GDNT của đơn vị làm nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực GDNT trong quân đội: Trường Đại học VHNT Quân đội Các đơn vị khác (nêu trên) sẽ được nghiên cứu theo đối tượng thực hành GDNT và tiếp nhận GDNT phù hợp với nhóm chức năng nhiệm vụ của các đơn vị quân đội như: Khối học viện, nhà trường; khối các ĐVCS; khối VHNT Bên cạnh đó nghiên cứu
mở rộng đối với lực lượng sáng tác, biểu diễn và các sản phẩm âm nhạc trong quân đội hiện nay để có thêm cơ sở so sánh, đối chiếu, nhận diện đầy
đủ GDNT cho bộ đội hiện nay
GDNT cho bộ đội qua các ca khúc về BĐCH của các đơn vị này được nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2002 trở lại đây Chọn thời điểm này bởi đó là thời điểm sau 10 năm phát động và thực hiện cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú”
ở các đơn vị trong quân đội, các đơn vị nghệ thuật và các ĐVCS trong toàn quân đã bước đầu có chuyển biến tích cực trong các hoạt động văn hóa, trong đó có GDNT
Trang 104 Giả thuyết nghiên cứu
GDNT qua các ca khúc về BĐCH sẽ hướng tới nâng cao năng lực thưởng thức, cảm thụ, biểu diễn ca khúc về BĐCH, định hướng thị hiếu
âm nhạc, đảm bảo cho sự phát triển nhận thức thẩm mỹ cho bộ đội, nâng cao và làm phong phú đời sống tinh thần, giáo dục lý tưởng cách mạng, hoàn thiện nhân cách quân nhân trong trường hợp:
4.1 Vấn đề nêu trên tại các học viện, nhà trường, ĐVCS trong quân đội được làm rõ từ cơ sở lý luận về GDNT và GDNT cho bộ đội qua ca khúc
về BĐCH
4.2 Trong thực tiễn việc đào tạo chiến sỹ - nghệ sĩ, các vấn đề lý thuyết
âm nhạc, về ca khúc BĐCH, kỹ năng, kỹ xảo biểu diễn, kiến thức lịch sử, văn hóa truyền thống dân tộc cần là nguồn tri thức tổng hợp điều khiển toàn bộ quá trình phát triển tư duy sáng tạo, biểu diễn của người nghệ sỹ Ở các ĐVCS, các học viện, nhà trường, giá trị của các ca khúc này cùng với hình thức và phương pháp GDNT cho bộ đội qua ca khúc về BĐCH cần là điều để
bộ đội nâng cao năng lực thưởng thức, cảm thụ ca khúc về BĐCH, có sự lựa chọn đúng đắn những tác phẩm âm nhạc chân chính, hình thành thị hiếu âm nhạc, thỏa mãn và nâng cao đời sống tinh thần, định hướng nhân cách, tự giáo dục để đạt mục tiêu giáo dục toàn diện
4.3 Các giải pháp ứng dụng trong GDNT cho bộ đội có cơ sở lý luận
và thực tiễn phù hợp với đặc điểm của môi trường văn hóa quân sự, phù hợp với thực tiễn hoạt động VHNT của đất nước hiện nay và phù hợp với yêu cầu nâng cao đời sống tinh thần của bộ đội, đặc biệt là nhu cầu về thưởng thức ca khúc về BĐCH trong giai đoạn cách mạng hiện nay
5 Lý thuyết, phương pháp nghiên cứu
Hoạt động GDNT trong quân đội là một trong những hoạt động nhằm thực hiện nhiệm vụ CTĐ, CTCT, góp phần định hướng nhân cách,
Trang 11bồi dưỡng lý tưởng, giáo dục chính trị cho bộ đội Ca khúc về BĐCH thuộc dòng CKCM Việt Nam, là sản phẩm văn hóa chứa dựng những giá trị nhân văn phản ánh bản sắc dân tộc Việt Nam Bởi vậy, luận án được triển khai trên tiền đề quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng; lý thuyết về sự lây lan của Vưgốtxki và quan niệm về sự tiếp nhận nghệ thuật của Mỹ học Mác - Lênin được sử dụng làm cơ sở để bàn luận những vấn đề nghiên cứu đặt ra của luận án
Luận án sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học - một phương pháp của ngành nhân học văn hóa làm phương pháp chủ đạo Ngoài ra còn
sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành Đặc thù trong tổ chức hoạt động của quân đội là điều kiện thuận lợi để NCS sử dụng phương pháp điền dã tại các ĐVCS, các học viện, nhà trường trong toàn quân; phân tích, tổng hợp các tài liệu là nội dung, chương trình, giáo trình giảng dạy
âm nhạc của Trường Đại học VHNT Quân đội, các báo cáo công tác văn hóa văn nghệ của các đơn vị trong toàn quân, kết hợp phỏng vấn sâu các nhà quản lý, các nghệ sỹ sáng tạo, các nhà chỉ đạo nghệ thuật, công chúng
là bộ đội trong nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động GDNT cho bộ đội hiện nay qua ca khúc về BĐCH sáng tác từ năm 1944 đến năm 1975
6 Những kết quả và đóng góp của luận án
6.1 Kết quả nghiên cứu
- Hệ thống một cách cơ bản những vấn đề lý luận về GDNT Cụ thể là
tổng hợp và hình thành các quan điểm lý luận như: nghệ thuật và GDNT, chức năng, lý thuyết và điều kiện GDNT
- Hình thành lý luận chung về ca khúc BĐCH Trong đó khái quát về sự
ra đời của ca khúc về BĐCH, phân tích tính đặc trưng trong hình tượng ca từ
và vai trò, giá trị của ca khúc về BĐCH trong đời sống tinh thần của bộ đội
Trang 12- Phân tích lý luậnvà những nhân tố tác động đến GDNT cho bộ đội qua
ca khúc về BĐCH
- Cung cấp thông tin và đánh giá một cách toàn diện về thực trạng
GDNT cho bộ đội hiện nay qua ca khúc về BĐCH
- Vận dụng lý thuyết về sự lây lan của Vưgốtxki và quan điểm về sự
tiếp nhận nghệ thuật của Mỹ học Mác - Lênin để bàn luận về sự tác động của GDNT qua ca khúc về BĐCH tới thưởng thức nghệ thuật, hình thành thị hiếu nghệ thuật, góp phần định hướng tới sự phát triển toàn diện nhân cách quân nhân
- Hình thành và xây dựng một số biện pháp cơ bản ứng dụng nâng cao
hiệu quả GDNT cho bộ đội hiện nay qua ca khúc về BĐCH
6.2 Đóng góp của luận án
- Ứng dụng thống nhất, hiệu quả việc sử dụng ca khúc về BĐCH làm chất liệu GDNT trong quân đội hiện nay trong nghiên cứu tâm lý học quân sự, trong giáo dục nhận thức thẩm mỹ cho bộ đội, đặc biệt là thẩm mỹ nghệ thuật, góp phần hoàn thiện nhân cách quân nhân, giữ vững và phát triển phẩm chất BĐCH thời kỳ mới
- Sử dụng kết quả nghiên cứu trong chương trình giảng dạy về phương pháp luận GDNT của trường Đại học VHNT quân đội, trong việc đào tạo và đào tạo lại để nâng cao trình độ của giảng viên nghệ thuật quân đội; sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy lĩnh vực hoạt động VHNT trong các nhà trường đào tạo cán bộ, sĩ quan chính trị của quân đội; ứng dụng để nâng cao chất lượng biểu diễn của các đơn vị nghệ thuật của quân đội, nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục chính trị, VHNT ở ĐVCS trong quân đội
- Cung cấp luận cứ khoa học cho các cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn
vị quân đội xây dựng các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo, tổ
Trang 13chức GDNT cho bộ đội qua ca khúc về BĐCH, đáp ứng hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCT trong quân đội
7 Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 227 trang được chia làm 2 phần, phần chính văn và phần phụ lục Phần chính văn gồm 150 trang: mở đầu (8 trang), kết luận (3 trang), tài liệu tham khảo (12 trang), nội dung luận án gồm 3 chương (127 trang)
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giáo dục nghệ thuật
Chương 2: Giáo dục nghệ thuật cho bộ đội qua ca khúc về BĐCH - Lý
luận và thực trạng
Chương 3: Bàn luận kết quả nghiên cứu và ứng dụng trong GDNT cho
bộ đội hiện nay qua ca khúc về BĐCH
Trang 14NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC NGHỆ THUẬT
1.1 Nghệ thuật và quan niệm về giáo dục nghệ thuật
1.1.1 Nghệ thuật
Nghệ thuật được quan niệm và lý giải theo nhận thức của các quan điểm
triết học khác nhau trong lịch sử nhận thức nói chung và trong nhận thức về nghệ thuật nói riêng của loài người Bàn về nghệ thuật, Mỹ học Mác - Lênin cũng đã đề cập tới nhiều quan điểm về nghệ thuật khác nhau của các trường phái trong hệ thống triết học Luận án trên cơ sở kế thừa và tổng hợp những
quan điểm về nghệ thuật như sau:
Theo quan điểm của mỹ học duy tâm, nghệ thuật là sự biểu hiện của tình cảm thần thánh, của ý chí thượng đẳng, siêu nhiên Mỹ học duy tâm khách quan quan niệm nghệ thuật là sự biểu hiện của thế giới ý niệm Từ thời
cổ đại, Platôn coi cái đẹp là ý niệm tồn tại trong cõi tinh thần huyền bí; cái thẩm mỹ, cái đẹp do con người tạo ra chỉ là hình ảnh “sao chép” của cái thẩm
mỹ, cái đẹp tuyệt đối của ý niệm; nghệ thuật chỉ là cái bóng của ý niệm tuyệt đối, cho nên, theo ông, nghệ thuật đứng cách xa chân lý tới ba bậc Hêghen cũng coi nghệ thuật là hình ảnh được sinh ra từ tinh thần, ý niệm Hình tượng nghệ thuật là sự cụ thể hóa ý niệm tuyệt đối vào trong dạng thức hiện thực -
sự hiện thực hóa cái đẹp ý niệm thành cái đẹp thực tế [36, tr.251-252]
Mỹ học duy tâm khách quan nhìn thấy bản chất của nghệ thuật trong cảm giác đặc biệt Cantơ và những đồng sự của ông cho rằng, thế giới nghệ thuật là thế giới của các cảm giác chủ quan, là năng lực phản tỉnh tiên nghiệm vươn tới những ý niệm hoàn thiện Tác phẩm nghệ thuật là sản phẩm tinh thần của nghệ sỹ, nhưng là nghệ sỹ siêu nghiệm, tức là cái nằm ở bên kia ý thức,
Trang 15thế giới của “vật tự nó” - của ý chí tự do, của tinh thần bất tử Trái với Hêghen, Cantơ cho rằng, nghệ thuật là sản phẩm đứng ở đỉnh cao nhất của lý trí, là sự kết thúc của triết học [36, tr.252]
Triết học - mỹ học phương Tây hiện đại, hoặc duy tâm hoặc tự nhiên chủ nghĩa cũng có nhiều cách lý giải khác nhau về bản chất của nghệ thuật Nếu như Cantơ coi nghệ thuật là sự phản tỉnh siêu nghiệm, song nó gắn với khả năng phản tư của con người nhằm vươn tới các giá trị cao quý, thì chủ nghĩa siêu thực lại đẩy nghệ thuật ra bên lề cuộc sống con người, đưa nghệ thuật vào thế giới siêu thực, thậm chí thần bí, thế giới của những ảo giác
Vào đầu thế kỷ XX, mỹ học phương Tây phổ biến sâu rộng quan điểm duy tâm chủ quan dựa trên hiện tượng luận Những lý thuyết nghệ thuật như
“Di nhập tình cảm” của Lippa; “Cự ly tâm lý” của Bullough hoặc “Trực giác hình thể” của Krosse, đều là các biến thái khác nhau của quan niệm coi thế giới vốn trung lập về thẩm mỹ - không xấu, không đẹp; cái đẹp là do nghệ sỹ tạo ra, thiên nhiên có được chất thẩm mỹ là nhờ nghệ thuật cho nó vay mượn
Nhiều nhà mỹ học hiện đại phát triển các quan điểm nghệ thuật của Cantơ, Heghen cùng các quan điểm khác của nghệ thuật hiện đại với những tuyên ngôn khác nhau, song đều bộc lộ quan điểm chung: nghệ thuật không phải là sự phản ánh hiện thực, không liên quan gì đến xã hội, nó là sự phản ánh tự do, bằng cách riêng, nó tạo ra thế giới riêng của nó - nghệ thuật là thế giới riêng của nghệ thuật
Song song với dòng tư tưởng nghệ thuật duy tâm là dòng tư tưởng nghệ thuật duy vật Từ thời cổ đại, Arixtốt đã nhìn thấy tính vật chất, tính hiện thực của nghệ thuật Arixtốt cho rằng nghệ thuật bắt nguồn từ giới tự nhiên, nó có nguồn gốc từ đời sống hiện thực của con người Ông đưa ra lý thuyết “Bắt chước”: nghệ thuật là sự bắt chước khéo léo các mô hình của giới tự nhiên -
mô phỏng giới tự nhiên để làm ra những sản phẩm mới cao hơn hiện thực tự
Trang 16nhiên Theo ông, nghệ thuật bắt chước “Người Mẹ” tự nhiên, là phương tiện
để thanh lọc cảm xúc của con người, là phương tiện giáo dục con người trở nên cao đẹp hơn
Nhiều nhà tư tưởng thời Phục Hưng như: Lêôna Đơvanhxi, Mikenlăng, Raphaen, Sếchxpia đã đem lại cho nghệ thuật sức sống mới khi khẳng định tính chất hiện thực sống động của nghệ thuật Họ khẳng định rằng, giá trị thẩm
mỹ là thuộc thiên nhiên và niềm vui cảm thụ thiên nhiên Tuy còn mang tính chất duy vật siêu hình, các nhà Khai sáng thế kỷ XVIII như Vonte, Điđơrô, Gớt, đã tạo ra bước tiến quan trọng trong quan niệm khoa học về nghệ thuật Tiếp thu tư tưởng tiến bộ của những người đi trước, các nhà Khai sáng đã mở rộng phạm vi thuộc tính thẩm mỹ, đưa chúng từ ý niệm về hiện thực trần gian, nhấn mạnh nội dung nhân bản, nhân đạo, nhân văn, tính thực tiễn lớn lao
Các nhà Dân chủ cách mạng Nga thế kỷ XIX như Biêlinxki, Đôbrôliubốp, Tsécnưsépxki đã tiến xa hơn trong việc gắn nghệ thuật với đời sống xã hội, đã đưa nghệ thuật trở về đúng cội nguồn của nó Ông chứng minh bản chất hiện thực, bản chất xã hội của nghệ thuật - nghệ thuật không gì khác là mối quan hệ giữa con người với thế giới hiện thực, với đời sống xã hội Song Tsécnưsépxki không thể vượt qua được hạn chế nhận thức của thời đại, trong khi tìm cách nhấn mạnh vị trí to lớn của thực tiễn xã hội trong nghệ thuật, ông đã coi giá trị cao nhất của nghệ thuật là “bản sao cuộc sống” - nghệ thuật chính là cuộc sống [36, tr.255]
Sự xuất hiện triết học Mác - Lênin đã tạo bước ngoặt vĩ đại trong lịch
sử phát triển tư tưởng mỹ học và giải quyết một cách khoa học vấn đề bản chất của nghệ thuật Mỹ học Mác - Lênin đã đưa nghệ thuật về đúng vị trí là sản phẩm của ý thức bậc cao của con người
Nghệ thuật, cũng như bất cứ hình thái ý thức xã hội nào khác, là một hình thái phản ánh thế giới của ý thức con người, là sản phẩm của hoạt động
Trang 17sáng tạo của con người với những chất liệu được lựa chọn hoặc định dạng (âm nhạc, múa, sân khấu, điêu khắc, hội họa ) để chuyển tải ý tưởng, cảm xúc từ hoạt động thực tiễn của con người tạo nên những tác phẩm nghệ thuật thỏa mãn sự thích thú thưởng thức Tác phẩm nghệ thuật mang giá trị chân - thiện -
mỹ, cô đặc tri thức và tình cảm con người, có khả năng nhân vốn sống tình cảm, lý trí con người lên nhiều lần Đánh giá thẩm mỹ ẩn sâu trong hình tượng nghệ thuật được người thưởng thức tiếp nhận như sự gợi mở, sự thể hiện và định hướng Gây dựng và rèn luyện cảm xúc thẩm mỹ, bồi dưỡng năng lực đánh giá, định hướng giá trị về sáng tạo thẩm mỹ, đó chính là ưu thế giáo dục của nghệ thuật
1.1.2 Quan niệm về giáo dục nghệ thuật
Khác với các hình thức giáo dục khác là giảng giải, chứng minh, khuyên bảo, v.v , nghệ thuật cảm hóa, chinh phục lòng người thông qua những cảnh đời, số phận, những hình tượng sống động chứa đầy cảm xúc Vì vậy, cảm thụ nghệ thuật không hề bị ức chế bởi tâm lý “bị giáo dục” Con người tìm đến với nghệ thuật như một phương tiện giải trí hoàn toàn thoải mái, tự do Nghệ thuật liên kết các năng lực trí tuệ cơ bản như khả năng tưởng tượng, sáng tạo, biểu đạt và trải nghiệm, giúp cho con người tự hiểu biết về mình và về xã hội, giúp liên kết con người và sự kiện vượt qua thời gian, không gian và giới hạn vùng, lãnh thổ để gắn kết các truyền thống, cộng đồng, các nền văn hóa
Phát triển và hoàn thiện con người là nhu cầu tự thân, nhu cầu phổ quát nhất và cao nhất của con người, của mỗi cá nhân và cả xã hội Phát triển và hoàn thiện con người theo quan điểm nhân văn là làm cho con người được phát triển toàn diện, hài hòa tất cả các phương diện về thể chất và tinh thần: Đức - Trí - Thể - Mỹ Nếu thừa nhận Cái đẹp là một chỉnh thể toàn vẹn
Trang 18Chân - Thiện - Mỹ, thì nhu cầu thẩm mỹ, trong đó có nhu cầu nghệ thuật là biểu hiện tập trung và cao nhất, là một nhu cầu toàn vẹn, hoàn thiện, do đó nó nằm ở tầng cao trong đời sống tinh thần của con người Nếu nhìn con người phát triển và hoàn thiện, tức là nhìn con người như một chủ thể toàn vẹn, vừa
là sản phẩm của lịch sử - xã hội, vừa là người sáng tạo ra lịch sử - xã hội, vừa tạo ra bản thân mình Với ý nghĩa này, con người vừa sáng tạo ra văn hóa cho
xã hội, vừa văn hóa hóa chính mình Như vậy, con người toàn vẹn chính là con người văn hóa Con người tự văn hóa hóa chính mình, đó chính là con người đóng vai trò chủ thể thẩm mỹ - chủ thể nghệ thuật Từ thời cổ đại, các triết gia đã coi GDNT là một trong những phương thức hiệu quả nhất cho việc giáo dục con người trở thành người tốt GDNT là một hoạt động xã hội, gắn liền với các thiết chế xã hội và vai trò con người, là nhu cầu tất yếu, là mục đích của sự nghiệp phát triển con người của xã hội và chính là một trong những phương thức giáo dục hiệu quả nhằm phát triển con người văn hóa - chủ thể nghệ thuật
Sự phát triển con người với tư cách vừa là chủ thể, vừa là khách thể nghệ thuật, có tình cảm thẩm mỹ - nghệ thuật, có lý trí sâu sắc, có năng lực sáng tạo cao, tất nhiên phải là một quá trình giáo dục có tính tổng hợp GDNT
là loại hình giáo dục tổng hợp mà ở đó, trước hết phải có các nền tảng văn hóa chung, song văn hóa thẩm mỹ là nền tảng giá trị trực tiếp, và đặc biệt là nền tảng giá trị Thế giới thẩm mỹ, đặc biệt là thế giới nghệ thuật với bản chất, đặc trưng có tính toàn vẹn của nó sẽ tác động và làm phát triển toàn diện, hài hòa tất cả các mặt: thể chất, tinh thần, trí tuệ, tài năng của con người bên cạnh
sự phát triển tất cả các lĩnh vực tri thức khác
GDNT là lĩnh vực có khả năng mang đến cho đối tượng những tri thức,
kỹ năng cơ bản để có thể tiếp cận, thưởng thức và sáng tạo một hay nhiều loại hình nghệ thuật Kết quả của GDNT sẽ hướng tới cho đối tượng tham gia vào
Trang 19quá trình giáo dục nâng cao khả năng cảm thụ nghệ thuật, nâng cao năng lực sáng tạo, hoàn thiện nhân cách, từ đó phát huy vai trò của GDNT đối với một
xã hội trong giáo dục văn hóa, định hướng sáng tạo, phát triển văn hóa Để thực hiện những mục đích khác nhau của GDNT nói riêng và các mục đích giáo dục khác, GDNT chính là hỗ trợ quyền con người về giáo dục và tham gia vào đời sống văn hóa, phát triển các khả năng của cá nhân, nâng cao chất lượng sống, góp phần cho sự phong phú nền văn hóa Đường lối phát triển GDNT của Nga nhận định: GDNT đó là quá trình nắm vững và chinh phục con người bởi văn hóa của dân tộc mình và của nhân loại, một trong những phương thức quan trọng nhất để phát triển và hình thành nhân cách toàn diện, tâm hồn, tính sáng tạo, sự phong phú về trí tuệ và cảm xúc Quá trình này bao gồm sự hình thành những nhận thức về mặt lịch sử văn hóa của dân tộc và nhân loại; hình thành phương pháp thực hành, biểu hiện nghệ thuật với các loại hình nghệ thuật khác nhau; hình thành các tiêu chí để thưởng thức, đánh giá nghệ thuật ở các góc độ tinh thần bao gồm tư duy về lý tưởng, đạo đức [117] Theo quan điểm hiện đại về GDNT của một số nhà nghiên cứu Văn hóa học Nga, GDNT được xem như nguồn gốc và phương thức phát triển con người (đặc biệt là lớp trẻ), là mảnh đất mà trên đó có thể gieo trồng và nuôi dưỡng các tiềm năng tinh thần, đạo đức, thẩm mỹ và sáng tạo của mỗi cá nhân [115] Trong các nhà trường, GDNT sẽ tạo nên một môi trường văn hóa - tinh thần để thông qua đó làm đổi mới nội dung giáo dục và phong phú thêm những hình thức, nội dung hiện đại trong giáo dục lĩnh vực nghệ thuật Những điều kiện văn hóa - xã hội
có ảnh hưởng chi phối GDNT tới sự hình thành nhân cách con người xã hội Mỗi một nền văn hóa - xã hội khác nhau thì có sự khác nhau trong việc định hướng nhân cách con người Bởi vậy, hình thành nhân cách, thế giới quan kiểu mới của con người trong xã hội hiện đại cũng chịu sự tác động trực tiếp của những điều kiện văn hóa - xã hội hiện đại Mặt khác, trong xã hội hiện đại, sự bùng nổ
Trang 20của công nghệ thông tin đã chứng minh rằng, sự thay đổi căn bản của các hình thức sản xuất và tiêu thụ của xã hội gắn liền với sự phát triển và ứng dụng các công nghệ thông tin mới, dẫn đến sự xuất hiện nhu cầu mới trong việc sử dụng các phương tiện để thực hiện GDNT (công cụ hiện đại để sáng tạo, thưởng thức nghệ thuật: thiết bị nghe nhìn) Yêu cầu mới lại đặt ra và đòi hỏi tính chuyên nghiệp trong GDNT đối với đội ngũ giảng dạy nghệ thuật, thể hiện ở việc ứng dụng các thiết bị nghe nhìn trong quá trình GDNT
GDNT là quá trình nhận thức hiện thực của đời sống xã hội của con người và diễn ra liên tục, là yếu tố quan trọng trong hình thành và phát triển nhân cách, là điều kiện cho sáng tạo Và quá trình GDNT là quá trình diễn ra lâu dài, thường xuyên, liên tục, về bản chất là không có sự kết thúc
Từ đó, chúng ta có thể đưa ra quan niệm về GDNT như sau:
GDNT là một hoạt động giáo dục của các chủ thể trong lĩnh vực đời sống tinh thần của xã hội gắn với nghệ thuật, thông qua những hình thức, biện pháp phong phú, đa dạng trong giáo dục nâng cao sự hiểu biết, tri thức, đặc trưng, kỹ năng của con người về phương diện nghệ thuật, nhằm bồi dưỡng và nâng cao năng lực thẩm mỹ, tri thức nghệ thuật, định hướng lý tưởng nghệ thuật, thị hiếu nghệ thuật cho con người
Như vậy, quá trình GDNT được thực hiện đầy đủ khi nó đảm bảo cho đối tượng giáo dục được trang bị đầy đủ tri thức nghệ thuật (để hiểu, cảm thụ và đánh giá về một tác phẩm nghệ thuật); kỹ năng, kỹ xảo nghệ thuật (để biểu hiện nghệ thuật), có nghĩa là bồi dưỡng năng lực nghệ thuật Khi đối tượng giáo dục có năng lực nghệ thuật, có nghĩa là nghệ thuật sẽ phát huy vai trò và trở thành một công cụ, phương tiện để thực hiện các mục đích giáo dục khác,
ví dụ như: sử dụng âm nhạc để giáo dục thẩm mỹ, giáo dục nhận thức, giáo dục chính trị; sử dụng sân khấu để giáo dục lịch sử văn hóa dân tộc, giáo dục đạo đức, giá Như vậy, giáo dục nghệ thuật cao hơn cả là giúp cho con người nâng cao nhận thức thẩm mỹ, bồi dưỡng và hoàn thiện nhân cách
Trang 211.2 Chức năng của giáo dục nghệ thuật
Mục đích xây dựng yếu tố con người của bất kỳ xã hội phát triển nào cũng đều là chủ động tạo ra những con người phát triển toàn diện và hài hòa tất cả các mặt từ thể chất đến tinh thần, từ đạo đức đến tài năng, làm cho mỗi
cá nhân từng bước trở thành những cá nhân có khả năng hoạt động sáng tạo
và hưởng thụ các giá trị do mình tạo ra Khả năng sáng tạo và khả năng hưởng thụ các giá trị, nhất là các giá trị văn hóa, các giá trị nghệ thuật đòi hỏi một trình độ cao Trình độ đó gần gũi với trình độ nghệ thuật, bởi nói đến nghệ thuật
là nói đến sáng tạo, nói đến khả năng sáng tạo Bốn nhóm chức năng mang những đặc trưng riêng của nghệ thuật theo quan điểm của Mỹ học Mác - Lênin như: chức năng thưởng thức gồm khoái cảm, giải trí, đền bù; chức năng nhận thức gồm phát kiến, tiên đoán, dự báo; chức năng giáo dục gồm thức tỉnh, thanh lọc, sáng tạo; chức năng giao lưu gồm thông tin, giao tiếp…đã làm quá trình văn hóa hóa của con người trở nên hiệu quả [36, tr.281] Vì vậy, đối với mục đích tạo ra những con người có khả năng sáng tạo và hưởng thụ các giá trị do mình tạo ra thì GDNT có vai trò và lợi thế đặc biệt
Chức năng đầu tiên của GDNT là giáo dục năng lực thưởng thức nghệ thuật Chức năng này làm cơ sở vững chắc cho sự phát triển những phẩm chất nghệ thuật của các đối tượng được giáo dục Hơn nữa, năng lực thưởng thức nghệ thuật cũng chứa đựng những yếu tố nghệ thuật trong bản thân các chủ thể nghệ thuật, chứa đựng bản chất quan hệ và trình độ thẩm mỹ - nghệ thuật trong bản chất và mọi hoạt động của con người, thể hiện trên ba bình diện chủ yếu: tri thức nghệ thuật, năng lực hoạt động nghệ thuật, thế giới các sản phẩm nghệ thuật Chức năng của GDNT là xây dựng và nâng cao năng lực thưởng thức nghệ thuật của xã hội, của các cá nhân theo ba bình diện tri thức, hoạt động, sản phẩm nghệ thuật nêu trên
Trang 22GDNT có chức năng hình thành ở cá nhân các nhu cầu và thị hiếu nghệ thuật, năng lực đánh giá, thẩm định nghệ thuật, khả năng tổ chức và hoạt động, sáng tạo nghệ thuật Như vậy cùng với chức năng giáo dục năng lực thưởng thức nghệ thuật, GDNT còn phải xây dựng những chủ thể nghệ thuật có đầy đủ các phẩm chất, năng lực và khả năng thẩm mỹ nghệ thuật của mình Trên cơ sở những chức năng của nghệ thuật theo quan điểm của
Mỹ học Mác - Lênin, luận án tổng hợp và cụ thể hóa một số chức năng cơ bản của GDNT như sau:
- GDNT tạo khả năng thẩm mỹ hóa, nghệ thuật hóa cao độ thế giới khách quan bên ngoài và bản chất bên trong của con người (của chính bản thân người được giáo dục), nghĩa là GDNT vừa thẩm mỹ hóa, nghệ thuật hóa thế giới bên ngoài con người (môi trường) vừa phải thẩm mỹ hóa, nghệ thuật hóa thế giới bên trong của chính các chủ thể thẩm mỹ, chủ thể nghệ thuật
- GDNT làm cho sự sáng tạo (hoạt động sáng tạo) theo quy luật thẩm mỹ - quy luật nghệ thuật, trở thành nhu cầu sống và tác động tới mọi hoạt động sống của các cá nhân, của cả xã hội Thế giới nghệ thuật là thế giới các giá trị tổng hợp, nơi kết tụ các ước mơ, khát vọng, nơi thể hiện các khả năng chiếm lĩnh những đỉnh cao tình cảm, trí tuệ không chỉ trong hiện thực, mà cả trong tương lai Vì vậy, GDNT còn có chức năng làm cho con người không chỉ được nâng cao về nhu cầu nghệ thuật, mà còn được phát triển cao các khả năng hiện thực hóa các nhu cầu nghệ thuật của mình Để có được điều đó, mỗi cá nhân phải trở thành một chủ thể nghệ thuật: hiểu biết về bản chất, cấu trúc, đặc điểm của nghệ thuật, hiểu biết các loại hình, loại thể nghệ thuật, đồng thời có khả năng thể hiện (biểu diễn, thực hành) được một số loại hình, loại thể nghệ thuật
- GDNT cũng có chức năng cung cấp cái nhìn tổng quát, sinh động và uyển chuyển thông qua tri thức thẩm mỹ - nghệ thuật; hỗ trợ cho việc làm phong phú và mềm mại hóa, uyển chuyển hóa cách nhìn, cách tư duy cũng như các thao tác,
Trang 23các hoạt động của con người Thực chất, đó là nghệ thuật hóa suy nghĩ, tư duy, hành vi, hành động của các chủ thể được giáo dục, đưa nghệ thuật vào đời sống con người Trong thời đại ngày nay, khi người lao động trở thành những chủ thể tích cực của đời sống vật chất - tinh thần, những con người sáng tạo ra các giá trị văn hóa ngày càng cao, thì sự phát triển các chủ thể nghệ thuật có tư tưởng đúng, tình cảm đẹp, biết thưởng thức cái đẹp, biết hành động có hiệu quả theo quy luật của cái đẹp trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, càng trở nên bức thiết Khi trong xã hội chất lượng sống cao thì nhu cầu nghệ thuật cũng cần được nâng cao GDNT phải đạt tiêu chí, các thông số thẩm mỹ - nghệ thuật không chỉ theo tiêu chí và thông số của hoạt động nghệ thuật, mà là của mọi lĩnh vực hoạt động sống của con người trong xã hội
Trong điều kiện đổi mới và hội nhập quốc tế, trong xu thế phát triển khoa học, công nghệ, nghệ thuật đương đại, các chuẩn mực và các tiêu chí thẩm mỹ - nghệ thuật cũng vận động theo cấp độ tiến bộ chung Giáo dục thẩm mỹ - nghệ thuật có chức năng góp phần gợi mở các cách tiếp cận tới cái đẹp, định hướng thẩm mỹ - nghệ thuật cho nhân dân Hiện tại, đời sống nhân dân còn thấp, nhưng
để thực hiện sự nghiệp phát triển con người, GDNT cần có những phương án chủ động Cần phát triển môi trường văn hóa - xã hội, nâng cao chất lượng lao động - sản xuất và chất lượng sống của nhân dân, đưa cái đẹp (nghệ thuật) vào đời sống
và biến nhu cầu thẩm mỹ - nghệ thuật thành lẽ sống hàng ngày, thành chuẩn mực phát triển cá nhân và xã hội Nâng cao cũng là điều kiện tạo nên sự hài hòa giữa con người với con người, con người với thiên nhiên GDNT sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một xã hội văn minh
1.3 Các lý thuyết về giáo dục nghệ thuật
Trong lịch sử xã hội loài người đã có những quan điểm khác nhau về GDNT Tùy theo lập trường, thế giới quan, phương pháp luận mà vấn đề về GDNT được các nhà nghiên cứu đặt ra và giải quyết với những mức độ cấp
Trang 24thiết khác nhau Cũng chính bởi vậy, các lý thuyết về GDNT cũng được các nhà nghiên cứu sử dụng khác nhau để tiếp cận phù hợp với mục đích nghiên cứu của mình Nếu như lựa chọn âm nhạc như một chất liệu để thực hiện GDNT cho con người, lý thuyết về sự lây lan của Vưgốtxki, cùng với quan điểm về sự tiếp nhận nghệ thuật của Mỹ học Mác - Lênin sẽ là những cơ sở lý luận phù hợp để nghiên cứu phát huy hiệu quả của quá trình GDNT cho con người nhằm đạt mục đích nâng cao năng lực nghệ thuật, bồi dưỡng thẩm mỹ nghệ thuật, giúp cho sự hoàn thiện nhân cách
1.3.1 Lý thuyết về sự lây lan
Trong số những công trình nghiên cứu về nghệ thuật xuất hiện trên thế giới, “Tâm lý học nghệ thuật” của Vưgốtxki là một trong những công trình gây tiếng vang, là những phát kiến mới của ông về mối liên hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống Trong nghiên cứu này, Vưgốtki đã đề cập đến nhiều thuyết và quan điểm về nghệ thuật của các nhà văn lớn như: Sếchxpia, Gớt, Tônxtôi Qua giới thiệu, phân tích có phê phán những thuyết của các tác giả này, Vưgốtxki đưa ra nhiều ý kiến hết sức thích đáng về những vấn đề cơ bản của văn học, nghệ thuật, trong đó nhấn mạnh về bản chất, đặc trưng, vai trò và tác động của nghệ thuật, phép biện chứng giữa nội dung và hình thức trong tác phẩm nghệ thuật…đứng trên quan điểm tâm lý học ứng dụng để khẳng định vai trò tác động của nghệ thuật trong đời sống xã hội
Lép Tônxtôi đã từng đưa ra thuyết nổi tiếng về tác động xã hội của nghệ thuật như là sự lây lan tình cảm Theo ông, thông qua tác phẩm nghệ thuật, tình cảm của một người nghệ sĩ lây lan sang một hay nhiều người khi người
đó thưởng thức nghệ thuật Tônxtôi quan tâm đến phương diện số lượng trong tác động của nghệ thuật Vưgốtxki bằng phân tích đã lưu ý chúng ta đến phương diện biến đổi về chất trong sự sáng tạo nghệ thuật Ông viết: “Âm nhạc không chỉ trực tiếp những hành vi nào phải diễn ra tiếp theo sau đó, tuy
Trang 25nhiên việc nó làm sống dậy những sức mạnh nào, cái gì nó giải thoát và cái gì
nó chèn nén sâu hơn là những điều tác động cơ bản của nó, vào chiều hướng
mà nó đưa lại cho catacxit tâm lý” [113, tr.8] Theo thuyết của Tônxtôi, tình cảm của tác giả lây lan sang công chúng thì trở thành tình cảm xã hội Vưgốtxki làm sáng tỏ bản chất xã hội của nghệ thuật bằng quan niệm “Nghệ thuật là kỹ thuật xã hội của tình cảm…sức mạnh của tình cảm xã hội được khách thể hóa, được vật chất hóa và củng cố trong những đối tượng bên ngoài của nghệ thuật, những đối tượng được biến thành những công cụ của xã hội” [113, tr.8] Ông cũng phân tích cho thấy, nghệ thuật là kỹ thuật xã hội của tình cảm, là công cụ của xã hội, bằng phương tiện nghệ thuật, nó lôi cuốn vào phạm vi đời sống xã hội những mặt sâu kín nhất và riêng tư nhất của thực thể chúng ta Tônxtôi quan tâm đến sức mạnh truyền cảm của nghệ thuật Vưgốtxki làm nổi bật quyền lực mãnh liệt của sức mạnh này Khi nói tới ma lực tiết tấu của nhạc, ông đã dẫn ý kiến của Nitse: “Nó (tiết tấu) làm nảy sinh ham muốn ghê gớm muốn bắt chước, hòa nhịp với nó không chỉ bằng bước chân, mà hòa cả tâm hồn…” [113, tr.9] Theo ông, khả năng trút xả trong nghệ thuật hình thành nên trong con người những say mê cực lớn Những quan niệm của Vưgốtxki về tính năng tác động của âm nhạc vào tư tưởng, tình cảm, lay động và thức tỉnh tâm hồn con người là hoàn toàn có lý Toàn
bộ hành vi ứng xử của con người với nghệ thuật từ sự say mê ấy không ngoài
gì hơn là quá trình cân bằng cơ thể với môi trường, như vậy nghệ thuật chính
là sự tích tụ cuộc sống Vưgốtxki cũng đã dựa trên những nghiên cứu của Biukher về cội nguồn của âm nhạc và thơ ca là từ công việc tay chân nặng nề
và chúng có nhiệm vụ giải quyết bằng catacxit sự căng thẳng nặng nề của lao động để nêu ra đặc điểm của âm nhạc là xuất phát từ lao động Và theo ông,
về sau này khi nghệ thuật đã tách khỏi nghệ thuật và tồn tại như một hoạt động độc lập thì nó đưa vào bản thân tác phẩm nghệ thuật cái yếu tố trước kia
do lao động tạo ra; “cái cảm xúc nhọc nhằn đau khổ cần được giải quyết, giờ
Trang 26đây bắt đầu được dấy lên bởi chính nghệ thuật, nhưng bản chất của cảm xúc
ấy vẫn là như vậy” [113, tr.463] Vưgốtxki cũng có lý khi ông phân tích chỉ ra những sai lầm khi nghĩ rằng âm nhạc trực tiếp khêu gợi cảm xúc chiến đấu Theo ông, âm nhạc không khêu gợi lên cảm xúc này một cách trực tiếp, có chăng là nó tháo gỡ dứt khoát nỗi sợ hãi và sự xáo động thần kinh, nó dường như tạo điều kiện thuận lợi cho cảm xúc chiến đấu biểu hiện [113, tr.457] Vưgốtxki đã đi từ những phân tích, lý giải những quan niệm về âm nhạc của Tônxtôi; phân tích quan niệm về nhịp điệu của Nitsơ; phân tích quan niệm của Buikher về xác định cội nguồn của những bài ca, quan niệm của Pêtragitxki về tính mục đích kích thích cảm xúc của nghệ thuật…[113, tr.458]
để chứng minh cho thấy vai trò tác động của nghệ thuật trong đời sống xã hội trên cơ sở lý thuyết về sự lây lan Với lý thuyết này, những nghiên cứu mang tính ứng dụng tâm lý như việc GDNT cho con người, trong đó có GDNT bằng
âm nhạc sẽ có sơ sở để ứng dụng nghiên cứu hiệu quả
1.3.2 Quan điểm về sự tiếp nhận nghệ thuật
Nói đến nghệ thuật là nói đến yếu tố thẩm mỹ, là nói đến sự thể hiện cái đẹp một cách tiêu biểu, cô đọng Theo Mỹ học Mác - Lênin, con người tiếp xúc với nghệ thuật và được nó tác động đến mọi mặt đời sống từ khía cạnh thẩm mỹ của
nó Yếu tố thẩm mỹ bao giờ cũng có mặt trong mọi sự vận động, mọi sự tác động của nghệ thuật tới con người và đời sống xã hội Khi tác động tới các đối tượng
đó, yếu tố thẩm mỹ như là nhân lõi đặc trưng gây nên xúc cảm thẩm mỹ, khoái cảm thẩm mỹ, thanh lọc và nâng cao tâm hồn; bồi dưỡng, nâng cao hiểu biết và phẩm chất đạo đức, năng lực thẩm mỹ và văn hóa cho con người [36, tr.278] Rõ ràng, với quan điểm này, nghệ thuật đã có mặt trong cả sự nhận thức lẫn trong sự giáo dục Nhận định về sức mạnh tác động của nghệ thuật tới quá trình văn hóa hóa của con người và xã hội đã được Mỹ học Mác - Lênin làm rõ từ những quan niệm về sự cảm thụ và tiếp nhận nghệ thuật [36, tr 251- 375]
Trang 27Thực vậy, theo những quan điểm về nghệ thuật của Mỹ học Mác - Lênin, khả năng nhận thức và giáo dục của nghệ thuật mang những nét riêng mà các hình thái ý thức khác không có được Tác phẩm nghệ thuật là chỉnh thể chân - thiện - mỹ Nghệ thuật là sự tập trung lý tưởng con người, nó nhận thức thế giới bằng các cảm quan, cảm xúc mạnh mẽ, đi vào chiều sâu nội tâm đối tượng, phát hiện những quy luật tình cảm riêng có của con người Nhận thức nghệ thuật là nhận thức có tính toàn năng, đem lại một tri thức thẩm mỹ trọn vẹn Mặc dù tri thức có được từ nhận thức nghệ thuật là những tri thức gián tiếp nhưng vô cùng sống động dưới hình thức đời sống cụ thể - cảm tính Vì vậy, nghệ thuật gây được ấn tượng của vốn sống trực tiếp Sự phong phú của vốn sống gián tiếp được kết hợp với độ sâu sắc của vốn sống trực tiếp, bằng tài năng và phương thức nhận thức riêng, nghệ sĩ nâng mặt thẩm mỹ lên trình
độ cao, làm cho nó có khả năng nhận thức chuẩn xác Hơn nữa, tính chất nhiều tầng lớp của nghệ thuật tạo ra khả năng nhận thức cũng nhiều cấp độ, nhiều ý nghĩa, nhìn thấy cả cái bên ngoài lẫn cái bên trong hiện hàm và hàm
ẩn, hiện tại, quá khứ, tương lai… Xoay quanh trục giá trị, nghệ sĩ khơi gợi sự hình thành thái độ yêu - ghét, cảm phục - khinh bỉ… của người cảm thụ với nhiều cung bậc, sắc thái khác nhau Cũng chính bởi lẽ đó mà Mỹ học Mác - Lênin đã khẳng định: không có một hình thức tư tưởng nào lại có thể thay thế được nghệ thuật trong việc xây dựng một tình cảm lành mạnh, thế giới tinh thần phong phú và sâu sắc, hình thành nếp nghĩ, nếp sống cao đẹp [36, tr.283]
Khi nói tới giáo dục nói chung, hình thức phổ biến mà con người tiếp nhận sự giáo dục là giảng giải, khuyên bảo, chứng minh GDNT là hình thức mang tới cho con người sự hiểu biết, sự cảm hóa khi tiếp xúc với nghệ thuật thông qua những cảnh đời, những số phận, những hình tượng sống động chứa đầy cảm xúc,… Vì vậy, tiếp xúc với nghệ thuật, rồi cảm thụ, tiếp nhận nghệ thuật không bị ức chế bởi tâm lý “bị giáo dục” Con người tìm đến nghệ thuật
Trang 28như một phương tiện để giải trí hoàn toàn thoải mái và tự do Người thưởng thức được cuốn vào các tác phẩm nghệ thuật với những khả năng biến hóa kì diệu của màu sắc, ngôn ngữ, âm thanh, nhịp điệu,… của các diện mạo tâm trạng con người Mỗi tác phẩm nghệ thuật là một thử nghiệm sáng tạo, vì nó luôn tạo ra tình huống bất ngờ, đem lại niềm sảng khoái và những phát hiện mới mẻ, đem đến người cảm thụ kinh nghiệm mang ý nghĩa nhân sinh, khâm phục cái đẹp, kích thích khát vọng vươn tới cái đẹp Chỉ trong quá trình cảm thụ nghệ thuật, giá trị của tác phẩm mới được phát huy, chức năng xã hội của
nó mới được thực hiện
Khi công chúng tiếp xúc với tác phẩm nghệ thuật, quá trình cảm thụ nghệ thuật mới được bắt đầu Quá trình công chúng cảm thụ tác phẩm, sự tiếp nhận nghệ thuật của công chúng được diễn biến Nhân tố thúc đẩy và quy định sự cảm thụ và tiếp nhận ấy chính là từ những nhu cầu phong phú cùng với năng lực nghệ thuật của từng cá nhân người cảm thụ và của chính cuộc sống xã hội Quá trình thưởng thức, tiếp nhận nghệ thuật là một quá trình đầy sáng tạo nghệ thuật, vì qua tính chất biểu trưng, tính chất ước lệ của tác phẩm nghệ thuật, người thưởng thức nghệ thuật được khơi gợi toàn bộ thế giới tinh thần, kho tàng ký ức, kinh nghiệm; tưởng tượng và liên tưởng về những vấn
đề khác nhau, những cuộc đời khác nhau, hình dung ra một thế giới tinh thần mới mà trong tác phẩm không có Tác phẩm nghệ thuật chân chính hướng công chúng đi theo lý tưởng thẩm mỹ mà xã hội, thời đại đang vươn tới Nhưng tác phẩm nghệ thuật không hướng người cảm thụ bằng con đường bình thường như truyền thụ những tri thức khoa học, giáo lý đạo đức, cuộc sống,… mà thông qua khả năng gợi mở, cuốn hút của nghệ thuật, từ đó làm cho người cảm thụ tiếp thu được những giá trị nghệ thuật như một đơn vị cuộc sống trọn vẹn với tinh thần tự nguyện, say mê Nếu như khi tiếp xúc với nghệ thuật, người cảm thụ chỉ chú ý xem và lựa chọn sẽ tiếp thu, tiếp nhận gì
Trang 29từ tư tưởng của tác phẩm Một sự chú ý hay trạng thái chú ý như vậy sẽ làm ảnh hưởng hay còn có thể giết chết sự rung cảm hay khoái cảm thẩm mỹ, nghĩa là lúc đó người ta chỉ thấy được nội dung tư tưởng như một sự phân tích lôgic khoa học Cái xúc cảm tạo nên sự thăng hoa tinh thần và sự thanh lọc tâm hồn vì thế mà dường như biến mất Nghệ thuật và sự cảm thụ nghệ thuật đúng nghĩa của nó chính là sự thưởng ngoạn, ở đó sự tiếp nhận nội dung tác phẩm trong sự thích thú, đầy hứng cảm như một “trò chơi”, một sự thôi miên dẫn con người vào thế giới tưởng tượng thăng hoa, chính trong trạng thái đó làm cho sự “nhận thức” thêm sâu sắc, từ cảm xúc thẩm mỹ mà thanh lọc và nâng cao tâm hồn Chính vì vậy, cái đúng, cái chân lý của sự cảm thụ nghệ thuật không phải là cái đúng, cái chân lý hoàn toàn khách quan Vì nghệ thuật tạo ra giá trị, chân lý nghệ thuật đem lại giá trị cho cuộc sống, con người Cho nên khi các yếu tố khách quan - chủ quan, chung - riêng, lý trí - tình cảm,… hòa hợp, tạo ra một sự gặp gỡ, hòa nhập cao độ giữa tác phẩm với người cảm thụ sẽ tạo nên xúc cảm mạnh, khoái cảm lớn, dẫn tới sự thăng hoa, sự thanh lọc theo hướng cái đẹp, cái cao cả… đó là khi người cảm thụ nghệ thuật tiếp cận được tới chân lý nghệ thuật
Một đặc điểm rất rõ về sự cảm thụ, tiếp nhận nghệ thuật là hiệu quả của quá trình này không chỉ phụ thuộc vào tác phẩm nghệ thuật, mà còn phụ thuộc nhiều vào năng lực của người cảm thụ, tiếp nhận Nghĩa là khoảng cách về mức độ rung cảm thẩm mỹ, về sự thăng hoa, thanh lọc,… rất khác nhau ở những chủ thể cảm thụ, tiếp nhận khác nhau Kết quả của quá trình cảm thụ nghệ thuật là những hình tượng nghệ thuật khách quan của tác phẩm đan quyện với nhân tố chủ quan của người cảm thụ Ở đây có hai hiện thực diễn ra: một hiện thực là kinh nghiệm sống của người cảm thụ và một hiện thực là
do người nghệ sỹ tạo ra trong tác phẩm Như vậy, một mặt, hình tượng tác phẩm nghệ thuật cuốn hút người cảm thụ theo định hướng nghệ thuật Mặt
Trang 30khác, người cảm thụ đem kinh nghiệm của bản thân đối chiếu với nghệ thuật
Từ đó diễn ra hai cuộc đối thoại: đúng hay sai, tiếp nhận hay gạt bỏ Vì vậy, nhận thức nghệ thuật cũng là một hệ thống mở huy động tiềm năng sáng tạo Đến đây, tính tích cực của chủ thể có vai trò rất quan trọng Toàn bộ năng lực cảm thụ nghệ thuật được huy động độ cuốn hút của tác phẩm càng lớn thì sự huy động năng lực cảm thụ càng lớn Hình tượng nghệ thuật được tinh thần hóa trở lại trong người cảm thụ, lúc này hình tượng nghệ thuật mang sắc thái chủ quan của người cảm thụ Điều này được quy định bởi hàng loạt yếu tố: đặc điểm tâm sinh lý, môi trường, hoàn cảnh sống, trình độ học vấn, lứa tuổi, trình độ thẩm
mỹ, tình huống lúc thưởng thức, tính cách, các yếu tố nội sinh,… của người cảm thụ Chủ thể cảm thụ, tiếp nhận nghệ thuật không chỉ đóng khung trong
sự tiếp cận những tín hiệu chứa trong hình tượng, trong tác phẩm nghệ thuật,
mà còn phát hiện thêm những vấn đề, liên tưởng tới những vấn đề trong tác phẩm không có Đó là điều kiện ưu trội trong cảm thụ nghệ thuật, tạo cho chủ thể cảm thụ được “sống lại”, “cộng sinh” với văn hóa, làm cho thế giới tinh thần của người cảm thụ ngày càng sâu sắc và phong phú, nâng cao hiệu quả cải tạo xã hội, cải tạo con người, cải tạo cuộc sống của nghệ thuật
Với những quan niệm và ý nghĩa trên, quan niệm về sự tiếp nhận nghệ thuật của Mỹ học Mác - Lênin đưa chúng ta tới nhận định: không có hiểu biết nghệ thuật thì không có hứng thú, rung cảm thẩm mỹ và say mê cảm thụ nghệ thuật Không có hiểu biết nghệ thuật, việc cảm thụ nghệ thuật chỉ dừng lại ở những lớp cấu trúc bên ngoài mà không thực hiện được chức năng xã hội của
nó là phát triển và hoàn thiện con người Bởi vậy, để bồi dưỡng, nâng cao năng lực nghệ thuật cho công chúng, để nghệ thuật thực hiện được chức năng
xã hội của nó thì GDNT cần là cầu nối giữa tác phẩm nghệ thuật và cuộc sống, giữa công chúng và người nghệ sĩ
Trang 31Sơ đồ quá trình giáo dục nghệ thuật
1.4 Điều kiện giáo dục nghệ thuật
GDNT về cơ bản là có định hướng, có kế hoạch, mục đích là nâng cao trình độ hiểu biết, trình độ nhận thức về nghệ thuật, hướng dẫn đối tượng tiếp nhận GDNT hoạt động theo các chương trình và các mục tiêu xác định GDNT để đạt được hiệu quả cần có những điều kiện để thực hiện như: chủ thể GDNT, đối tượng tiếp nhận GDNT, các yếu tố bảo đảm cho thực hiện GDNT Với giới hạn nghiên cứu của luận án, chủ thể GDNT và đối tượng tiếp nhận là những cơ quan, đơn vị, con người trong quân đội Luận án làm rõ những yếu
tố này trong các phần tiếp sau Phần lý luận về GDNT, luận án đề cập tới nội dung GDNT và chất liệu GDNT như một trong những điều kiện cần của quá trình GDNT
1.4.1 Nội dung của giáo dục nghệ thuật
Những nội dung chủ yếu của GDNT nhằm hướng tới xây dựng năng lực thưởng thức và thị hiếu nghệ thuật cho công chúng Người có trình độ nghệ thuật sẽ tăng thêm chất lượng hoạt động nghệ thuật (kể cả chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp), nâng cao năng lực sáng tạo trong hoạt động sống nói chung, đó là những con người phát triển cao về nhân cách, có tình cảm đẹp, lý trí sâu sắc, có khả năng sáng tạo dồi dào Trang bị cho mỗi cá nhân một vốn kiến thức chung, phong phú, một trình độ nghệ thuật sâu sắc để
cá nhân xác định được lý tưởng thẩm mỹ - nghệ thuật, khả năng cảm thụ và đánh giá nghệ thuật, giúp cá nhân tránh được hoạt động tùy tiện, tự phát, tiến
Trang 32tới hoạt động tự giác trong cảm thụ, đánh giá và sáng tạo trong nghệ thuật nói riêng, trong hoạt động sống nói chung là những nội dung cần có của GDNT Trên cơ sở những nội dung cơ bản của giáo dục thẩm mỹ theo quan điểm của
Mỹ học Mác - Lênin [36, tr.383-387], GDNT cần phải hình thành ở chủ thể nghệ thuật những nội dung cơ bản sau:
(1) Ý thức nghệ thuật: Đây là một trong những lĩnh vực của thế giới tinh
thần của con người, cùng với ý thức nói chung và các loại ý thức cụ thể khác, nhất là ý thức thẩm mỹ Ý thức nghệ thuật gồm tình cảm nghệ thuật và tri giác nghệ thuật, những yếu tố tạo nên cảm xúc, cảm nhận và thị hiếu nghệ thuật
(2) Lý trí nghệ thuật: Nội dung này gồm lý tưởng thẩm mỹ - nghệ thuật, nhu
cầu thẩm mỹ - nghệ thuật, các quan điểm (hay lý thuyết) thẩm mỹ - nghệ thuật
(3) Tri thức nghệ thuật: Toàn bộ kiến thức về bản chất, cấu trúc, đặc
điểm của nghệ thuật; tất cả các loại hình, loại thể nghệ thuật từ bản chất đến đặc điểm, đặc trưng của chúng Tri thức nghệ thuật cùng với năng lực nghệ thuật thể hiện trình độ nghệ thuật
(4) Năng lực nghệ thuật: Năng lực nghệ thuật thể hiện ở ba cấp độ:
- Cảm thụ nghệ thuật
- Đánh giá nghệ thuật
- Sáng tạo nghệ thuật
(5) Văn hóa nghệ thuật của cá nhân: Ý thức nghệ thuật, tri thức nghệ
thuật, năng lực nghệ thuật, trình độ nghệ thuật tồn tại trong mỗi cá nhân, nó được vận dụng, được thể hiện trong suy nghĩ, hành động của cá nhân và xã hội, nó thể hiện VHNT của cá nhân
Để có được VHNT, trình độ nghệ thuật, tri thức nghệ thuật trước hết phải giáo dục tình cảm nghệ thuật Cảm giác nghệ thuật là cửa ngõ đầu tiên để chủ thể tri giác, cảm nhận nghệ thuật về thế giới hiện thực Xây dựng được tình cảm nghệ thuật sâu sắc, lành mạnh, sẽ tạo điều kiện cho chủ thể phân biệt
Trang 33được cái đúng - cái sai, cái đẹp - cái xấu, cái tiến bộ - cái lạc hậu Tri giác nghệ thuật đúng, cảm nhận nghệ thuật đúng sẽ là nền tảng cho xúc cảm nghệ thuật đúng đắn, mạnh mẽ, tinh tế và phong phú Xúc cảm và rung cảm nghệ thuật sẽ hình thành được thị hiếu nghệ thuật đúng Thị hiếu nghệ thuật với tư cách là năng khiếu nghệ thuật, là năng lực đánh giá, lựa chọn, tiếp nhận không chỉ trong cảm thụ mà cả trong sáng tạo nghệ thuật của chủ thể nghệ thuật Thị hiếu nghệ thuật làm cơ sở cho phản ứng nhanh nhạy trước các hiện tượng của thế giới khách quan cũng như trong đời sống xã hội, nhận ra được cái đúng - cái sai, cái đẹp - cái xấu Thị hiếu nghệ thuật quy định lý tưởng nghệ thuật Lý tưởng nghệ thuật với tư cách là một loại năng lực xác định hướng cảm thụ, đánh giá và sáng tạo nghệ thuật, nó thể hiện hoài bão, khát vọng vươn tới cái đẹp chân chính Khi lý tưởng nghệ thuật được hình thành thì nó tác động trở lại thị hiếu nghệ thuật Lý tưởng nghệ thuật thôi thúc phát triển nhu cầu nghệ thuật Nhu cầu nghệ thuật là nhu cầu bậc cao trong đời sống tinh thần Đó là nhu cầu được thưởng ngoạn, được tiếp nhận, được sống theo tiêu chí nghệ thuật và sáng tạo nghệ thuật, mong muốn đưa cái đẹp vào cuộc sống để hoàn thiện chính mình Nhu cầu nghệ thuật và lý tưởng nghệ thuật làm tiền đề cho nhau và cùng phát triển Lý tưởng nghệ thuật và thị hiếu nghệ thuật muốn phát triển đúng thì phải dựa trên cơ sở một hệ thống quan điểm (lý thuyết) nghệ thuật đúng, một thế giới quan khoa học và nhân sinh quan tiến bộ, một lý tưởng xã hội nhân văn và cao cả
Sự hình thành và phát triển của chủ thể nghệ thuật không thể tách rời việc phát triển cá nhân toàn diện và hài hòa Do đó, một cá nhân muốn phát triển về mặt nghệ thuật thì phải được phát triển các mặt thể chất, đạo đức và trí tuệ Bởi có thể đã phát triển thể chất, đạo đức và trí tuệ, song không thể phát triển nghệ thuật Vì vậy, không thể có một cá nhân phát triển toàn vẹn như một chủ thể nghệ thuật mà lại chưa được phát triển đồng thời cả ba mặt
Trang 34kia Tóm lại, sự phát triển thể chất là điều kiện tiên quyết cho phát triển trí tuệ, và sự phát triển trí tuệ sẽ nâng đỡ sự phát triển tài năng nghệ thuật
1.4.2 Một số chất liệu giáo dục nghệ thuật
Nghệ thuật, từ bản chất cho đến nội dung và hình thức biểu hiện, như
đã phân tích ở các phần trên, là một thế giới các giá trị chân - thiện - mỹ Vì vậy, GDNT là một loại hoạt động có tính toàn diện, cần đến các phẩm chất con người và tài năng nghề nghiệp chuyên môn GDNT chỉ thành công khi hình thành được những con người có đầy đủ các phẩm chất và năng lực nghệ thuật GDNT là sự tác động tích cực có định hướng vào ý thức của từng cá nhân Sự giáo dục chỉ có hiệu quả cao khi khơi dậy được tính chủ động, tính tích cực; sự tự giác mỹ hóa từ tư duy cho đến hành động trong quá trình tiếp nhận tri thức; sự hòa vào hoạt động thực tiễn nghệ thuật, tự thể nghiệm trong các loại hình, loại thể nghệ thuật của người được giáo dục GDNT cần được thực hiện vừa như là sự tác động từ bên ngoài vào đối tượng được giáo dục, vừa như sự tự vận động từ bên trong của đối tượng
Các chất liệu GDNT là hết sức quan trọng giúp cho việc xây dựng hình thức GDNT phong phú và phương pháp GDNT đạt hiệu quả Chất liệu GDNT
có thể bằng lý luận (mỹ học, nghệ thuật học, lý thuyết về các bộ môn, các loại hình, loại thể nghệ thuật) cho đến thực tiễn nghệ thuật (tự thể nghiệm bằng hội họa, âm nhạc, văn chương, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh, v.v…) GDNT cũng phải là giáo dục liên ngành: giáo dục bằng mỹ học và các bộ môn khoa học gần gũi với nghệ thuật, bằng bản thân nghệ thuật, bằng lao động - hoạt động thực tiễn, bằng môi trường văn hóa, v.v… Ở đây chỉ đi vào một vài chất liệu
sử dụng phổ biến trong GDNT trực tiếp liên quan tới phạm vi nghiên cứu của luận án
*Mỹ học và Nghệ thuật học trong giáo dục nghệ thuật
Tri thức thẩm mỹ, tri thức nghệ thuật của nhân loại là nội dung gần gũi và thiết thực nhất cho sự phát triển ý thức nghệ thuật, tri thức nghệ thuật, nâng cao
Trang 35trình độ và các năng lực nghệ thuật Mỹ học và nghệ thuật học đã được nhân loại tổng kết về tri thức, kinh nghiệm hoạt động, sáng tạo thẩm mỹ nói chung, sáng tạo nghệ thuật nói riêng Sống trong thế giới tri thức đó người được giáo dục có điều kiện văn hóa hóa, thẩm mỹ hóa và nghệ thuật hóa mình một cách nhanh chóng Mỹ học Mác - Lênin là một học thuyết nghiên cứu, tổng kết, đúc rút lý luận thẩm mỹ, lý luận nghệ thuật; nó thực sự là một hệ thống lý luận thẩm mỹ - nghệ thuật phong phú, có tính chỉnh thể, nó vừa cung cấp tri thức nghệ thuật, vừa
là phương pháp luận cho việc nâng cao tri thức, xác định thị hiếu và lý tưởng nghệ thuật, từ đó mà xây dựng năng lực cảm thụ, đánh giá và sáng tạo nghệ thuật cho chủ thể nghệ thuật
Các hệ thống mỹ học và nghệ thuật học thế giới hiện đại tiếp cận thế giới bằng nhiều phương pháp độc đáo và đa dạng Được sống trong môi trường tri thức và các phong cách nghệ thuật phong phú và độc đáo, mỗi người học sẽ được bổ sung nhiều khía cạnh tinh thần, trí tuệ và kinh nghiệm nghệ thuật cho mình Mỹ học và nghệ thuật học bao giờ cũng nằm trong hệ thống tri thức khoa học thống nhất, gắn bó với các lĩnh vực khoa học khác Vì vậy, để phát triển mặt thẩm mỹ - nghệ thuật của con người, nó cần phải có sự hỗ trợ của nhiều bộ môn khoa học, lý luận khác, đặc biệt là nghệ thuật học - hạt nhân của mỹ học, Tất
cả tạo thành một lực lượng khoa học - lý luận tổng hợp thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chủ thể hóa, nghệ thuật hóa của đối tượng được giáo dục
*Các loại hình nghệ thuật trong giáo dục nghệ thuật
Nghệ thuật là tụ điểm, là hạt nhân của đời sống thẩm mỹ Trong nghệ thuật chứa đựng những đặc tính, những phẩm chất, những nhu cầu và khả năng cảm nhận thẩm mỹ của con người Hiểu được các loại hình nghệ thuật, nắm được bản chất, đặc trưng, lý thuyết, quy luật của nó sẽ là điều kiện quan trọng để hiểu biết không chỉ đời sống nghệ thuật mà cả đời sống tinh thần và
sự vận dụng vào cuộc sống xã hội nói chung của mỗi cá nhân Tsécnưsépxki
Trang 36đã cho rằng: mục đích thứ nhất của nghệ thuật là mô tả hiện thực, và ý nghĩa khác của nghệ thuật là giải thích cuộc sống Trong các tác phẩm nghệ thuật, mọi cái đều được tác giả làm nổi bật lên, và giải thích rõ ràng sức mạnh của nghệ thuật là sức mạnh của thuyết minh [109, tr.141] Bởi thế, được hòa vào thế giới nghệ thuật, sống với nó, đặc biệt, được tham gia hoạt động sáng tạo nghệ thuật là biện pháp tốt nhất để phát huy các tư chất, năng khiếu nghệ thuật, hình thành và phát triển tri thức nghệ thuật, người được giáo dục sẽ trở thành những chủ thể nghệ thuật thực sự Hơn thế nữa, sự lây lan cảm xúc khi thưởng thức nghệ thuật cũng làm nên những kết quả bất ngờ trong quá trình định hướng thẩm mỹ nghệ thuật Theo lý thuyết về sự lây lan của Vưgốtxki thì nghệ thuật dường như làm lây lan trong ta những cảm xúc nào đó và nghệ thuật được xây dựng trên cơ sở sự lây lan Tônxtôi nói: “Những cảm xúc hết sức đa dạng, rất mạnh mẽ và rất yếu ớt, rất có nghĩa và rất nhỏ nhặt, rất xấu xa
và rất tốt đẹp, chỉ cần chúng lây lan sang độc giả, khán giả thính giả, sẽ làm nên đối tượng của nghệ thuật” [Trích theo Vưgốtxki, 113, tr.453] Như vậy, nghệ thuật có thể dở hoặc hay nếu như nó làm lây lan sang chúng ta những tình cảm xấu hay tốt Bản thân nghệ thuật thì tự nó không dở và cũng không hay bởi nó chỉ là thứ ngôn ngữ của tình cảm, thứ ngôn ngữ phải được đánh giá tùy thuộc vào việc cái gì được nói ở đây
Bản thân nghệ thuật nói chung, tác phẩm nghệ thuật nói riêng thể hiện xúc cảm thẩm mỹ của người nghệ sỹ Nói cụ thể hơn là thể hiện tư tưởng, khuynh hướng, lý tưởng thẩm mỹ của nghệ sỹ, nói lên khát vọng cao đẹp của công chúng Quá trình công chúng thưởng thức các tác phẩm nghệ thuật chính
là quá trình công chúng cảm thụ nghệ thuật Đối tượng của cảm thụ nghệ thuật là tác phẩm nghệ thuật, tức là một thế giới được nghệ sỹ tạo ra nhằm tác động trực tiếp tới nhận thức, giao lưu và thẩm mỹ Cảm thụ nghệ thuật đúng nghĩa của nó là sự thưởng ngoạn, ở đó sự tiếp nhận nội dung của tác phẩm
Trang 37trong sự thích thú, đầy cảm hứng như một trò thôi miên, dẫn con người đi tới
sự tưởng tượng thăng hoa, chính trạng thái đó làm cho sự nhận thức thêm sâu sắc, từ cảm xúc thẩm mỹ mà thanh lọc và nâng cao tâm hồn Chính vì vậy, cái đúng, cái chân lý của sự cảm thụ nghệ thuật không phải là cái đúng, cái chân
lý hoàn toàn khách quan Vì nghệ thuật tạo ra giá trị, chân lý nghệ thuật đem lại giá trị cho cuộc sống, cho con người Cho nên khi các yếu tố khách quan - chủ quan, lý trí - tình cảm, chung - riêng hòa hợp, tạo ra một sự gặp gỡ, hòa nhập cao độ giữa tác phẩm và người cảm thụ sẽ tạo nên xúc cảm mạnh, khoái cảm lớn, dẫn tới sự thăng hoa, sự thanh lọc theo hướng cái đẹp, cái cao cả, tức
là người cảm thụ nghệ thuật đã tiếp cận tới chân lý nghệ thuật Như vậy, cảm xúc của người nghệ sỹ và sự cảm thụ nghệ thuật của công chúng gặp nhau ở chính tác phẩm nghệ thuật Nếu nghệ sỹ tài năng, tạo được tác phẩm có giá trị thì giá trị nghệ thuật đó thực sự đại diện cho khát vọng của đông đảo công chúng, của cả giai cấp, của thời đại Chính vì vậy, các loại hình nghệ thuật là
sự đúc kết kinh nghiệm và tri thức của loài người, nó mở rộng kinh nghiệm đã được tích lũy, được nhân lên nhiều lần cho người tiếp xúc với nó Nghe những ca khúc viết về đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang, chúng ta thấu hiểu được yêu cầu nhiệm vụ của quân đội, lý tưởng và tâm hồn người lính của từng giai đoạn lịch sử Đọc một bộ tiểu thuyết, chúng ta được sống với các nhân vật, các cảnh đời điển hình khác nhau, với tâm tư, tình cảm, khát vọng của những hình tượng đã được điển hình hóa Xem một bộ phim chúng ta rút ngắn được nhiều lần sự tích lũy kinh nghiệm đời thường, tránh được những sai lầm vừa có tính cá nhân, vừa có tính xã hội
Sống với nghệ thuật là sống với cái tốt, cái đẹp Vì vậy, nghệ thuật có khả năng to lớn trong sự tác động tới tình cảm, tư tưởng đúng, tình cảm đẹp, làm cơ sở vững chắc cho sự hình thành thị hiếu nghệ thuật lành mạnh, hướng tới lý tưởng nghệ thuật trong sáng, từ đó vươn tới cuộc sống cao đẹp
Trang 38M.Goóccki đã nói rằng: nghệ thuật là đại giác quan của đất nước, của giai cấp, là tai mắt, là niềm tin của nhân dân, là tiếng nói của thời đại [Trích theo
36, tr.399] Nghệ thuật chân chính bao giờ cũng khao khát và trân trọng tự do Trong tự do chứa đựng cái tốt, cái đẹp Sức mạnh của nghệ thuật chân chính
là ở chỗ, nó đấu tranh và phấn đấu cho cái đẹp và vì cái đẹp, hơn nữa, nó đứng trên vị thế của cái đẹp để đấu tranh, phấn đấu cho cái đẹp, hướng con người tới cuộc sống lành mạnh
Ưu thế của nghệ thuật là nó cảm hóa con người bằng cái đẹp Khoa học đem lại tri thức, đạo đức cảm hóa bằng lòng nhân ái, nghệ thuật cảm hóa con người thông qua hình tượng chân - thiện - mỹ; sự tác động của nghệ thuật không chỉ tỏa ra một tri thức tổng hợp mà còn bằng sức hấp dẫn kỳ diệu của
nó với sự hòa hợp các yếu tố lý trí - tình cảm, hiện thực - viễn cảnh
Giáo dục bằng các loại hình nghệ thuật đi vào lòng người một cách tự nguyện, vì vậy có hiệu quả rộng lớn và lâu bền Cái đẹp của nghệ thuật làm cho con người say mê và tự nguyện đi theo hướng gợi mở của nó Nếu nghệ thuật là công cụ sắc bén, thì giáo dục nghệ thuật bằng chính nghệ thuật giúp người sử dụng công cụ đó làm phong phú thế giới tinh thần của mình một cách hiệu quả cao Sử dụng âm nhạc trong GDNT là cách thức thực hiện hiệu quả hơn cả so với các loại hình nghệ thuật khác trong GDNT cho con người
*Âm nhạc trong giáo dục nghệ thuật
Âm nhạc là loại hình nghệ thuật chiếm lĩnh nhịp điệu, tiết tấu, âm vực, gồm hai loại thể là khí nhạc và ca khúc Âm nhạc sử dụng âm thanh để thể hiện suy nghĩ, tâm tư, tình cảm, tư tưởng, mong muốn, khát vọng của con người Hay nói cách khác, âm nhạc là một loại hình nghệ thuật phản ánh cuộc sống bằng ngôn ngữ âm thanh Toàn bộ thế giới âm thanh được thể hiện trong bảy nốt nhạc với các thăng, giáng của chúng, song âm thanh biến hóa vô tận
Trang 39như là những chữ cái của ngôn ngữ Các âm vực trầm, bổng có thể đi từ thấp đến cao theo nhiều quãng độ Cao độ (trầm, bổng) và trường độ (nhanh, chậm) là hai thuộc tính tạo nên giai điệu - sắc thái ngôn ngữ âm nhạc Người nghệ sỹ xây dựng nên những hình tượng âm nhạc thông qua nghệ thuật nhịp điệu, hòa âm, phối khí, tạo nên các điệu thức, âm sắc khác nhau trong đó giai điệu có tính quyết định Bằng sự vận dụng các yếu tố và các thuộc tính nêu trên, qua tài năng nhạc sỹ, thế giới âm thanh vật lý được nhân tính hóa, trở thành những hình tượng mang ý nghĩa thẩm mỹ, diễn tả sâu sắc thế giới tâm hồn con người
Cảm xúc thế giới hiện thực không chỉ là đối tượng phản ánh, mà còn là phương tiện để phát hiện các vấn đề của cuộc sống, điều đó thể hiện sự phản ứng tinh thần trước thế giới khách quan Do cảm xúc được quy định bởi thế giới quan, nhân sinh quan, và từ đó được quy định bởi lý tưởng cuộc sống nên
âm nhạc cũng luôn chứa đựng những quan niệm, tư tưởng, lý tưởng thẩm mỹ nhất định Ở đây, nhà nghiên cứu bắt gặp ý kiến cho rằng nghệ thuật, trong đó
có âm nhạc, dường như lây lan sang chúng ta những cảm xúc nào đó và nó được xây dựng trên cơ sở sự lây lan này “Đấy, sự hoạt động của nghệ thuật chính là dựa trên cái khả năng những người này bị lây cảm xúc của những người khác” [6, tr.453] Điều đáng lưu ý là âm nhạc phát hiện các trạng thái nội tại mà không cần phải miêu tả các hình thái bên ngoài của chúng như các loại hình nghệ thuật khác, nó chỉ tập trung thể hiện xúc cảm và rung động trong quá trình phát triển liên tục và năng động của nó với tất cả các sắc thái
và sự chuyển hóa phong phú
Nếu khả năng của âm nhạc trong việc miêu tả các mặt thấy được của thế giới hiện thực là hạn chế và chỉ thường làm việc này một cách gián tiếp, thì đối với việc thể hiện sự vận động và diễn biến của thế giới tâm hồn bên
Trang 40trong và tình cảm con người, âm nhạc có ưu thế đặc biệt, vì đó là lĩnh vực được nó biểu hiện một cách trực tiếp Nhiều nghệ sỹ thừa nhận rằng, khi bất lực trong việc thể hiện ý nghĩ, tư tưởng, tình cảm của mình (bằng các phương thức thể hiện khác), người ta phải tìm đến âm nhạc
Âm nhạc vừa thuộc nghệ thuật thời gian, bởi vì hình tượng của âm nhạc được triển khai trong thời gian nghiêm ngặt theo trường độ và tiết tấu nhất định, vừa thuộc nghệ thuật biểu hiện, bởi vì tư tưởng, tình cảm thẩm mỹ của
âm nhạc được biểu hiện qua bản thân các hình tượng độc đáo của âm nhạc, đồng thời qua nghệ thuật biểu hiện của nhạc công Người biểu diễn âm nhạc (nhạc công) tham gia một cách trực tiếp và sáng tạo vào quá trình truyền đạt nội dung nghệ thuật đến người thưởng thức, qua nghệ thuật biểu diễn và tùy thuộc trình độ biểu diễn mà có thể làm phong phú hay nghèo nàn nội dung thẩm mỹ của tác phẩm âm nhạc
Chính vì những đặc trưng nêu trên mà âm nhạc đóng vai trò là một trong những loại hình nghệ thuật cơ bản, nền tảng của nhiều loại hình nghệ thuật khác Âm nhạc không chỉ là yếu tố quan trọng, làm nền tảng có ý nghĩa quyết định cho vũ đạo, sân khấu, điện ảnh, nó cũng có mặt trong văn chương, thơ ca, thậm chí cả kiến trúc, điêu khắc, hội họa Chất nhạc làm nên sinh khí
và sức sống trường tồn của các tác phẩm nghệ thuật trong tất cả các loại hình nghệ thuật, làm nên sinh khí và sức sống trường tồn của cuộc sống, do đó nó cũng làm nên sinh khí trường tồn của con người
Giáo dục âm nhạc được xem xét ở hai góc độ: giáo dục về âm nhạc (tri thức, kỹ năng, kỹ xảo âm nhạc) và giáo dục thông qua âm nhạc (dùng âm nhạc làm phương tiện, công cụ để thực hiện những mục đích giáo dục khác nhau)
Giáo dục về âm nhạc là quá trình dạy âm nhạc nhằm trang bị hệ thống
lý luận về âm nhạc: lý thuyết âm nhạc, hình thức âm nhạc, lịch sử âm nhạc ; trang bị kỹ năng, kỹ xảo thực hành âm nhạc (hòa tấu nhạc, độc tấu nhạc, ca