MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài 1 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang xây dựng là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Về bản chất, đó chính là Nhà nước luôn tôn trọng và đề cao các quyền dân chủ của nhân dân, xây dựng và thực hiện nền dân chủ XHCN. Giữa thực hiện dân chủ và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN có mối liên hệ mật thiết, gắn bó hữu cơ, tác động qua lại và bổ sung cho nhau. Dân chủ và thực hiện dân chủ là một trong những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền; là một trong những điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền XHCN. “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước” 21, tr. 47. Ngược lại, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là sự bảo đảm có tính chất nền tảng cho việc thực hiện dân chủ; bởi lẽ, chức năng của Nhà nước pháp quyền là phục vụ nhân dân, giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ các quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân. Hơn nữa, chỉ Nhà nước pháp quyền XHCN mới có cơ chế, các biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân. Có thể khẳng định rằng, một nền dân chủ thực sự với việc phát huy đầy đủ các quyền dân chủ của nhân dân chỉ có thể có được trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Nền dân chủ XHCN và việc đảm bảo thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay không chỉ được khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng, mà còn được thể chế hóa và đảm bảo thực hiện thông qua Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Nhà nước. Sau khi Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 03CTTW, ngày 18021998 về Xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và các văn bản liên quan khác, Nhà nước đã xây dựng, ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật (QPPL)để triển khai quan điểm chỉ đạo của Đảng vềvấn đề này, như Nghị định số 291998NĐCP, ngày 1151998 ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã; Nghị định số 792003NĐCP, ngày 0772003 ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã và hiện nay là Pháp lệnh Thực hiên dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp nhằm không ngừng phát huy dân chủ; đưa dân chủ ở cấp xã, thực sự đi vào các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội ở các xã, phường, thị trấn trên phạm vi cả nước. Quá trình thực hiện pháp luật (THPL)về dân chủ ở cấp xã đã và đang làm chuyển biến đáng kể nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ), đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội về vai trò, tầm quan trọng của việc thực hiện dân chủ, phát huy, mạnh mẽ quyền dân chủ của các tầng lớp nhân dân; góp phần tích cực, hiệu quả vào công tác xây dựng Đảng, chính quyền các cấp, nhất là cấp xã trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC), xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Bên cạnh những thành tựu, kết quả đã đạt được, việc THPL về dân chủ ở cấp xã trên phạm vi cả nước nói chung, ở từng địa phương nói riêng còn bộc lộ những hạn chế, nhược điểm nhất định do những nguyên nhân khác nhau. “Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một vài lĩnh vực còn bị vi phạm. Việc thực hành dân chủ còn mang tính hình thức; có tình trạng lợi dụng dân chủ gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội” 21, tr. 171. Có nơi, có lúc quyền làm chủ của nhân dân chưa thực sự được tôn trọng và phát huy tối đa. Một bộ phận CBCC các cấp, trong đó có cấp xã, bị thoái hóa, biến chất trước những cám dỗ vật chất, quan liêu, hách dịch, nhũng nhiễu người dân. Ở một số địa phương, cấp ủy, chính quyền, MTTQ, các đoàn thể nhân dân và đội ngũ CBCC cấp xã chưa thực sự làm tròn vai trò, trách nhiệm của mình trong tổ chức THPL về dân chủ ở cấp xã. Đây là một trong những nguyên nhân phát sinh tình trạng người dân khiếu kiện, tố cáo vượt cấp kéo dài khi quyền, lợi ích hợp pháp của họ chưa được giải quyết thỏa đáng, dứt điểm ngay từ cấp xã.Thực trạng trên đây đã và đang gây ra những khó khăn cho việc tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả pháp luật về dân chủ ở cấp xã; tác động tiêu cực tới tiến trình cải cách hành chính, xây dựng chính quyền cấp xã trong sạch, vững mạnh; làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước; từ đó, cản trở việc thực hiện dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Từ những lý do trên cho thấy, việc củng cố, phát triển các vấn đề lý luận về THPL về dân chủ ở cấp xã, đánh giá thực trạng, nguyên nhân để từ đó, đề ra các giải pháp bảo đảm THPL về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là một vấn đề có tầm quan trọng và mang tính cấp thiết. Đó cũng là lý do tác giả chọn vấn đề “Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” làm đề tài luận án Tiến sỹ luật học.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam mà Đảng,
Nhà nước và nhân dân ta đang xây dựng là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Về bản chất, đó chính là Nhà nước luôn tôn trọng và đề
cao các quyền dân chủ của nhân dân, xây dựng và thực hiện nền dân chủXHCN Giữa thực hiện dân chủ và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN cómối liên hệ mật thiết, gắn bó hữu cơ, tác động qua lại và bổ sung cho nhau
Dân chủ và thực hiện dân chủ là một trong những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền; là một trong những điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa,
xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền XHCN “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát
triển đất nước” [21, tr 47] Ngược lại, xây dựng Nhà nước pháp quyềnXHCN là sự bảo đảm có tính chất nền tảng cho việc thực hiện dân chủ; bởi lẽ,
chức năng của Nhà nước pháp quyền là phục vụ nhân dân, giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ các quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân Hơn nữa, chỉ Nhà nước pháp quyền XHCN mới có cơ chế, các biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân Có thể khẳng định
rằng, một nền dân chủ thực sự với việc phát huy đầy đủ các quyền dân chủcủa nhân dân chỉ có thể có được trong điều kiện xây dựng Nhà nước phápquyền XHCN
Nền dân chủ XHCN và việc đảm bảo thực hiện dân chủ ở nước ta hiệnnay không chỉ được khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng, màcòn được thể chế hóa và đảm bảo thực hiện thông qua Hiến pháp và hệ thốngpháp luật của Nhà nước Sau khi Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số
03-CT/TW, ngày 18/02/1998 về Xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ
sở và các văn bản liên quan khác, Nhà nước đã xây dựng, ban hành nhiều văn
bản quy phạm pháp luật (QPPL) để triển khai quan điểm chỉ đạo của Đảng về
Trang 2vấn đề này, như Nghị định số 29/1998/NĐ-CP, ngày 11/5/1998 ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã; Nghị định số 79/2003/NĐ-CP, ngày 07/7/2003 ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã và hiện nay là Pháp lệnh Thực hiên dân chủ ở xã, phường, thị trấn.
Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã triển khai thực hiện nhiềugiải pháp nhằm không ngừng phát huy dân chủ; đưa dân chủ ở cấp xã, thực sự
đi vào các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội ở các xã, phường, thị trấntrên phạm vi cả nước Quá trình thực hiện pháp luật (THPL) về dân chủ ở cấp
xã đã và đang làm chuyển biến đáng kể nhận thức của các cấp ủy đảng, chínhquyền, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ), đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội vềvai trò, tầm quan trọng của việc thực hiện dân chủ, phát huy, mạnh mẽ quyềndân chủ của các tầng lớp nhân dân; góp phần tích cực, hiệu quả vào công tácxây dựng Đảng, chính quyền các cấp, nhất là cấp xã trong sạch, vững mạnh,nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC), xây dựng khối đạiđoàn kết toàn dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
Bên cạnh những thành tựu, kết quả đã đạt được, việc THPL về dân chủ
ở cấp xã trên phạm vi cả nước nói chung, ở từng địa phương nói riêng cònbộc lộ những hạn chế, nhược điểm nhất định do những nguyên nhân khácnhau “Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một vài lĩnh vực còn
bị vi phạm Việc thực hành dân chủ còn mang tính hình thức; có tình trạng lợidụng dân chủ gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đếntrật tự, an toàn xã hội” [21, tr 171] Có nơi, có lúc quyền làm chủ của nhândân chưa thực sự được tôn trọng và phát huy tối đa Một bộ phận CBCC cáccấp, trong đó có cấp xã, bị thoái hóa, biến chất trước những cám dỗ vật chất,quan liêu, hách dịch, nhũng nhiễu người dân Ở một số địa phương, cấp ủy,chính quyền, MTTQ, các đoàn thể nhân dân và đội ngũ CBCC cấp xã chưathực sự làm tròn vai trò, trách nhiệm của mình trong tổ chức THPL về dânchủ ở cấp xã Đây là một trong những nguyên nhân phát sinh tình trạng ngườidân khiếu kiện, tố cáo vượt cấp kéo dài khi quyền, lợi ích hợp pháp của họchưa được giải quyết thỏa đáng, dứt điểm ngay từ cấp xã
Trang 3Thực trạng trên đây đã và đang gây ra những khó khăn cho việc tiếp tụctriển khai thực hiện có hiệu quả pháp luật về dân chủ ở cấp xã; tác động tiêucực tới tiến trình cải cách hành chính, xây dựng chính quyền cấp xã trongsạch, vững mạnh; làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với hiệu lực, hiệuquả của bộ máy hành chính nhà nước; từ đó, cản trở việc thực hiện dân chủ,xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Từ những lý do trên cho thấy, việc củng cố, phát triển các vấn đề lý luận
về THPL về dân chủ ở cấp xã, đánh giá thực trạng, nguyên nhân để từ đó, đề racác giải pháp bảo đảm THPL về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhànước pháp quyền XHCN Việt Nam là một vấn đề có tầm quan trọng và mang
tính cấp thiết Đó cũng là lý do tác giả chọn vấn đề “Thực hiện pháp luật về dân ch ủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ ngh ĩa Việt Nam” làm đề tài luận án Tiến sỹ luật học.
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Mục đích của luận án là trên cơ sở nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn
đề lý luận và đánh giá thực trạng THPL về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xâydựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, luận án đề xuất các quan điểm
và giải pháp bảo đảm THPL về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhànước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay
- Để thực hiện mục đích trên, luận án có những nhiệm vụ sau:
Một là, nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc THPL về dân chủ
ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, bao gồm: kháiniệm, đặc trưng, hình thức, nội dung, các điều kiện bảo đảm THPL theo yêucầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; những yêu cầu củaNhà nước pháp quyền XHCN đối với THPL về dân chủ ở cấp xã
Hai là, nghiên cứu, khảo sát, điều tra xã hội học (ĐTXHH) về THPL về
dân chủ ở cấp xã trên địa bàn 19 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong
cả nước; từ đó làm sáng tỏ, đánh giá những kết quả đạt dược, hạn chế vànguyên nhân của thực trạng THPL về dân chủ ở cấp xã ở Việt Nam trongnhững năm qua
Trang 4Ba là, đề xuất, luận giải quan điểm và giải pháp bảo đảm THPL về dân
chủ ở cấp xã đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ViệtNam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực
tiễn về THPL về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nước phápquyền XHCN Việt Nam dưới góc độ khoa học Lý luận và Lịch sử nhà nước
và pháp luật
- Phạm vi nghiên cứu của luận án:
+ Về không gian: Luận án nghiên cứu, đánh giá thực trạng THPL về
dân chủ ở cấp xã trên địa bàn 19 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ở cả bamiền Bắc, Trung, Nam Việt Nam, bao gồm các tỉnh: Lai Châu, Điện Biên,Quảng Ninh, Phú Thọ, Hưng Yên, Thái Bình, Thanh Hóa, Quảng Bình,Quảng Nam, Bình Định, Đắl Lắk, Đắk Nông, Đồng Nai, Sóc Trăng, BạcLiêu, Cà Mau; các thành phố: Hải Phòng, Hồ Chí Minh và Cần Thơ
+ Về thời gian: Luận án nghiên cứu pháp luật và đánh giá thực trạng
THPL về dân chủ ở cấp xã từ năm 1998 đến nay (2014)
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
- Cơ sở lý luận của luận án là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về
nhà nước và pháp luật, về vai trò của quần chúng nhân dân, về dân chủ nóichung; tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, về dân chủ và thực hiện dânchủ ở cấp xã nói riêng Bên cạnh đó, luận án cũng kế thừa và tiếp thu quanđiểm, kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn về Nhà nước pháp quyềnXHCN và THPL về dân chủ ở cấp xã của các nhà nghiên cứu đi trước
- Phương pháp nghiên cứu của luận án: Để thực hiện mục đích và
nhiệm vụ nghiên cứu, luận án đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phântích - tổng hợp, lịch sử - cụ thể, logic, thống kê - so sánh và ĐTXHH Cácphương pháp nghiên cứu nói trên được sử dụng cụ thể trong các chương củaluận án như sau:
Trang 5+ Để nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tàiluận án, luận án đã sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp, lịch sử - cụthể, phương pháp logic để chỉ ra được những vấn đề lý luận, thực tiễn đã đượcnghiên cứu liên quan đến nội dung luận án; đồng thời xác định được nhữngvấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu của luận án.
+ Chương 2 của luận án đã sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp,lịch sử - cụ thể, phương pháp logic và so sánh để nghiên cứu và làm sáng tỏ
cơ sở lý luận của luận án; nghiên cứu vấn đề THPL về dân chủ ở cấp xã ở một
số địa phương của Việt Nam và kinh nghiệm một số nước trên thế giới, từ đóchỉ ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam
+ Chương 3 của luận án sử dụng phương pháp điều tra xã hội học kếthợp với phương pháp so sánh - thống kê, phân tích - tổng hợp, lịch sử - cụ thể
để phân tích, đánh giá lịch sử hình thành, phát triển của pháp luật dân chủ ởcấp xã ở Việt Nam; đồng thời, đánh giá, phân tích những kết quả, hạn chế vànguyên nhân của thực trạng THPL về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựngNhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam từ năm 1998 đến nay
+ Chương 4 của luận án sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp,lịch sử - cụ thể, logic, để phân tích và làm sáng tỏ các quan điểm và giải phápnhằm đảm bảo THPL về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nướcpháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay
5 Đóng góp khoa học mới của luận án
- Luận án đã đưa ra được khái niệm và xác định được đặc điểm của chủthể, nội dung, các hình thức THPL về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựngNhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
- Phân tích và chỉ ra được nội dung của mối quan hệ giữa THPL về dânchủ ở cấp xã và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đối vớiTHPL về dân chủ ở cấp xã ở Việt Nam
- Trên cơ sở kết quả ĐTXHH về tình hình THPL về dân chủ ở cấp xãtrên địa bàn 19 tỉnh, thành phố trong cả nước, luận án đã chỉ ra và luận giải cósức thuyết phục những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng THPL
Trang 6về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ViệtNam từ năm 1998 đến nay.
- Luận án đề xuất được sáu quan điểm và bốn nhóm giải pháp toàndiện, có tính khả thi nhằm bảo đảm THPL về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầuxây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về phương diện lý luận, kết quả và đóng góp mới của luận án góp
phần làm sáng tỏ và phong phú thêm những vấn đề lý luận về THPL nóichung, về THPH trên một lĩnh vực cụ thể nói riêng, về THPL về dân chủ ởcấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
- Về phương diện thực tiễn, luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham
khảo phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy môn Lý luận Nhà nước
và pháp luật trong phạm vi các vấn đề có liên quan Các kết quả nghiên cứucủa luận án có thể được các cơ quan hữu quan của các tỉnh, thành phố sửdụng làm luận cứ khoa học, tài liệu tham khảo phục vụ việc xây dựng các giảipháp, biện pháp cụ thể để bảo đảm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả THPL vềdân chủ ở cấp xã đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCNViệt Nam
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận án được kết cấu thành 4 chương, 12 tiết
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Dân chủ là một chủ đề rất lớn trong đời sống chính trị, đời sống nhànước và xã hội tại hầu khắp các nước khác nhau trên thế giới Trong phần nàytác giả không đề cập, phân tích nội dung của những công trình nghiên cứu vềdân chủ nói chung, mà chỉ tập trung khái quát những nội dung cơ bản của một
số công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về thực hiện pháp luật và
về dân chủ ở cơ sở/địa phương.
1.1.1.1 V ề thực hiện pháp luật
THPL là một trong những nội dung quan trọng của lý luận về nhà nước
và pháp luật; do đó, trong các công trình có tính chất giáo khoa lưu hành tạicác cơ sở đào tạo luật ở ngoài nước luôn dành sự quan tâm cho chủ đề này
Có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu:
- Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Liên Xô, Lý luận về nhà nước và pháp luật (tái bản lần thứ hai có sửa chữa, bổ sung), Nxb Sách pháp
lý, Mátxcơva, 1974 (tiếng Nga) [122] Trong cuốn giáo trình này, các tác giả
đã dành chương XIII- Áp dụng quy phạm pháp luật xã hội chủ nghĩa [122, tr.
558 - tr 568] để đề cập, phân tích nội dung các hình thức THPL; theo đó, cáchình thức THPL thực chất là những hành vi pháp luật được các chủ thể phápluật thực hiện, bao gồm các hình thức: tuân thủ pháp luật, chấp hành phápluật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Áp dụng pháp luật là hình thứcTHPL đặc biệt, là giai đoạn đặc biệt của THPL Ngoài ra, cuốn sách còn đưa
ra những yêu cầu đối với văn bản áp dụng pháp luật, trong văn bản phải chỉrõ: cơ quan, thời gian ban hành, đối tượng thực hiện, quyết định giải quyếtvấn đề gì, căn cứ thực tế và căn cứ pháp lý để ra quyết định, người ký vănbản; các giai đoạn của quá trình áp dụng pháp luật
Trang 8- Lý luận nhà nước và pháp luật (tái bản lần thứ hai có sửa chữa, bổ sung), Nxb Pháp lý, Mátxcơva, 2001 (tiếng Nga) [123] Cuốn sách đã dành
chuyên đề 20 để bàn về áp dụng pháp luật [123, tr 453 - tr 477], trong đó cónội dung khái quát về THPL Theo quan niệm của các tác giả, THPL là việchiện thực hóa những yêu cầu của pháp luật bằng những hành động thực tế củacác chủ thể pháp luật (cơ quan, tổ chức, cá nhân) THPL luôn gắn với hành vipháp luật của con người, được phân loại theo nhiều căn cứ khác nhau: theotính chất tác động của các chủ thể, mức độ tính tích cực và định hướng củachủ thể; THPL được chia thành bốn hình thức: tuân thủ pháp luật, chấp hànhpháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật
Như vậy, trong các công trình nghiên cứu nói trên, các tác giả đã tậptrung giải quyết những vấn đề lý luận cơ bản về THPL và các hình thứcTHPL Tuy được trình bày, diễn đạt theo cách khác nhau, nhưng những triết
lý căn bản về THPL và áp dụng pháp luật là khá tương đồng, như đều chorằng có bốn hình thức THPL là tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sửdụng pháp luật và áp dụng pháp luật Những nội dung này có giá trị thamkhảo cho tác giả khi viết luận án ở chừng mực vấn đề có liên quan
1.1.1.2 Về dân chủ ở địa phương, dân chủ ở cơ sở
Vấn đề dân chủ được các học giả nước ngoài nghiên cứu khá nhiều,song vấn đề dân chủ ở địa phương, dân chủ ở cơ sở ở một số quốc gia mà tácgiả tham khảo lại ít được quan tâm nghiên cứu Nguyên nhân của tình trạngnày là do trình độ nhận thức về dân chủ, sự phát triển của nền dân chủ, dotruyền thống lịch sử, quy định của pháp luật, do nhu cầu thực tiễn đặt ra đốivới mỗi quốc gia qua từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử khác nhau Trong phạm
vi những tài liệu gắn với chủ đề của luận án cần phải kể đến các công trìnhnghiên cứu sau đây:
- Viện Hàn lâm Khoa học xã hội (thuộc Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Liên Xô), Xây dựng nhà nước xôviết và pháp luật, Nxb Tư
tưởng, Mátxcơva, 1984 (tiếng Nga) [118] Nội dung cuốn sách, bên cạnh việcluận bàn về nhà nước, tổ chức quyền lực nhà nước, hình thức chính thể, hình
Trang 9thức cấu trúc, chế độ chính trị ; các tác giả đã dành chương IX- Nhà nước và
cá nhân [118, tr 174 - tr 200] để trình bày khái quát về các quyền tự do, dân
chủ của công dân được quy định trong Hiến pháp Liên Xô năm 1977, chia cácquyền công dân thành các nhóm: quyền kinh tế - xã hội, các quyền và tự dochính trị, các quyền và tự do cá nhân Nhóm những quyền và tự do chính trịgồm có: quyền tham gia của công dân vào quản lý nhà nước và xã hội, thảoluận và ban hành luật và các quyết định có ý nghĩa nhà nước và địa phương;quyền bầu cử và ứng cử; tham gia vào các tổ chức xã hội, quyền gửi các kiếnnghị, phê bình các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội; tự do ngôn luận, tự dobáo chí, hội họp, mít tinh, tuần hành và biểu tình [118, tr 189] Đồng thời,
các tác giả coi dân chủ là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; dân chủ XHCN thể hiện mối quan hệ có tính quy luật giữa nhân dân và quyền lực nhà nước Nguyên tắc dân chủ trước hết thể hiện ở nội dung: tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bảo đảm sự tham gia rộng rãi, tích cực
và thực tế của tất cả quần chúng nhân dân lao động vào quản lý các công việcnhà nước và xã hội Việc thực hiện này thông qua dân chủ gián tiếp (Xôviếtđại biểu nhân dân) và trực tiếp thông qua việc nhân dân trực tiếp thảo luận cácvấn đề thuộc đời sống nhà nước, thông qua trưng cầu ý dân, hoạt động củacác tổ chức xã hội, tập thể lao động, sử dụng dư luận xã hội [118, tr 233]
- Luật Hành chính Xôviết, Nxb Sách pháp lý, Mátxcơva, 1977 [126].
Cuốn sách tuy không trực tiếp bàn về vấn đề dân chủ hay dân chủ ở cơ sở,nhưng khi viết về pháp chế và kỷ luật trong hoạt động quản lý nhà nước, vềcác hình thức, phương pháp bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý nhànước, các tác giả đã coi việc kiểm tra đảng, giám sát hoạt động của các cơquan quyền lực nhà nước từ phía các tổ chức, đoàn thể xã hội là nhữngphương thức bảo đảm pháp chế, kỷ luật trong quản lý nhà nước và bảo đảmcác quyền, tự do dân chủ của công dân; là sự thể hiện của vấn đề thực hiệndân chủ trong đời sống xã hội; đồng thời, các tác giả cuốn sách cũng phân tíchkhá kỹ về nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra nhân dân, đặc biệt là những tổchức thanh tra nhân dân được thành lập ở các cấp hành chính, đơn vị sự
Trang 10nghiệp, nhà máy, xí nghiệp, trang trại Thanh tra nhân dân là cơ quan của tổchức xã hội, do nhân dân trực tiếp bầu nên, thay mặt nhân dân kiểm tra hoạtđộng của chính quyền các cấp, hoạt động của lãnh đạo các cơ quan, đơn vị sựnghiệp, nhà máy, xí nghiệp, trang trại [126, tr 272 - tr 275].
- O E Kutaphin, K.Ph Seremet, Thẩm quyền của Xôviết địa phương,
Nxb Sách pháp lý, Mátxcơva, 1986 (tiếng Nga) [122] Công trình này tuykhông có những nội dung chuyên biệt về dân chủ ở địa phương hay dân chủ
cơ sở, nhưng khi nghiên cứu về thẩm quyền của Xôviết đại biểu nhân dân địaphương trên từng lĩnh vực, các tác giả đều đề cập tới quyền tự quyết của từngcấp chính quyền Xôviết (tỉnh, vùng, huyện, xã, thôn), trong đó có những nộidung đề cập tới quyền tham gia, hình thức tham gia của công dân (nông trangviên) vào việc đưa ra các quyết định của nông trường, của các Xôviết đại biểunhân dân địa phương ở cấp xã, thôn Khi liệt kê thẩm quyền của Xôviết đạibiểu nhân dân có quy định chung rằng mọi quyết định của chính quyền đềuphải được phổ biến tới nhân dân địa phương, báo cáo của chính quyền trướcnhân dân thông qua việc phân tích nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức
và hoạt động của Xôviết đại biểu nhân dân [122, tr 8]
- B P Cerebrennikov, Quản lý địa phương và tự quản ở Pháp, Nxb.
Cao đẳng, Minxk, 1981 (tiếng Nga) [127] Cuốn sách tập trung nghiên cứukhái niệm, các đặc trưng của quản lý địa phương và tự quản ở Pháp trong sự
so sánh với tự quản ở một số quốc gia khác (Mỹ, Anh, Canada ); sự điềuchỉnh của Hiến pháp về tự quản địa phương; quản lý công xã và tự quản; địa
vị pháp lý của công xã và một số vấn đề khác có liên quan tới tự quản địaphương So sánh với chế độ tự quản của các quốc gia khác như Anh, Mỹ,Italia thì chế độ tự quản của Pháp còn nhiều hạn chế bởi những quy định củachính quyền trung ương về các quyền tự quyết của cộng đồng lãnh thổ địaphương Theo tác giả, ở Pháp, việc thiết lập một nền hành pháp mạnh, tổ chứcquyền lực theo truyền thống tập trung nên quyền tự quản, tự quyết của cáccộng đồng địa phương còn nhiều hạn chế
Trang 11- Olivier Vidal (Nguyễn Hoàng Anh dịch), Nước Cộng hòa Pháp và các cộng đồng lãnh thổ địa phương: sự trở lại của nhóm Girondins?, bài viết
in trong cuốn sách “Phân cấp quản lý nhà nước” của Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2011 [75] Trong bài viếttác giả bàn về sự hình thành của tư tưởng phân quyền theo chiều dọc, nghĩa làphân quyền cho các đơn vị hành chính lãnh thổ địa phương Thực chất phânquyền là sự thể hiện của mô hình quản lý phi tập trung, là sự biểu hiện củadân chủ, nếu không có dân chủ thì không có phân quyền theo chiều dọc Theotác giả, việc thừa nhận sự tự quản của cộng đồng lãnh thổ địa phương ở nướcPháp trải qua một qua trình rất lâu dài, phức tạp, là kết quả của sự đấu tranhgiữa phái ủng hộ chế độ tập quyền và phái ủng hộ chế độ phân quyền; đồngthời, tác giả đề cập tới hình thức thực hiện hoạt động tự quản địa phươngthông qua hình thức trưng cầu ý dân hay “dân chủ ở cơ sở” - đỉnh cao của chế
Uy tại Hà Nội và sự cộng tác của Bộ môn Luật Hiến pháp - Hành chính thuộcKhoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Nội dung cuốn sách cung cấp cáckhuyến nghị và bài học thực tiễn về việc vận dụng dân chủ trực tiếp ở tất cảcác vùng trên thế giới; đánh giá điển hình ở 06 quốc gia, gồm Hungary, Thụy
Sĩ, Hoa Kỳ (bang Oregan), Uruguay và Venezuela với các hoạt động trưngcầu dân ý, sáng kiến của công dân, sáng kiến chương trình nghị sự và bãimiễn [116]
- Robert Alan, Dalh, Democracy and its Critics (Dân chủ và sự phê phán), New Haven: Yale University Press USA, 1991 [128] Trong cuốn
sách này, từ cách tiếp cận chính trị học, tác giả khẳng định quyền lực mà nhà
Trang 12nước có được là xuất phát từ quyền lực gốc của nhân dân; bởi vậy, để thực thimột nền dân chủ đòi hỏi phải có sự chế ước lẫn nhau giữa các chủ thể trong
xã hội, phải được cụ thể hóa và bảo đảm thực thi bằng pháp luật Tuy nhiên,mỗi một chế độ dân chủ được duy trì, thực thi như thế nào còn phụ thuộc vàocác điều kiện về kinh tế, truyền thống văn hóa dân tộc của mỗi quốc gia khácnhau Khi làm rõ khái niệm dân chủ, tác giả khẳng định rằng, cho đến nay,chưa có quốc gia nào đáp ứng đầy đủ các lý tưởng dân chủ Để đạt tới mộtnền dân chủ lý tưởng, theo tác giả cuốn sách, phải đáp ứng năm tiêu chí sau:1) Sự tham gia hiệu quả: mọi công dân phải có cơ hội đầy đủ và bình đẳng đểthể hiện nguyện vọng của mình và đặt câu hỏi trong các chương trình côngcộng, thể hiện các lý do cho một kết quả tốt đẹp hơn; 2) Các công dân phảiđược bình đẳng, công bằng trong bầu cử ở giai đoạn quyết định; 3) Sự hiểubiết sâu sắc: các công dân phải được hưởng những cơ hội phong phú và bìnhđẳng cho những phát hiện và lựa chọn tốt nhất phục vụ cho lợi ích của họ; 4)Kiểm soát các chương trình nghị sự: các công dân phải có cơ hội quyết địnhnhững vấn đề chính trị thực sự toàn diện; 5) Tính toàn diện: tính bình đẳngphải được mở rộng đến tất cả các công dân Mọi người đều phải có cổ phầnhợp pháp trong quá trình chính trị
- Adam Przeworski, Michael Alvarez, Jose Antonio Chebub and
Fernando Limongi, What makes Democracies Endure? (Điều gì tạo nên các nền dân chủ bền vững?), Journal of Democracy 7/January, pag 39-55 [129].
Trong bài viết, thông qua việc khảo sát thực chứng về dân chủ tại 135 nướctrên thế giới, các tác giả đã chỉ ra được với mức độ thu nhập bình quân đầungười ở mức nào thì dân chủ xuất hiện, ở mức nào thì dân chủ bền vững Cáctác giả cho rằng, các cuộc khủng hoảng kinh tế là một trong những mối đedọa phổ biến nhất đối với sự ổn định, phát triển nền dân chủ Ngược lại, tăngtrưởng kinh tế sẽ luôn có lợi cho sự sống còn của nền dân chủ Trên thực tế,nhiều nền kinh tế phát triển đã góp phần giúp cho nền dân chủ có thể tồn tại,phát triển bền vững hơn so với các nước có nền kinh tế phát triển kém
Trang 13- Harold Hongju Koh, The right to Democracy, Towards a community
of democracy (Quyền dân chủ, Hướng tới một cộng đồng dân chủ), Issue of Democracy, May, 2000, p 9 [130] Trong công trình nghiên cứu này, tác giả
đã đề cập tới nhiều tiêu chuẩn của dân chủ, cho thấy dân chủ bao trùm lên tất
cả mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội Mục tiêu của việcxây dựng dân chủ không chỉ dừng lại ở cách hành xử về chính trị, mà còn làmcho dân chủ trở thành yếu tố định hướng hành vi của con người
- Sorensen Georg, Democracy and democractization processes and prospects in changing world (Dân chủ và quá trình dân chủ hóa và triển vọng trong một thế giới chuyển đổi), Westview press 2007 [131] Từ cách tiếp cận
lịch sử về dân chủ, tác giả xem xét, đánh giá triển vọng dân chủ trong thế giớingày nay, làm rõ khái niệm dân chủ và cho thấy tiềm năng tích cực trong xuhướng dân chủ hóa, sự phát triển dân chủ trong những điều kiện khác nhau ởcác nước có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau
Ngoài ra, có thể kể thêm một số tài liệu, công trình nghiên cứu của các
tác giả khác, như: A B Agapốp, Luật Hành chính (tái bản lần thứ sáu), Nxb.
Iurait, 2009 (tiếng Nga) [117]; Bộ Giáo dục Liên bang Nga, Đ.N Bakhrac,
Luật Hành chính Nga (tái bản lần thứ năm), Nxb Exkimô, Mátxcơva, 2010 (tiếng Nga) [120]; G.V Atamanchuc, Lý thuyết quản lý nhà nước, Nxb.
Omega, Mátxcơva, 2004 (tiếng Nga) [119]; Matinne Lombard và Gille
Dumont, Pháp luật hành chính của Cộng hòa Pháp, Nxb Tư pháp, Hà Nội,
2007 [57] Các công trình trên chủ yếu tập trung giải quyết những vấn đề lýluận về quản lý nhà nước, dân chủ được xem xét như là một trong những nhân
tố bảo đảm sự thành công của hoạt động quản lý nhà nước và phương thức
quản lý nhà nước, đề cập tới các hình thức dân chủ: dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, đặc biệt là dân chủ ở những cộng đồng lãnh thổ địa phương ở
Liên bang Nga và ở Cộng hòa Pháp
Tóm l ại, trong các cuốn sách, công trình nghiên cứu nói trên, các tác
giả nước ngoài đã luận bàn, đề cập tương đối đa dạng vấn đề dân chủ, dân chủtrực tiếp, dân chủ đại diện, dân chủ cơ sở, dân chủ ở địa phương , trong đó
Trang 14nổi lên sự khẳng định quyền lực nhà nước là quyền lực gốc của nhân dân, mộtnền dân chủ phải có sự chế ước lẫn nhau giữa các chủ thể trong xã hội và phảiđược bảo đảm thực thi bằng pháp luật Một số công trình bàn sâu về các tiêuchí của một nền dân chủ, về tác động của tăng trưởng kinh tế đối với việcthực thi dân chủ, đánh giá về triển vọng của một nền dân chủ trong thế giớingày nay Những công trình nghiên cứu nói trên của các tác giả nước ngoài lànguồn tài liệu tham khảo quan trọng để tác giả luận án có thể tham khảo, sosánh về mặt lý luận vấn đề thực hiện pháp luật khi triển khai viết luận án.
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Chủ đề THPL, dân chủ và dân chủ ở cấp xã, vấn đề THPL về dân chủ ởcấp xã, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là những chủđề/vấn đề được bàn luận sôi nổi trong nhiều công trình khoa học, cuốn sách,bài báo khoa học từ những phương diện, góc độ khác nhau Căn cứ vào tên đềtài luận án, có thể khái quát tình hình nghiên cứu theo các nhóm vấn đề sau:
1.1.2.1 V ấn đề thực hiện pháp luật nói chung
Chủ đề THPL là một trong những nội dung quan trọng của khoa học Lýluận và Lịch sử nhà nước và pháp luật, được đề cập, bàn luận chủ yếu trongcác cuốn sách, giáo trình của các cơ sở đào tạo luật ở nước ta, tiêu biểu như:
- Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật (tái bản lần thứ 3 có sửa đổi), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2013 [105] Các tác giả cuốn giáo trình này đã dành chương X- Thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luật và giải thích pháp luật [105, tr 181 - tr 204] để luận
bàn về THPL và áp dụng pháp luật Theo các tác giả, THPL là hoạt động có
mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định pháp luật THPL là hành vi thực tế hợp pháp, có mục đích của các chủ thể pháp luật nhằm hiện thực hóa các quy định pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống [105, tr 183] Các tác giả
khẳng định có 04 hình thức THPL, gồm tuân thủ pháp luật, thi hành (chấphành) pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Do áp dụng phápluật là hình thức THPL đặc biệt nên các tác giả dành nhiều trang sách để viết
về vấn đề này [105, tr 184 - 200]
Trang 15- Cùng chung tính chất giáo trình luận bàn về vấn đề THPL còn có thể
kể ra một số cuốn sách, tài liệu khác, như: Trần Ngọc Đường (chủ biên), Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999 [26]; Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Tài liệu học tập, nghiên cứu môn Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, 2 tập, Hà Nội, 2004 [40]
Trong các cuốn giáo trình kể trên, tuy cách trình bày, diễn đạt có thể khácnhau, song các tác giả cũng đều tập trung chủ yếu vào việc trình bày kháiniệm THPL, các hình thức THPL (tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sửdụng pháp luật, áp dụng pháp luật); phân tích sâu hơn về áp dụng pháp luật,
các giai đoạn của quá trình áp dụng pháp luật Đây là những cơ sở lý luận quan trọng, mang tính giáo khoa cho việc triển khai nghiên cứu vấn đề THPL trong quá trình viết luận án của tác giả.
- Nguyễn Minh Đoan, Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 [25] Đây là cuốn sách tham khảo
chuyên bàn về THPL và áp dụng pháp luật, gồm 05 chương Chương 1- Thực hiện pháp luật được tác giả dành để luận bàn về khái niệm, mục đích, ý nghĩa
của việc THPL, về các hình thức THPL THPL có thể được tiến hành thôngqua các hình thức: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và
áp dụng pháp luật Chương 2- Áp dụng pháp luật luận bàn về những trường
hợp cần áp dụng pháp luật, đặc điểm của áp dụng pháp luật, các nguyên tắc cơ
bản của áp dụng pháp luật và quyết định áp dụng pháp luật Chương 3- Quy trình thực hiện và áp dụng pháp luật; theo đó, quy trình THPL gồm hai giai
đoạn là chuẩn bị đưa văn bản pháp luật hay quy định pháp luật vào thực hiện
và tổ chức thực hiện các quy định pháp luật trên thực tế Chương 4- Những bảo đảm thực hiện pháp luật được dành để phân tích một số yếu tố và điều kiện cơ bản bảo đảm THPL Chương 7- Hiệu quả thực hiện pháp luật ở Việt Nam luận bàn về các tiêu chí đánh giá hiệu quả THPL, thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả THPL ở Việt Nam Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả luận án khi viết phần cơ sở lý luận về THPL và THPL về dân chủ ở cấp xã.
Trang 16- Vấn đề THPL cũng được đề cập và phân tích tương đối sâu dưới góc
độ xã hội học pháp luật, như: TS Ngọ Văn Nhân, Xã hội học pháp luật, Nxb.
Tư pháp, Hà Nội, 2010 (352 trang) [70]; TS Ngọ Văn Nhân, Xã hội học pháp luật (Tái bản lần thứ nhất, có chỉnh sửa, bổ sung), Nxb Hồng Đức, Hà Nội,
2012 (408 trang) [71] Trong cuốn sách này, tác giả đã dành 02 chương để
bàn về vấn đề THPL và áp dụng pháp luật dưới góc độ xã hội học pháp luật
(Chương VII- Các khía cạnh xã hội của hoạt động thực hiện pháp luật và Chương VIII- Các khía cạnh xã hội của hoạt động áp dụng pháp luật) Trong
hai chương này, tác giả trình bày khái quát về hoạt động THPL và áp dụngpháp luật; phân tích nội dung nghiên cứu các khía cạnh xã hội của hoạt độngTHPL và áp dụng pháp luật Tác giả cũng dành nhiều trang viết để phân tích,luận giải những biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động THPL và áp dụngpháp luật ở nước ta hiện nay Nhìn trên phương diện cách tiếp cận liên ngành
khoa học, những nội dung của cuốn sách có giá trị tham khảo đối với việc khảo sát thực tiễn phục vụ việc viết luận án ở những vấn đề có liên quan.
1.1.2.2 V ấn đề dân chủ và thực hiện dân chủ ở cấp xã đặt trong mối quan hệ với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
V ấn đề dân chủ là vấn đề từ lâu đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của
các nhà khoa học, những người làm công tác lý luận cũng như thực tiễn vàđược tiếp cận dưới nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau Có thể đề cập đến một
số công trình, bài viết tiêu biểu sau đây:
- Viện Chính sách công và Pháp luật - Viện Nhà nước và pháp luật(Đồng chủ biên: GS.TSKH Đào Trí Úc - PGS.TS Trịnh Đức Thảo - TS Vũ
Công Giao - TS Trương Hồ Hải, 2014), Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế giới và ở Việt Nam (Kỷ yếu Hội thảo), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội [115] Cuốn sách gồm tập hợp những bài tham luận tại cuộc Hội thảo “Dân chủ trực tiếp, Dân chủ cơ sở trên thế giới và ở Việt Nam”, trong đó, các tác giả đã chia sẻ kiến thức, thông tin về
một loạt vấn đề lý luận, thực tiễn và các mô hình tổ chức thực hiện dân chủtrực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế giới và ở Việt Nam; đồng thời, đề xuất những
Trang 17quan điểm, giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và các cơ chế bảo đảmthực hiện dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở ở nước ta trong thời gian tới.
- Thái Ninh - Hoàng Chí Bảo, Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991 [73] Nội dung cuốn sách tập trung làm rõ các
vấn đề lý luận về dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa; coi dân chủ tư sản
là thành quả của cuộc cách mạng tư sản, là kết quả việc nhà nước tư sản sửdụng phương pháp tự do chủ nghĩa để thực hiện chuyên chính tư sản; chỉ ranhững đặc trưng cơ bản của dân chủ tư sản Dân chủ XHCN là nền dân chủgắn với bản chất của chế độ Nhà nước XHCN; là hình thức chính quyền màđặc trưng là việc tuyên bố chính thức nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số vàthừa nhận quyền tự do bình đẳng của công dân Trong tương quan với quyềnlực nhân dân, dân chủ được coi là công cụ, là hình thức chủ yếu thực hiệnquyền lực nhân dân
Ngoài ra, có thể kể thêm một số công trình khác, như: Nguyễn Tiến Phồn,
Dân chủ và tập trung dân chủ - lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001 [77]; Hoàng Chí Bảo, Tổng quan về dân chủ và cơ chế thực hiện dân chủ: quan điểm, lý luận và phương pháp nghiên cứu, Tạp chí Thông tin
lý luận, số 9/1992, Hà Nội [3]; Nguyễn Minh Đoan, Dân chủ với pháp luật,
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10/2007 [24] Các công trình, bài viết nóitrên tập trung làm rõ khái niệm dân chủ, các đặc trưng của dân chủ xã hội chủnghĩa; mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật; đưa ra các đánh giá khách quan
về những thành quả, tiến bộ mà chủ nghĩa tư bản có được cũng như chỉ ranhững hạn chế trong quan niệm về dân chủ do bản chất giai cấp của nền dânchủ tư sản quy định; đề cao nguyên tắc tập trung dân chủ; chỉ ra các cơ chế
thực hiện dân chủ Đó là những tài liệu tham khảo hữu ích đối với tác giả khi đề cập và luận bàn về nội hàm, bản chất của vấn đề dân chủ.
Vấn đề dân chủ đặt trong mối liên hệ với xây dựng Nhà nước pháp quy ền XHCN được một số tác giả đề cập, phân tích, như:
- Nguyễn Văn Mạnh, Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 [56].
Trang 18Đây là cuốn sách chuyên khảo gồm hai phần: Phần thứ nhất- Cơ sở lý luận về Nhà nước pháp quyền XHCN, trong đó tác giả tập trung phân tích và làm rõ
cơ sở hình thành quan điểm, tư tưởng về Nhà nước pháp quyền XHCN,những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Phần
thứ hai- Thành tựu, hạn chế và các giải pháp đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay; trong đó tập trung đánh giá những
thành tựu cũng như những hạn chế, tồn tại trong thực tiễn xây dựng Nhà nướcpháp quyền XHCN ở Việt Nam trong những năm qua cũng như nguyên nhâncủa chúng Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số giải pháp tiếp tục xây dựng và
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay; trong đó, phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng nhà nước
và quản lý xã hội [56, tr 162-165] là một trong những giải pháp căn bản.
- Hoàng Văn Hảo, Vấn đề dân chủ và các đặc trưng của mô hình tổng thể Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật, số 2/2003 [34] Trên cơ sở bàn luận về bản chất của dân chủ nhưmột giá trị xã hội phổ quát, điểm qua những đặc trưng cơ bản của mô hìnhNhà nước pháp quyền XHCN mà chúng ta đang xây dựng, tác giả khẳng địnhrằng: thực hiện và phát huy dân chủ là nhân tố không thể thiếu trong mô hìnhtổng thể Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam
- Đặng Hữu Toàn, Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và vấn đề thực thi quyền làm chủ của nhân dân, Tạp chí Khoa học xã hội, số
9/2005 [102] Tác giả cho rằng, một trong những nội dung cốt lõi của việcxây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là phải bảo đảm thực hiện quyền làmchủ của nhân dân, cũng có nghĩa là phải thực hành nền dân chủ; giữa xâydựng Nhà nước pháp quyền XHCN và thực thi quyền làm chủ của nhân dân
có mối liên hệ mật thiết với nhau
- Nguyễn Trọng Thóc, Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước
ta hiện nay, Tạp chí Triết học, số 6(169)/2005 [98] Trong bài viết, tác giả
nhấn mạnh rằng, xây dựng nhà nước pháp quyền và nền dân chủ XHCN là
Trang 19các biện pháp chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân; trong đó, sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố đặc biệt quan trọng.
- Lương Đình Hải, Xây dựng Nhà nước pháp quyền và vấn đề dân chủ hóa xã hội ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học, số 1(176)/2006 [32] Trong
bài viết, tác giả khẳng định rằng, thực hiện dân chủ là một nội dung cơ bảncủa nhà nước pháp quyền, đặc biệt là Nhà nước pháp quyền XHCN của dân,
do dân, vì dân Không có nhà nước pháp quyền thực sự thì không có nền dân
chủ xã hội rộng rãi và bền vững Đối với nước ta, dân chủ hóa xã hội vừa là điều kiện tiên quyết để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, vừa là biện pháp căn bản để đẩy nhanh sự phát triển của đất nước.
- Ngọ Văn Nhân, Một số điểm mới về xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam qua văn kiện Đại hội XI của Đảng, Tạp chí Triết
học, số 3 (237)/2011, Hà Nội [72] Khẳng định bước phát triển mới trongquan điểm của Đảng ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Namqua văn kiện Đại hội XI, tác giả đã phân tích những điểm mới đó trên cácphương diện: các đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN; thựctiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHXN ở nước ta trong những năm đổimới; những giải pháp cụ thể cần triển khai nhằm đẩy mạnh công cuộc xâydựng Nhà nước pháp quyền XHCN Một trong những điểm mới, theo tác giả,
là Đảng ta đã nhấn mạnh chức năng của Nhà nước là phục vụ nhân dân;
khẳng định mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Nhà nước với nhân dân, thực hiện đầy đủ các quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của
nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân
- Trần Ngọc Đường, Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực với việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội,
2012 [27] Nói về vị trí, vai trò của quyền lực nhân dân, tác giả cho rằng,quyền lực nhân dân là quyền lực tối cao trong các xã hội có tính dân chủ,đồng nghĩa với việc dân chủ là toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân Quyềnlực nhân dân là quyền lực gốc để từ đó hình thành nên các quyền lực kháctrong xã hội như quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị Vai trò của quyền
Trang 20lực nhân dân được thể hiện ở các khía cạnh sau: 1) Tự quản, tự chủ những vấn
đề thuộc về đời sống cá nhân và đời sống xã hội không có sự can thiệp củaNhà nước; 2) Quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia theo quy địnhcủa pháp luật, như trưng cầu ý dân, các hình thức dân chủ trực tiếp khác; 3)Xây dựng Nhà nước, các thiết chế xã hội thông qua các cơ chế như bầu cử,khiếu nại, tố cáo hoặc gây ảnh hưởng, phản biện đối với các chính sách phápluật; 4) Tuân thủ, ủng hộ và bảo vệ quyền lực nhà nước thông qua việc chấphành đúng pháp luật, chính sách của Nhà nước, đấu tranh chống lại những thếlực đi ngược lại các chuẩn mực xã hội, luật pháp; 5) Kiểm soát, giám sát nhànước và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội [27, tr 41 - 42]
Những công trình nghiên cứu trên đây là tài liệu tham khảo có giá trị đối với tác giả luận án khi bàn về mối quan hệ giữa thực hiện dân chủ với xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.
V ấn đề thực hiện dân chủ ở cấp xã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập,
phân tích trong các công trình, bài báo khoa học, nhất là sau khi Chính phủ
ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP Về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã Có thể kể ra đây một số công trình nghiên cứu, bài viết trong
những năm gần đây về lĩnh vực này:
- Ngọ Văn Nhân, Về đổi mới chế độ dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên địa bàn cơ sở ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học, số 5 (204)/2008
[69] Tác giả bài viết khẳng định rằng, phát huy dân chủ, tiếp tục xây dựng vàhoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN là một trong những nhiệm vụ trọngtâm của Đảng, Nhà nước ta trong công cuộc xây dựng, đổi mới và phát triểnđất nước hiện nay Phát huy dân chủ là điều kiện tiên quyết để xây dựng bộmáy nhà nước thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Cơ chếvận hành của Nhà nước pháp quyền dựa trên nguyên tắc tất cả quyền lực nhànước thuộc về nhân dân Dưới chế độ ta, nhân dân thực hiện quyền lực nhànước thông qua hai hình thức cơ bản là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện
Tác giả nhấn mạnh rằng, dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện đều là hình thức của chế độ dân chủ, có quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau [69, tr 63 - 69].
Trang 21- Nguyễn Thọ Khang, Thực hiện dân chủ ở cấp xã và vấn đề đặt ra đối với báo chí ở nước ta hiện nay, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, số
tháng 6/2013 [47] Trong bài viết này, từ sự nhấn mạnh vai trò của việc thựchiện dân chủ ở cấp xã trong phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhândân ở xã, phường, thị trấn, động viên sức mạnh vật chất và tinh thần to lớncủa nhân dân trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội, tăng cườngđoàn kết toàn dân, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng Đảng bộ,chính quyền và các đoàn thể ở xã trong sạch, vững mạnh; tác giả cho rằng cácloại hình báo chí có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phổ biến, tuyêntruyền Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn Tác giả bài viếtđưa ra các giải pháp: báo chí nên có các chuyên trang, chuyên mục về thựchiện dân chủ ở cấp xã; nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền của báo chí
về thực hiện dân chủ ở cấp xã; bám sát, phản ánh kịp thời những hoạt độngthực hiện dân chủ ở cấp xã [47, tr 39 - tr 41]
- Đỗ Văn Dương, Những giải pháp phát huy vai trò hệ thống chính trị
cơ sở nhằm bảo đảm thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, số tháng
7/2013 [28] Theo tác giả bài viết, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở xã,phường, thị trấn ngày càng đổi mới và hoàn thiện được coi là cơ chế vận hànhcủa nền dân chủ nhằm bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân, là khâu thenchốt của toàn bộ quá trình dân chủ hóa đời sống chính trị - xã hội ở cơ sở,giúp giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và công dân, qua đóquyền làm chủ của nhân dân ngày càng được bảo đảm đầy đủ hơn trên thực
tế Nhìn trên phương diện đó, những hạn chế, bất cập của hệ thống chính trị
cơ sở đối với việc lãnh đạo, triển khai thực hiện dân chủ ở cấp xã trên địa bàncác tỉnh Tây Nguyên vẫn còn rất lớn Chính vì vậy, tác giả khẳng định cầnphải có những giải pháp toàn diện nhằm phát huy vai trò của hệ thống chínhtrị cơ sở nhằm bảo đảm thực hiện dân chủ ở cấp xã ở Tây Nguyên, như tăngcường sự lãnh đạo của Đảng bộ cơ sở; nâng cao trình độ, năng lực lãnh đạo,quản lý, điều hành của đội ngũ cán bộ cấp xã ở Tây Nguyên [28, tr 39-41]
Trang 22- Nguyễn Thị Thu Hà, Thực hiện Quy chế dân chủ trong hệ thống chính trị cơ sở nông thôn ở nước ta hiện nay, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 8(273)/2013
[31] Nội dung bài viết tập trung làm rõ hai phương diện của hoạt động thựchiện Quy chế dân chủ trong hệ thống chính trị cơ sở nông thôn ở nước ta hiện
nay là những kết quả bước đầu và một số hạn chế và nguyên nhân Về kết
quả, tác giả cho rằng, thực hiện Quy chế dân chủ trong hệ thống chính trị cơ
sở nông thôn đã tác động tích cực tới nhiều mặt của đời sống xã hội, trực tiếpthúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và củng cố chính quyền cơsở Về hạn chế, theo tác giả, hạn chế điển hình là bệnh dân chủ hình thứctrong thực hiện quy chế dân chủ Việc phát huy dân chủ còn yếu kém lànguyên nhân căn bản làm nảy sinh các tệ quan liêu, cửa quyền, sách nhiễunhân dân, tham nhũng trong các cơ quan Đảng và Nhà nước, làm cho không ítcác chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước bị biến dạng trong vận hành ởnhiều cấp, nhiều ngành, đặc biệt là cấp cơ sở xã, phường, thị trấn
Ngoài ra, có thể kể thêm một số công trình nghiên cứu khác về thực
hiện dân chủ ở cơ sở, như: Dương Xuân Ngọc, Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2000 [74]; Lương Gia Ban, Dân chủ và việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ
sở, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003 [4]; Trần Bạch Đằng, Dân chủ ở cơ
sở - một sức mạnh truyền thống của dân tộc Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, số
35, tháng 12/2003, Hà Nội [23]; Nguyễn Văn Sáu và Hồ Văn Thông (chủ
biên), Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003 [87] Trong các công trình
khoa học kể trên, các tác giả tập trung phân tích nội hàm khái niệm dân chủ ở
cơ sở; các khía cạnh lý luận và thực tiễn của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơsở; coi dân chủ ở cơ sở như một sức mạnh truyền thống của dân tộc Việt Nam,
có cội nguồn từ trong truyền thống dân chủ làng xã và rất cần phát huy sứcmạnh của nó phục vụ tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ViệtNam, vấn đề đổi mới chế độ dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên địa bàn
cơ sở ở nước ta hiện nay, mối quan hệ giữa vấn đề dân chủ và cải cách bộ máy
Trang 23chính quyền địa phương Các tác giả cũng nhấn mạnh rằng, Quy chế dân chủ ở
cơ sở càng được thực hiện nghiêm túc bao nhiêu thì càng có tác dụng củng cố,xây dựng chính quyền cấp cơ sở trong sạch, vững mạnh bấy nhiêu; góp phần
quan trọng thúc đẩy sự phát triển nông thôn Việt Nam Những công trình, bài viết về thực hiện dân chủ ở cấp xã là nguồn tài liệu tham khảo cần thiết cho tác giả khi bàn luận về vấn đề này.
1.1.2.3 V ấn đề thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã
Vấn đề này đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập và phân tích trong cácbài viết đăng trên các báo, tạp chí khoa học khác nhau, như:
- Đặng Đình Tân - Đặng Minh Tuấn, Tiếp tục thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 7/2002 [91] Trong bài viết
này, các tác giả đã đưa ra những nhận xét, đánh giá bước đầu về các kết quảđạt được trong công tác thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, như sự phấn khởiđón nhận Quy chế dân chủ ở cơ sở từ phía nhân dân ở xã, phường, thị trấn; sựhăng hái vào cuộc của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân nhằmđộng viên các tầng lớp nhân dân phát huy quyền làm chủ của mình trên cácmặt hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội ở cơ sở Các tác giả cũng chỉ ra một
số hạn chế trong thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, như công tác tuyêntruyền và việc tổ chức thực hiện Quy chế còn mang tính hình thức, chưa chútrọng chất lượng và hiệu quả Để có thể tiếp tục thực hiện tốt Quy chế dân chủ
ở cơ sở, theo các tác giả, cần triển khai nhiều giải pháp, trong đó, tăng cườngvai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng và huy động sự vào cuộc của các đoànthể nhân dân là những biện pháp quan trọng hàng đầu [91, tr 39 - 43]
- Phạm Ngọc Quang, Thực hiện dân chủ ở cơ sở trong quá trình đổi mới - thành tựu, vấn đề và giải pháp, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 3/2004
[79] Theo tác giả bài viết, sự ra đời của Quy chế dân chủ ở cơ sở là một dấumốc quan trọng của quá trình đổi mới ở nước ta, thể hiện quyết tâm chính trịcủa Đảng và Nhà nước ta trong tiến trình dân chủ hóa xã hội Sau khi điểmqua những thành tựu nổi bật của hoạt động thực hiện dân chủ ở cơ sở, tác giảxác định những vấn đề đang đặt ra trong quá trình thực hiện dân chủ ở cơ sở ở
Trang 24nước ta, như nhận thức của người dân về việc thực hiện các quyền dân chủvẫn còn hạn chế; các yếu tố bảo đảm cho việc thực hiện có hiệu quả dân chủ ở
cơ sở chưa được đáp ứng đầy đủ, kịp thời Từ thực tế đó, tác giả nêu lên vàphân tích những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ ở cơ sở đápứng yêu cầu, đòi hỏi của tiến trình đổi mới đất nước [79, tr 3 - 7]
Ngoài các bài viết kể trên, có thể nêu thêm một số bài viết khác, như:
Lê Quang Minh, Để thực hiện dân chủ sở cơ sở, Tạp chí Cộng sản, số 11, tháng 4/2003, Hà Nội [58]; Nguyễn Kim Thanh, Một vài suy nghĩ về kết quả
10 năm xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Tạp chí Dân vận, số 7/2009, Hà Nội [94]; Hoàng Trọng Chính, Nâng cao hiệu quả hoạt động quy chế dân chủ ở cơ sở, Tạp chí Lao động và Công đoàn, số 358/2006, Hà Nội [11]; Quách Sĩ Hùng, Vấn đề xây dựng và hoàn thiện pháp luật dân chủ cơ sở
ở nước ta hiện nay, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 6/2009 [41]; Các công
trình khoa học, bài viết nêu trên ở những mức độ khác nhau đã góp phần làm
rõ thêm các đặc điểm của quá trình THPL về dân chủ cơ sở ở nước ta trongnhững năm qua; bước đầu tổng kết, nêu rõ thành công, hạn chế và những vấn
đề đặt ra trong xây dựng và THPL về dân chủ ở cơ sở, các nguyên nhân dẫntới những hạn chế và các giải pháp khắc phục
Chủ đề th ực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã gắn với từng địa bàn, địa phương cụ thể đã trở thành đề tài của nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến
sĩ Có thể kể ra đây một số công trình luận văn, luận án, như:
- Lê Xuân Huy, Ý thức pháp luật với quá trình thực hiện dân chủ ở nông thôn nước ta hiện nay (qua thực tế một số tỉnh phía Bắc), Luận văn
Thạc sĩ Triết học, 2005, Hà Nội [43] Trong luận văn này, từ phương diện tiếpcận triết học, tác giả đã tập trung phân tích khái niệm, đặc trưng của ý thứcpháp luật, khái niệm, đặc điểm của việc thực hiện dân chủ ở nông thôn; khẳngđịnh vai trò đặc biệt quan trọng của ý thức pháp luật đối với quá trình thựchiện dân chủ ở nông thôn Thông qua việc khảo sát thực tế tình hình thực hiệndân chủ ở nông thôn tại một số tỉnh phía Bắc nước ta, tác giả đã nêu lênnhững kết quả bước đầu của việc thực hiện dân chủ ở nông thôn nước ta hiện
Trang 25nay, những hạn chế và nguyên nhân; từ đó, tác giả đã đề xuất và luận chứngtính khả thi của một số giải pháp nâng cao ý thức pháp luật của nhân dânnông thôn phục vụ việc triển khai có hiệu quả công tác thực hiện dân chủ trênđịa bàn nông thôn nước ta hiện nay.
- Ngô Thị Hòa, Nâng cao chất lượng thực hiện quy chế dân chủ ở cấp
xã trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, Luận văn Thạc sĩ Luật học, 2005, Hà Nội
[39] Mục đích nghiên cứu của luận văn này được tác giả xác định là: trên cơ
sở tìm hiểu và đánh giá đúng tình hình thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp xãtrên địa bàn tỉnh Hưng Yên, đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằmnâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp xã trong giai đoạn hiệnnay Thành công đáng kể, làm nên giá trị tham khảo về mặt khoa học của luậnvăn này là tác giả đã đưa ra được khái niệm chất lượng thực hiện Quy chế dânchủ ở cấp xã, xác định được những tiêu chí đánh giá chất lượng và những yếu
tố ảnh hưởng đến chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp xã
- Vương Ngọc Thịnh, Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Hoài Đức, Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội, 2010 [96].
Theo tác giả, tìm hiểu việc THPL về dân chủ ở cơ sở có ý nghĩa quan trọngtrong việc đề ra những giải pháp thiết thực, hiệu quả nhằm nâng cao ý thứccủa người dân trong thực hiện dân chủ ở cơ sở Từ ý nghĩa đó, luận văn đi sâuvào phân tích khái niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật về dân chủ ở cơ sở vàcác hình thức THPL về dân chủ ở cơ sở; vai trò của việc THPL về dân chủ ở
xã, phường, thị trấn, đánh giá thực trạng THPL về dân chủ ở cơ sở trên địabàn huyện Hoài Đức và đề xuất phương hướng, luận giải một số giải pháp bảođảm THPL về dân chủ ở cơ sở tại huyện Hoài Đức, Hà Nội
Những công trình kể trên đã tập trung phân tích cơ sở lý luận về THPL
về dân chủ ở cấp xã; chỉ ra những thành tựu đã đạt được và các hạn chế, bất cập của quá trình THPL về dân chủ ở cấp xã, phân tích nguyên nhân; nêu lên những quan điểm chỉ đạo và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả THPL
về dân chủ ở cấp xã đặt trong đặc thù của từng địa phương.
Trang 26- Đỗ Văn Dương, Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội,
2014 [29] Trong luận án này, tác giả tập trung phân tích khái niệm, đặc điểm,hình thức THPL về dân chủ ở xã, phường, thị trấn; vai trò và các điều kiệnbảo đảm THPL về dân chủ ở xã, phường, thị trấn Trên cơ sở đánh giá thựctrạng về nội dung và hình thức THPL về dân chủ ở xã, phường, thị trấn trênđịa bàn các tỉnh Tây Nguyên, phân tích các yếu tố đặc thù ở Tây Nguyên tácđộng tới việc THPL về dân chủ ở xã, phường, thị trấn và nguyên nhân, tác giả
đã phân tích các quan điểm và đề xuất hệ thống các giải pháp bảo đảm THPL
về dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên hiện nay
- Nguyễn Hồng Chuyên, Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã phục
vụ xây dựng nông thôn mới, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2013, 376 trang [13] Nội dung cuốn sách được tác giả chia thành 5 chương Chương 1 đề cập và phân
tích một số vấn đề lý luận về xây dựng nông thôn mới; đánh giá vai trò của
công cuộc xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay Nội dung của chương
2 được tác giả dành để phân tích chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước ta về thực hiện dân chủ ở cấp xã và xây dựng nông
thôn mới Chương 3 tập trung luận bàn, phân tích lý luận vấn đề THPL về dân chủ ở cấp xã phục vụ xây dựng nông thôn mới Từ các vấn đề lý luận, chương
4 đánh giá thực trạng công tác THPL về dân chủ ở cấp xã phục vụ xây dựng
nông thôn mới qua kết quả điều tra xã hội học trên địa bàn tỉnh Thái Bình; từ
đó, rút ra một số bài học kinh nghiệm Chương 5 dành để luận giải, phân tích
các giải pháp bảo đảm THPL về dân chủ ở cấp xã phục vụ công cuộc xâydựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay Tác giả đã xâu chuỗi, gắn kết và lồngghép hài hòa, hợp lý công tác THPL về dân chủ ở cấp xã phục vụ công cuộcxây dựng nông thôn mới đang diễn ra mạnh mẽ ở nước ta hiện nay
1.1.2.4 Vấn đề thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây d ựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Như đã đề cập ở các phần trên, vấn đề dân chủ đặt trong mối liên hệ với xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN đã được một số tác giả đề cập và
Trang 27phân tích Song, nếu nhìn vấn đề THPL về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xâydựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thì đây lại là vấn đề mới, hầunhư chưa được nghiên cứu Cho đến nay, mới chỉ có: Nguyễn Hồng Chuyên,
Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ thực tiễn của tỉnh Thái Bình), Nxb.
Tư pháp, Hà Nội, 2011, 312 trang [12] Nội dung cuốn sách gồm 04 chương,tập trung phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn THPL về dân chủ ở cấp xãtrong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Trong cuốn sách này, do sự hạn chế về thời gian và phạm vi nghiên cứu
nên trong phần đánh giá thực trạng công tác THPL về dân chủ ở cấp xã, tác giả mới chỉ dừng lại ở việc khảo sát, điều tra xã hội học về tình hình THPL về dân chủ ở cấp xã trên địa bàn tỉnh Thái Bình, mà chưa có điều kiện khảo sát vấn đề
nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc với nhiều tỉnh, thành phố khác Hơn nữa,nhiều vấn đề lý luận, như yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Namđối với việc THPL về dân chủ ở cấp xã, mối quan hệ giữa THPL về dân chủ ở
cấp xã và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam còn chưa được đào sâu, làm rõ Ngoài ra, vấn đề THPL về dân chủ ở cấp xã mới chỉ đặt trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, chứ không phải theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về dân chủ, dân chủ ở cơ
sở, dân chủ ở cấp xã với phạm vi nghiên cứu, mức độ khác nhau đã làm rõbản chất, nội dung, tính chất, cơ chế thực hiện dân chủ và vai trò của việc mởrộng quyền làm chủ của nhân dân đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xãhội Tuy nhiên, nhiều nội dung nghiên cứu về lý luận và thực tiễn công tácTHPL về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyềnXHCN Việt Nam thì vẫn còn để ngỏ; đặt ra đòi hỏi cấp thiết phải tiếp tụcnghiên cứu, làm rõ cả trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn
1.1.2.5 M ột số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam v ề dân chủ, dân chủ cơ sở ở các nước
Trang 28Bên cạnh việc nghiên cứu về dân chủ, dân chủ ở cơ sở tại Việt Nam,một số tác giả, nhà khoa học Việt Nam còn chủ trọng nghiên cứu vấn đề dânchủ, dân chủ cơ sở ở nước ngoài Có thể kể ra đây một số công trình tiêu biểu:
- PGS.TS Vũ Văn Hiền (chủ biên), Dân chủ ở cơ sở qua kinh nghiệm ở Thụy Điển và Trung Quốc (Sách tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2004 [38] Cuốn sách tập hợp các bài viết của các nhà khoa học nghiêncứu về vấn đề bảo đảm quyền dân chủ của người dân ở cơ sở trên tất cả cáclĩnh vực của đời sống xã hội qua kinh nghiệm thực hành dân chủ ở Thụy Điển
và Trung Quốc Đây là tài liệu tham khảo có giá trị đối với tác giả luận án khinghiên cứu về thực hiện dân chủ ở cơ sở
- Lê Tịnh, Thể chế dân chủ cơ sở ở Trung Quốc - Thôn tự trị, Tạp chí
Nghiên cứu Trung Quốc, số 3/2002, Hà Nội [97] Bài viết phân tích thể chếdân chủ tự trị của Trung Quốc và việc thực hiện dân chủ ở cơ sở dưới hìnhthức “thôn tự trị” Luật Tổ chức Ủy ban thôn là cơ sở pháp lý để xác lậpquyền tự trị của cộng đồng dân thôn, điều chỉnh các quan hệ lợi ích ở nôngthôn Trung Quốc Tác giả bài viết đã chỉ ra thành công, hạn chế và kinhnghiệm thực hiện dân chủ tự trị của cộng đồng dân thôn ở Trung Quốc
- TS Đỗ Tiến Sâm, Vấn đề thực hiện dân chủ cơ sở ở nông thôn Trung Quốc, Viện nghiên cứu Trung Quốc thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam,
Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005 [85] Trong công trình này, tác giảnghiên cứu hệ thống chính quyền cơ sở, tổ chức tự quản ở nông thôn TrungQuốc và vấn đề thực hiện dân chủ cơ sở ở nông thôn Trung Quốc Trên cơ sởđánh giá những thành tựu, hạn chế, các vấn đề đặt ra và phương hướng giảiquyết, tác giả rút ra những bài học kinh nghiệm có thể tham khảo trong thựchiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã tại Việt Nam
- Nguyễn Anh Hùng, Những xu hướng dân chủ ở các nước Mỹ Latinh ngày nay, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 10/2009, Hà Nội [42] Tác giả nhận
định các nước thuộc khu vực Mỹ Latinh ngày càng mở rộng quyền dân chủ và
sự tham gia của nhân dân trong quản lý nhà nước và xã hội Pháp luật các
Trang 29nước đều bổ sung các quy định về dân chủ, mở rộng các quyền dân chủ tiềmnăng và dân chủ thích ứng của nhân dân.
Những công trình nghiên cứu về dân chủ, dân chủ ở cơ sở tại các nướcnêu trên, đặc biệt là ở Trung Quốc - nước có nhiều điểm tương đồng với ViệtNam - là những tài liệu tham khảo có giá trị đối với tác giả luận án khi nghiêncứu vấn đề thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã của Việt Nam
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy đã cónhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án Tuy nhiên, cáccông trình nghiên cứu đã công bố mới chỉ đề cập riêng rẽ từng nội dung:THPL về dân chủ ở cấp xã; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN hoặc lànghiên cứu việc THPL về dân chủ ở cấp xã gắn với từng địa phương cụ thể;vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền gắn với việc bảo đảm thực hiện dânchủ nói chung.v.v Đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàndiện, có hệ thống vấn đề THPL về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựngNhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trên quy mô toàn quốc, có tính chấttổng kết về mặt lý luận và thực tiễn Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ nghiêncứu của đề tài, luận án cần tiếp tục nghiên cứu các vấn đề sau đây:
1.2.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc THPL về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, trong đó tập trung hệ
thống hóa, khái quát, phân tích, làm sảng tỏ các vấn đề lý luận sau:
- Khái niệm, chủ thể, nội dung, hình thức THPL về dân chủ ở cấp xã;
- Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam với yêu cầu THPL về dân chủ ởcấp xã; mối quan hệ giữa xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam vớiTHPL về dân chủ ở cấp xã;
- Các điều kiện bảo đảm THPL về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xâydựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
1.2.2 Đánh giá thực trạng pháp luật và THPL về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Phần này tập trung
giải quyết các vấn đề sau đây:
Trang 30- Quá trình hình thành, phát triển pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp
xã, đánh giá các thành tựu, ưu điểm và chỉ ra những tồn tại, hạn chế;
- Thực trạng THPL về dân chủ ở cấp xã ở Việt Nam theo yêu cầu xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN (các thành tựu, kết quả đạt được, những tồn tại, bất cập và nguyên nhân qua phân tích kết quả điều tra xã hội học tại
19 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam).
1.2.3 Đề xuất quan điểm và các giải pháp bảo đảm THPL về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, tập trung
giải quyết các vấn đề sau:
- Đề xuất, phân tích, luận chứng các quan điểm có tính chất nguyên tắcphương pháp luận chỉ đạo quá trình THPL về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xâydựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam;
- Đề xuất các giải pháp bảo đảm THPL về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầuxây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Những giải pháp này phải bám sát yêucầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, có tính khả thi, có giá trịtham khảo cho các địa phương trong THPL về dân chủ ở cấp xã; góp phần xâydựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ởnước ta hiện nay
Kết luận chương 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy, các tác giả, họcgiả nước ngoài đã có nhiều cuốn giáo trình, sách chuyên khảo, bài viết luậnbàn về vấn đề THPL nói chung, đề cập tương đối đa dạng vấn đề dân chủ, dânchủ trực tiếp, dân chủ đại diện, dân chủ ở địa phương , trong đó nổi lên sựkhẳng định quyền lực nhà nước là quyền lực gốc của nhân dân, một nền dânchủ phải có sự chế ước lẫn nhau giữa các chủ thể trong xã hội và phải đượcbảo đảm thực thi bằng pháp luật Một số công trình bàn sâu về các tiêu chícủa một nền dân chủ, về tác động của tăng trưởng kinh tế đối với việc thực thidân chủ, đánh giá về triển vọng của một nền dân chủ trong thế giới ngày nay
Sự tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước cho thấy, từng vấn đềriêng lẻ như vấn đề THPL, dân chủ, dân chủ ở cấp xã, THPL về dân chủ ở cấp
Trang 31xã, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều
đã được các nhà nghiên cứu, các tác giả đề cập, luận bàn tương đối đầy đủ.Song, nếu đặt các vần đề đó một cách lôgíc, hệ thống trong một tên đề tài
khoa học “Th ực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, thì có thể nhận thấy
rằng, các công trình nghiên cứu về dân chủ ở cơ sở phần nhiều mang tính lýluận; các công trình nghiên cứu vấn đề THPL về dân chủ ở cấp xã mới chủyếu dừng lại ở cấp độ luận văn thạc sĩ và gắn với một địa bàn cụ thể là một
huyện, một tỉnh hay một nhóm các tỉnh có nhiều đặc điểm tương đồng; chưa
có một công trình nào nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn vấn đề THPL
về dân chủ ở cấp xã ở cấp độ luận án tiến sĩ trên phạm vi quốc gia Hơn thế nữa, THPL về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thì lại càng là vấn đề mới, chưa được triển khai nghiên cứu một cách thấu đáo, toàn diện và hệ thống.
Từ đó, có thể khẳng định rằng, cho đến nay vẫn chưa có một công trìnhnào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống cả về mặt lý luận cũng nhưkhảo sát thực tiễn vấn đề THPL về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựngNhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Đó cũng là lý do tác giả chọn vấn đề
“Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ luật học.
Trang 322.1.1 Khái niệm, các đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2.1.1.1 Khái ni ệm Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Nhà nước pháp quyền là một hình thức (phương thức) tổ chức và vậnhành quyền lực - mà quyền lực đó thuộc về nhân dân, dựa trên các nguyên tắcphục tùng tính tối cao của pháp luật, phân công quyền lực, dân chủ, côngbằng; nhằm mục đích bảo vệ tối đa chủ quyền của nhân dân
Nhà nước pháp quyền không phải là đặc trưng riêng có của xã hội tưsản, mà là một nhu cầu tất yếu, khách quan và phổ biến của bất kỳ một xã hộinào khi đã phát triển đến trình độ lấy sự phụ thuộc lẫn nhau làm phương thứctồn tại Mỗi nhà nước lại có cách thức xây dựng mô hình nhà nước phápquyền khác nhau phụ thuộc vào các điều kiện đặc thù về lịch sử, văn hóa,truyền thống, kinh tế hay chính trị của nó Do đó, nhà nước pháp quyền khôngphải là sản phẩm của riêng xã hội tư bản chủ nghĩa (TBCN), mà nó hoàn toàn
có thể được xây dựng trong xã hội XHCN Về nguyên lý, có Nhà nước phápquyền TBCN và Nhà nước pháp quyền XHCN Hai nhà nước này khác nhau
ở mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ và được quy định bởi cơ sở kinh tế, chínhtrị, văn hoá, xã hội và truyền thống dân chủ của mỗi chế độ Nhà nước phápquyền XHCN Việt Nam có những đặc trưng cơ bản riêng
Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên nói đến
nhà nước pháp quyền Năm 1919, trong bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi đến Hội nghị Vécxây, Người đã từng đưa ra yêu cầu phải thay thế
chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật Yêu sách thứ bảy được đề
ra là pháp quyền Sau này, yêu sách đó được Hồ Chí Minh chuyển thành lời
Trang 33ca: “Bảy xin Hiến pháp ban hành Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn đề cao vai trò của chế độ pháp quyền Sau khigiành được chính quyền, xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,Người cũng luôn yêu cầu Nhà nước ta phải là Nhà nước có bộ máy hànhchính mạnh, có hiệu lực, điều hành bằng pháp luật; mọi quyền dân chủ phảiđược thể chế hóa trong Hiến pháp, trong các bộ luật, đạo luật và đòi hỏi côngdân phải tuân theo, không trừ một ai
Theo Hồ Chí Minh, nhân dân là chủ thể quyền lực nhà nước; quyền lựcnhà nước thuộc về nhân dân và gắn liền với việc nhà nước phải làm tất cả đểđem lại một cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân
Nhà nước ta phát huy dân chủ đến cao độ, đó là do tính chất Nhà nước
ta là Nhà nước của nhân dân Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mớiđộng viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên.Đồng thời phải tập trung đến cao độ để thống nhất lãnh đạo nhân dânxây dựng chủ nghĩa xã hội [61, tr 592]
Nhân dân sử dụng Nhà nước như một công cụ để thực hiện lợi ích củamình Đối với nhân dân, công cụ của Nhà nước dân chủ mới (Chính phủ,quân đội, pháp luật ) đều là để phục vụ cho quyền và lợi ích của nhân dân
Có thể có nhiều quan niệm về Nhà nước pháp quyền XHCN Ở đây, tácgiả sử dụng khái niệm Nhà nước pháp quyền được nêu trong bài viết của đồngchí Trần Đức Lương - nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam:
Nhà nước pháp quyền, nói một cách khái quát, là hệ thống các tưtưởng, quan điểm đề cao pháp luật, pháp chế trong tổ chức, hoạt độngcủa bộ máy nhà nước và trong đời sống xã hội Nhà nước pháp quyền
là nhà nước quản lý theo pháp luật và đề cao quyền của con người,quyền của công dân Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩacủa dân, do dân, vì dân là cách thức cơ bản để phát huy quyền làm chủcủa nhân dân, đảm bảo mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Đó
là Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế, xử lýnghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật nhằm thực hiện các quyền
Trang 34tự do dân chủ và lợi ích hợp pháp của công dân, ngăn ngừa mọi sự tùytiện, lạm dụng quyền từ phía Nhà nước và các cán bộ viên chức nhànước, ngăn ngừa hiện tượng dân chủ cực đoan vô kỉ luật, kỉ cương,đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước Đó là Nhà nước mà tất cảcác cơ quan nhà nước, các tổ chức, kể cả các tổ chức đảng đều phảihoạt động theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước nhân dân về các hoạtđộng của mình Mọi công dân đều có nghĩa vụ chấp hành hiến pháp vàpháp luật, phải sống và làm việc theo pháp luật [xem: 51, tr 5].
2.1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ ngh ĩa Việt Nam
Trong công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức ngàycàng đầy đủ yêu cầu, nội dung, đặc trựng của Nhà nước pháp quyền XHCNViệt Nam Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng01/1994), Đảng ta đã sử dụng khái niệm Nhà nước pháp quyền XHCN, đãkhẳng định sự cần thiết phải xây dựng Nhà nước pháp quyền như là một điềukiện không thể thiếu để phát triển nền dân chủ thực sự vì nhân dân Tiếp theo,trong văn kiện Đại hội VIII, Đại hội IX, Đại hội X, Đại hội XI và Hiến pháp
nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (sửa đổi năm 2013) đều tiếp tục khẳng định
Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN
Từ thực tiễn nhận thức lý luận, tiếp thu có chọn lọc các giá trị có tínhphổ quát của Nhà nước pháp quyền nói chung cũng như từ thực tiễn xây dựngNhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta, có thể khái quát những đặc trưng cơbản của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam theo quan điểm của Đảng,Nhà nước ta như sau:
Thứ nhất, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc
về nhân dân Với đặc trưng này, Đảng ta khẳng định tầm quan trọng của việc
xây dựng xã hội công dân trên con đường xây dựng Nhà nước pháp quyềnXHCN; bởi vì, chỉ khi xuất phát từ góc độ xã hội công dân thì mới có thể hiểu
thấu đáo mệnh đề “nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”.
Trang 35Nếu “phiên dịch” mệnh đề trên theo “ngôn ngữ” của xã hội công dân thì nó cónghĩa là: quyền lực nhà nước là do nhân dân ủy thác, do nhân dân đóng góp
chủ quyền tuyệt đối của mình mà thành (của nhân dân); nhân dân áp đặt ý chí
chung của mình lên Nhà nước và Nhà nước, bất luận thế nào, cũng phải luôn
luôn thuận theo ý chí của nhân dân (do nhân dân - đồng nghĩa với một nền
dân chủ); và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cùng với hệ thống phápluật của mình, không có mục tiêu nào khác hơn, cao hơn ngoài việc bảo vệ vàtạo mọi điều kiện có thể cho sự phát triển tối đa mọi giá trị nhân văn của các
cá nhân và cộng đồng xã hội (vì nhân dân).
Th ứ hai, Nhà nước pháp quyền XHCN được tổ chức và hoạt động trên
cơ sở Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm cho Hiến pháp, các đạo luật luôn giữ
vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội Pháp luật của Nhà nước ta phản ánh đường lối, chính sách củaĐảng và thể hiện trực tiếp lợi ích của đông đảo các tầng lớp nhân dân Nhànước pháp quyền XHCN Việt Nam đặt ra nhiệm vụ phải xây dựng, ban hành
và ngày càng hoàn thiện một hệ thống pháp luật cần và đủ để điều chỉnh cácquan hệ xã hội, tạo cơ sở cho sự duy trì một trật tự pháp luật và kỷ cương xãhội Pháp luật thể chế hóa các nguyên tắc, yêu cầu của hoạt động quản lý xãhội, là hình thức tồn tại của các cơ cấu, tổ chức xã hội và các thiết chế nhànước Sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật là đỉnh cao của lối sốngtheo pháp luật, là một giá trị của văn hóa pháp luật Nhà nước pháp quyềnXHCN Việt Nam xây dựng, ban hành pháp luật; song, chính Nhà nước với hệthống các cơ quan, tổ chức, thiết chế, bộ máy của nó cũng phải tự đặt mìnhtrong sự ràng buộc về thẩm quyền mà pháp luật trao cho và chịu trách nhiệmtrước pháp luật về những hoạt động của mình; hoạt động trong khuôn khổ cácnguyên tắc, quy định của pháp luật Phục tùng pháp luật là phục tùng ý chí vàlợi ích của nhân dân Vì vậy, nhiệm vụ cấp bách hàng đầu của sự nghiệp xâydựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là quyết tâm đổi mới tư duy lậppháp, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như thực thi pháp luậtmột cách công bằng, nghiêm minh
Trang 36Th ứ ba, Nhà nước pháp quyền XHCN tôn trọng và bảo đảm quyền con
người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân; thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật Đảng
Cộng sản Việt Nam khẳng định:
Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thựchiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ýkiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; có cơ chế vàbiện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, thamnhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dânchủ của công dân; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm trị mọihành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân [21, tr.85-86]
Điều đó cũng có nghĩa Đảng ta nhấn mạnh rằng, chức năng của Nhà nước là phục vụ nhân dân; khẳng định mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Nhà nước với nhân dân, thực hiện đầy đủ các quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân Hơn nữa, Nhà nước còn phải có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân Đặc trưng này của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam khẳng định bản chất dân chủ thực sự của Nhà nước ta.
Thứ tư, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch,
phối hợp chặt chẽ và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Trước hết, quyền lực nhà nước là thống nhất
ở mục tiêu chung phục vụ lợi ích của nhân dân, của đất nước, của dân tộc Vềmặt tổ chức, quyền lực nhà nước tập trung vào những cơ quan đại diện chonhân dân, do tuyệt đại đa số cử tri bầu ra, do đó, là quyền lực của nhân dângiao phó cho các đại diện của mình Ở nước ta, các đại diện đó là Quốc hội và
Hội đồng nhân dân các cấp Bên cạnh đó, quyền lực nhà nước thống nhất trên
cơ sở phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và có sự kiểm soát giữa các
cơ quan trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Trang 37Sự thống nhất là nền tảng, sự phân công và phối hợp là phương thức đểđạt được sự thống nhất của quyền lực nhà nước Đó là sự phân công và phốihợp trên cơ sở tổ chức lao động khoa học để tránh sự trùng lặp, chồng chéo,mâu thuẫn trong việc thực hiện ba quyền với những chức năng, nhiệm vụ cụthể của từng cơ quan, bảo đảm sự vận hành nhịp nhàng, đồng bộ của bộ máy
nhà nước trong quá trình thực thi quyền lực mà nhân dân trao cho Sự kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp là nhằm ngăn ngừa nguy cơ lạm quyền, lộng quyền, phòng chống sự tha hóa quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước thống nhất ở nhân dân chứ không
phải thống nhất ở các cơ quan nhà nước
Nếu các cơ quan nhà nước thống nhất nhưng nhân dân bất bình khôngyên vì quyền lực nhà nước của mình bị lạm quyền, lộng quyền, mấtquyền thì sự thống nhất quyền lực ở các cơ quan nhà nước có lẽ sẽkhông có ích gì Vì vậy, kiểm soát quyền lực nhà nước là nhằm mụcđích chủ yếu là phòng chống sự tha hóa của quyền lực nhà nước màkhông phải chỉ là để thống nhất quyền lực nhà nước Điều đó đòi hỏiphải thay đổi cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước [27, tr 147-148]
Th ứ năm, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo, đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác ngoài
việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân Sự lãnh đạo của Đảng là nhằmđảm bảo cho chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng Nhà nước phápquyền XHCN Việt Nam được triển khai trên thực tế và đi vào thực tiễn cuộcsống Đảng ta chủ trương: “Xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hộicủa Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việchoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng vàviệc tổ chức thực hiện, kể cả đối với công tác tổ chức và cán bộ” [20, tr.135]
MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên có vai trò to lớn trong việcxây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thực
Trang 38hiện quyền làm chủ của nhân dân Đảng và Nhà nước đã và đang xây dựng,hoàn thiện các quy chế để MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên pháthuy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia phát triển kinh tế - xã
hội, thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trên cơ sở thực hiện
tốt Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; qua đó tăng cườngkhối đại đoàn kết toàn dân, củng cố sự đồng thuận, nhất trí về chính trị và tinhthần trong xã hội
Thứ sáu, Nhà nước pháp quyền XHN Việt Nam là Nhà nước thực hiện
đường lối đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác, bình đẳng và phát triển vớinhân dân các dân tộc và các nhà nước trên thế giới, đồng thời tôn trọng vàcam kết thực hiện các công ước, hiệp ước quốc tế đã tham gia, ký kết, phêchuẩn Tuy nhiên, cần nhận thức rằng, Việt Nam thực hiện đường lối đốingoại nêu trên theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toànvẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau vàcùng có lợi Mặt khác, tôn trọng và cam kết thực hiện các công ước, hiệp ướcquốc tế nhưng vẫn có quyền bảo lưu những điều không thích hợp với thựctiễn Việt Nam
2.1.2 Những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã
Công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhândân, do nhân dân và vì nhân dân đang đặt ra cho công tác THPL về dân chủ ởcấp xã những yêu cầu sau đây:
2.1.2.1 Trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã phải khẳng định bản chất dân chủ của Nhà nước ta - Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Ngay sau khi giành được độc lập cho nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã khẳng định “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ” Từ bản Hiến pháp đầu
tiên (năm 1946) cho đến bản Hiến pháp hiện hành (sửa đổi năm 2013) Nhà nước ta đều khẳng định nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” Tại Điều 2 Hiến pháp (sửa đổi năm 2013) khẳng định: “1 Nhà nước
Trang 39Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, donhân dân, vì nhân dân 2 Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do nhân dân làmchủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” [37, Điều 2] Như vậy, bảnchất dân chủ của chế độ nhà nước ta hiện nay đã được khẳng định ngay từ khiđược khai sinh ra và được thể hiện trong Quốc hiệu “Nước Việt Nam Dân chủCộng hòa” Trong giai đoạn hiện nay, việc THPL về dân chủ ở cấp xã, trênthực tế, chỉ là sự tiếp tục khẳng định bản chất dân chủ của Nhà nước ta - Nhànước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Dân chủ XHCN là mục tiêu cao cả mà Đảng và Nhà nước ta luôn hướng tới, quyết tâm biến nó thành hiện thực Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng tại Đại hội XI đã khẳng định mục tiêu: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ ” [21, tr 70] Trong khẳng định trên
có hai điểm mới quan trọng: Một là, Đảng ta đã đưa cụm từ dân chủ lên trước cụm từ công bằng, văn minh; cho thấy Đảng ta đã xác định rõ ràng hơn vị trí,
vai trò của việc thực hiện dân chủ trong quá trình phát triển xã hội Để có thểxây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN thì trước hết phải bảo đảm trong xã hội có nền dân chủ XHCN và nhất thiết phải thực hiện dân chủ XHCN vì đó là điều kiện tiên quyết, thiết yếu để
xây dựng xã hội công bằng, văn minh Nếu chưa coi trọng dân chủ và thực
hành dân chủ thì khó có thể nói đến một xã hội công bằng, văn minh Hai là,
Đảng ta khẳng định một đặc trưng quan trọng của Nhà nước pháp quyền
XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng là Nhà nước do nhân dân làm chủ.
Dân chủ XHCN còn là động lực của sự phát triển đất nước, là nhân tố
thúc đẩy phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; bởi lẽ, khi nhân dân đãnhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc thực hành dân chủ và thực sự phát
huy quyền dân chủ thì đó sẽ là nguồn sức mạnh to lớn cho sự phát triển đất nước Mở rộng dân chủ là một trong những quan điểm phát triển được Đảng
ta nêu trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2015 [21, tr 100].
Trang 40Ở nước ta từ trước đến nay, xã, phường, thị trấn là nơi tập trung cáchoạt động sống, lao động, sinh hoạt của tuyệt đại đa số các tầng lớp nhân dânnên chỉ có xã, phường, thị trấn mới là nơi nhân dân thực hiện và phát huy trựctiếp nhất, đầy đủ nhất các quyền dân chủ Chính vì vậy, THPL về dân chủ ởcấp xã là sự khẳng định bản chất dân chủ của Nhà nước ta - Nhà nước củanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Đây cũng là yêu cầu mà công cuộc xâydựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đặt ra đối với hoạt động THPL
Trong THPL về dân chủ ở cấp xã, việc chính quyền, đội ngũ CBCC cấp
xã, tuân thủ, chấp hành pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã là phục tùng
vô điều kiện ý chí và lợi ích của nhân dân Về phía các tầng lớp nhân dân ở xã,phường, thị trấn, việc chủ động, tích cực thực hiện, pháp huy các quyền dânchủ chính là phục tùng tính tối cao của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp
xã Nhận thức sâu sắc nguyên tắc tính tối cao của pháp luật chính là nền tảng
để chính quyền, đội ngũ CBCC cấp xã và các tầng lớp nhân dân nâng cao ý