Nguyễn Hải Tuất 1991 nghiên cứu một số đặc trưng chủ yếu về sinh thái của các quần thể thực vật tại vùng núi cao Ba Vì đã chia ra 3 kiểu rừng cơ bản: rừng hỗn giao ẩm á nhiệt đới, rừng k
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ LÊ NGA
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT THÂN GỖ,
ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN TẠI TIỂU KHU 14 VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG
HUYỆN NHO QUAN - TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ LÊ NGA
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT THÂN GỖ,
ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN TẠI TIỂU KHU 14 VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG
HUYỆN NHO QUAN - TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐINH THỊ PHƯỢNG
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Sinh thái học tại khoa Sinh - KTNN Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, ủng hộ của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Đinh Thị Phượng đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn Ban quản lý vườn quốc gia Cúc Phương - tỉnh Ninh Bình đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian tôi thực hiện đề tài trên địa bàn xã
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban Giám hiệu, các thầy cô trong Ban chủ nhiệm Khoa, các thầy cô thuộc Khoa Sinh - KTNN, Phòng quản lý và Đào tạo sau đại học - Trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu trường CĐSP Hà Nam, gia đình và bạn bè
đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành tốt luận văn của mình
Trong quá trình thực hiện luận văn do còn hạn chế về thời gian cũng như trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, cùng bạn bè, đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Lê Nga
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ này là hoàn toàn trung thực, tuyệt đối không sao chép của bất kì ai ở bất kì tài liệu nào và không trùng với bất kì tài liệu nào khác
Ý kiến của cán bộ hướng dẫn Tác giả
Nguyễn Thị Lê Nga
Trang 51.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu 4
1.3.1 Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới 8 1.3.2 Những nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam 9 1.4 Những nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống 9
1.4.2 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống 13 1.5 Nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng 17 1.5.1 Tổng quan về sách đỏ thế giới và sách đỏ Việt Nam 17 1.5.2 Một số công trình nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có
1.6 Những nghiên cứu về bảo tồn thực vật trên thế giới và Việt Nam 19
Trang 61.6.1 Những nghiên cứu về bảo tồn thực vật trên thế giới 19 1.6.2 Những nghiên cứu về bảo tồn thực vật ở Việt Nam 20
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.5.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 24
Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 25
Trang 73.3 Nhận xét và đánh giá chung 34
4.1 Đặc điểm chung của thảm thực vật và sự đa dạng các kiểu thảm thực
4.4 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn đa dạng thực vật ở vườn quốc gia Cúc
4.4.1 Nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư về bảo vệ ĐDSH 62 4.4.2 Phát triển kinh tế, nâng cao thu thập cho cộng đồng 63
4.4.3 Tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng 63
4.4.4 Tăng cường chương trình nghiên cứu khoa học phục vụ bảo tồn 64
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
WWF Quỹ bảo vệ thiên nhiên Quốc tế
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng đánh giá số loài thực vật được mô tả trên thế giới
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu khí hậu cơ bản khu vực VQG Cúc Phương năm 2013 Bảng 3.2 Số lượng taxon trong các ngành thực vật bậc cao ở VQG Cúc Phương Bảng 3.3 Mười họ có số loài lớn nhất VQG Cúc Phương
Bảng 4.1 Danh lục các loài thực vật thân gỗ ở KVNC
Bảng 4.2 Các taxon của thực vật thân gỗ tại tiểu khu 14 VQG Cúc Phương
Bảng 4.3 Các chỉ số đa dạng của thực vật thân gỗ tiểu khu 14 VQG Cúc Phương Bảng 4.4 Các họ giàu loài tại tiểu khu 14 VQG Cúc Phương
Bảng 4.5 Các chi đa dạng nhất hệ thực vật thân gỗ tiểu khu 14 VQG Cúc Phương Bảng 4.6 Thành phần dạng sống của HTV thân gỗ tiểu khu 14 VQG Cúc Phương Bảng 4.7 Phân loại giá trị sử dụng của thực vật ở tiểu khu 14 VQG Cúc Phương Bảng 4.8 Các loài thực vật thân gỗ quý hiếm ở KVNC
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí ODB trong OTC
Hình 3.1 Bản đồ vị trí vườn Quốc gia Cúc Phương
Hình 3.2 Địa hình vườn Quốc gia Cúc Phương
Hình 3.3 Biểu đồ khí hậu Goussen - Walter khu vực Cúc Phương Hình 4.1 Biểu đồ phân bố các bậc taxon trong các ngành ở KVNC Hình 4.2 Biểu đồ dạng sống của thực vật thân gỗ ở KVNC
Hình 4.3 Biểu đồ phân loại thực vật theo giá trị sử dụng
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới có hệ sinh thái rừng vô cùng phong phú và đa dạng Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng: tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo chu chuyển ôxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của thiên tai, bảo tồn nguồn nước mặt, nước ngầm và làm giảm mức ô nhiễm không khí và nước Tuy nhiên, cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng suy giảm trầm trọng các hệ sinh thái giàu đa dạng sinh học, đặc biệt là các khu rừng nhiệt đới - nơi tập trung nhiều loài động - thực vật quý hiếm và đặc hữu Theo thống kê, hiện nước ta có khoảng 13 triệu hecta rừng, trong đó 2/3 diện tích rừng tự nhiên được coi là rừng nghèo và tái sinh, diện tích các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng liên tục bị thu hẹp, số lượng cá thể của các loài hoang dã đang bị suy giảm mạnh, nguồn gen hoang dã và nhiều loài đang có nguy cơ tuyệt chủng Mất rừng là nguyên nhân gây ra thiên tai, hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh và đói nghèo
Nhận thức rõ tầm quan trọng của thảm thực vật rừng đối với sự phát triển nền kinh tế, an toàn cho hệ thống sinh thái môi trường toàn cầu, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chương trình, dự án khôi phục và phát triển lại rừng, như chương trình 327, dự
án 661 với 5 triệu ha rừng Chính nhờ vậy độ che phủ rừng của nước ta đã tăng lên
rõ rệt, tính đến năm 2009 tỷ lệ che phủ rừng đạt trên 39%, nhưng chủ yếu vẫn là rừng non, rừng nghèo kiệt, rừng phục hồi, vì vậy chất lượng rừng còn rất thấp
Đứng trước những hiểm họa do việc mất rừng gây ra, những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã thay đổi, bổ sung nhiều chính sách nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên vô cùng quý giá này Việc bảo vệ đa dạng sinh học, duy trì tính toàn vẹn của
hệ sinh thái chính là giúp con người giảm nhẹ được những tác động của thiên tai và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu
Trang 12Năm 1960, rừng Cúc Phương được công nhận là khu bảo tồn rừng và theo Quyết định 72/TTg ngày 7 tháng 7 năm 1962 Cúc Phương được quyết định thành lập như là một khu rừng cấm với diện tích 20.000 ha đánh dấu sự ra đời khu bảo vệ đầu tiên của Việt Nam Quyết định số 18/QĐ-LN ngày 8 tháng 01 năm 1966 chuyển hạng lâm trường Cúc Phương thành Vườn quốc gia Cúc Phương và thành lập Ban quản lý vườn quốc gia Quyết định số 333/QĐ-LN ngày 23 tháng 5 năm 1966 quy định chức năng và trách nhiệm của Ban quản lý
Vườn Quốc gia Cúc Phương (tỉnh Ninh Bình) được thành lập với mục đích gìn giữ, bảo tồn, phát triển nguồn tài nguyên thực vật và bảo vệ môi trường sinh thái Vườn Quốc gia Cúc Phương hiện nay được coi là lá phổi xanh của tỉnh, nhưng nguồn tài nguyên thực vật cũng đang đứng trước nguy cơ bị suy giảm nghiêm trọng nếu không có những biện pháp bảo tồn kịp thời Vì vậy, việc nghiên cứu tính đa dạng của hệ thực vật và thảm thực vật là rất cần thiết Chính vì những lý do trên
chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “ Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ
và đề xuất các biện pháp bảo tồn, phát triển tại tiểu khu 14 vườn Quốc gia Cúc Phương huyện Nho Quan - tỉnh Ninh Bình
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Xác định tính đa dạng của hệ thực vật và thảm thực vật thân gỗ ở khu vực nghiên cứu
- Đề xuất các biện pháp cụ thể để bảo tồn đa dạng thực vật thân gỗ ở khu vực nghiên cứu
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 134 Đóng góp mới của luận văn
- Bước đầu đã xác định được thành phần loài, dạng sống và cấu trúc thực vật thân gỗ tại tiểu khu 14 vườn Quốc gia Cúc Phương huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình
- Xác định được một số loài thực vật thân gỗ có nguy cơ bị tuyệt chủng theo Sách đỏ Việt Nam (2007)
- Đề xuất một số biện pháp để bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật tại địa phương
Trang 14Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu:
Trong đề tài chúng tôi có sử dụng một số khái niệm có liên quan đến nội dung nghiên cứu:
1.1.1 Đa dạng sinh học: Theo công ước đa dạng sinh học thì “ Đa dạng sinh học ”
(Biodiversity, biological diversity) có nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: Các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thuỷ vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái các sinh vật là một phần…, thuật ngữ này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái [7]
1.1.2 Đa dạng loài: Là số lượng và sự đa dạng của các loài được tìm thấy tại một
khu vực nhất định tại một vùng nào đó Đa dạng loài là tất cả sự khác biệt trong một hay nhiều quần thể của một loài cũng như đối với các quần thể khác nhau Theo Lê Trọng Cúc, đa dạng sinh học được sử dụng đồng nghĩa với đa dạng loài, vì nghiên cứu đa dạng sinh học chủ yếu đề cập đến số lượng các loài [19]
1.1.3 Thảm thực vật: Trần Đình Lý (1998) [40] cho rằng thảm thực vật là toàn bộ
thảm thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thực vật trên bề mặt trái đất Theo khái niệm này thảm thực vật mới chỉ là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đặc trưng hay phạm vi không gian của một đối tượng cụ thể Nó chỉ có nội hàm cụ thể khi có tính ngữ theo như “ Thảm thực vật Cúc Phương ”
1.1.4 Hệ sinh thái: Đa dạng hệ sinh thái thể hiện bằng sự khác nhau của các kiểu
quần xã sinh vật tạo nên Các cơ thể sinh vật và các điều kiện sống (đất, nước, khí hậu, địa hình…) nằm trong mối quan hệ tương hỗ tác động lẫn nhau tạo thành các hệ sinh thái và các nơi ở [47]
1.1.5 Quần xã sinh vật: Là môt tập hợp các quần thể sinh vật thuộc các loài khác
nhau được hình thành trong một quá trình lịch sử, vùng sống trong một khoảng không gian xác định gọi là sinh cảnh Nhờ các mối liên hệ sinh thái tương hỗ mà gắn
bó với nhau như một thể thống nhất [28]
Trang 151.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới
Dop P và Gaussen H (1931), với công trình nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương với lượng mưa hàng năm (dẫn theo Thái Văn Trừng [55]) H.G Champion (1936), khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - Miến Điện đã chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ là: nhiệt đới, á nhiệt, ôn đới và núi cao [59] J Beard (1938), đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần hệ và loạt quần hệ) Ông cho rằng, rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt quần hệ rừng xanh từng mùa, loạt quần hệ khô thường xanh, loạt quần hệ miền núi, loạt quần hệ ngập từng mùa và loạt quần hệ ngập quanh năm (dẫn theo Hoàng Thị Thanh Thủy [50]) Maurand (1943) nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm thực vật Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và Trung Đông Dương Đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó [63]
1.2.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với khu hệ thực vật khá đa dạng, đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thảm thực vật ở nước
ta
Chevalier (1918) là người đầu tiên đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật rừng Bắc Bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới Châu Á đầu tiên trên thế giới) Theo kiểu phân loại này rừng ở miền Bắc Việt Nam được chia thành 10 kiểu [59]
Năm 1953 ở miền Nam Việt Nam xuất hiện bảng phân loại thảm thực vật rừng miền Nam của Maurand khi ông tổng kết các công trình nghiên cứu các quần thể rừng thưa của Rollet, Lý Văn Hội, Neang Sam Oil
Bảng phân loại đầu tiên của ngành Lâm nghiệp Việt Nam về thảm thực vật rừng ở Việt Nam là bảng phân loại của Cục điều tra và quy hoạch rừng (1960) [8] Theo bảng phân loại này rừng trên toàn lãnh thổ Việt Nam được chia làm 4 loại hình lớn:
- Loại I: đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại này cần phải trồng rừng
- Loại II: gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc tỉa thưa
Trang 16- Loại III: gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh trở nên nghèo kiệt tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, nhưng cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ, cải tạo
- Loại IV: gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa bị phá hoại, cần khai thác hợp lí
Thomasius (1965) đưa ra bảng phân loại các kiểu lập quần vùng Quảng Ninh dựa trên các điều kiện địa hình, đất đai, đá mẹ, khí hậu và các loài cây ưu thế
Phan Nguyên Hồng (1970), phân chia thảm thực vật ven bờ biển miền Bắc Việt Nam thành rừng ngập mặn, rừng gốc ven biển và thực vật bãi cát trống [26]
Trần Ngũ Phương (1970) đưa ra bảng phân loại rừng ở miền Bắc Việt Nam
và chia thành 3 đai lớn theo độ cao: đai rừng nhiệt đới mưa mùa, đai rừng á nhiệt đới mưa mùa, đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao [44]
Thái Văn Trừng (1978) đã đưa ra 5 kiểu quần lạc lớn: quần lạc thân gỗ kín tán, quần lạc thân gỗ thưa, quần lạc thân cỏ kín rậm, quần lạc thân cỏ thưa và những kiểu hoang mạc [55]
Phan Kế Lộc (1985) dựa trên bảng phân loại của UNESCO (1973) đã xây dựng thang phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 5 lớp quần hệ, 15 dưới lớp,
32 nhóm quần hệ và 77 quần hệ khác nhau [34]
Nguyễn Hải Tuất (1991) nghiên cứu một số đặc trưng chủ yếu về sinh thái của các quần thể thực vật tại vùng núi cao Ba Vì đã chia ra 3 kiểu rừng cơ bản: rừng hỗn giao ẩm á nhiệt đới, rừng kín hỗn giao ẩm á nhiệt đới núi cao, rừng kín hỗn giao cây hạt kín và hạt trần [54]
Vũ Tự Lập và cộng sự (1995) [33] cho rằng khí hậu ảnh hưởng đến sự hình thành và phân bố các kiểu thực bì thông qua nhiệt độ và độ ẩm Dựa vào mối quan
hệ giữa hình thái thực bì và khí hậu chia ra 15 kiểu thực bì khác nhau: kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa rụng lá; kiểu rừng rậm nhiệt đới ẩm thường xanh; kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa nửa rụng lá; kiểu rừng thưa nhiệt đới khô lá kim; kiểu sa van nhiệt đới khô; kiểu truông nhiệt đới khô; kiểu rừng nhiệt đới trên đất đá vôi; kiểu rừng nhiệt đới trên đất mặn; kiểu rừng nhiệt đới trên đất phèn; kiểu rừng rậm á nhiệt đới
ẩm lá rộng thường xanh; kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm hỗn giao; kiểu rừng thưa á
Trang 17nhiệt đới hơi ẩm; kiểu rừng rêu á nhiệt đới mưa mùa; kiểu rừng lùn đỉnh cao
Thái Văn Trừng (1998) khi nghiên cứu hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam
đã kết hợp 2 hệ thống phân loại (hệ thống phân loại lấy đặc điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thảm thực vật dựa trên yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn) để phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 5 kiểu thảm với 14 kiểu quần hệ [56] Bảng phân loại này của ông từ bậc quần hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973)
Nguyễn Thế Hưng (2003), khi nghiên cứu thảm cây bụi ở huyện Hoành Bồ, thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh cũng dựa trên nguyên tắc phân loại theo UNESCO (1973) đã xây dựng được 4 trạng thái thảm cây bụi khác nhau: thảm cây bụi cao sau khai thác, thảm cây bụi cao sau nương rẫy, thảm cây bụi thấp sau khai thác và thảm cây bụi thấp sau nương rẫy Ngoài ra còn một số kiểu thảm khác như: rừng phục hồi sau khai thác, rừng thứ sinh, rừng non phục hồi sau nương rẫy [30]
Lê Ngọc Công (2004) cũng dựa theo khung phân loại của UNESCO (1973)
đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành 4 lớp quần hệ: rừng rậm, rừng thưa, thảm cây bụi và trảng cỏ [15]
Ngô Tiến Dũng (2004) [21] dựa theo phương pháp phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973) đã phân chia thảm thực vật vườn Quốc gia Yok Don thành: kiểu rừng kín thường xanh, kiểu rừng thưa nửa rụng lá và kiểu rừng thưa cây lá rộng rụng lá gồm 6 quần xã khác nhau
Ma Thị Ngọc Mai (2007), nghiên cứu quá trình diễn thế đi lên của thảm thực vật ở trạm Đa dạng sinh học Mê Linh (Vĩnh Phúc) và vùng phụ cận đã kết luận: từ
độ cao 700m trở xuống, thảm thực vật bị suy thoái nghiêm trọng Rừng nguyên sinh
đã bị phá hủy hoàn toàn, thay thế vào đó là thảm thực vật thứ sinh đang trong quá trình diễn thế đi lên Theo khung phân loại UNESCO (1973), thảm thực vật tại trạm
Đa dạng sinh học Mê Linh – Vĩnh Phúc và vùng phụ cận có 4 lớp quần hệ: lớp quần
hệ rừng kín, lớp quần hệ rừng thưa, lớp quần hệ cây bụi và lớp quần hệ cỏ Thảm thực vật tại đây đang trong quá trình diễn thế đi lên, quá trình diễn thế qua 4 giai đoạn: thảm cỏ → thảm cây bụi → rừng thứ sinh → rừng thành thục [41]
Trang 181.3 Những nghiên cứu về hệ thực vật
1.3.1 Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới
Hiện nay, số lượng những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới là rất lớn,
do chưa có sự nghiên cứu và điều tra đầy đủ nên các tác giả mới đưa ra những con số
dự đoán và số lượng các loài thực vật được dự đoán của các tác giả cũng có những biến động Năm 1962, G.N.Slucop đã đưa ra số lượng các loài thực vật hạt kín phân
bố ở các Châu lục như sau [63]
- Châu Á có khoảng 125.000 loài, trong đó: Đông Nam Á (80.000 loài); các khu vực nhiệt đới Ấn Độ (26.000 loài); Tiểu Á (8.000 loài); Viễn Đông thuộc Liên bang Nga, Triều Tiên, Đông Bắc Trung Quốc (6.000 loài); Xibêria thuộc Liên bang Nga, Mông Cổ và Trung Á (5.000 loài)
- Châu Âu có khoảng 15.000 loài, trong đó: Trung và Bắc Âu (5.000 loài); Nam Âu, vùng Ban căng và Capcasơ (10.000 loài)
- Châu Mỹ có khoảng 97.000 loài, trong đó: Hoa Kỳ và Canada (25.000 loài), Mêhicô và Trung Mỹ (17.000 loài), Nam Mỹ (56.000 loài), Đất lửa và Nam Cực (1.000 loài)
- Châu Phi có khoảng 40.500 loài, trong đó: các vùng nhiệt đới ẩm (15.500 loài); Madagasca (7000 loài); Nam Phi (6.500 loài); Bắc Phi, Angieri, Marốc và các vùng phụ cận khác (4.500 loài); Abitxini (4.000 loài); Tuynidi và Aicập (2.000 loài); Xomali và Eritrea (1.000 loài)
- Châu Úc có khoảng 21.000 loài, trong đó: Đông Bắc Úc (6.000 loài); Tây Nam Úc (5.500 loài); Lục địa Úc (5.000 loài); Taxman và Tây Tây Lan (4.500 loài) (dẫn theo Lê Trọng Cúc [19]) Lecointre và Guyader (2001) [28] đã đưa ra bảng đánh giá số loài thực vật bậc cao được mô tả trên toàn thế giới như sau:
Bảng 1.1 Bảng đánh giá số loài thực vật được mô tả trên toàn thế giới Bậc phân loại Tên thường gọi Số loài miêu
Trang 191.3.2 Những nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam
Ở nước ta, trong thực vật chí đại cương Đông Dương và các tập bổ sung tiếp theo đã mô tả và ghi nhận có khoảng 240 họ với khoảng 7.000 loài thực vật bậc cao
có mạch [62] Những năm gần đây, nhiều nhà thực vật dự đoán con số đó có thể lên tới 10.000 đến 12.000 loài
Trên cơ sở những thông tin mới nhất và những căn cứ chắc chắn, Nguyễn Tiến Bân (1997) [4] đã giới thiệu khái quát những đặc điểm cơ bản của 265 họ và khoảng 2.300 chi thuộc ngành hạt kín ở nước ta
Phan Kế Lộc (1978) đã kiểm kê và ghi nhận đến nay trong hệ thực vật Việt Nam đã biết được 9.653 loài thực vật bậc cao có mạch mọc tự nhiên, thuộc 2.011 chi
và 291 họ Nếu kể cả khoảng 733 loài cây trồng đã được nhập nội thì tổng số loài thực vật bậc cao có mạch biết được ở Việt Nam đã lên tới 10.386 loài, thuộc 2.257 chi và 305 họ, chiếm khoảng 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số họ của toàn thế giới Cũng do điều kiện khí hậu và địa hình đa dạng, đặc thù nên hệ thực vật nước ta có thành phần loài khá phong phú mang cả yếu tố của thực vật nhiệt đới ẩm Indonesia - Malaisia, yếu tố của thực vật nhiệt đới gió mùa, thực vật ôn đới nam Trung Hoa và các yếu tố của thực vật Ấn Độ - Trung và Nam Tiểu Á [35]
Nhìn chung, những nghiên cứu về thảm thực vật của các tác giả hầu hết chỉ tập trung nghiên cứu ở một vùng cụ thể và phần lớn các tác giả đều dựa vào khung phân loại của UNESCO (1973) trong nghiên cứu của mình Trong những nghiên cứu
về hệ thực vật trên thế giới và ở Việt Nam: hầu hết các tác giả đều mới chỉ đưa ra con số dự đoán về hệ thực vật ở một châu lục, một quốc gia, hoặc một khu vực cụ thể Những số liệu này chưa được nghiên cứu và điều tra đầy đủ Vì vậy, số loài thực vật hiện có chắc chắn còn dao động và cao hơn nhiều
1.4 Những nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống
1.4.1 Những nghiên cứu về thành phần loài
Những nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nghiên cứu được tiến hành từ lâu trên thế giới Ở Liên Xô (cũ) có nhiều công tŕnh nghiên cứu của Vưsotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicốp (1933), Creepva (1978)…Nói chung, theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm
Trang 20thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác biểu thị bởi thành phần loài, dạng sống, cấu trúc và động thái của nó Vì vậy, việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là chỉ tiêu quan trọng trong phân loại loại hình thảm thực vật [43]
Ramakrishman (1981 - 1992) nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy ở vùng Tây bắc Ấn Độ đã khẳng định: chỉ số đa dạng loài rất thấp, chỉ số loài ưu thế đạt cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá
Longchun và cộng sự (1993) nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã nhận xét: Khi nương rẫy
bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài Bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ, 134 chi
và 167 loài [51]
Ở Việt Nam, Phan Kế Lộc (1978) [35] đã xác định hệ thực vật miền Bắc Việt Nam có 5.609 loài 1.660 chi và 240 họ
Nguyễn Đăng Khôi (1971) đã bổ sung thêm 26 loài không được F Gagnepain ghi nhận
ở miền Bắc Việt Nam trong “Thực vật chí đại cương Đông Dương” [62]
Thái Văn Trừng (1978) [55] thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi, 289 họ
Phan Kế Lộc (1978) [35] điều tra phát hiện 20 loài cây có tannin thuộc họ Trinh nữ (Mimosaceae) và giới thiệu 4 loài khác mọc ở Việt Nam có tannin
Trong công trình tổng kết các kết quả nghiên cứu đồng cỏ Bắc Việt Nam, Dương Hữu Thời (1981) đã công bố thành phần loài thuộc 5 vùng Bắc Việt Nam gồm
213 loài [38]
Hoàng Chung (1980) [16] khi nghiên cứu đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam
đã công bố thành phần loài thu được gồm 233 loài thuộc 54 họ và 44 bộ
Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1983) khi nghiên cứu hệ thực vật Tây Nguyên
đã thống kê được 3.210 loài chiếm gần 1/2 số loài đã biết của toàn Đông Dương [3]
Phan Nguyên Hồng (1991) [27] lập danh mục cùng với một số chỉ tiêu khác (dạng sống, môi trường, khu phân bố) của 75 loài thuộc 2 nhóm loài cây ngập mặn điển hình và cây gia nhập vào rừng ngập mặn
Lê Mộng Chân (1994) [10] điều tra tổ thành vùng núi cao VQG Ba Vì đã phát
Trang 21hiện được 483 loài thuộc 323 chi, 136 họ thực vật bậc cao có mạch trong đó gặp 7 loài được mô tả đầu tiên
Trần Đình Đại (2001) [25] căn cứ vào kết quả điều tra thực địa, mẫu vật lưu giữ tại các phòng tiêu bản đã thống kê danh lục các loài thực vật tại vùng Tây bắc bộ (Lai Châu, Lào Cai, Sơn La) gồm 226 họ, 1.050 chi và 3.074 loài thuộc 6 ngành thực vật bậc cao có mạch
Đỗ Tất Lợi (1995) khi nghiên cứu các loài cây thuốc đã công bố 798 loài thuộc
164 họ có ở hầu hết các tỉnh nước ta [37]
Lê Ngọc Công và Hoàng Chung (1995) [13] nghiên cứu thành phần loài, dạng sống của sa van bụi và đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được 123 loài thuộc 47 họ khác nhau
Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995) [29] khi nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái, sinh vật học của sa van Quảng Ninh và các mô hình sử dụng đã phát hiện được 60 họ thực vật khác nhau với 131 loài
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [47] đã thống kê thành phần loài của Vườn quốc gia Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 cây có ích thuộc 478 chi, 213 họ thuộc 3 ngành: Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín Các loài này được xếp thành 8 nhóm có giá trị khác nhau Năm 1998, khi nghiên cứu về họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) ở Việt Nam, ông thu được 156 loài trong tổng số 425 loài của họ Thầu dầu ở Việt Nam chia làm 7 nhóm theo cách sử dụng
Lê Ngọc Công 1998 [14], khi nghiên cứu tác dụng cải tạo môi trường của một số mô hình rừng trồng ở một số tỉnh miền núi đã công bố thành phần loài gồm
211 loài thuộc 64 họ
Thái Văn Trừng (1998) [56] khi nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam đã có nhận xét về tổ thành loài thực vật của tầng cây bụi như sau: trong các trạng thái thảm thực vật khác nhau của rừng nhiệt đới Việt Nam, tổ thành loài của tầng cây bụi chủ yếu có sự đóng góp của các chi Psychotria, Prismatomeris, Pavetta (họ Cà phê - Rubiaceae); chi Tabermontana (họ Trúc đào - Apocynaceae); chi Ardisia, Maesa (họ Đơn nem - Myrsinaceae)
Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) [48] khi tổng kết các công trình nghiên cứu về
Trang 22khu hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 1.373 loài thực vật bậc cao thuộc 2.524 chi, 378 họ
Lê Trọng Cúc, Phạm Hồng Ban (2000) nghiên cứu sự biến động thành phần loài thực vật sau nương rẫy ở huyện Con Cuông, Nghệ An nhận xét rằng: do ảnh hưởng của canh tác nương rẫy nên thành phần loài và số lượng cây gỗ trên một đơn
vị diện tích có xu hướng giảm dần, đơn giản hoá để tái ổn định [18]
Lê Đồng Tấn (2000) khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng tự nhiên sau nương rẫy ở Sơn La đã kết luận: mật độ cây giảm khi độ dốc tăng, mật độ cây giảm
từ chân lên đỉnh đồi, mức độ thoái hoá đất ảnh hưởng đến mật độ, số lượng loài cây
và tổ thành loài cây Kết quả cho thấy ở tuổi 4 có 41 loài; tuổi 10 có 56 loài; tuổi 14
có 53 loài [46]
Đặng Kim Vui (2002) nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã kết luận: giai đoạn phục hồi 1 - 2 tuổi, thành phần loài thực vật là
72 loài thuộc 36 họ, trong đó họ Hoà thảo có số lượng lớn nhất là 10 loài, tiếp đến
là họ Thầu dầu (6 loài)…; giai đoạn 3 - 5 tuổi có 65 loài thuộc 34 họ; giai đoạn 5 -
10 tuổi có 56 loài thuộc 36 họ; giai đoạn 11- 15 tuổi có 57 loài thuộc 31 họ [58]
Nguyễn Thế Hưng (2003) đã thống kê trong các trạng thái thảm thực vật nghiên cứu ở huyện Hoành Bồ, thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh) có 324 loài thuộc 251 chi và 93 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch [30]
Nguyễn Ngọc Thường (2003) khi nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh tự nhiên sau nương rẫy ở Bắc Kạn kết luận: quá trình phục hồi sau nương rẫy chịu tác động tổng hợp của các nhóm nhân tố sinh thái như nguồn giống, địa hình, thoái hoá đất, con người Mật độ cây giảm dần theo thời gian phục hồi của thảm thực vật cây
gỗ, trên đất tốt nhiều nhất 11 - 25 loài, trên đất xấu 8- 12 loài [53]
Nguyễn Nghĩa Thìn (2004) khi tổng kết các công trình nghiên cứu về khu hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 10.373 loài thực vật bậc cao thuộc 2.524 chi, 378 họ [49]
Lê Ngọc Công (2004) nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống kê các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ, 468 chi, 654 loài
Trang 23chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây gỗ quý như: Lim, Dẻ, Trai, Nghiến…[15]
Vũ Thị Liên (2005) khi nghiên cứu một số kiểu thảm thực vật ở Sơn La đã thu được 452 loài thuộc 326 chi, 153 họ [39]
Thái Văn Thụy, Nguyễn Phúc Nguyên (2005) nghiên cứu về thảm thực vật Vườn quốc gia Ba Vì đã xác định ở đây có 11 kiểu quần xã thực vật khác nhau Trong quần xã cây bụi thứ sinh thường xanh, lá rộng thành phần chủ yếu là cây gỗ dạng bụi cao từ 2 - 5m [52]
1.4.2 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống
Dạng sống của thực vật là sự biểu hiện về hình thái cấu trúc cơ thể thực vật thích nghi với điều kiện môi trường của nó, nên đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ rất sớm
I K Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: thực vật thường xanh; thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trên mặt đất trong thời kỳ bất lợi; thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển ngắn; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển lâu năm G
N Vưxôxki (1915) chia thực vật thảo nguyên làm 2 lớp: lớp nhiều năm và lớp cây hàng năm [43]
Braun - Blanquet (1951) đánh giá cách mọc của thực vật dựa vào tính liên tục hay đơn độc của loài đã chia thành 5 thang: mọc lẻ; mọc thành vạt; mọc thành dải nhỏ; mọc thành vạt lớn và mọc thành khóm lớn [ dẫn theo Giáp Thị Hồng Anh [1]
Raunkiaer (1934) để sắp xếp các loài của hệ thực vật nghiên cứu vào một trong các dạng sống đó Cơ sở phân chia dạng sống của ông là sự khác nhau về khả năng thích nghi của thực vật qua thời gian bất lợi trong năm Từ tổ hợp các dấu hiệu thích nghi, Raunkiaer chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm [65]
Raunkiaer đã chia 5 nhóm dạng sống cơ bản:
1 Phanerophytes (Ph): nhóm cây có chồi trên mặt đất
2 Chamaetophytes (Ch): nhóm cây có chồi sát mặt đất
3 Hemicryptophytes (He): nhóm cây có chồi nửa ẩn
Trang 244 Cryptophytes (Cr): nhóm cây có chồi ẩn
5 Therophytes (Th): nhóm cây sống 1 năm
Ông đã xây dựng phổ chuẩn của các dạng sống ở các vùng khác nhau trên trái đất (SB): SB = 46Ph + 9Ch + 26He + 6Cr + 13Th
Hệ thống phân chia dạng sống của Raunkiaer có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo tính khoa học, dễ áp dụng Phân chia dạng sống của Raunkiaer dựa trên những đặc điểm cơ bản của thực vật, nghĩa là dựa trên đặc điểm cấu tạo, phương thức sống của thực vật, đó là kết quả tác động tổng hợp của các yếu tố môi trường tạo nên Thuộc về những đặc điểm này có hình dạng ngoài của thực vật, đặc điểm qua đông, sinh sản…
Xêrêbriacốp (1964) đưa ra bảng phân loại dạng sống mang tính chất sinh thái học hơn của Raunkiaer Trong bảng phân loại này, ngoài những dấu hiệu hình thái sinh thái Xêrêbriacốp sử dụng cả những dấu hiệu như ra quả nhiều lần hay một lần trong cả đời của cá thể bao gồm: ngành, kiểu, lớp và lớp phụ Bảng phân loại này không bao gồm những cây thuỷ sinh Trong bảng phân loại này ông còn chia ra các đơn vị nhỏ hơn là nhóm, nhóm phụ, tổ và các dạng đặc thù
Bảng phân loại dạng sống cây thuộc thảo đã được lập ra lần đầu tiên bởi Canon (1911), sau đó hàng loạt bảng đã được đưa ra Với cây thảo, đặc điểm phần dưới đất đóng vai trò rất quan trọng trong phân chia dạng sống, nó biểu thị mức độ khắc nghiệt khác nhau của môi trường sống, là phần sống lâu năm của cây Vì thế việc sử dụng phần dưới đất để làm tiêu chuẩn phân chia dạng sống sẽ giúp cho ta đánh giá đúng hơn kiểu thảm, những đặc điểm đặc trưng của môi trường [17]
Một số công trình nghiên cứu về dạng sống ở Việt Nam như:
Hoàng Chung (1980) thống kê thành phần dạng sống cho loại hình đồng cỏ Bắc Việt Nam, đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểu đồng cỏ
sa van, thảo nguyên [16]
Thái Văn Trừng (1978) cũng áp dụng nguyên tắc của Raunkiaer khi phân chia dạng sống của hệ thực vật ở Việt Nam [55]
Lê Trần Chấn (1990) khi nghiên cứu hệ thực vật Lâm Sơn tỉnh Hoà Bình cũng phân chia hệ thực vật thành 5 nhóm dạng sống chính theo phương pháp của
Trang 25Raunkiaer Tuy nhiên tác giả đã dùng thêm ký hiệu để chi tiết hoá một số dạng sống (a ký sinh; b bì sinh; c dây leo; d cây chồi trên thân thảo) Tác giả không xếp phương thức sống ký sinh, bì sinh vào dạng sống cơ bản mà chỉ coi đây là những dạng phụ [11]
Hoàng Chung (2008) khi nghiên cứu thực vật trong đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam, đã phân chia 8 kiểu dạng sống chính là: kiểu cây gỗ, kiểu cây bụi, kiểu cây bụi thân bò, kiểu cây bụi nhỏ, kiểu cây bụi nhỏ bò, kiểu nửa bụi, kiểu thực vật có khả năng tạo chồi mới từ rễ, kiểu cây thảo có hệ rễ cái sống lâu năm [17]
Phan Nguyên Hồng (1991) khi nghiên cứu hình thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam đã chia thành 7 dạng sống cơ bản: cây gỗ (G), cây bụi (B), cây thân thảo (T), dây leo (L), cây gỗ thấp hoặc dạng cây bụi (G/B), ký sinh (K), bì sinh (B) [27]
Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Bá Thụ, Nguyễn Nghĩa Thìn (1996) đã xây dựng phổ dạng sống của hệ thực vật Vườn Quốc gia Cúc Phương [32] là:
SB = 57,8Ph + 10,5Ch + 12,4He + 8,3Cr + 11,0Th
Phạm Hồng Ban (2000) [2] nghiên cứu tính đa dạng sinh học của thảm thực vật tái sinh sau nương rẫy vùng Tây Nam Nghệ An, áp dụng khung phân loại của Raunkiaer để phân chia dạng sống đã lập phổ dạng sống là:
SB = 67,40Ph + 7,33Ch + 12,62He + 8,53Cr + 4,09Th
Đặng Kim Vui (2002) nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã phân chia dạng sống thực vật dựa vào hình thái cây: cây gỗ, cây bụi, cây leo và cây cỏ, đồng thời ông đã xác định được có
17 kiểu dạng sống, trong đó có 5 kiểu dạng cây bụi (cây bụi; cây bụi thân bò; cây bụi nhỏ; cây bụi nhỏ thân bò; cây nửa bụi) [58]
Nguyễn Thế Hưng (2003) khi nghiên cứu dạng sống thực vật trong các trạng thái thảm thực vật tại Hoành Bồ (Quảng Ninh) đã kết luận: nhóm cây chồi trên đất
có 196 loài chiếm 60,49% tổng số loài của toàn hệ thực vật; nhóm cây chồi sát đất
có 26 loài chiếm 8,02%; nhóm cây chồi nửa ẩn có 43 loài chiếm 13,27%; nhóm cây chồi ẩn có 24 loài chiếm 7,47%; nhóm cây 1 năm có 35 loài chiếm 10,80% [30]
Vũ Thị Liên (2005) [39] phân chia dạng sống thực vật trong thảm thực vật sau
Trang 26nương rẫy ở Sơn La theo thang phân loại của Raunkiaer Kết quả phổ dạng sống như sau:
SB = 69,69Ph + 3,76Ch + 9,29He + 10,84Cr + 6,42Th
Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) [48] khi nghiên cứu đa dạng thực vật bậc cao có mạch vùng núi cao Sa Pa – Phan Si Phăng, đã xây dựng được phổ dạng sống căn cứ vào dạng sống của thân cây như: C các loài cây thân cỏ, Ch-Dl nhóm thân ngầm,…
đã xác định được 7 nhóm loài cây chính trên vùng Sa Pa – Phan Si Phăng mang tính đặc thù điển hình của phổ dạng sống thực vật trên vùng núi cao
Ngô Tiến Dũng (2004) [21] nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở Vườn Quốc gia Yok Don đã lập được phổ dạng sống của thực vật Yok Don là:
Trang 27bất lợi trong năm làm tiêu chuẩn để phân chia các kiểu dạng sống
1.5 Nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng
1.5.1 Tổng quan về Sách đỏ thế giới và Sách đỏ Việt Nam
Xã hội phát triển, dân số gia tăng, nhu cầu khai thác tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên rừng, tài nguyên động - thực vật… phục vụ cho cuộc sống ngày càng nhiều, nhiều diện tích rừng bị mất đi, nhiều loài động - thực vật bị diệt chủng hoặc có nguy
cơ bị diệt chủng, nguồn tài nguyên sinh học bị suy giảm Để nâng cao nhận thức về tính cấp thiết cho việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên sinh học trong cộng đồng, vừa bảo vệ và phát triển nguồn gen quý hiếm song song với việc khai thác hợp
lý phục vụ cho cuộc sống, năm 1964, Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN)
đã cho xuất bản những Bộ sách đỏ, trong đó chỉ ra các loài động - thực vật đang có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới Năm 1994, IUCN đề xuất các thứ hạng và tiêu chuẩn mới cho việc phân hạng các loài động - thực vật bị đe dọa trên thế giới
Sách đỏ Việt Nam được coi là tài liệu có tính chất quốc gia và mang ý nghĩa quốc tế, công bố các loài động vật, thực vật thuộc loại quí hiếm ở nước ta đang bị đe dọa giảm sút số lượng hoặc đã có nguy cơ bị tuyệt chủng cần được bảo vệ, phục hồi
và phát triển [45] Đây là cơ sở khoa học, tạo cơ sở pháp lý cho việc đề xuất, quyết định các biện pháp bảo vệ, phục hồi đối với từng đối tượng thuộc loại này, đồng thời cũng là căn cứ để xử lý các hành vi phá hoại thiên nhiên, gây tác hại cho sự tồn tại, phát triển của các loài sinh vật cần được bảo vệ trong hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên sinh vật ở mỗi nước
1.5.2 Một số công trình nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng ở Việt Nam
Ở nước ta, những nghiên cứu về các loài thực vật quư hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng c̣n rất ít
Năm 1992, 1996 tập thể tác giả thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia - nay thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã xuất bản tuyển tập “Sách đỏ Việt Nam (phần thực vật), cuốn sách này đã cung cấp những căn
cứ để nhận biết các loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng Đây là tài liệu duy nhất công bố một cách đầy đủ các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt
Trang 28Nam
Năm 2007, cuốn sách này được sửa đổi, bổ sung Trong sách này công bố, ở nước ta có 847 loài, thuộc 201 họ quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ [45]
Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lí thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm [6] ban hành ngày 30 tháng 3 năm 2006 đã chia động - thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thành 2 nhóm:
+ Nhóm I: nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường, hoặc có giá trị kinh tế cao, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy
cơ tuyệt chủng cao Thực vật rừng, động vật rừng thuộc nhóm I được phân chia thành: nhóm IA gồm các loài thực vật rừng thuộc 2 ngành là ngành Thông (7 loài)
và ngành Mộc lan (8 loài); nhóm IB gồm các động vật rừng
+ Nhóm II: hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm các loài động - thực vật rừng có giá trị khoa học, môi trường, hoặc có giá trị kinh tế cao, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao Thực vật rừng, động vật rừng thuộc nhóm II cũng được phân chia thành: nhóm IIA gồm các loài thực vật rừng thuộc 2 ngành là: ngành Thông (10 loài) và ngành Mộc lan (27 loài); nhóm IIB bao gồm các động vật rừng [12]
Nguyễn Thị Yến (2003) khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc ở một số kiểu thảm thực vật tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, đã thống kê được 20 loài thực vật quý hiếm, trong đó có 15 loài ở mức sẽ nguy cấp (VU) và 5 loài ở mức độ nguy cấp dựa theo những thứ hạng và tiêu chuẩn của Sách Đỏ Việt Nam (2007) và IUCN [60]
Một trong các công trình nghiên cứu về các loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng là công trình của Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Tây Bắc Bộ (2009) Khi nghiên cứu về hiện trạng hệ thực vật ở Khu bảo tồn Thần Sa - Phượng Hoàng (Võ Nhai - Thái Nguyên) đã thống kê và lập danh mục số loài thực vật quý hiếm ở khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng gồm 44 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam và 22 loài có tên trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP (dẫn theo Hoàng Thị Thanh Thủy [50])
Trang 29Tóm lại, những nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở nước ta còn rất ít Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà số lượng loài thực vật có giá trị đang bị giảm sút, bị đe doạ và có nguy cơ tuyệt chủng Tuỳ từng thời điểm, một loài có thể đang ở cấp này có thể chuyển sang cấp khác (do nhiều nguyên nhân) Vì vậy, cần có nhiều nghiên cứu đầy đủ hơn để đánh giá số loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng ở từng vùng cụ thể và phải đánh giá thường xuyên nhằm có thể bảo tồn các loài thực vật quý hiếm có giá trị ở nước ta
1.6 Những nghiên cứu về bảo tồn thực vật trên thế giới và ở Việt Nam
1.6.1 Những nghiên cứu về bảo tồn thực vật trên thế giới
Ngay từ những năm 1970, từ những nghiên cứu của mình, các nhà khoa học đã nhận thức được tình trạng khủng hoảng đa dạng sinh học Để bày tỏ mối quan tâm của mình, năm 1978 nhà sinh thái học Micheal Soule đã tổ chức hội thảo quốc tế đầu tiên về bảo tồn sinh học Trong hội thảo này, ông đã bày tỏ phương pháp tiếp cận mới nhằm giúp các loài thực vật, động vật thoát khỏi cơn sóng tuyệt chủng do con người gây ra Sau đó, cùng với đồng nghiệp của mình, ông đã phát triển lý thuyết sinh học bảo tồn
Sinh học bảo tồn là một nguyên lí khoa học được xây dựng để bảo vệ các loài, thiết lập các khu bảo tồn mới, củng cố nâng cấp các vườn quốc gia và cũng là để xác định các loài nào trên trái đất được bảo tồn trong tương lai (Chính phủ nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2006, Nghị định 32 về quản lí thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm)
Năm 1964, Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đă cho xuất bản những Bộ sách đỏ, trong đó chỉ ra các loài động vật, thực vật đang có nguy cơ bị tuyệt chủng trên thế giới cần phải bảo tồn Sách đỏ năm 2009 của tổ chức này công bố có đến 70% thực vật bị đe dọa, không ít hơn 12.151 loài cây trong Sách đỏ và 8.500 loài sắp tuyệt chủng [62]
Theo đánh giá của FAO gần đây, mỗi năm có khoảng 13 triệu ha rừng trên toàn thế giới bị mất Trong giai đoạn 2000 -2005, diện tích rừng bị mất thực hàng năm (the annual net loss) là 7.3 triệu ha (tương đương 0.18 % diện tích thực trên toàn thế giới) Tốc độ diệt chủng của các loài ngày một tăng theo một con số gấp 1.000 lần tỷ
Trang 30lệ tuyệt chủng cơ sở Cứ mỗi năm, khoảng 18.000 - 55.000 loài bị tuyệt chủng và số loài bị tiêu diệt sẽ tăng tới 25% vào năm 2050 Chỉ tính riêng rừng nhiệt đới bị phá huỷ, hàng năm đã có khoảng 27.000 loài bị tiêu diệt Ước tính có khoảng 60.000/265.000 loài thực vật, 728 loài bò sát, lưỡng cư (5%), 472 loài cá đang bị đe doạ và có nguy cơ diệt chủng (Ban thư ký Công ước Đa dạng sinh học, 2010)
1.6.2 Những nghiên cứu về bảo tồn thực vật ở Việt Nam
Theo GS.TS Trương Quang Học, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà đa dạng sinh học của Việt Nam đã bị suy thoái trầm trọng Diện tích rừng, hệ sinh thái có đa dạng sinh học cao nhất đã giảm từ 72% (1909) xuống 43% (năm 1943) xuống 28% (1995) Trong những năm gần đây, với nhiều cố gắng của nhà nước và cộng đồng, diện tích che phủ của rừng đã được nâng lên: 33,2% (2000), 35,8% (2003) và 39,1% (2009) Tuy nhiên, rừng nguyên sinh/rừng giầu vẫn có xu hướng giảm sút chỉ còn
khoảng dưới 10% (Alexander et all., 2000, Bộ TN&MT, 2005)
Sách đỏ Việt Nam lần đầu tiên phần động vật được xuất bản năm 1992 với 365 loài nằm trong danh mục, phần thực vật được xuất bản năm 1996 với 356 loài nằm trong danh mục Theo kết quả được thống kê trong Sách đỏ Việt Nam 2004 cho thấy tổng số loài động thực vật hoang dă đang bị đe dọa đă lên đến 857 loài, gồm 407 loài động vật và 450 loài thực vật, tức số loài đang bị đe dọa đă tăng đáng kể
Mặc dù có nhiều công tŕnh và chính sách đưa ra các giải pháp nhằm bảo tồn đa dạng thực vật ở Việt Nam như trong các công tŕnh của Phan Kế Lộc, Phạm Hoàng
Hộ, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Nghĩa Th́n, Nguyễn Quốc Trị, Nghị định về bảo tồn đa dạng sinh học… Tuy nhiên sự suy giảm đa dạng nguồn tài nguyên sinh học vẫn diễn ra, theo phiên bản mới nhất hiện nay là Sách đỏ Việt Nam 2007, được công
bố vào ngày 26 tháng 6 năm 2008, theo số liệu này hiện nay tại Việt Nam có 882 loài (418 loài động vật và 464 loại thực vật) đang bị đe dọa ngoài thiên nhiên, tăng
167 loài so với thời điểm năm 1992 Trong đó có 116 loài động vật được coi là “rất nguy cấp” và 45 loài thực vật “rất nguy cấp” (trong số 196 loài thực vật đang “nguy cấp”) [45]
Phan Hoàng Giẻo, Đặng Minh Quân, Nguyễn Nghĩa Thìn (2012), đã xác định tại núi Hàm Rồng của VQG Phú Quốc có 11 loài cây có tên trong “Sách đỏ Việt
Trang 31Nam” (2007) chiếm 3,12% số loài của hệ Trong đó có 6 loài nguy cấp và 5 loài sẽ nguy cấp [20]
Phan Kế Lộc (2013) khi nghiên cứu hệ thực vật tại KBTTN Na Hang đă ghi nhận được 31 loài (16%) bị đe dọa tuyệt chủng trong đó có 1 loài đang bị tuyệt chủng trầm trọng (Lan hài hằng), 12 loài đang bị tuyệt chủng (4 loài cây gỗ là Nghiến, Trai, Đinh vàng và Thông hai lá đá vôi), 3 loài Lan kim tuyến (Kim tuyến thật, Kim tuyến đá vôi và Kim tuyến giả), 3 loài Lan hài khác (Lan hài xanh, Lan hài trần liên và Lan hài tía) và 2 loài khác (Tỏi lào chuông và Thu hải đường Na Hang),
18 loài sắp bị tuyệt chủng [36]
Trang 32Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thực vật và thảm thực vật thân gỗ ở khu vực nghiên cứu
2.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Thảm thực vật thân gỗ tiểu khu 14 tại vùng lõi vườn Quốc gia Cúc Phương huyện Nho Quan - tỉnh Ninh Bình
2.3 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ năm 2013-2014
2.4 Nội dung nghiên cứu
2.4.1 Đặc điểm chung của thảm thực vật và đa dạng các kiểu thảm thực vật thân
gỗ ở khu vực nghiên cứu
2.4.2 Nghiên cứu những đặc trưng cơ bản của thực vật thân gỗ ở KVNC
2.4.2.1 Đa dạng về thành phần thực vật thân gỗ (đa dạng về taxon thực vật: ngành, họ, chi, loài)
2.4.2.2 Đa dạng về thành phần dạng sống
2.4.2.3 Đa dạng về giá trị tài nguyên
2.4.3 Xác định một số loài thực vật thân gỗ quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng theo danh Sách đỏ Việt Nam
2.4.4 Đề xuất một số giải pháp liên quan đến bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật nói chung và thực vật thân gỗ ở tiểu khu 14 vườn Quốc gia Cúc Phương
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp kế thừa
Kế thừa các tài liệu có liên quan của các nhà khoa học đã nghiên cứu tại vườn quốc gia Cúc Phương trong những năm trước đây bao gồm: các công trình nghiên cứu khoa học, các báo cáo khoa học, bài báo, tạp chí, các chương trình, kế hoạch hành động … Đó được coi là nguồn thông tin quan trọng định hướng cho quá trình nghiên cứu
Trang 332.5.2 Phương pháp điều tra
Để thu thập số liệu về thành phần khu hệ thực vật chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Điều tra theo tuyến: Dựa vào bản đồ thảm thực vật, bản đồ địa hình, vạch
những tuyến điều tra chính Trên mỗi tuyến điều tra tiến hành thống kê tất cả các loài thực vật nằm trong phạm vi của tuyến điều tra TĐT đầu tiên có hướng vuông góc với đường đồng mức, các tuyến sau song song với tuyến ban đầu Chiều rộng của tuyến điều tra là 2m, khoảng cách giữa các tuyến là 50 - 100m tùy vào địa hình cụ thể của từng quần xã
- Điều tra theo ô tiêu chuẩn (OTC): Trên các tuyến điều tra, chọn một số
điểm chốt, đặc trưng nhất để xây dựng các OTC và ODB Hệ thống OTC và ODB phải đại diện cho tính chất của thảm thực vật trong khu vực nghiên cứu, do đó nó sẽ được chọn một cách ngẫu nhiên song phải đảm bảo đại diện cho tất cả các khu vực khác nhau, các sinh cảnh khác nhau trong vùng nghiên cứu OTC Để thu thập số liệu thảm thực vật, chúng tôi áp dụng OTC có diện tích 400m2 (20m x 20m) để nghiên cứu hệ thực vật thân gỗ ở khu vực nghiên cứu Trong OTC lập các ODB có diện tích 25m2 (5mx5m) để thu thập số liệu ODB được bố trí hai bên đường chéo trong OTC Tổng diện tích các ODB phải đạt ít nhất là 1/3 diện tích của OTC Trong các OTC và ODB tiến hành xác định tên khoa học các loài cây (các loài chưa biết tên thì thu thập mẫu về định loại trong phòng thí nghiệm) Tổng số ô tiêu chuẩn được lập trong quá trình nghiên cứu là 16 ô Sơ đồ bố trí ODB như h́ình vẽ sau:
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí ODB trong OTC
Trang 342.5.3 Phương pháp thu thập số liệu
- Trên TĐT, quan sát và ghi chép vào phiếu điều tra tất cả các loài đã gặp (ghi tên la tinh hoặc tên địa phương) Những loài chưa biết lấy mẫu về phân loại
- Trong OTC và ô dạng bản thống kê thành phần loài cây, dạng sống của cây thân gỗ Đối với các loài cây gỗ đếm số lượng cá thể từng loài, đo chiều cao (Hm) và
đo đường kính (D1,3m)
2.5.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Tên các loài cây được xác định theo Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam, Nguyễn Tiến Bân [4] Cuốn Danh lục các loài thực vật Việt N.am tập 1,2,3 năm 2001,2003,2004, NXB Nông nghiệp [5]; Tên cây rừng Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn [9]
- Các kiểu thảm thực vật trong khu vực nghiên cứu được xác định theo khung
phân loại của UNESCO (1973) [67] (từ bậc phân quần hệ trở lên) Các bậc phân loại dưới bậc phân quần hệ (quần hợp, ưu hợp, phức hợp) sẽ áp dụng bảng phân loại của Thái Văn Trừng (1970) Sự đa dạng của các quần hệ thực vật được đánh giá trên các phương tiện đa dạng về thành phần loài, đa dạng về số lượng cây, chỉ số diện tích tán,
độ tàn che chung, mật độ cây … trong các quần hệ đó
- Phân tích tính đa dạng về dạng sống của thực vật Cúc Phương theo Raunkiaer
(1934)
- Bản danh lục thực vật được xếp theo thứ tự chữ cái Trong bảng danh lục, căn
cứ vào tiêu chuẩn của IUCN, Sách đỏ Việt Nam 2007 (Phần thực vật) [45], chú thích thêm các loài thực vật quý hiếm và tình trạng của chúng Ngoài ra, các đặc trưng khác như dạng thân cây và công dụng của từng loài thực vật cũng được thể hiện trong bảng danh mục
2.5.5 Phương pháp điều tra trong nhân dân
Trực tiếp phỏng vấn người dân địa phương hoặc các cơ quan chuyên môn (Ban Quản lý vườn, Chi cục kiểm lâm, UBND xã…) để nắm được các thông tin về điều kiện tự nhiên ở KVNC, trạng thái của rừng, tên các loài thực vật (tên địa phương) những tác động của con người đến hệ thực vật Tìm hiểu về tình hình khai thác, sử dụng tài nguyên rừng trong khu vực
Trang 35Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Vườn Quốc gia Cúc Phương trải dài từ 20°14’ đến 20°24’ vĩ bắc, 105°29’ tới 105°44’ kinh đông, cách thủ đô Hà Nội khoảng 90 km về phía Tây Nam và cách biển Đông 60 km theo đường chim bay Vườn có tổng diện tích 22.200 ha, nằm trong một thung lũng lớn có chiều dài khoảng 25km, chỗ rộng nhất khoảng 10km, giữa hai dãy núi đá vôi trong đoạn cuối dãy Hoàng Liên Sơn Vườn Quốc gia Cúc phương nằm trên địa giới hành chính của ba tỉnh Hoà Bình, Thanh Hoá và Ninh Bình Trong đó diện tích thuộc tỉnh Ninh Bình là 11.350 ha (chiếm 51,1%), thuộc tỉnh Hòa Bình là 5.850 ha (26,4%), thuộc tỉnh Thanh Hóa 5.000 ha (22%)
Vườn Quốc gia Cúc Phương được phân làm 3 khu chức năng:
- Thứ nhất là khu bảo vệ nguyên vẹn có diện tích là 20.745 ha có chức năng duy trì, bảo vệ những điều kiện tự nhiên nguyên thủy nhất, bảo vệ nguyên vẹn tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan di tích lịch sử
- Thứ hai là khu chuyên dùng với diện tích 743 ha có chức năng hoạt động dịch vụ, quản lý hành chính, nghiên cứu khoa học, dịch vụ du lịch và dân cư xen kẽ
- Thứ ba là vùng đệm nhằm tạo vành đai bảo vệ tránh những tác động xấu của con người cho hai khu trên
- Độ cao: 150 - 637 m
3.1.2 Địa hình
Vườn Quốc gia Cúc Phương nằm ở phần cuối của dãy núi đá vôi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ Trung Quốc qua vùng Tây Bắc của Việt Nam về tỉnh Thanh Hóa, Hòa Bình và Ninh Bình Dải núi đá vôi đó đến Cúc Phương lại nhô cao hơn hẳn so với các vùng xung quanh Phía Đông Bắc Vườn quốc gia Cúc Phương địa hình thấp xuống và nối liền với cánh đồng hẹp khá bằng phẳng chạy dọc hai bên đường quốc lộ 12, từ thị trấn Nho Quan tỉnh Ninh Bình đến thị trấn Vụ Bản huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình Về phía Tây và Tây Nam nền địa hình thấp dần xuống và nối
Trang 36với những cánh đồng ven hai bờ sông Bưởi Phía Đông Nam tiếp giáp với cánh đồng chiêm trũng huyện Nho Quan
Hình 3.1 BẢN ĐỒ VỊ TRÍ VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG
(Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Ninh Bình )
Trang 37BẢN ĐỒ 3.2 ĐỊA HÌNH VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG
(Biên tập từ nguồn: Cục Bản đồ, Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, 1999)
Tỷ lệ 1:125.000
Hình 3.2 ĐỊA HÌNH VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG
(Nguồn: Ban Quản lý vườn Quốc gia Cúc Phương)
* Chú thích:
Vườn Quốc gia Cúc Phương Khu vực nghiên cứu
Trang 38Địa hình Cúc Phương được tạo bởi hai dãy núi đá vôi chạy song song theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Giữa hai dãy núi đá vôi là những thung lũng hẹp xen kẽ một số đồi gò đất thấp chạy dọc trung tâm Vườn Dải thung lũng này đôi chỗ bị ngăn cách bằng những quèn thấp như: quèn Đang, quèn Voi, quèn Xeo…Khoảng 3/4 diện tích Cúc Phương là núi đá vôi, có độ cao tuyệt đối trung bình 300 - 400m Cao nhất là đỉnh Mây Bạc (656m) nằm ở phía Tây Bắc Vườn Cúc Phương có dạng địa hình Castơ nửa che phủ, khác với địa hình Castơ che phủ Đồng Giao và Castơ trọc Gia Khánh Cúc Phương nằm trọn vẹn trong cảnh địa lý đối Castơ xâm thực.
3.1.3 Khí hậu thủy văn
Tuy nhiên, do địa hình núi đá vôi nên nhiệt độ cực hạn ở đây có thể biến động rất lớn, có năm rất lạnh nhưng chỉ kéo dài 4-5 ngày hoặc rất nóng chỉ 1-2 ngày Trong
15 năm quan trắc, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối là 0,70C (ngày18/1/1967) và nhiệt độ tối cao tuyệt đối là 39,50C (20/7/1979)
Chế độ nhiệt ở Cúc Phương chịu ảnh hưởng của độ cao và thảm thực vật rừng Điều đó được thể hiện từ số liệu quan trắc của 3 trạm khí tượng như sau:
Ở trạm Bống, là trung tâm rừng nguyên sinh có độ cao so với mặt biển khoảng 350m, thảm thực vật rừng rất tốt, nhiệt độ bình quân năm là 20,60C
Ở trạm Đang, nằm ở vùng rừng thứ sinh, rừng có chất lượng kém hơn, một số
đã bị khai thác chọn hoặc làm nương rẫy Độ cao so với mặt biển xấp xỉ 200m Nhiệt
độ bình quân năm là 21,80C, cao hơn ở Bống 1,20C
Ở trạm Nho Quan, nằm ngoài ranh giới Vườn, cách trung tâm Vườn 20 km, ở đây không có rừng, độ cao so với mặt biển là 20m, nhiệt độ bình quân năm là 22,70C, cao hơn nhiệt độ bình quân của trạm Bống 2,10C và cao hơn nhiệt độ bình quân của trạm Đang 0,90C
Trang 393.1.3.3 Độ ẩm không khí
Độ ẩm tương đối không khí trung bình năm ở Cúc Phương là 90%, tháng thấp nhất không dưới 88% Trong khi đó độ ẩm tuyệt đối biến thiên giống như nhiệt độ trong không khí
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu khí hậu cơ bản khu vực VQG Cúc Phương năm 2013
Tháng Nhiệt độ ( 0 C) Lượng mưa (mm) Độ ẩm (%)
Trang 40Hình 3.3 Biểu đồ khí hậu Gaussen-Walter khu vực Cúc Phương
3.1.3.4 Chế độ gió
Vườn Quốc gia Cúc Phương nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng bởi gió mùa Đông Bắc về mùa đông và gió mùa Đông Nam về mùa hè Ngoài ra, về mùa hè nhiều ngày có gió Lào thổi mạnh Tuy vậy, do điều kiện địa hình, gió sau khi vượt qua các yên ngựa và hẻm núi đi sâu vào rừng bị thay đổi hướng rất nhiều và tốc độ gió thường là 1-2m/s
3.1.4 Địa chất và thổ nhưỡng
3.1.4.1 Địa chất
Vườn Quốc gia Cúc Phương nằm trong vùng đất được hình thành do vận động tạo sơn kỷ Kimeri (cuối kỷ Jura đầu kỷ Bạch phấn) Theo bản đồ địa chất Việt Nam
tỷ lệ 1/500.000, Cúc Phương thuộc phức hệ đá vôi Triat trung, bậc Ladoni, tầng Đồng
Giao, có liên hệ với dạng đá vôi Tây Bắc Việt Nam
Nhìn chung, Cúc Phương có lịch sử địa chất rất lâu đời, là cơ sở cho việc hình thành tầng đất dầy và rất thuận lợi cho sự phát triển của hệ thực vật.
Độ ẩm