Ngày nay "Muốn tién hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phảiphát triển mạnh Giáo dục-Đào tạo, phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bảncủa sự phát triển nhanh và bền vững" Ng
Trang 1A.PHẦN MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài:
Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, Đảng ta đã đặc biệt coi trọng vị trícon người, coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển Vănkiện hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 khoá VII đã nêu: "Conngười phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần,trong sáng về đạo đức là động lực xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của
xã hội Vì vậy, mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước phải quán triệt vềchăm sóc bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người"
Ngày nay "Muốn tién hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phảiphát triển mạnh Giáo dục-Đào tạo, phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bảncủa sự phát triển nhanh và bền vững" (Nghị quyết TƯ II - khoá 8)
Đứng trước yêu cầuđó của cách mạng, Giáo dục - Đào tạo phải đào tạonhững con người tự chủ, năng động sáng tạo, có năng lực giải quyết những vấn đềthường gặp , tự lo được việc làm, lập nghiệp và thăng tiến trong cuộc sống, qua đógóp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng văn minh
Thực hiện được nhiệm vụ, mục tiêu của giáo dục, không ai khác ngoài vaitrò của người thầy giáo, vì đó là lực lượng chủ chốt của ngành, đồng thời quyếtđịnh sự thành bại của sự nghiệp giáo dục- đầo tạo Bàn về vị trí, vai trò của ngườithầy giáo trong sự nghiệp Giáo dục, nguyên thủ tướng Phạm Văn Đồng có nói:
"Thầy giáo là nhân vật trung tâm trong nhà trường, là người quyết định đào tạo nênnhững con người mới xã hội chủ nghĩa Chính vì vậy thầy giáo phải không ngừngphấn đấu vươn lên, rèn luyện, tu dưỡng về mọi mặt, để thực sự xứng đáng là ngườithầy giáo xã hội chủ nghĩa" Thủ tướng cũng chỉ rõ "Vấn đề lớn nhất trong giáodục của ta hiện nay là tạo điều kiện thuận lợi nhất để đội ngũ GV dần dần trở thànhmột đội quân đủ năng lực, đủ tư cách làm tròn sứ mạng của mình Chất lượng giáodục trước mắt và tương lai tuỳ thuộc vào đội ngũ này Cho nên lo cho sự phát triển
về giáo dục thì khâu quan trọng bậc nhất là lo chất lượng đội ngũ giáo viên."
Đặc trưng hiện đại của mỗi nghề nghiệp là sự đòi hỏi người thực hành nghềnghiệp luôn luôn thay đổi phương pháp và thói quen sử dụng phương tiên lao độngmới ngày nay hiện đại hơn Nghề dạy học cũng yêu cầu người GV không thể bằnglòng với cách suy nghĩ "Học một lần làm cả đời" Cần phải quan tâm tới vấn đề bồidưỡng thường xuyên làm phong phú và cập nhật kiến thức, sự hiểu biết và kĩ năngnghề nghiệp cho bản thân mình
Đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng sau đào tạo là khâu quan trọng bậc nhấttrong quá trình xây dựng độ ngũ và quản lí nguồn nhân lực Trước xu thế toàn cầuhoá, trước nền kinh tế tri thức đang phát triển mạnh mẽ, trước sự phát triển nhảy
Trang 2vọt của công nghệ thông tin, việc bồi dưỡng đội ngũ GV thường xuyên là nhu cầutất yếu không thể thiếu trong Giáo dục- Đào tạo.
Nghị quyết TƯ II: về chiến lược phát triển Giáo dục - Đào tạo trong thời kìcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước dã đề ra, một trong các giải pháp thực hiệnchiến lược là "Xây dựng đội ngũ GV tạo động lực cho người dạy, người học" GV
là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục được xã hội tôn vinh, GV phải có đủđức, đủ tài để đảm đương sứ mệnh của Đảng và của ngành giao
Quán triệt nhận thức, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng GV trongnhững năm qua cùng với toàn ngành Giáo dục - Đào tạo của cả nước, của địaphương và của trường tiểu học Minh Tân - Kinh Môn đã thực hiện được và đạtmột số kết quả đáng khích lệ, nhà trường có được một đội ngũ GV đoàn kết nhấttrí cao trong nhận thức và hành động giáo dục, có nhiều đ/c chuyên môn cao,nghiệp vụ vững vàng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhàtrường, ổn định phát triển vững chắc Nhà trường luôn giữ vững là đơn vị tiên tiếnxuất sắc của bậc học, là đơn vị có chất lượng cao của huyện, là địa chỉ đáng tin cậycủa các bậc cha mẹ HS và của nhân dân địa phương Tuy nhiên so với yêu cầu của
sự nghiệp phát triển giáo dục , của Đảng cùng với đặc điểm là đơn vị trung tâmchất lượng cao của bậc học Vì vậy vấn đề đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV của cơ
sở cần dược đẩy mạnh hơn nữa
Từ nhu cầu thực tế của lao động sư phạm, nhu cầu thực tế của công tác quản
lý GV và quán triệt Nghị quyết của Đảng về giáo dục, các nhà quản lý giáo dụccần đặc biệt quan tâm tới công tác bồi dưỡng GV và cần xem đó là một đòi hỏi cấpbách cần được giải quyết
Cần có sự nghiên cứu để tìm ra những giải pháp đúng đắn, góp phần giảiquyết những vướng mắc về chất lượng của đội ngũ GV tiểu học để nâng cao chấtlượng và hiệu quả giáo dục tại địa phươngvới yêu cầu của tiểu luận cuối khoá lớptrung học chính trị, bản thân được được qua thực tế quản lí Nhà nước về Giáo dục
- Đào tạo Đề tài này được đề cập đến thực trạng và những giải pháp nâng cao hiệuquả công tác bồi dưỡng GV ở trường Tiểu học Minh Tân - Kinh Môn - Hải Dương
II Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn, đánh giá thực trạng của công tác bồidưỡng GV tiểu học ở trường tiểu học Minh Tân để đề xuất một số biện pháp nhằmnâng cao chất lượng bồi dưỡng đội ngũ GV trong toàn trường
III Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp bồi dưỡng đội ngũ GV tiểu học trường tiểu học Minh Tân
IV Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu tài liệu và kinh nghiệm thực tiễn về công tác bồi dưỡng GV
Trang 3- Điều tra khảo sát, đánh giá thực trạng về công tác bồi dưỡng GV để có cơ
sở đề xuất biện pháp
- Đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng đội ngũ GV trường tiểu học MinhTân
V Phương pháp nghiên cứu:
1 Nghiên cứu tài liệu
2 Điều tra khảo sát, thu thập và xử lí thông tin
3 Tổng kết kinh nghiệm
4 Trao đổi, đàm thoại, phỏng vấn (phương pháp bổ trợ)
VI Phạm vi nghiên cứu:
Thực trạng và biện pháp bồi dưỡng đội ngũ GV trường tiểu học Minh Tân
B NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN
I Một số khái niệm cơ bản:
Trong quá trình công tác của mỗi người GV, việc đào tạo và bồi dưỡng làmột quá trình nối tiếp nhau và liên tục với xu thế học tập suốt đời, nhất là khi sống
và làm việc trong một thời đại phát triển Thời đại của thông tin khoa học và côngngh4ệ, những thay đổi, phát triển diễn ra hàng ngày, hàng giờ thì việc học tập đểnâng cao nhận thức, nâng cao hiểu biết về tự nhiên xã hội, môi trường cùng các trithức khoa học khác của mỗi con người là yêu cầu cần thiết và vô tận
Sự vận động, phát triển và tính thích nghi liên tục của con người với điềukiện thực tiễn của kinh tế - xã hội - môi trường và lô gic cơ bản của sự tồn tại trongquá trình đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trong quan điểm giáo dục liên tục choGV
Trong sự phát triển chung của xã hội hiện nay, công tác Giáo dục -Đào tạo
có ba quá trình đan xen và kết hợp chặt chẽ với nhau là:
- Đào tạo
- Bồi dưỡng
- Đào tạo lại
Đó là những quá trình nối tiếp, vừa xen kẽ lẫn nhau trong suốt cuộc đời hoạt độngcủa mỗi người Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta coi sự phát triểnnhanh và bền vững, coi giáo dục của mỗi cán bộ quản lí và mỗi GV cần phải hiểumột cách rõ ràng các khái niệm trên để có nhận thức đúng đắn và tích cực về côngtác bồi dưỡng GV Một trong những biện pháp quan trọng nhất là phát triển độingũ, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đáp ứng yêu cầu của sự
Trang 4nghiệp xây dựng đất nước và phát triển kinh tế xã hội Có thể hiểu các khái niệm
đó như sau:
1 Đào tạo:
Trước hết theo cách giải nghĩa của từ điển Tiếng Việt thì "Đào tạo" là tổchức cho học tập để có khả năng làm những công việc, nghề nghiệp nhất địng
Với quá trình đào tạo của người GV là quá trình được tiến hành ở các trường
sư phạm, với những thời gian nhất định , theo mục tiêu, chương trình, nội dungchính thống của Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành Cuối khoá học được cấp bằngtốt nghiệp sư phạm
Như vậy: Đào tạo là một quá trình trang bị kiến thức, kĩ năng từ ban đầu,đồng thời giáo dục phẩm chất đạo đức, thái độ cho HS, sinh viên để học có thể trởthành người lao động có kĩ thuật
3 Đào tạo lại:
Là quá trình đào tạo cho người lao động có cơ hội để học tập một lĩnh vựcchuyên môn mới, nhằm mục đích để chuyển đổi nghề khác khi xã hội có nhu cầuchuyển đổi nghề nghiệp trong điều kiện xã hội phát triển
II Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của người giáo viên tiểu học trong sư nghiệp giáo dục:
Mục đích đào tạo của bậc tiểu học - trường tiểu học đã được cụ thể hoá tạiluật giáo dục và điều lệ trường tiểu học mà nhà nước và bộ giáo dục ban hành
GV tiểu học là người tổ chức quá trình phát triển của trẻ em bằng phươngpháp và những nhiệm vụ của người GV được nêu trong luật và điều lệ là: "Phảithường xuyên học tập văn hoá và bồi dưỡng nghiệp vụ, rèn luyện đạo đức và tácphong để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao theo tiêu chuẩn quy định đối với người
GV tiểu học"
Đứng trước yêu cầu đó của bậc học, người GV tiểu học phải có khả năngtoàn diện, dạy đủ 6 môn (Đối với lớp 1,2,3) và 9 môn (đối với lớp 4,5) nhằm đạtyêu cầu chuẩn về kiến thức và kĩ năng cơ bản (Chưa kể một số môn tự chọn)
Vì vậy trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm ở GV rất đa dạng và phức tạp, cótính tổng hợp cao Vấn đề bồi dưỡng cho GV tiểu học về phẩm chất dạo đức, về
Trang 5trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm và vấn đề nghề nghiệp luôn thường xuyênđược xã hội coi trọng.
III Tầm quan trọng và nhiệm vụ của công tác bồi dưỡng đội ngũ GV tiểu học:
Công tác bồi dưỡng GV có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chấtlượng đội ngũ Người GV với yêu cầu nâng cao về phẩm chất đạo đức, nhận thức
về vị trí nghề nghiệp cùng với kiến thức khoa học, chuyên môn nghiệp vụ vữngvàng sẽ tạo nên uy tín, năng lực thực hành nghề nghiệp làm nên chất lượng hiệuquả của sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo của ngành , của đơn vị công tác
Chất lượng đội ngũ GV phụ thuộc chủ yếu vào công tác dào tạo, công tácbồi dưỡng: (Bồi dưỡng thường xuyên) trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay.Khi xã hội đang vận hành cùng với công cuộc đổi mới, sự nghiệp Giáo dục đangđứng trước những yêu cầu, những thách thức mới thì vai trò của người GV càngquan trọng Họ phải không ngừng trau dồi, tích luỹ kiến thức, kinh nghiệm giảngdạy cùng với việc mở mang kiến thức mới để tồn tại và đáp ứng được đòi hỏi tolớn của xã hội hiện đại
Đội ngũ GV trường tiểu học Minh Tân trước đây còn nhiều bất cập so vớiyêu cầu của Giáo dục - Đào tạo thì công tác bồi dưỡng có tầm quan trọng đặc biệtquan trọng Qua quá trình bồi dưỡng, giúp cho GV bổ sung được kiến thức bị maimột, cập nhật cho họ được những kiến thức mới, giúp họ vững vàng, có năng lực
tổ chức, quản lí dạy học, có niềm tin trong sự nghiệp "trồng người", tìm ra đượcnhững phương pháp giáo dục tối ưu
Bồi dưỡng GV phải trở thành một nhu cầu không thể thiếu, phải tiến hànhliên tục và suốt cả cuộc đời làm việc của mỗi người
IV Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác bồi dưỡng giáo viên:
Cũng như chất lượng giáo dục, chất lượng của công tác bồi dưỡng GV cũngchịu sự tác động và chi phối của nhiều nhân tố
Trước hết là quan điiểm, đường lối lãnh đạo của Đảng đối với công tác Giáodục- Đào tạo ( Giáo dục - Đào tạo được xem là quốc sách hàng đầu) là sự nghiệpcủa Nhà nước, của toàn Đảng, toàn dân
Nghị quyết trung ương II xác định: Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáodục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ trẻ tha thiết gắn bó với lí tưởngđộc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường,xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giữ gìn vàphát huy những giá trị văn hoá của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa dân tộc,phát huy tiềm năng của dân tộc và của con người Việt Nam, có tác phong côngnghiệp, có tính tổ chức và kỉ luật đồng thời có sức khoẻ để trở thành những người
Trang 6kế thừa việc xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên như lời căn dặn củaBác Hồ vô vàn kính yêu.
Vấn đề xây dựng đội ngũ GV, tạo động lực cho người dạy, người học Nghịquyết cũng chỉ rõ: GV là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hộitôn vinh GV phải có đủ đức, đủ tài thực hiện chương trình bồi dưỡng thườngxuyên, bồi dưỡng chuẩn hoá nâng cao phẩm chất và năng lực đội ngũ GV
Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục là phải đặc biệtchăm lo đào tạo, bồi dưỡng và tiêu chuẩn hoá đội ngũ GV cũng như đội ngũ cán bộquản lí giáo dục cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức và chuyên môn nghiệp vụ (Phátbiểu của đ/ c Đỗ Mười tại hội nghị BCH trung ương lần thứ II khoá VIII)
Sự ra đời của luật giáo dục (1998)và các luật có liên quan đến giáo dục như:luật bảo vệ, chăm sóc và bảo vệ trẻ em (1991), công ước quốc tế về quyền trẻ em(1991), luật phổ cập giáo dục tiểu học (1991), là những ảnh hưởng mạnh mẽ đếnbất kỳ một người GV nào, bởi không những làm nhiệm vụ dạy học mà người giáoviên còn là việc thực hiện nghĩa vụ, thực hiện pháp luật của người công dân Vìvậy đòi hỏi phải có đủ điều kiện, năng lực để thực hiện
Bên cạnh sự chuyển đổi của nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sangnền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản
lí của Nhà nước cũng có tác đông sâu sắc đến công tác GV cả mặt tích cực lẫn mặttiêu cực Điều đó đòi hỏi phải có một đội ngũ GV có bản lĩnh chính trị vững vàng,năng động và có trình độ hiểu biết rộng, góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo, tìm
ra các hướng đi và sự tồn tại của ngành
Sự phát triển của nền giáo dục Việt Nam hơn 50 năm qua là sự chuyển đổimạnh mẽ từ nội dung, phương pháp, mục tiêu thay đổi theo từng thời kỳ của cáchmạng Việt Nam, thay đổi theo xu hướng phát triển đi lên của thời đại, sự bùng nổcủa công nghệ thông tin đặt ra yêu cầu đối với đội ngũ GV phải thường xuyên bồidưỡng để cập nhật về phương pháp, tri thức khoa học đáp ứng với sự phát triểnnhanh chóng của thời đại
Trước yêu cầu chung có tính chất toàn ngành, việc bồi dưỡng GV ở Trườngtiểu học Minh Tân cũng có sự nghiên cứu vận dụng cho phù hợp, sát thực với địa
phương( Đơn vị trung tâm chất lượng cao của huyện), nhưng phải đáp ứng nhu cầu
chumg Trên cơ sở của sự phát triển các nhân tố ảnh hưởng trên đây cần vận dụng,phát huy các điểm mạnh có tác động tích cực đến việc bồi dưỡng đội ngũ GV vàhạn chế những tác động tiêu cực ảnh hưởng xấu, để công tác bồi dưỡng đội ngũ
GV có hiệu quả cao, thiết thực, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện nhà trường
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TIỂU HỌC
MINH TÂN VÀ CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN TRONG NHÀ TRƯỜNG.
Trang 7I Thực trạng giáo dục ở trườmg Tiểu học Minh Tân:
1 Về phía học sinh:
* Kết quả thực hiện kế hoạch phát triển số lượng và chất lượng diáo dục:Trường được thành lập vào tháng 8/1990, được tách ra từ trường PTCSMinh Tân với quy mô năm đầu là 1246 HS, với 34 lớp và có 49 cán bộ giáo viên,công nhân viên Trong quá trình xây dựng và phát triển đến nay, trường luôn ổnđịnh về quy mô trưiờng hạng 1 với trên dưới 1000 học sinh, trường có chất lượngcao và ổn định
Số lượng GV, học sinh và chất lượng của nhà trường được biểu thị qua cácbiểu mẫu cụ thể sau:
Khối 1 Khối 2 Khối 3 Khối 4 Khối 5Lớp HS Lớp HS Lớp HS Lớp HS Lớp HS
đã được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục Tiểu học và luôn được duy trì, ổnđịnh, chất lượng từ năm học( 1998-1999) đến nay nhà trường được công nhận làhoàn thành phổ cập giáo dục Tiểu học giai đoạn II đúng đọ tuổi
Trường thực hiện đồng loạt dạy theo chương trình, sách giáo khoa mới vàhọc 10 buổi/ tuần, đồng thời tổ chức lớp học bán trú cho các em theo nhu nhu cầucủa các bậc phụ huynh học sinh
Trang 8SL % SL % SL % SL % SL %
2001- 2002 1005 272 27,0 545 54,2 188 18,8 892 88,7 113 11,3 4HSG cấp tỉnh,
232 HSTNTH 2002- 2003 960 238 24,8 575 59,9 147 15,3 862 89,8 98 10,2 3HSG cấp tỉnh,
190 HSTN-TH 2003- 2004 973 294 29,9 566 58,2 116 11,9 909 93,4 64 6,6 10HSG cấp tỉnh,
202 HSTN-TH 2004- 2005 958 369 38,5 503 52,6 86 8,9 921 96,2 37 3,8 8 HSG cấp tỉnh,
208 HSHTCTTH 2005- 2006 964 371 38,5 507 52,6 86 8,8 927 91,2 37 8,8 5 HSG cấp tỉnh,
3HSG cấp QG,
227 HSHTCTTH
Quán triệt việc thực hiện nghiêm tinh thần chỉ thị, nhiệm vụ năm học của Bộtrưởng Bộ Giáo dục- Đào tạo và hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ dạy và học của Vụgiáo dục Tiểu học, Sở giáo dục- Đào tạo, phòng gioá dục đối với bậc học TrườngTiểu học Minh Tân luôn đổi mới, cải tiến công tác quản lí, chỉ đạo, thực hiện hoạtđộng dạy và học và các hoạt động giáo dục phối hợp giáo dục theo các chỉ đạo củangành Cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học đày đủ 100%, sách tham khảo
và trang thiết bị dạy học luôn được coi trọng và bổ sung phong phú Nhà trưòngthực hiện tốt việc kiểm tra, đánh giá, xếp loại HS theo thông tư 15 và QĐ/30 BộGiáo dục- Đào tạo Thực hiện nghiêm túc các đợt kiểm tra( khảo sát) đánh giá chấtlượng giáo dục theo quy định đầu kì, giữa kì và cuối năm học
Qua thóng kê chất lượng giáo dục 5 năm học cho thấy chất lượng giáo dụccủa nhà trường luôn ổn định và khá cao kể cả về chất lượng đại trà và kết quả HSđạt giải cấp tỉnh, năm học ( 2005-2006) có HS đạt giải Quốc gia trong hội thi "Đọc hay- Viết đẹp"
2 Về đội ngũ giáo viên:
2.1 Số lượng:
Đội ngũ GV trường Tiểu học Minh Tân tương đối ổn định trong những nămqua, đạt mức quy định biên chế của Bộ giáo dục- Đào tạo Đội ngũ có trình độchuyên môn, nghiệp vụ khá tốt Tuy nhiên do đặc điểm của bậc học, hệ đào tạogioá viên Tiểu học phong phú, tạo ra trình độ GV không đều Số GV dạy giỏi toànnăng chưa nhiều, GV dạy chuyên các môn năng khiếu còn thiếu ( Âm nhạc, Mĩthuật…), việc dạy theo yêu cầu đổi mới về phương pháp dạy học còn gặp nhiềukhó khăn
Tình hình thực tế về đội ngũ GV trong trường được biểu thị qua biểu mẫusau:
Biểu mẫu 3:
Cơ cấu đội ngũ của 5 năm học từ ( 2001- 2002)- ( 2005-2006)
Trang 9Năm học 2001-2002 2002-2003 2003-2004 2004-2005 2005-2006Tổng số
2.2 Đội ngũ cán bộ, giáo viên với cơ cấu độ tuổi:
+ Giáo viên dưới 30 tuổi trường có 10 đồng chí, xấp xỉ 25% Đây là lựclượng trẻ có sức khoẻ tốt, được đào tạo chính quy, có chuyên môn cơ bản, nhậnthức tốt và nhạy bén với cái mới, kĩ năng nghề nghiệp khá, nhiệt tình sôi nổi trongcông tác Tuy nhiên klinh nghiệm ( nghiệp vụ ) còn có hạn, với thực tế giảng dạy,giáo dục còn ít Vậy vấn đề bồi dưỡng cho đôí tượng này cần tập trung vào côngtác tổ tổ nchức quản lí dạy học, kĩ năng giao tiếp nghệ thuật sư phạm, năng lực xử
lí tình huống trong giáo dục, khả năng ứng xử và hoạt động xã hội…
+ Số GV từ 30- 45 tuổi thường là từ 20- 25 người chiếm 50-60% Đây là lựclượng chính nòng cốt của nhà trường, lực lượng này được đào tạo chuẩn của bậchọc, có nghiệp vụ thâm niên khá, có nhiều kinh nghiệm thực tế phong phú và ổnđịnhgia đình về kinh tế và con cái, yên tâm công tác Đây là lực lượng có thếmạnh, phát huy hiệu quả giảng dạy, giáo dục chất lượng Trong số Gv đạt giải cáchội thi thường là lực lượng này Số GV này trong nội dung bồi dưỡng cần thườngxuyên cập nhật kiến thức mới, đào tạo nâng trên chuẩn, bồi dưỡng đổi mới phươngpháp giảng dạy
+ Số GV trên 45 tuổi thường có từ 5-7 người chiếm 10-15% là những GV cónhiều năm công tác, có trình độ chuyên môn đào tạo ở nhiều loại hình khácnhau( Thái Nguyên, Quảng Ninh…), nâng chuẩn trung học hoàn chỉnh, chuyển hệ
GV cấp 1 ( Tiểu học) Số GV này qua thực tế bộc lộ về chuyên môn, nghiệp vụmức độ thấp, khó khăn trong việc giảng dạy học đủ 9 môn Đặc biệt là dạy theochương trình, SGK mới và theo cách dạy đổi mới phương pháp như hiện nay
2.3 Về trình độ chuyên môn đào tạo:
Trang 10Trường Tiểu học Minh Tân hiện nay có đội ngũ cayanr là 100% Tuy nhiên, trình
độ đào tạo tồn tại nhiều hệ, đa dạng: THHC ( 10+2),( 12+2), Cao đẳng tiểu học,Đại học sư phạm khoa Tiểu học( hệ chính quy, hệ tại chức và từ xa) So với mụctiêu phấn đấu chuẩn đội ngũ của bậc học đối với khu vực của huyện là tốt Tuynhiên so với mục tiêu phấn đấu chuẩn đội ngũ của bậc học đến năm 2010 đối vớikhu vực trung tâm của huyện thì còn ở mức độ thấp, chưa đáp ứng được mục tiêuđơn vị chất lượng cao của bậc học
Hiện tại:+ GV có trình độ ( 10+2) và ( 12+2) là: 13/42=30,9%
+ GV đã tốt nghiệp cao đẳng và đại học là 25/42= 59,5%
Như vậy so với năm học ( 2001-2002) thì năm học ( 2005-2006) số GV có trình độtrên chuẩn tăng nhanh từ 5 lên 25 đồng chí( không kể Gv đang đi học) Số GV nàyđược nhà trường và ngành tạo điều kiện đào tạo nâng trên chuẩn tại trường Caođẳng sư phạm và TT giáo dục thường xuyên tỉnh Hải Dương, sau khi tốt nghiệp đãthực sự gpó phần tạo nên sự chuyển biến tích cực về chất lượng chuyên môn
Trang 11nghiệp vụ dạy học, giáo dục của nhà trường, có đồng chí đạt bằng giỏi của lớp học
GV giỏi tỉnh
Xếp loại chuyên môn nghiệp vụ
Số GV cần bồi dưỡng các mặt
thức P.Pháp
N.Vụ SP
Qua điều tra thống kê cho thấy số GV xếp loại chuyên môn yếu không có, số
GV có loại chuyên môn TB ( đạt yêu cầu ) thực chất là chuyên môn nghiệp vụkhông đáp ứng yêu cầu ở trương trung tâm chất lượng cao, có số lượng giảm dần,
số GV này đã có thời gian công tác trong ngành nhiều năm được đào tạo TH hoànchỉnh gốc là 7 + 1, 7 + 2 Số GV này được bồi dưỡng nhiều song chuyển biến cònchậm, chưa khắc phục dứt điểm những thiếu sót về kiến thức cơ bản và cập nhậtphương pháp dạy theo hướng đổi mới lấy HS làm trung tâm
Qua nghiên cứu tìm hiểu cho thấy do các nguyên nhân là:
- Kiến thức khoa học cơ bản ( trình độ phổ thông ) của một số GV tuyển vàohọc sư phạm còn yếu Do vậy trình độ nhận thức trong học tập, bồi dưỡng chuyểnbiến còn chậm, khả năng rèn luyện tay nghề còn yếu
Trang 12- Mặt bằng đào tạo ban đầu còn thấp, thường là những GV có gốc 7 + 1, 7 +
2, bồi dưỡng tại chức TH hoàn chỉnh do đào tạo quá lâu, kiến thức mai một dần,việc bồi dưỡng, tự học trước đây coi trọng chưa đúng mức, việc tích luỹ kiến thức,kinh nghiệm và cập nhật tri thức không thường xuyên, không được bổ sung kịpthời Mặt khác do chưa có sự chỉ đạo chặt chẽ về công tác bồi dưỡng nên phongtrào tự học, tự bỗi dưỡng của GV rất hạn chế Đời sống GV gặp nhiều khó khănnên chưa tập trung, chưa đầu tư đúng mức cho chuyên môn, cho việc tự học, tự rènluyện nghề
- Muốn nâng cao chất lương GD một cách toàn diện cần phải quán triệt chútrọng đẩy mạnh công tác bồi dưỡng GV Chỉ có thể bằng công tác bồi dưỡng độingũ thường xuyên, liên tục với những chương trình nội dung kiến thức, phươngpháp cụ thể mới giải quyết được những tồn tại nêu trên của đội ngũ GV Thực hiệnnâng cao chất lượng GD, thực tế không có một giờ dạy tốt nếu như GV đó chưađược trang bị đầy đủ kiến thức, kĩ năng sư phạm cần thiết đối với môn học, tiếtdạy muốn làm tốt, nhà trường phải thường xuyên phân loại GV thông qua kiểm trathường xuyên, kiểm tra chuyên đề và đặc biệt là kiểm tra đột xuất có sự đánh giáxếp loại chính xác về đội ngũ, phân tích thấy được những mặt mạnh, mặt yếu để có
kế hoạch bồi dưỡng, sắp xếp gaio nhiệm vụ công tác thích hợp để tạo điều kiệnđồng thời giúp cho GV nhận thức đúng về trình độ, khả năng của bản thân để cóhướng phấn đấu học tập, bồi dưỡng tự hoàn thiện
3 Thực trạng về công tác bồi dưỡng giáo viên:
3.1.Tình hình chung về công tác bồi dưỡng GV ở Trường tiểu học Minh Tân
Chương trình bồi dưỡng thường xuyên chu kì 1997 2000 và chu kì 2003
-2007 Do Bộ GD - ĐT ban hành được nhà trường quán triệt chỉ đạo thực hiện tốt.Đội ngũ GV hưởng ứng tích cực tự giác 100% cán bộ GV tham gia với chất lượngđạt các chứng chỉ khá và tốt cao Không có GV không đạt yêu cầu
Thông qua chương trình bồi dưỡng thường xuyên, đã giúp cho GV cập nhậtkiến thức mới cùng phương pháp dạy mới thông qua các chuyên đề bộ môn, hộithảo khoa học thực hiện đa dạng các hình thức bồi dưỡng tập trung giải quyết vấn
đề trình độ- nghiệp vụ cho GV trong trường
Biểu mẫu số 6
Kết quả đạt được sau chu kì bồi dưỡng 1997 - 2000
Tổng số Tổng số Kết quả đạt loại khá - giỏi Không đạt