1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng ở nước ta giai đoạn hiện nay

207 1K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 207
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tàiSinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “Cán bộ là cái gốccủa mọi công việc”105, tr. 269; “công việc thành công hoặc thất bại đều docán bộ tốt hay kém”105, tr. 273. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng,Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề cán bộ, đặc biệtlà cán bộ lãnh đạo, quản lý (CBLĐQL) các ngành, các cấp. Đây là đội ngũcán bộ quyết định thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương, cáccấp, các ngành và thắng lợi của cách mạng. Nhờ luôn chăm lo xây dựng độingũ cán bộ, Đảng đã đề ra đường lối, các chủ trương, nghị quyết đúng đắn vàtriển khai thực hiện với quyết tâm chính trị cao, đạt kết quả to lớn. Đội ngũcán bộ các ngành, các cấp ở nước ta, trong đó có đội ngũ CBLĐQL được xâydựng ngày càng vững mạnh, góp phần quan trọng đưa cách mạng nước ta đitừ thắng lợi này đến thắng lợi khác.Bước vào thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH,HĐH) đất nước, với mục tiêu, nhiệm vụ to lớn, nặng nề và có nhiều mới mẻ,được thực hiện trong điều kiện có nhiều thời cơ, thuận lợi, nhưng cũng gặpkhông ít khó khăn, thách thức quyết liệt, đội ngũ cán bộ nói chung, CBLĐQLnói riêng càng có vai trò rất quan trọng. Nhiệm vụ, mục tiêu của công cuộcđổi mới chỉ có thể được hoàn thành khi xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhất làCBLĐQL có chất lượng tốt. Bởi “cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bạicủa cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, làkhâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng…”57, tr. 66. Tổng kết 10 nămthực hiện Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Đảng tatiếp tục nhấn mạnh: “Phải thường xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ,đổi mới công tác cán bộ gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”64,tr. 239240. Đồng thời, Đảng chỉ rõ Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ lãnhdạo, quản lý trên các lĩnh vực.... những tài năng và những chuyên gia giỏi trêncác lĩnh vực xây dựng và bảo vệ Tổ quốc...64, tr. 241. Xây dựng đội ngũcán bộ, nói chung, đội ngũ CBLĐQL, các chuyên gia giỏi các ngành, các cấp,nói riêng đã trở thành nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên và được toàn Đảng,các cấp uỷ đảng và cả hệ thống chính trị (HTCT) triển khai thực hiện. Nhờ đó,chất lượng đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng lên, từng bước đáp ứng yêucầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay.Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ cán bộ, kể cả đội ngũ CBLĐQL, cácchuyên gia hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cập so với yêu cầu, nhiệm vụ củacông cuộc đổi mới. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, mục tiêu công cuộc đổimới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, từng bước tiến đến mục tiêu dân giàu,nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xây dựng thành công chủ nghĩa xãhội (CNXH), Đảng phải xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhất là CBLĐQL, cácchuyên gia trên các lĩnh vực có đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, cao vềchất lượng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng.Xây dựng đội ngũ CBLĐQL có chất lượng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụcông cuộc đổi mới những năm tới phải được tiến hành đồng bộ ở các cấp, cácngành, địa phương, cơ quan, đơn vị. Trong đó, xây dựng đội ngũ CBLĐQLchuyên trách công tác thi đua, khen thưởng (TĐKT) là một bộ phận rất quantrọng, bởi TĐKT đã góp phần to lớn vào thắng lợi của cách mạng.Trong giai đoạn hiện nay, TĐKT lại càng có vai trò và tác dụng đối vớisư nghiệp đổi mới. Đó là động lực thúc đẩy những cá nhân, tập thể năng động,sáng tạo tìm tòi các giải pháp thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị củangành, địa phương, cơ quan, đơn vị, thúc đẩy công cuộc đổi mới phát triển.Để phát huy vai trò, tác dụng của TĐKT trong giai đoạn hiện nay, Bộ Chínhtrị đã ban hành Chỉ thị 35CTTW ngày 361998 “Về đổi mới công tác thiđua, khen thưởng trong giai đoạn mới”; tiếp theo là Chỉ thị số 39CTTW,ngày 2152004 “Về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước,phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến”. Gần đây, Ban Bíthư Trung ương Đảng (khóa X) có Kết luận số 83KLTW ngày 3082010tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 39CTTW của Bộ Chính trị, trong đó nhấn mạnhphải tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước và xây dựng đội ngũCBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT có chất lượng tốt.Thực hiện các chỉ thị, kết luận nêu trên, việc xây dựng đội ngũCBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT đã có chuyển biến tích cực trên tất cảcác khâu, như: cụ thể hóa tiêu chuẩn chức danh cán bộ; quy hoạch, đào tạo,bồi dưỡng, luân chuyển, quản lý, đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ và thực hiệnchính sách cán bộ... Nhờ đó, chất lượng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách côngtác TĐKT đã được nâng lên một bước: số lượng và cơ cấu từng bước được cảithiện; bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, trình độ mọi mặt, nănglực và tính chuyên nghiệp trong công việc được nâng lên, tích lũy được nhiềukinh nghiệm công tác; từng bước đáp ứng yêu cầu công tác TĐKT của ngành,địa phương, cơ quan, đơn vị trong thời kỳ mới...Tuy nhiên, đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT vẫn cònnhiều hạn chế, yếu kém về nhiều mặt: Số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ chưaphù hợp; nhiều cán bộ thiếu hụt kiến thức về quản lý nhà nước, pháp luật, kinhtế thị trường và kiến thức về các khoa học khác, nên còn lúng túng và có sai sóttrong công việc, nhất là về chỉ đạo các phong trào thi đua trong các lĩnh vực,các giai tầng xã hội và trong thẩm định hồ sơ khen thưởng. Một số cán bộ chưađáp ứng tốt nhiệm vụ tổ chức triển khai, kiểm tra các phong trào thi đua vàtham mưu các giải pháp quản lý nhà nước về TĐKT đạt hiệu quả. Bởi vậy,chưa ngăn chặn một cách cơ bản tình trạng một số ngành, địa phương, đơn vịtuỳ tiện đặt ra các hình thức tôn vinh không đúng quy định của Luật TĐKT, cábiệt còn để xảy ra một số trường hợp lợi dụng TĐKT nhằm tạo danh hiệu chocá nhân và tập thể vì mục đích riêng.

Trang 1

NGUYễN KHắC Hà

XÂY DựNG Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng

ở nước ta giai đoạn hiện nay

luận án tiến sĩ khoa học chính trị

Hà Nội – 2014

Trang 2

Nguyễn khắc hà

XÂY DựNG Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng

ở nước ta giai đoạn hiện nay

Chuyên ngành: Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 62 31 23 01

luận án tiến sĩ khoa học chính trị

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Lê Kim Việt

Hà Nội - 2014

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn nêu trong luận án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng Những kết luận đưa ra trong luận án là kết quả nghiên cứu của tác giả luận án.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Khắc Hà

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “Cán bộ là cái gốccủa mọi công việc”[105, tr 269]; “công việc thành công hoặc thất bại đều docán bộ tốt hay kém”[105, tr 273] Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng,

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề cán bộ, đặc biệt

là cán bộ lãnh đạo, quản lý (CBLĐQL) các ngành, các cấp Đây là đội ngũcán bộ quyết định thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương, cáccấp, các ngành và thắng lợi của cách mạng Nhờ luôn chăm lo xây dựng độingũ cán bộ, Đảng đã đề ra đường lối, các chủ trương, nghị quyết đúng đắn vàtriển khai thực hiện với quyết tâm chính trị cao, đạt kết quả to lớn Đội ngũcán bộ các ngành, các cấp ở nước ta, trong đó có đội ngũ CBLĐQL được xâydựng ngày càng vững mạnh, góp phần quan trọng đưa cách mạng nước ta đi

từ thắng lợi này đến thắng lợi khác

Bước vào thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH,HĐH) đất nước, với mục tiêu, nhiệm vụ to lớn, nặng nề và có nhiều mới mẻ,được thực hiện trong điều kiện có nhiều thời cơ, thuận lợi, nhưng cũng gặpkhông ít khó khăn, thách thức quyết liệt, đội ngũ cán bộ nói chung, CBLĐQL

nói riêng càng có vai trò rất quan trọng Nhiệm vụ, mục tiêu của công cuộc

đổi mới chỉ có thể được hoàn thành khi xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhất làCBLĐQL có chất lượng tốt Bởi “cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại

của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, làkhâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng…”[57, tr 66] Tổng kết 10 nămthực hiện Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Đảng tatiếp tục nhấn mạnh: “Phải thường xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ,

đổi mới công tác cán bộ gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”[64,

Trang 6

tr 239-240] Đồng thời, Đảng chỉ rõ "Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ lãnhdạo, quản lý trên các lĩnh vực những tài năng và những chuyên gia giỏi trêncác lĩnh vực xây dựng và bảo vệ Tổ quốc "[64, tr 241] Xây dựng đội ngũcán bộ, nói chung, đội ngũ CBLĐQL, các chuyên gia giỏi các ngành, các cấp,nói riêng đã trở thành nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên và được toàn Đảng,các cấp uỷ đảng và cả hệ thống chính trị (HTCT) triển khai thực hiện Nhờ đó,chất lượng đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng lên, từng bước đáp ứng yêucầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay.

Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ cán bộ, kể cả đội ngũ CBLĐQL, cácchuyên gia hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cập so với yêu cầu, nhiệm vụ củacông cuộc đổi mới Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, mục tiêu công cuộc đổimới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, từng bước tiến đến mục tiêu dân giàu,

nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã

hội (CNXH), Đảng phải xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhất là CBLĐQL, cácchuyên gia trên các lĩnh vực có đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, cao vềchất lượng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng

Xây dựng đội ngũ CBLĐQL có chất lượng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụcông cuộc đổi mới những năm tới phải được tiến hành đồng bộ ở các cấp, các

ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị Trong đó, xây dựng đội ngũ CBLĐQLchuyên trách công tác thi đua, khen thưởng (TĐKT) là một bộ phận rất quan

trọng, bởi TĐKT đã góp phần to lớn vào thắng lợi của cách mạng

Trong giai đoạn hiện nay, TĐKT lại càng có vai trò và tác dụng đối với

sư nghiệp đổi mới Đó là động lực thúc đẩy những cá nhân, tập thể năng động,

sáng tạo tìm tòi các giải pháp thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của

ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, thúc đẩy công cuộc đổi mới phát triển

Để phát huy vai trò, tác dụng của TĐKT trong giai đoạn hiện nay, Bộ Chính

trị đã ban hành Chỉ thị 35-CT/TW ngày 3/6/1998 “Về đổi mới công tác thi

đua, khen thưởng trong giai đoạn mới”; tiếp theo là Chỉ thị số 39-CT/TW,

Trang 7

ngày 21/5/2004 “Về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước,

phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến” Gần đây, Ban Bí

thư Trung ương Đảng (khóa X) có Kết luận số 83-KL/TW ngày 30-8-2010

tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 39-CT/TW của Bộ Chính trị, trong đó nhấn mạnhphải tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước và xây dựng đội ngũ

CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT có chất lượng tốt

Thực hiện các chỉ thị, kết luận nêu trên, việc xây dựng đội ngũ

CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT đã có chuyển biến tích cực trên tất cảcác khâu, như: cụ thể hóa tiêu chuẩn chức danh cán bộ; quy hoạch, đào tạo,

bồi dưỡng, luân chuyển, quản lý, đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ và thực hiệnchính sách cán bộ Nhờ đó, chất lượng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công

tác TĐKT đã được nâng lên một bước: số lượng và cơ cấu từng bước được cải

thiện; bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, trình độ mọi mặt, nănglực và tính chuyên nghiệp trong công việc được nâng lên, tích lũy được nhiềukinh nghiệm công tác; từng bước đáp ứng yêu cầu công tác TĐKT của ngành,

địa phương, cơ quan, đơn vị trong thời kỳ mới

Tuy nhiên, đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT vẫn cònnhiều hạn chế, yếu kém về nhiều mặt: Số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ chưaphù hợp; nhiều cán bộ thiếu hụt kiến thức về quản lý nhà nước, pháp luật, kinh

tế thị trường và kiến thức về các khoa học khác, nên còn lúng túng và có sai sóttrong công việc, nhất là về chỉ đạo các phong trào thi đua trong các lĩnh vực,các giai tầng xã hội và trong thẩm định hồ sơ khen thưởng Một số cán bộ chưa

đáp ứng tốt nhiệm vụ tổ chức triển khai, kiểm tra các phong trào thi đua vàtham mưu các giải pháp quản lý nhà nước về TĐKT đạt hiệu quả Bởi vậy,chưa ngăn chặn một cách cơ bản tình trạng một số ngành, địa phương, đơn vị

tuỳ tiện đặt ra các hình thức tôn vinh không đúng quy định của Luật TĐKT, cábiệt còn để xảy ra một số trường hợp lợi dụng TĐKT nhằm tạo danh hiệu cho

cá nhân và tập thể vì mục đích riêng

Trang 8

Nhìn một cách tổng thể, đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác

TĐKT mới cơ bản đáp ứng yêu cầu về thẩm định hồ sơ khen thưởng cho tập

thể và cá nhân ở một số ngành, lĩnh vực nhất định nên đã xảy ra những sai sót,gây phức tạp Tình trạng khá phổ biến là hẫng hụt CBLĐQL chuyên trách

công tác TĐKT kế cận có trình độ quản lý, chuyên môn cao và có nhiều kinh

nghiệm công tác Việc xây dựng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác

TĐKT vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm, nổi lên là: tiêu chuẩn chức danhCBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT tuy đã được cụ thể hóa, song vẫn còn

chung chung, hạn chế kết quả thực hiện các khâu của công tác cán bộ; quyhoạch CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT tuy đã được nhiều nơi xây dựng,song việc thực hiện quy hoạch còn nhiều lúng túng, nhất là việc đào tạo, bồi

dưỡng, luân chuyển cán bộ; quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của cán bộ

vẫn là khâu yếu; chưa tạo được sự liên thông trong công tác cán bộ giữa Ban

TĐKT trung ương với các địa phương, ban ngành, đơn vị

Bởi vậy, nghiên cứu một cách toàn diện, tìm giải pháp khả thi nhằm

phát huy ưu điểm, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm nêu trên, xây dựngđội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụcông tác TĐKT trong những năm tới là vấn đề rất cần thiết và cấp bách

Để góp phần giải quyết vấn đề cấp bách nêu trên, tôi chọn và thực hiện

đề tài luận án tiến sĩ: “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng ở nước ta giai đoạn hiện nay”.

2 Mục đích, nhiệm vụ của luận án

2.1 M ục đích

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng đội

ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT ở nước ta giai đọan hiện nay, luận

án đề xuất những giải pháp chủ yếu, khả thi nhằm xây dựng đội ngũ CBLĐQLchuyên trách công tác TĐKT đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác TĐKT trong

những năm tới

Trang 9

2.2 Nhi ệm vụ

Để thực hiện các mục tiêu trên, luận án có các nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

- Luận giải rõ những vấn đề lý luận về xây dựng đội ngũ CBLĐQL

chuyên trách công tác TĐKT ở nước ta giai đọan hiện nay, gồm: khái niệm, vai

trò, đặc điểm của công tác TĐKT và đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác

TĐKT; khái niệm, nội dung, phương thức xây dựng đội ngũ CBLĐQL chuyêntrách công tác TĐKT

- Khảo sát, đánh giá đúng thực trạng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách

công tác TĐKT ở nước ta và thực trạng việc xây dựng đội ngũ CBLĐQL

chuyên trách công tác TĐKT từ năm 2001 đến nay, chỉ ra nguyên nhân, kinhnghiệm và những vấn đề đặt ra cần giải quyết

- Đề xuất mục tiêu, phương hướng và những giải pháp chủ yếu xây dựng

đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụcông tác TĐKT trong những năm tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là xây dựng đội ngũ CBLĐQLchuyên trách công tác TĐKT ở nước ta giai đoạn hiện nay

3.2 Ph ạm vi nghiên cứu

Luận án khảo sát, nghiên cứu thực trạng CBLĐQL chuyên trách công

tác TĐKT và thực trạng xây dựng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tácTĐKT của các Vụ, Ban, Phòng TĐKT thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ

quan thuộc Chính phủ, các ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương; các tổngcông ty, tập đoàn kinh tế Nhà nước và của cấp uỷ tỉnh, thành phố trực thuộc

Trung ương

Thời gian nghiên cứu, khảo sát thực tiễn từ năm 2001 đến nay

Trang 10

Phương hướng, giải pháp đề xuất trong luận án có giá trị đến năm 2020.

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,quan điểm, đường lối của Đảng về cán bộ và công tác cán bộ và về TĐKT

Cơ sở thực tiễn của luận án là thực trạng đội ngũ cán bộ và công tác

xây dựng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT ở nước ta trongnhững năm qua

Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồngthời sử dụng các phương pháp: logic và lịch sử; phân tích và tổng hợp; thống

kê, điều tra, khảo sát, tổng kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Khái niệm : Xây dựng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác

TĐKT là toàn bộ hoạt động của các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở, ở

ban, bộ, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân ở trung ương, ở các tổngcông ty, tập đoàn kinh tế nhà nước, cán bộ, đảng viên và các tổ chức có liênquan về thực hiện các khâu của công tác cán bộ nhằm tạo nên đội ngũ

CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT có phẩm chất chính trị, phẩm chấtđạo đức tốt, có năng lực lãnh đạo, quản lý và tham mưu đề xuất, là những

chuyên gia trong lĩnh vực TĐKT

- Ba kinh nghiệm về xây dựng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT từ năm 2001 đến nay:

Một là, cấp uỷ địa phương, đơn vị cần nhận thức đúng đắn về vai trò,

tác dụng, yêu cầu của công tác TĐKT và tầm quan trọng của việc xây dựng

đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT trong điều kiện hiện nay; trên

cơ sở đó, đề ra các chủ trương, giải pháp đúng, có quyết tâm chính trị cao

trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện là nhân tố quan trọng hàng đầu để xây dựng

đội ngũ CBCLĐQL chuyên trách công tác TĐKT đạt kết quả

Trang 11

Hai là, cấp ủy tranh thủ sự quan tâm, chỉ đạo của cấp trên và kết hợp

chặt chẽ với Ban TĐKT Trung ương trong công tác cán bộ nói chung và xâydựng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT nói riêng trong tất cảcác khâu của công tác cán bộ, đặc biệt là đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh,nâng cao tính chuyên nghiệp cho đội ngũ CBCLĐQL chuyên trách công tác

TĐKT đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ

Ba là, các cấp ủy đảng cần coi trọng công tác tạo nguồn và thực hiện

tốt công tác quy hoạch CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT, mạnh dạn đưanhững cán bộ trẻ có trình độ, năng lực, có triển vọng vào dự nguồn các chức

danh LĐQL công tác TĐKT ở cơ cơ quan, địa phương, đơn vị mình

- Hai giải pháp đột phá: Tăng cường công tác tạo nguồn và quy hoạch

CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT; đẩy mạnh việc đào tạo, bồi dưỡng và

luân chuyển CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT theo chiều dọc giữa các

địa phương, bộ, ban với Ban TĐKT Trung ương

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ hơn những vấn đề lýluận và thực tiễn về xây dựng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT

ở nứơc ta giai đọan hiện nay

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được dùng làm tài liệu thamkhảo trong quá trình xây dựng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác

TĐKT ở các ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong những năm tới Đồng

thời, luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ học tập vànghiên cứu tại Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ thuộc Ban TĐKT Trung ương

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài,kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 3 chương, 6 tiết

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là CBLĐQL các cấp trong giai đoạnhiện nay thu hút nhiều cơ quan và các nhà khoa học nghiên cứu từ những góc

độ khác nhau, ở các địa bàn khác nhau Kết quả nghiên cứu của nhiều công

trình đã được công bố trên sách, báo, tạp chí và được thể hiện trong các thamluận hội thảo khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ Sau đây là một sốcông trình tiêu biểu:

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC TRONG NƯỚC

1.1.1 Đề tài khoa học

- Đề tài khoa học cấp Nhà nước KX.04.09, “Xây dựng đội ngũ cán bộ,

công chức đáp ứng đòi hỏi của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” của Bộ Nội vụ (2002-2004) [122].

Đề tài nêu bật sự cần thiết phải xây dựng đội ngũ cán bộ, công chứcđáp ứng đòi hỏi xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.Trong đó, đề cập đến một số tiêu chuẩn và giải pháp xây dựng đội ngũCBLĐQL các cấp trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam

xã hội chủ nghĩa (XHCN) của dân, do dân và vì dân hiện nay, nhấn mạnhnhững quy định về pháp lý đối với trách nhiệm cá nhân từng chức danh

CBLĐQL và đề xuất các giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ này,

theo chức danh cán bộ thay vì đào tạo, bồi dưỡng chung tất cả cán bộ ở các cơ

sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng, Nhà nước hiện nay

Một số kết quả nghiên cứu của đề tài rất bổ ích cho việc thực hiện luận

án, nhất là về đề xuất giải pháp đào tạo, bồi dưỡng CBLĐQL chuyên trách

công tác TĐKT theo chức danh

Trang 13

- Đề tài khoa học xã hội cấp Nhà nước giai đoạn 2001-2005, KX 05 6,

Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước do Vũ Văn Hiền làm Chủ

nhiệm [70]

Các nhà khoa học đã làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn

về xây dựng đội ngũ CBLĐQL nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH,

HĐH đất nước; phân tích, đánh giá sâu sắc thực trạng đội ngũ CBLĐQL ởnước ta hiện nay, chỉ ra ưu, khuyết điểm, nguyên nhân, nhấn mạnh nguyên

nhân của khuyết điểm Đồng thời, khẳng định nguyên nhân chủ yếu củanhững ưu điểm và khuyết điểm của đội ngũ CBLĐQL thuộc về những ưu,khuyết điểm của công tác cán bộ Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp chủyếu xây dựng đội ngũ CBLĐQL đáp ứng yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp

CNH, HĐH đất nước, hội nhập quốc tế

Nhiều nội dung của đề tài có giá trị tham khảo quan trọng đối với luận

án để đề xuất các giải pháp xây dựng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tácTĐKT

- Đề tài khoa học xã hội cấp Nhà nước giai đoạn 2001-2005, KX.05 07,

Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, do Thang Văn

Phúc làm chủ nhiệm [121]

Các nhà khoa học đã luận giải sâu sắc những vấn đề lý luận về xâydựng đội ngũ cán bộ, công chức trong giai đoạn hiện nay, khảo sát, đánhgiá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức và thể chế quản lý cán bộ, côngchức hiện nay; đưa ra những kinh nghiệm về xây dựng đội ngũ cán bộ,công chức của một số nước trên thế giới Một nội dung quan trọng đượctrình bày là tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, trong đó đã phân

tích quan điểm của Người về vai trò, phương pháp xây dựng đội ngũ cán bộ;

phân tích nội dung, các quan điểm và nguyên tắc đổi mới cán bộ và công

Trang 14

tác cán bộ của Đảng ta hiện nay Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệutham khảo bổ ích đối với tác giả luận án trong việc làm rõ những vấn đề lýluận và thực tiễn của luận án.

- Đề tài khoa học cấp bộ năm 2011, Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ lãnh đạo, quản lý theo chức danh tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, do Trần Minh Tuấn làm chủ nhiệm [144].

Đề tài đã luận giải rõ yêu cầu cấp thiết hiện nay về đào tạo, bồi dưỡngCBLĐQL theo chức danh; công tác đào tạo, bồi dưỡng CBLĐQL theo chức

danh tại Học viện từ 2005 đến nay – thực trạng và những vấn đề đặt ra cầngiải quyết; quan điểm và những giải pháp nâng cao chất lượng công tác đàotạo, bồi dưỡng CBLĐQL theo chức danh tại Học viện Trong đó, một số giảipháp có giá trị: xác định đối tượng và mục tiêu đào tạo; đổi mới chươngtrình đào tạo; phân định rõ các chương trình đào tạo và các chương trìnhbồi dưỡng; mỗi chương trình đào tạo, bồi dưỡng phải hướng tới một loại

đối tượng cụ thể và từng chức danh; chương trình đào tạo, bồi dưỡng phải

đa dạng, mang tính “mềm” và phải tiến tới theo nhu cầu của người học, sát

với từng chức danh đào tạo; phải nâng cao chất lượng giảng viên, báo cáo

viên và đổi mới quá trình dạy và học theo hướng tích cực…

Kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị tham khảo tốt để tác giả luận ánlàm rõ cơ sở lý luận và giải pháp đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng

CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT

- Đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước (2010-2013), Cơ sở lý luận và

thực tiễn đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay, Mã

số: 02/2010, do Trần Thị Hà làm chủ nhiệm [71]

Các nhà khoa học đã luận giải sâu sắc những vấn đề lý luận chung về

công tác TĐKT, đưa ra các khái niệm thi đua, khái niệm khen thưởng; ý

nghĩa, bản chất của TĐKT; mối quan hệ biện chứng giữa thi đua và khen

thưởng; quản lý nhà nước về TĐKT; hệ thống hóa những quan điểm của chủ

Trang 15

nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về TĐKT.

Đề tài cũng đề cập đến những vấn đề chủ yếu về TĐKT ở các nước: Liên-Xô(trước đây); chế độ khen thưởng của Liên bang Nga, Cộng hòa Pháp; Trung

Quốc cùng những kinh nghiệm có giá trị

Đề tài đã tập trung khảo sát, đánh giá thực trạng công tác TĐKT vàquy định của pháp luật về TĐKT; tổ chức, bộ mày và cán bộ làm công tácTĐKT, chỉ ra ưu, khuyết điểm, nguyên nhân Đồng thời, nêu mục tiêu, nội

dung, các giải pháp chủ yếu đổi mới công tác TĐKT trong giai đọan hiện nay

và các kiến nghị Các kiến nghị của Đề tài, gồm: Đề nghị Bộ Chính trị banhành Nghị quyết để tiếp tục phát huy truyền thống thi đua yêu nước và sứcmạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi kế hoạch pháttriển kinh tế - xã hội 5 năm (2011- 2016); kiến nghị Quốc hội sớm sửa đổi, bổsung Luật TĐKT; quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu

nước gắn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người; đổi mới

hoạt động của các cơ quan truyền thông để tuyên truyền các gương điển hìnhtiên tiến; ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống tổ chức TĐKT; củng

cố và nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng TĐKT các cấp; đẩy mạnhbồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác TĐKT; thành lậpViện Nghiên cứu bồi dưỡng, đào tạo cán bộ TĐKT

Kết quả nhiên cứu của Đề tài có giá trị tham khảo tốt, trực tiếp để giúp

tác giả thực hiện mục đích, nhiệm vụ của luận án, nhất là một số nội dung về

công tác cán bộ

1.1.2 Sách

- Trần Xuân Sầm (chủ biên) (1998), Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán

bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội [131]

Cuốn sách đã khái quát quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư

tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, như: việc phát hiện, lựa chọn, đào tạo, rèn

Trang 16

luyện nhà cách mạng chủ yếu là qua phong trào đấu tranh cách mạng củaquần chúng Để cách mạng giành thắng phải tạo được đội ngũ cán bộ đủ sứcgánh vác nhiệm vụ cách mạng Khi cách mạng chuyển giai đoạn phải có sự

thay đổi cần thiết trong cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ Các tác giả chỉ rõ, cán bộ

phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ lãnh đạo; đồng thời phải tích cực

tu dướng rèn luyện các đức tính khiêm tốn, ham học hỏi, không giấu dốt,

thường xuyên tự phê bình và phê bình, không chủ quan tự mãn, gặp thất bạikhông nản chí… Đây là những phẩm chất thuộc tiêu chuẩn hàng đầu của

người cán bộ lãnh đạo

Qua khảo sát, phân tích thực trạng cơ cấu tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạochủ chốt, xuất phát từ yêu cầu công cuộc đổi mới, các tác giả đưa ra tiêuchuẩn chung đối với cán bộ lãnh đạo chủ chốt trên các mặt: chính trị, đạo đức,trình độ, năng lực, ý thức tổ chức kỷ luật Đồng thời, đề xuất một số giảipháp chủ yếu xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt theo cơ cấu, tiêuchuẩn đã dược các tác giả đề ra Các tác giả cũng luận bàn và nhấn mạnh việc

cụ thể hóa cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ cho từng tổ chức, từng cấp, từng ngành

- Nguyễn Phú trọng và Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên), (2001), Luận

cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội [143]

Cuốn sách đã luận giải sâu sắc cơ sở lý luận và phương pháp luận củaviệc xây dựng tiêu chuẩn cán bộ; đưa ra và phân tích rõ những kinh nghiệmxây dựng tiêu chuẩn cán bộ của Đảng ta phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ từng

giai đoạn cách mạng, trong đó nhấn mạnh những tiêu chuẩn về phẩm chất

chính trị, lòng trung thành với Đảng, sự nghiệp cách mạng và với nhân dân,phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực tổ chức thực tiễn Đồng thời, đưa ranhững quan điểm, phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán

Trang 17

bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, đặc biệt, nhấn mạnh nâng cao chất

lượng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện cán bộ; tiếp tục

xây dựng và hoàn thiện các quy chế, quy trình công tác cán bộ, thực hiện tiêuchuẩn hóa cán bộ; nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, quản lý vàbảo vệ cán bộ; xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách cán bộ; kiện toàn,nâng cao chất lượng hoạt động các cơ quan tham mưu về công tác cán bộ; cảicách tổ chức, bộ máy và cơ chế vận hành của HTCT

Đề tài có giá trị tham khảo tốt để xây dựng các khái niệm và đề xuấtphương hướng, giải pháp của luận án

- Vũ Minh Giang (2004), “Vấn đề luân chuyển quan lại trong lịch sử

trung đại Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo khoa học: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đánh giá, luân chuyển cán bộ ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội [89]

Tác giả chỉ rõ việc luân chuyển quan lại bắt đầu từ thời nhà Lý (1009

-1015) đến cuối thế kỷ XIX và nêu một số nguyên tắc về bố trí, điều động quan

lại Nhà Trần (1225 - 1400), đã áp dụng những nguyên tắc điều động, luânchuyển quan lại của nhà Lý và đặc biệt coi trọng việc sử dụng những ngườitrong hoàng tộc và áp dụng chính sách thưởng phạt nghiêm minh kể cả quanlại trong hoàng tộc Nhà Trần còn quy định rõ thời hạn đánh giá thực hiệncông việc của quan lại, cứ 15 năm có hai lần xét duyệt, nếu không mắc saiphạm thì sau 10 năm trấn trị thăng tước một cấp, 15 năm thăng một bậc Nhà

Lê, nhà Nguyễn cũng tiến hành luân chuyển các quan lại

Qua việc luân chuyển quan lại trong các triều đại phong kiến nước ta,

tác giả rút ra một số nhận xét có giá trị tham khảo đối với luận án: Điều động,

luân chuyển quan lại theo chiều dọc từ Trung ương về địa phương và ngược lại từ địa phương về Trung ương; theo chiều ngang giữa các địa phương với nhau và giữa các bộ phận trong triều đình với nhau; điều động, luân chuyển

Trang 18

quan lại ở địa phương không dùng người ở địa phương cai trị tại địa phương; quy định rõ về thời gian luân chuyển (nhà Lê quy định 4 năm, nhà Nguyễn 6 năm); đánh giá thường xuyên (khảo khoá) làm cơ sở cho việc thăng - giáng chức qua luân chuyển, điều động quan lại; việc thăng - giáng và phục hồi chức của quan lại được tiến hành thường xuyên.

- Trần Đình Hoan (chủ biên), (2008) Đánh giá, quy hoạch, luân chuyển

cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội [75]

Các tác giả đã đưa ra và phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về

đánh giá, quy hoạch, luân chuyển CBLĐQL thời kỳ CNH, HĐH đất nước;

khảo sát và đánh giá thực trạng việc đánh giá, quy hoạch, luân chuyển

CBLĐQL những năm qua, chỉ ra ưu, khuyết điểm, nguyên nhân và tổng kếtđược những kinh nghiệm có giá trị Đặc biệt, các tác giả đã nêu kinh nghiệm

về đánh giá, luân chuyển, chuẩn bị quan lại của các triều đại phong kiến nước

ta và những kinh nghiệm về vấn đề này Trên cơ sở đó, đưa ra những vấn đềcần giải quyết đối với việc đánh giá, quy hoạch, luân chuyển CBLĐQL ở

nước ta giai đoạn hiện nay Từ đó, đề xuất các giải pháp có giá trị để thực

hiện tốt việc đánh giá, quy hoạch, luân chuyển CBLĐQL ở nước ta những

năm tới

- Trương Thị Thông và Lê Kim Việt (đồng chủ biên), (2008), Bệnh quan liêu trong công tác cán bộ ở nước ta hiện nay - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [141].

Các tác giả đã đưa ra quan niệm về bệnh quan liêu trong công tác cánbộ; phân tích sâu sắc nguồn gốc, bản chất và những tác hại của nó Đặc biệt,

đã luận giải có sức thuyết phục những biểu hiện của bệnh quan liêu trong các

khâu của công tác cán bộ Đồng thời, cũng phân tích những biểu hiện củabệnh quan liêu ở chủ thể công tác cán bộ; khẳng định bệnh quan liêu do nhiều

Trang 19

nguyên nhân, song nguyên nhân chủ yếu thuộc về chủ thể công tác cán bộ.

Trên cơ sở đó, cuốn sách cung cấp cho người đọc quan điểm, phương hướng

và những giải pháp có giá trị, khả thi nhằm phòng, chống bệnh quan liêutrong công tác cán bộ ở nước ta hiện nay

Cuốn sách có giá trị tham khảo tốt đối với luận án nhất là về đề xuấtcác giải pháp phòng chống bệnh quan liêu trong công tác cán bộ ngành TĐKT

- Thân Minh Quế (2012), Công tác quy hoạch cán bộ thuộc diện Ban

Thường vụ tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn hiện nay,

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội [125]

Cuốn sách đã làm rõ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tácquy hoạch cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh miềnnúi phía Bắc; phân tích rõ thực trạng đội ngũ cán thuộc diện Ban Thường vụtỉnh ủy quản lý và thực trạng xây dựng quy hoạch cán bộ này, chỉ ra ưu, khuyết

điểm, nguyên nhân, kinh nghiệm bổ ích Trên cơ sở đó, đề xuất những giải

pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ thuộc diện Ban

Thường vụ tỉnh ủy các tỉnh miền núi phía Bắc quản lý, gồm: nâng cao nhận

thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là các đồng chí uỷ viên ban

thường vụ tỉnh uỷ và cấp uỷ viên các cấp, cán bộ lãnh đạo các cơ quan, đơn vị,địa phương về công tác quy hoạch cán bộ; cụ thể hoá tiêu chuẩn từng chức

danh cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ tỉnh ủy quản lý phù hợp với từng tỉnh;

đánh giá cán bộ, tạo nguồn cán bộ dồi dào, nhất là cán bộ là người dân tộc thiểu

số, cán bộ trẻ, cán bộ nữ; đổi mới, hoàn thiện nội dung, quy trình xây dựng quyhoạch cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ tỉnh ủy quản lý; thực hiện tốt việckiểm tra, rà soát, bổ sung hoàn chỉnh quy hoạch cán bộ; chủ động phát hiện,khắc phục các biểu hiện tiêu cực, tư tưởng cục bộ khép kín, tự ti dân tộc; xâydựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ

Trang 20

1.1 3 Luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ

- Phạm Công Khâm (2000), Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã

vùng nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay Luận án tiến sĩ khoa học

chính trị, chuyên ngành xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam [90]

Tác giả đã làm rõ vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp

xã và công tác cán bộ cấp xã; đánh giá thực trạng, nêu kinh nghiệm và nhữngvấn đề đặt ra cần giải quyết; xác định rõ mục tiêu, quan điểm và đưa ra hệthống giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã vùng đồng bằngsông Cửu Long trong giai đoạn hiện nay Trong đó, các giải pháp đáng quantâm: tiếp tục đổi mới công tác quy hoạch gắn với đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng

và quản lý, kiểm tra đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã; xây dựng HTCT vàphong trào cách mạng của quần chúng ở cơ sở để rèn luyện, bồi dưỡng, tuyểnchọn, kiểm tra cán bộ; tiếp tục hoàn thiện chính sách đãi ngộ đối với cán bộcấp xã và tăng cường sự chỉ đạo, giúp đỡ của cấp huyện

Đây là luận án có giá trị tham khảo tốt, nhất là phần cơ sởp lý luận và

thực tiễn về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã vùng nông thôn Đồngbằng sông Cửu Long và một số giải pháp

- Nguyễn Thái Sơn (2002), Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt

cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Luận án tiến sỹ khoa học chính trị, chuyên ngành xây

dựng Đảng Cộng sản Việt Nam [132]

Luận án đã luận giải vị trí, vai trò, chức năng của đội ngũ cán bộ lãnh

đạo chủ chốt cấp tỉnh; đánh giá đúing thực trạng đội ngũ cán bộ và việc xây

dựng đội ngũ cán bộ này, ở đồng bằng sông Hồng Từ đó xác định nguyên nhâncủa ưu điểm, khuyết điểm, hạn chế và rút ra 5 kinh nghiệm có giá trị

Luận án phân tích đặc điểm, vai trò, vị trí, yêu cầu CNH, HĐH nôngnghiệp, nông thôn ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng và những vấn đề đặt ra

Trang 21

cần giải quyết; xác định tiêu chuẩn chung cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh

và tiêu chuẩn từng chức danh cán bộ Đồng thời, đề xuất sáu giải pháp có giátrị về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh ở đồng bằng sôngHồng đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước

- Huỳnh Văn Long (2003), Xây dựng đội ngũ bí thư huyện ủy, chủ tịch

uỷ ban nhân dân huyện ở đồng bằng sông Cửu Long ngang tầm đòi hỏi của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Luận án Tiến sĩ Chính trị học,

chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam [118]

Luận án đã làm rõ hơn một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng

đội ngũ bí thư huyện ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân (UBND) huyện ở đồng

bằng sông Cửu Long giai đoạn hiện nay; khảo sát, phân tích thực trạng độingũ bí thư huyện ủy, chủ tịch UBND huyện vùng này, từ 1996 đến 2003; đềxuất những giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ bí thư huyện ủy, chủ tịchUBND huyện những năm tới Trong đó, đáng chú ý là các giải pháp: đổi mới

công tác đánh giá cán bộ; nêu cao ý thức trách nhiệm cá nhân của cán bộ gắn

với việc đẩy mạnh phân cấp quản lý; tăng cường kiểm tra, giám sát thực thicông vụ của CBLĐQL chủ chốt ở cấp huyện

- Trần Thanh Sơn (2006), Luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc

diện Ban Thường vụ Thành uỷ Hà Nội quản lý trong giai đoạn hiện nay, Luận

văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam

[133]

Luận văn đã làm sáng tỏ khái niệm CBLĐQL; đội ngũ CBLĐQL thuộc

Ban Thường vụ Thành uỷ Hà Nội quản lý; vị trí, vai trò và đặc điểm của đội

ngũ cán bộ này; làm sáng tỏ quan niệm về luân chuyển CBLĐQL; nêu lênnhững vấn đề có tính nguyên tắc và qui trình thực hiện luân chuyển CBLĐQL

Đồng thời, phân tích đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ và công tác luân

chuyển cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Thành uỷ Hà Nội quản lý, những

Trang 22

kết quả đạt được, hạn chế, yếu kém, chỉ ra những nguyên nhân, rút ra một sốkinh nghiệm bổ ích Trên cơ sở đó, đề xuất sáu giải pháp khả thi tăng cườngluân chuyển cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Thành uỷ Hà Nội quản lýtrong những năm tới Luận văn có giá trị tham khảo đối với việc thực hiệnluận án ở một số vấn đề lý luận, thực tiễn về luân chuyển CBLĐQL thuộcdiện Ban Thường vụ Thành uỷ Hà Nội quản lý.

- Trịnh Thanh Tâm (2012), Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là nữ hệ

thống chính trị xã ở đồng bằng sông Hồng giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ

khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam [134]

Luận án đã đề cập khá đầy đủ những vấn đề lý luận về xây dựng đội ngũcán bộ chủ chốt là nữ hệ HTCT xã ở đồng bằng sông Hồng; đánh giá rõ thựctrạng xây dựng đội ngũ cán bộ này từ năm 2001 đến nay, chỉ ra ưu, khuyết

điểm, nguyên nhân và những kinh nghiệm Luận án đề xuất những giải pháp

xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là nữ HTCT trị ở đồng bằng sông Hồng

những năm tới, gồm: Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp uỷ, các tổ chức có liên quan Thứ hai, tiếp tục cụ thể hoá tiêu chuẩn cán bộ chủ

chốt của HTCT xã và nâng cao chất lượng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ Thứ ba, nâng cao chất lượng việc quản lý, đánh giá, tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt là nữ của HTCT xã Thứ tư, phát huy mạnh mẽ tinh thần tự học tập, rèn luyện của cán bộ và thực hiện tốt chính sách cán bộ nữ Thứ năm, phát

huy vai trò của đảng uỷ, các tổ chức trong HTCT xã và nhân dân, coi trọng vai

trò của Hội Liên hiệp phụ nữ xã Thứ sáu, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và

tạo điều kiện thuận lợi của cấp uỷ, chính quyền, các đoàn thể huyện và cấp trên

1.1.4 Các bài báo khoa học

- Võ Văn Kiệt (2005), Quản lý cán bộ phải sâu sát, chặt chẽ, Tạp chí

Xây dựng Đảng, số 08 [93]

Theo tác giả, quản lý cán bộ nói chung, cán bộ trung, cao cấp nói riênghiện nay còn lỏng lẻo, không sâu sát hoạt động thực tiễn của cán bộ Hiện

Trang 23

tượng khá phổ biến là người đứng đầu của ngành, địa phương, đơn vị coi như

không có trách nhiệm gì đối với cán bộ dưới quyền khi cán bộ phạm sai lầm,khuyết điểm, thậm chí khuyết điểm rất nghiêm trọng Tác giả cho rằng, quản

lý cán bộ không thể theo cách gián tiếp, phải coi đó là biểu hiện của bệnhquan liêu trong quản lý cán bộ, và nhấn mạnh cấp uỷ quản lý cán bộ cấp nàothì phải nắm chắc, sâu sát cán bộ cấp đó…

- Trần Đình Hoan (2002), Luân chuyển cán bộ - khâu đột phá nhằm

xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ngang tầm thời kỳ phát triển mới.

Tạp chí Cộng sản, số 7 [75]

Tác giả đã nêu những kinh nghiệm quý trong việc dùng người của ông

cha ta, đồng thời chỉ ra những thành công, hạn chế trong công tác luân chuyển

cán bộ hiện nay và khẳng định chưa bao giờ công tác luân chuyển cán bộ lạicấp bách như hiện nay và phải được coi là một trong những khâu đột phá cótính quyết định đối với việc xây dựng chiến lược cán bộ ngang tầm nhiệm vụcách mạng mới Tác giả cũng nêu ra những nguyên tắc và phương châm chỉ

đạo công tác luân chuyển cán bộ và bốn nhóm công việc cần thực hiện thống

nhất, mạnh mẽ và hiệu quả

- Nguyễn Trọng Điều (2005), Về đánh giá, quy hoạch và luân chuyển

cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay, Tạp chí Cộng sản số 10 [69].

Tác giả đã phân tích và luận giải sự khác nhau giữa đánh giá, nhận xét

con người và đánh giá, nhận xét cán bộ; luận giải sự khác nhau giữa luân

chuyển cán bộ và điều động cán bộ Đồng thời, xem xét việc đánh giá, quyhoạch, luân chuyển cán bộ ở nước ta qua các thời kỳ và rút ra cái được và

chưa được, từ đó đưa ra một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng và hiệu

quả công tác đánh giá, quy hoạch và luân chuyển cán bộ hiện nay

- Thanh Toàn (2007), Năng lực, phẩm chất người lãnh đạo trong sự

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 10 [139].

Trang 24

Tác giả chỉ ra phẩm chất, năng lực người lãnh đạo, gồm 7 tiêu chí cơbản: có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với lý tưởng cách mạng, vớichủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; có tư duy lãnh đạo; có nănglực định hướng hoạt động cho tập thể, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; có năng lực

tổ chức; có năng lực xử lý đúng đắn các mối quan hệ; có nghệ thuật giao tiếp,

ứng xử linh hoạt, khoa học; độ lượng, nhân hậu, yêu thương cấp dưới.

- Văn Tất Thu (2008), Quan điểm và nghệ thuật tuyển dụng nhân tài

trong xây dựng chính quyền cách mạng và kháng chiến kiến quốc, Tạp chí Tổ

chức Nhà nước - Bộ Nội vụ, số 5 [138]

Tác giả khẳng định, trong giai đoạn hiện nay, học tập và vận dụng sángtạo quan điểm và nghệ thuật trọng dụng nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minhnhất định sẽ phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng được nhiều nhân tàicho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

- Nguyễn Thế Thắng (2011), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua

yêu nước trong sự nghiệp đổi mới hôm nay, www.tutuonghochiminh.vn ngày

23/01/2011 [137]

Tác giả đã phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về tầm quan trọng và tínhtất yếu của thi đua; thi đua là bản tính của con người Đồng thời, nhấn mạnhnhững điểm cần thiết để vận dụng có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua

yêu nước trong sự nghiệp đổi mới, gồm: phát động các phong trào thi đua thiết

thực, sâu rộng trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội; thi đua phải có mục đích,mục tiêu; xây phải đi đôi với chống; tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức và cảitiến thủ tục, quy trình xét khen thưởng, thực hiện công khai, dân chủ, kịp thời và

đảm bảo tính nêu gương, giáo dục trong khen thưởng

- Nguyễn Thế Thắng (2012), Một số quan điểm cơ bản của chủ nghĩa

Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua, khen thưởng, Tạp chí Cộng sản

điện tử, ngày 29/01/2012 [136]

Trang 25

Tác giả đã phân tích một số quan điểm chủ yếu của chủ nghĩa Mác-Lênin

về thi đua và chỉ ra sự khác nhau về bản chất giữa cạnh tranh trong xã hội tư bảnvới thi đua XHCN Đồng thời, đi sâu vào phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về thi

đua ái quốc và nhấn mạnh: phải làm cho mọi người tự nguyện, tự giác tham giaphong trào thi đua ái quốc; Đảng phải lãnh đạo thi đua; phải đổi mới nội dung và

hình thức thi đua

- Nguyễn Thị Doan (2013), Bài phát biểu tại buổi gặp mặt các thế hệ

làm công tác thi đua, khen thưởng nhân kỷ niệm 65 ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh

ra lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 – 11/6/2013), Tạp chí Thi đua- Khen

thưởng, số 12 năm 2013 [47]

Sau khi khẳng định vai trò của các phong trào thi đua yêu nước từ khiChủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc, tác giả khẳng định vai trò,tác dụng của TĐKT trong giai đoạn hiện nay, và nhấn mạnh những nhiệm vụ

trọng tâm ngành TĐKT cần tập trung thực hiện: Một là, phong trào thi đua và

công tác khen thương phải nhằm động viên được sức mạnh khối đại đoàn kết

toàn dân tộc, của cả HTCT vào việc thực hiện nhiệm vụ đổi mới, xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc; góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của ngành, địa

phương, cơ quan, đơn vị Hai là, nội dung và phương thức thi đua phải gắn kết

chặt chẽ với việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Ba là, khen

thưởng phải đảm bảo tính nêu gương, giáo dục; khắc phục bệnh thành tích, tính

hình thức trong TĐKT Chuyển trọng tâm TĐKT về cơ sở, nhất là những cơ sở

trực tiếp sản xuất Bốn là, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong công tác

TĐKT theo hướng công khai, minh bạch, công bằng, dân chủ Năm là, củng cố,

kiện toàn tổ chức, bộ máy, cán bộ công tác TĐKT Sáu là, phối hợp với Học

viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, các Bộ, ngành liên quan đưa

tư tưởng thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào giảng dạy trong hệ

thống trường Đảng và các trường đại học, cao đẳng

Trang 26

- Trần Thị Hà (2013), Diễn văn kỷ niệm 65 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí

Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 11/6/2013), Tạp chí Thi đua

-Khen thưởng, số 12 năm 2013 [72]

Tác giả đã nêu khái quát lịch sử công tác TĐKT từ khi Chủ tịch Hồ ChíMinh ra Lời kêu gọi Thi đua ái quốc và thành tựu đạt được qua các thời kỳ cáchmạng, nhấn mạnh vai trò tác dụng to lớn của công tác TĐKT trong giai đoạnhiện nay Đồng thời, khẳng định vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức ngành

TĐKT, nhất là đội ngũ CBLĐQL chuyên trách của Ngành, và nhấn mạnh:

Với các hình thức tổ chức bộ máy, đầu mối trực thuộc khác nhautheo từng giai đoạn lịch sử, các thế hệ cán bộ làm công tác thi đua

khen thưởng vẫn luôn tiếp nối được truyền thống vẻ vang của ngànhthi đua khen thưởng, làm tốt nhiệm vụ tham mưu cho các cấp lãnhđạo, thực hiện công tác thi đua, khen thưởng trong từng thời kỳ, đảm

bảo hoàn thành các nhiệm vụ chính trị được giao [70, tr 3]

Tác giả nêu những nhiệm vụ trọng tâm của công tác TĐKT trong nhữngnăm tới, và nhấn mạnh, thi đua phải được tổ chức trên tất cả các lĩnh vực của

đời sống xã hội và phải được thực hiện thường xuyên; cán bộ, đảng viên phải

tích cực vận động quần chúng tham gia và đi đầu làm gương cho mọi người;kết hợp chặt chẽ thi đua với khen thưởng “Thi đua là gieo trồng, khen thưởng làthu hoạch”, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác TĐKT, nhất là độingũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT có chất lượng tốt, đáp ứng yêu cầu,nhiệm vụ công tác TĐKT trong điều kiện hiện nay

- Trần Thị Thu Hà (2014), Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thi đua

khen thưởng, Tạp chí diện tử Bạn đọc làm báo, ngày 15/5/2014 [73].

Tác giả đã luận giải vai trò, tác dụng và sự cần thiết của TĐKT trong

điều kiện hiện nay; phân tích các quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với công tácTĐKT; chỉ ra ưu, khuyết điểm công tác TĐKT ở Bộ Khoa học và Công nghệ và

Trang 27

đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công TĐKT những năm tới, gồm: Tiếp

tục đổi mới nội dung và hình thức công tác TĐKT bảo đảm phù hợp và sát thựctiễn, coi đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của Bộ, đơn vị Chú trọng công tácphát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng cá nhân, tập thể điển hình tiên tiến

Đề cao vai trò chỉ đạo, điều hành đối với công tác TĐKT Công tác TĐKT phải

bảo đảm công bằng, kịp thời, đánh giá đúng mức sự nỗ lực, thành tích đạt được

Tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các đơn vị thực hiện công tácTĐKT và các quy chế, quy định nội bộ của Bộ

1.1.5 Những công trình của các nhà khoa học Việt Nam viết về cán

bộ của một số nước

- Chu Hảo (2002), Cần thêm gì vào tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo, quản

lý trong thời đại kinh tế trí thức?, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 02 [74].

Tác giả đưa ra và phân tích 5 phẩm chất cần có đối với cán CBLĐQLtrong thời đại kinh tế tri thức đang phát triển mạnh mẽ hiện nay, do ông Phi-lip-Yeo, Chủ tịch Uỷ ban Phát triển Kinh tế Sin-ga-po đưa ra trong bài phátbiểu tại Hội nghị Quốc tế về Kinh tế Tri thức (Ku-a-la Lăm-pua, tháng 4-

2000) Đó là: biết xử lý tốt thông tin (biến thông tin thành tri thức và áp dụng

có hiệu quả); phân biệt nhanh được các ý tưởng tốt và xấu; kiên quyết hơn vàdám chấp nhận mạo hiểm; nhận thức rõ việc tiếp xúc trực tiếp có vai trò rấtquan trọng trong công việc và phải biết tạo cảm hứng khích lệ người khác

- Nguyễn Duy Hùng, Lê Văn Yên (2009), Về kinh nghiệm xây dựng đội

ngũ cán bộ ở Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [88].

Các tác giả đã phân tích những vấn đề liên quan đến công tác cán bộ

như: chế độ công vụ của cán bộ, công chức; việc cải cách thể chế chính trị;

vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản; việc xây dựng tố chất và năng lực của

CBLĐQL; công tác đào tạo, bồi dưỡng; tiến cử, lựa chọn, đề bạt, sử dụng vàđánh giá CBLĐQL của Trung Quốc

Trang 28

- Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ban Tổ chức Trung ương, Quy định về công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo đảng, chính quyền, của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, GS,TS Đỗ Tiến Sâm, dịch (2006), Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội [49]

Cuốn sách gồm 7 chương, 31 điều, với những nội dung: Nguyên tắcchung; Đối tượng luân chuyển; phạm vi và cách thức luân chuyển; tổ chức thựchiện; kỷ luật cán bộ luân chuyển; biện pháp bảo đảm; các điều khoản kèm theo

Những nội dung có giá trị tham khảo đối với luận án: Tổng thuật về côngtác luân chuyển cán bộ lãnh đạo đảng, chính quyền của Trung Quốc; đánh giácông tác luân chuyển cán bộ, những thành tựu, kinh nghiệm và một số hạnchế Giá trị nhất là 4 kinh nghiệm về công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo

đảng, chính quyền: Một là, phải đưa công tác luân chuyển cán bộ vào kế

hoạch tổng thể cải cách chế độ nhân sự Hai là, xây dựng phương hướng dùng

người được bồi dưỡng từ cơ sở, nhân tài trưởng thành từ sản xuất; chú trọng

tuyển chọn, đề bạt những người có kinh nghiệm công tác, lãnh đạo ở cơ sở

làm cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan đảng, chính quyền cấp trên Ba là, nắm

chắc việc luân chuyển cán bộ lãnh ở các bộ, ban, ngành có quyền lực và các

vị trí then chốt, đặc biệt là người chịu trách nhiệm chính trong ban lãnh đạo

đảng, chính quyền Bốn là, luân chuyển một cách có kế hoạch, đúng thời điểm,

đảm bảo ổn định tình hình và ưu hoá kết cấu ban lãnh đạo

- Trịnh Cư, Nguyễn Duy Hùng và Lê Văn Yên, (2009), Kinh nghiệm xây

dựng đội ngũ cán bộ ở Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [46].

Các tác giả đã chỉ rõ: trong thời kỳ đẩy mạnh cải cách, mở cửa, Đảng và

Nhà nước Trung Quốc rất quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ có chất lượng tốt,

gồm: có tố chất cao, có tri thức, nắm vững nghiệp vụ, hoàn thành tốt trọng trách

được giao, trung thành với chủ nghĩa Mác, kiên trì con đường XHCN, biết lãnhđạo, quản lý đất nước, xã hội, đặc biệt là quản lý nền kinh tế thị trường XHCN

của Trung Quốc Cuốn sách đã đề cấp các giải pháp để có đội ngũ cán bộ hội

đủ những yêu cầu đó: Chế độ cán bộ, công chức; cải cách thể chế chính trị; tăng

Trang 29

cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao tố chất và năng lực cán bộ lãnh đạo;công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; tiến cử, lựa chọn, đề bạt, sử dụng và nhận

xét, đánh giá cán bộ; quản lý cán bộ

1.2 MỘT SỐ CÔNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI

1.2.1 Một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài

* Các công trình c ủa các nhà khoa học Trung Quốc

- Mã Linh - Lý Minh, (2004), Hồ Cẩm Đào, con đường phía trước, Nxb

Lao động, Hà Nội, 2004, biên dịch từ tác phẩm “Hồ Cẩm Đào- từ đâu tới và sẽ đi

về đâu?” của hai tác giả trên, Nxb Minh Báo- Hồng Kông năm 2003.

Các tác giả cho rằng, Trung Quốc đã sớm phát hiện và tạo điều kiện thuậnlợi cho một nhân tài trẻ tuổi thăng tiến vượt cấp - Trường hợp Tổng Bí thư - Chủtịch Nước Hồ Cẩm Đào Con đường đi đến đỉnh cao quyền lực của ông do nhiềuyếu tố tạo nên: Tài năng, sự phấn đấu, thời thế và việc sớm phát hiện, tiến cử và

nâng đỡ, dìu dắt của một số lãnh đạo thế hệ trước Theo tác giả, tài năng của Hồ

Cẩm Đào có điều kiện phát triển rất thuận lợi vì có đường lối “bốn hoá” cán bộ

của Đặng Tiểu Bình (cách mạng hoá, trẻ hoá, tri thức hoá, chuyên môn hoá).

Đến nay, Trung Quốc vẫn duy trì việc cán bộ lãnh đạo phải biết phát hiện và tiến

cử người tài cho đất nước

- Triệu Gia Kỳ, (Ban Tổ chức Thành ủy Bắc Kinh), (2004) “Tăng

cường xây dựng Đảng ủy địa phương, phát huy đầy đủ vai trò hạt nhân lãnh đạo”, Hội thảo lý luận giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản

Trung Quốc, Xây dựng đảng cầm quyền, kinh nghiệm của Việt Nam, kinhnghiệm của Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [95]

Tác giả đã phân tích công tác xây dựng Đảng của Thành ủy Bắc Kinh

và chỉ ra những kinh nghiệm: Một là, kiên trì bao quát toàn cục, điều hoà các

mặt, phát huy đầy đủ vai trò hạt nhân lãnh đạo của Đảng ủy địa phương, gồm:kiện toàn và hoàn thiện thể chế lãnh đạo để Đảng ủy địa phương phát huy vai

Trang 30

trò hạt nhân chính trị; quán triệt và thực hiện tốt đường lối, phương châm và

chính sách của Đảng; kiên trì lập Đảng vì công, cầm quyền vì dân Hai là,

nắm chắc nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, thiết thực là thúc đẩy kinh tế - xãhội địa phương phát triển toàn diện, hài hoà và bền vững; tối ưu hoá môi

trường phát triển, đẩy mạnh sáng tạo về thể chế; kiên trì giải quyết tốt mối

quan hệ giữa cải cách, phát triển và ổn định Ba là, tăng cường xây dựng

Đảng, không ngừng nâng cao trình độ lãnh đạo và trình độ cầm quyền củaĐảng, gồm: quán triệt thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, kiện toàn và

hoàn thiện hơn nữa cơ chế nghị sự và ra quyết sách của Đảng ủy địa phương.Công trình này có giá trị tham khảo đối với luận án, nhất là những kinhnghiệm nêu trên

- Tôn Hiểu Quần (Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung

Quốc), (2004), Tăng cường xây dựng ban lãnh đạo, cố gắng hình thành tầng

lớp lãnh đạo hăng hái, sôi nổi, phấn đấu thành đạt, Hội thảo lý luận giữa

Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, Xây dựng đảng

cầm quyền, kinh nghiệm của Việt Nam, kinh nghiệm của Trung Quốc, NxbChính trị quốc gia, Hà Nội [124]

Những giải pháp xây dựng tập thể và các nhân ban lãnh đạo, có giá trịtham khảo đối với luận án, gồm: Coi trọng việc lấy chủ nghĩa Mác-Lênin để

vũ trang nhận thức cho cán bộ lãnh đạo; coi trọng nâng cao trình độ và nănglực công tác của ban lãnh đạo và cán bộ trong thực tiễn; kiên trì tiêu chuẩntrong chọn người, dùng người một cách khoa học, xác lập định hướng côngtác cán bộ đúng đắn; đi sâu cải cách chế độ tự chọn và bổ nhiệm cán bộ lãnh

đạo Đảng và chính quyền các cấp; thiết thực tăng cường giám sát đối với cán

bộ lãnh đạo

- Chu Phúc Khởi (Cục cán bộ 1 Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng

sản Trung Quốc), (2004), Xuất phát từ đại cục, hướng tới lâu dài, cố gắng

xây dựng một đội ngũ cán bộ dự bị tố chất cao, Hội thảo lý luận giữa Đảng

Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, Xây dựng đảng cầm

Trang 31

quyền, kinh nghiệm của Việt Nam, kinh nghiệm của Trung Quốc, Nxb Chínhtrị quốc gia, Hà Nội [92].

Tác giả đã làm rõ những vấn đề: Ý nghĩa chiến lược của việc xâydựng đội ngũ cán bộ dự bị và đề xuất các giải pháp Những giải pháp về xâydựng đội ngũ cán bộ dự bị có giá trị tham khảo đối với luận án, gồm: Xuấtphát từ đòi hỏi thực tế của việc xây dựng ban lãnh đạo, phải xây dựng quyhoạch thiết thực, khả thi về xây dựng đội ngũ cán bộ dự bị; tăng cường xâydựng chế độ hoá, quy phạm hoá chặt chẽ về tiêu chuẩn, quy trình và yêu cầu

đối với các khâu trong công tác cán bộ dự bị; thực hiện quản lý sự biến động,đảm bảo số lượng và chất lượng cán bộ dự bị; kiên trì dự trữ kết hợp với sử

dụng, kịp thời tuyển chọn cán bộ dự bị với điều kiện đã chín muồi một cách

có kế hoạch

- Giả Cao Kiến (Trường Đảng Trung ương, Đảng Cộng sản Trung

Quốc), (2004), Phát huy đầy đủ vai trò của trường Đảng, làm tốt công tác

giáo dục và đào tạo cán bộ, Hội thảo lý luận giữa Đảng Cộng sản Việt Nam

và Đảng Cộng sản Trung Quốc, Xây dựng đảng cầm quyền, kinh nghiệm của

Việt Nam, kinh nghiệm của Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [94] Tác giả đã phân tích và làm rõ vai trò đặc biệt quan trọng của hệ thống

trường Đảng ở Trung Quốc, khái quát về hoạt động giáo dục và đào tạo cán

bộ của các trường Đảng, nhấn mạnh những ưu, khuyết điểm chính và đề xuấtcác giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của hệthống trường Đảng

Các giải pháp có giá trị tham khảo đối với luận án: Phân biệt rõ yêu cầu,nội dung và phương thức tổ chức hai loại lớp học, đào tạo và bồi dưỡng; phânloại, phân tầng việc thiết kế nội dung dạy học; những vấn đề có tính nguyêntắc về phát huy vai trò của trường Đảng trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

* Các công trình nghiên c ứu của các nhà khoa học Lào

- Nich Khăm, (2013), Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt Hội

Liên hiệp phụ nữ ở Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào trong thời kỳ đổi mới,

Trang 32

Luận án tiến sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sảnViệt Nam [91].

Luận án đã làm rõ hơn một số vấn đề lý luận và quan điểm về xây dựng

đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt Hội Liên hiệp phụ nữ ở Lào; khảo sát, đánh

giá thực trạng cán bộ lãnh đạo các cấp của Hội Liên hiệp phụ nữ Lào; đề xuất

phương hướng và giải pháp cơ bản để xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ

chốt Hội Liên hiệp phụ nữ ở Lào trong giai đoạn hiện nay

Những nội dung có giá trị tham khảo đối với luận án: quan điểm củachủ nghĩa Mác-Lênin và của Đảng Nhân dân cách mạng Lào về cán bộ vàcông tác cán bộ; những giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốtHội Liên hiệp phụ nữ ở Lào, gồm: xác định cơ cấu và quy hoạch cán bộ gắnvới chức năng, nhiệm vụ; xây dựng các quy chế công tác cán bộ Hội Liênhiệp phụ nữ; xây dựng và thực hiện chính sách cán bộ Hội

- On Kẹo Phôm Ma Kon (2012), Đổi mới, kiện toàn hệ thống tổ chức

của đảng và hệ thống chính trị trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Lào, Kỷ yếu Đề tài khoa học cấp nhà nước

(hợp tác giữa Việt Nam và Lào): “Xây dựng Đảng cầm quyền trong quá trìnhphát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam và Lào” [120]

Tác giả đã làm rõ: Vị trí, vai trò của việc đổi mới, kiện toàn hệ thống bộ

máy tổ chức, cán bộ của HTCT từ Trung ương đến cơ sở trong quá trình pháttriển kinh tế hành hóa định hướng XHCN ở Lào; thực trạng đổi mới, kiệntoàn hệ thống bộ máy tổ chức và cán bộ của HTCT ở Lào; quan điểm, biện

pháp đổi mới, kiện toàn hệ thống HTCT ở Lào

Vấn đề có giá trị tham khảo đối với luận án là củng cố kiện toàn bộ máy

hành chính Nhà nước và sắp xếp bố trí cán bộ một cách hợp lý theo hướng

tinh gọn và có quy chế quản lý theo ngành; nhất thể hóa chức danh cán bộ

đứng đầu tổ chức đảng với cán bộ đứng đầu chính quyền cùng cấp

Trang 33

1.2.2 Những kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của một số nước.

* Kinh nghi ệm của một số nước tư bản (nguồn Đề tài độc lập cấp

Nhà nước: “Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay” do Trần Thị Hà, làm chủ nhiệm [71].

Qua nghiên cứu việc xây dựng đội ngũ công chức của một số nước tưbản có thể rút ra những kinh nghiệm:

Một là, coi trọng đào tạo bài bản, bồi dưỡng thường xuyên

Các nước tư bản rất coi trọng đào tạo một cách bài bản công chức nói

chung và công chức làm việc trong lĩnh vực khen thưởng nói riêng Các côngchức đều phải được đào tạo một cách bài bản theo chương trình thống nhấtquốc gia và thực hiện quy trình chặt chẽ theo vị trí việc làm Kết quả đào tạochỉ là một căn cứ để tuyển chọn công chức theo vị trí việc làm Nội dung thituyển công chức là những vấn đề cơ bản về lý thuyết và nghiệp vụ, nên buộcnhững ứng viên muốn trúng tuyển trong các kỳ thi tuyển công chức hằng nămphải bằng mọi cách để được đào tạo bài bản

Công chức đã trúng tuyển trong các kỳ thi tuyển công chức, có việclàm phải được bồi dưỡng thường xuyên theo công việc đảm nhiệm và vị tríviệc làm Đây là quy định bắt buộc trong toàn quốc Chương trình bồi dưỡng

được quy định chung thống nhất cho các loại công chức (phần cứng), chương

trình bồi dưỡng linh hoạt đối với công chức ở từng ngành (chương trình mở)

Hai là, có quy định bắt buộc về thời gian đi thực tế hằng năm đối với

công chức làm việc trong lĩnh vực khen thưởng

Nhiều nước tư bản có quy định này được cơ quan quản lý thực hiệnnghiêm chỉnh, công chức tự giác sắp xếp thời gian vầ đề nghị được đi thực tế

để hoàn thành nhiệm vụ theo quy định Công chức ở cấp trung ương hàngnăm phải đi thực tế ở các Bộ, Cục, Tỉnh, quận để tìm hiểu thực tế, phát hiện

những vấn đề mới, bức xúc về khen thưởng liên quan đến những quy định

Trang 34

hiện hành để kiến nghị, bổ sung cho hoàn chỉnh, hoặc đề nghị bãi bỏ và xâydựng quy định mới nếu cần thiết Vì vậy, công chức làm việc trong lĩnh vực

khen thưởng có chuyên môn rất sâu, tính chuyên nghiệp cao và tri thức rộng

Ba là, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức làm công tác khen

thưởng ở các cấp đề xác định vị trí việc làm và số lượng công chức Cơ quanlàm công tác khen thưởng ở trung ương trực thuộc văn phòng tổng hay phủ

toàn quyền được xác định rất linh hoạt phù hợp với từng nước

Từ kinh nghiệm trên, nên đội ngũ công chức làm việc trong lĩnh vực

khen thưởng không có tình trạng thừa công chức yếu kém về năng lực, trình

độ và vừa thiếu những công chức có trình độ chuyên môn cao và sâu

Các tổ chức, bộ phận khen thưởng được bố trí từ trung ương tới địa

phương, cơ sở Tổ chức bộ máy khen thưởng thường trực cấp trung ương

thuộc Văn phòng Tổng thống (Nga), Phủ Tổng thống (Pháp); Ban thư ký khen

thưởng trực thuộc phủ toàn quyền (Úc), một số nước có cơ quan khen thưởng

thuộc Bộ Ngoại giao

* Kinh nghi ệm của Nhật Bản (nguồn Đề tài độc lập cấp Nhà nước:

“Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay” do Trần Thị Hà làm chủ nhiệm [71].

Thứ nhất, các cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp lớn đều có một

nguyên tắc sử dụng cán bộ, công nhân viên chính thức) đến suốt đời

Thứ hai, các cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp đều rất coi trọng

giá trị tinh thần tập thể và cộng đồng

Thứ ba, Nhật Bản rất coi trọng và tạo điều kiện cho nhân sự phát triển

toàn diện, trở thành những người có khả năng tổng hợp

Thứ tư, đánh giá công chức thông qua thành tích chung của tập thể, cơ

quan mà cá nhân đó lãnh đạo hoặc là thành viên; rất coi trọng sự đánh giá và

tín nhiệm của những người đồng cấp trong cơ quan và ngoài cơ quan

Trang 35

* Kinh nghi ệm của Trung Quốc (nguồn Đề án của Bộ Chính trị: “Đổi

mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay” [35].

Một là, tập trung xây dựng những quy phạm về công tác cán bộ và chỉ

đạo thực hiện nghiêm

Những quy phạm về công tác cán bộ được xây dựng, bổ sung, hoànchỉnh, được thực hiện nghiêm đã có tác dụng tích cực trong việc lựa chọn, đềbạt, sử dụng cán bộ; đồng thời có tác dụng ngăn ngừa và khắc phục nhữnglệch lạc trong việc dùng người

Hai là, luôn coi trọng việc thẩm tra, nhận xét cán bộ.

Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ban hành

"Quy định về thẩm tra đánh giá cán bộ đảng và chính quyền" Các địa phương

và bộ, ngành đã xây dựng chế độ đánh giá hiệu quả công việc, chế độ tráchnhiệm trong thẩm tra đánh giá cán bộ

Ba là, thực hiện thí điểm phương thức thi tuyển cạnh tranh các chức

danh CBLĐQL thay cho phương thức bổ nhiệm CBLĐQL theo kiểu truyền

thống, sau đó thực hiện trong cả nước

Phương thức này, được thực hiện thí điểm ở một số địa phương từ năm

1994; từ 2001 được thực hiện trong cả nước Đây là phương thức mới, nhằmthay thế phương thức bổ nhiệm CBLĐQL truyền thống

Bốn là, luôn chú trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp đào

tạo, bồi dưỡng cán bộ, tăng cường tính chủ động và hiệu quả trong đào tạo,bồi dưỡng cán bộ

Năm là, không ngừng tăng cường công tác giám sát cán bộ.

Sáu là, thăm dò ý kiến công luận trước khi bổ nhiệm cán bộ.

Dữ liệu cơ bản về triển vọng của CBLĐQL như: tên tuổi, chức vụ hiệntại, quá trình đào tạo, vị trí dự kiến được bổ nhiệm…được thông báo côngkhai ra công luận nhằm thỉnh cầu ý kiến của quảng đại quần chúng

Trang 36

* Kinh nghi ệm của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào (nguồn Đề án

của Bộ Chính trị: “Đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay” [35].

Một là, ngăn chặn và loại trừ có hiệu quả những tác động tiêu cực từ

phong tục, tập quán, cách nghĩ, tầm nhìn người sản xuất nhỏ, manh mún, tảnmạn, phân tán, quan hệ huyết thống , xây dựng đội ngũ cán bộ gắn liền vớinhững quan điểm mới về công tác tổ chức Nhân dân cách mạng Lào, sẽ có độingũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào là nước đa dân tộc, gồm nhiều bộ tộc,kinh tế chủ yếu phụ thuộc thiên nhiên, tự túc, tự cấp, đang triển khai mạnh mẽxây dựng nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường định hướng XHCN.Những phong tục tập quán của các bộ tộc, cách nghĩ tầm nhìn của người sảnxuất nhỏ phân tán, tản mạn, manh mún, quan hệ huyết thống còn ảnh hưởngnặng nề đối với công tác tổ chức, cán bộ Song, qua thực tiễn ở Lào cho thấy,

nơi nào ngăn chặn và loại trừ có hiệu quả những tiêu cực nêu trên, gắn chặt

việc xây dựng đội ngũ cán bộ với những quan điểm mới về công tác tổ chứccủa Đảng Nhân dân cách mạng Lào sẽ có đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầunhiệm vụ

Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ phải gắn liền với việc phát động, duy

trì phong trào cách mạng của quần chúng tại các bộ tộc, dựa vào quần chúng

để xây dựng đội ngũ cán bộ

Ba là, xây dựng và thực hiện tốt quy phạm thi tuyển cạnh tranh, trong lựa

chọn và bổ nhiệm cán bộ, có tính đến cơ cấu dân tộc, các bộ tộc

*

* *

Như vậy, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về công tác cán

bộ nói chung, trong đó có một số công trình nghiên cứu về xây dựng đội ngũ

Trang 37

CBLĐQL các cấp ở các địa phương trong giai đoạn hiện nay đạt kết quả đáng

trân trọng về lý luận và thực tiễn Những kết quả nghiên cứu của các côngtrình khoa học nêu trên có giá trị tham khảo tốt để thực hiện mục đích vànhiệm vụ của luận án Tuy nhiên, do mục tiêu, nhiệm vụ khác nhau và góc độnghiên cứu có những điểm khác nhau, các công trình khoa học nêu trên chưa

có điều kiện đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về xây dựngđội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT trong giai đoạn hiện nay

Trang 38

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CHUYÊN TRÁCH CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG Ở NƯỚC TA

GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

2.1 THI ĐUA, KHEN THƯỞNG, CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG

VÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CHUYÊN TRÁCH CÔNG TÁC THI ĐUA, KHEN THƯỞNG

2.1.1 Thi đua, khen thưởng - Khái niệm, nội dung, hình thức và mối quan hệ

2.1.1.1 Khái ni ệm, mục đích, nội dung, hình thức thi đua

* Khái niệm thi đua

Theo Đại từ điển tiếng Việt: Thi đua là cùng nhau đưa hết khả năng ra

làm nhằm thúc đẩy lẫn nhau đạt thành tích tốt nhất: thi đua sản xuất; thi đua dạy

tốt, học tốt; phong trào thi đua ở các đơn vị [148, tr 1559].

Chủ tịch Hồ Chí Minh khi luận bàn về thi đua, đã nhấn mạnh:

Tưởng lầm rằng thi đua là một việc khác với những việc hàng ngày Thật

ra công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua Thí dụ từ trước đến nay tavẫn ăn, vẫn mặc, vẫn ở Nay ta thi đua ăn, ở, mặc sao cho sạch, cho hợp vệsinh, khỏi đau ốm Xưa nay ta vẫn làm ruộng nay ta thi đua làm cho ruộng tốt

hơn, sản xuất nhiều hơn, mọi việc đều thi đua như vậy [104, tr 658]

Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thi đua là công việc diễn ra hàng

ngày trong một tập thể trên tất cả các mặt hoạt động nhằm đạt kết quả tốt nhất Luật TĐKT định nghĩa: “Thi đua là hoạt động có tổ chức với sự thamgia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốtnhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [126, tr 1]

Trang 39

Từ những điều nêu trên, có thể định nghĩa: thi đua là hoạt động tự

nguyện, có tổ chức diễn ra trong tất cả các tổ chức, các ngành, các cấp, các lĩnh vực đời sống xã hội nhằm làm cho các hoạt động đạt kết quả tốt nhất góp phần xây dựng đất nước vững mạnh và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Khái niệm thi đua, có nhiều điểm liên quan đến khái niệm cạnh tranh.Hai khái niệm này, tuy có nhiều điểm tương đồng, song cũng có những điểm

khác nhau căn bản Sự tương đồng giữa thi đua và cạnh tranh thể hiện ở: thiđua thúc đẩy, khuyến khích cá nhân, tập thể hoạt động đạt kết quả tốt nhất

Cạnh tranh, nhất là cạnh tranh lành mạnh cũng có tác dụng làm cho hoạt độngcủa cá nhân và tập thể tốt hơn, song cạnh tranh kiểu này không nhiều Điểmkhác biệt chủ yếu giữa thi đua với cạnh tranh là ở động cơ và mục đích của

thi đua và của cạnh tranh Mọi hoạt động thi đua đều xuất phát từ động cơ

làm cho hoạt động của cá nhân, tập thể đạt kết quả tốt nhất, góp phần xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Còn cạnh tranh thường nặng về động cơ vì cá nhânhoặc một nhóm người nhằm chiếm ưu thế và kết quả vượt trội so với cá nhânhoặc nhóm người khác Nguy hại hơn, cạnh tranh không lành mạnh, cạnhtranh tự do nhiều khi gây hậu quả to lớn, khó lường, ảnh hưởng đến sự pháttriển của tập thể và đất nước

* Mục đích thi đua

Ở nước ta, thi đua nhằm huy động, khai thác mọi tiềm năng của mỗi cá

nhân và toàn xã hội làm cho hoạt động của cá nhân và tập thể đạt kết quả tốtnhất, đơn vị, ngành, địa phương hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phầnxây dựng đất nước vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Trong giai đoạnhiện nay, thi đua nhằm làm cho cá nhân và tập thể, ngành, địa phương, đơn vịhoàn thành tốt nhiệm vụ được giao góp phần thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụcông cuộc đổi mới, CNH, HĐH đất nước Thi đua theo ý nghĩa đó, được gọi

là thi đua yêu nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ điều này, đã đưa ra cách

Trang 40

tiếp cận và nhìn nhận mới về thi đua ở nước ta: “Thi đua là yêu nước, yêu

nước thì phải thi đua Và những người thi đua là những người yêu nước

nhất”[104, tr 473]

* Nội dung thi đua

Hoạt động thi đua ở nước ta có nội dung rất đa dạng, phong phú, baohàm tất cả hoạt động của cá nhân và tập thể trên các lĩnh vực đời sống xã hội,

như kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh : thi đua phát

triển kinh tế - xã hội; thi đua phát triển khoa học và ứng dụng học công nghệvào sản xuất, công tác ; thi đua phát triển và thực hiện chương trình giáo dục,

đào tạo; thi đua giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo; thi đua bảo vệ Tổ

quốc, giữ gìn an ninh trật tự và an toàn xã hội; thi đua xây dựng nếp sống văn

minh và văn hóa, làm việc theo pháp luật, thực hành tiết kiệm, phòng chống

tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội khác; thi đua rèn luyện phẩm chất

đạo đức, lối sống và học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

* Hình thức thi đua

Hình thức thi đua rất đa dạng, phong phú, gồm các hình thức chủ yếu:

Thi đua thường xuyên hằng năm, thường được quán triệt, phát động từđầu năm cùng với triển khai nhiệm vụ trong năm tất cả các ngành, địaphương, đơn vị, được duy trì và tiến hành bình xét các danh hiệu thi đua vào

cuối năm; cũng có nhiều đơn vị các hoạt động thi đua được tiến hành theo

năm học, nhất là ở các trường học, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

Thi đua theo đợt dài ngày hoặc ngắn ngày diễn ra trên quy mô toànquốc hoặc ở địa phương, ngành, đơn vị để lập thành tích chào mừng một kiệnquan trọng nào đó, của đất nước, của Đảng, Nhà nước, đoàn thể, như chàomừng ngày thành lập Nước, thành lập Đảng, đoàn thể, ngày giải phóng Thủ

đô Hà Nội, ngày thành lập tỉnh, thành phố, ngày tỉnh, thành phố được giải

phóng khỏi ách áp bức của đế quốc

Ngày đăng: 22/12/2014, 11:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Ban Chấp hành Đảng bộ Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương (2010), Báo cáo của BCH Đảng bộ Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương lần thứ 24, nhiệm kỳ 2010 - 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của BCH Đảng bộ Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương lần thứ 24, nhiệm kỳ 2010 - 2015
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương
Năm: 2010
5. Ban Chấp hành Đảng bộ Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương (2006), Báo cáo số 03-BC/ĐU ngày 15/01/2006 của Đảng ủy Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương Tổng kết công tác đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 03-BC/ĐU ngày 15/01/2006 của Đảng ủy Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương Tổng kết công tác đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên năm 2005
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương
Năm: 2006
9. Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương (2007), Luật Thi đua, Khen thưởng và các văn bản hướng dẫn thi hành, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thi đua, Khen thưởng và các văn bản hướng dẫn thi hành
Tác giả: Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2007
11. Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương (2005), Phát biểu của lãnh đạo Đảng, Nhà nước tại Đại hội Thi đua toàn quốc lần thứ VII, (Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương tập hợp) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát biểu của lãnh đạoĐảng, Nhà nước tại Đại hội Thi đua toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương
Năm: 2005
12. Ban Tổ chức Trung ương (2002), Công văn về việc tăng cường quản lý, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về lý luận chính trị (số 947-CV/TCTW, ngày 24-1-2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn về việc tăng cường quản lý,nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về lý luận chính trị
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương
Năm: 2002
13. Ban Tổ chức Trung ương (2002), Hướng dẫn về việc xét duyệt ngạch cán sự, chuyên viên hoặc ngạch tương đương (số 12- HD/TCTW, ngày 18-11-2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn về việc xét duyệt ngạch cán sự, chuyên viên hoặc ngạch tương đương
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương
Năm: 2002
15. Ban Tổ chức Trung ương (2001), Lý luận nghiệp vụ công tác tổ chức cán bộ, tập 1,2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận nghiệp vụ công tác tổ chức cánbộ
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
16. Ban Tổ chức Trung ương (2003), 323 câu hỏi và trả lời về cán bộ và công tác cán bộ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 323 câu hỏi và trả lời về cán bộ và công tác cán bộ
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
17. Ban Tổ chức Trung ương (2004), Một số quy định chức năng nhiệm vụ của các Đảng bộ, chi bộ cơ sở, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số quy định chức năng nhiệm vụcủa các Đảng bộ, chi bộ cơ sở
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
18. Ban Tổ chức Trung ương (2005), Hệ thống những văn bản về chính sách đổi mới công tác quản lý cán bộ của Đảng, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống những văn bản về chính sáchđổi mới công tác quản lý cán bộ của Đảng
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2005
22. Ban Tổ chức Trung ương (2007), Công văn số 1611- CV/TCTW, ngày 29- 3-2007 về một số vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 1611- CV/TCTW, ngày 29- 3-2007 về một số vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương
Năm: 2007
25. Ban Tổ chức Trung ương (2012), Hướng dẫn số 15-HD/BTCTW ngày 05- 11-2012 về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30-11-2004 của Bộ Chính trị khoá IX và kết luận số 24- KL/TW của Bộ Chính trị khoá XI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn số 15-HD/BTCTW
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương
Năm: 2012
26. Nguyễn Đức Bình (2004), “Về đánh giá cán bộ”, Tạp chí Xây dựng Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đánh giá cán bộ”," Tạp chí Xây dựng Đảng
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Năm: 2004
27. Nguyễn Đức Bình (2002), Trần Ngọc Hiên... (1999), Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và tăngcường hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Đức Bình (2002), Trần Ngọc Hiên
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 1999
29. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 11/NQ-TƯ ngày 25/1/2002 của Bộ Chính trị về luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 11/NQ-TƯ ngày 25/1/2002 của Bộ Chính trị về luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002
31. Bộ Chính trị (2004), Chỉ thị 39-CT/TW ngày 21/5/2004 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 39-CT/TW ngày 21/5/2004 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2004
37. Bộ Chính trị (2014), Chỉ thị 34-CT/TW, ngày 7/4/2014 về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 34-CT/TW, ngày 7/4/2014 về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2014
39. Chính phủ (2003), Quyết định số 27/2003/QĐ-TTg ngày 19/2/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 27/2003/QĐ-TTg
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
45. Nguyễn Văn Côi (2012), Luân chuyển cán bộ diện Ban Thường vụ tỉnh uỷ quản lý ở các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luân chuyển cán bộ diện Ban Thường vụ tỉnh uỷquản lý ở các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Văn Côi
Năm: 2012
46. Trịnh Cư, Nguyễn Duy Hùng, Lê Văn Yên (2009), Kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ ở Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ ở Trung Quốc
Tác giả: Trịnh Cư, Nguyễn Duy Hùng, Lê Văn Yên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w