1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích khái niệm kiểm soát trong kiểm toán và hợp nhất báo cáo tài chính - kế toán quốc tế 2 đh kinh tế tp hcm

16 1,4K 43

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 95,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể, IAS 27 xác định quyền kiểm soát là quyền chi phối chính sách tài chính và hoạt động nhằm thu được những lợi ích từ các đơn vị nhận đầu tư, trong khi đó SIC – 12 lại giải thích bố

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA KẾ TOÁN KIỂM TOÁN



TOÁN QUỐC TẾ 2

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS Nguyễn Trí Tri Nhóm thực hiện:

TP.Hồ Chí Minh, Ngày 07 tháng 10 năm 2012

Trang 2

I KHÁI NIỆM KIỂM SOÁT TRONG KẾ TOÁN

A GIỚI THIỆU CHUNG VÀ HOÀN CẢNH RA ĐỜI

Kiểm soát là một khái niệm trong mọi hoạt động, mọi ngành nghề trong cuộc sống Vì vậy không thể có một khái niệm Kiểm soát chính xác và chung nhất Trong lĩnh vực kế toán cũng như vậy, nhiều tổ chức cũng đưa ra nhiều quan điểm riêng của mình về Kiểm soát

Trước những thực trạng về sự ứng xử riêng lẻ của việc áp dụng IAS 27 và SIC – 12, thêm vào là sự xung đột khái niệm giữa IAS 27 và SIC – 12 đã dấn đến những ứng xử không phù hợp của các khái niệm về Kiểm soát Cụ thể, IAS 27 xác định quyền kiểm soát là quyền chi phối chính sách tài chính và hoạt động nhằm thu được những lợi ích từ các đơn vị nhận đầu tư, trong khi đó SIC – 12 lại giải thích bối cảnh của các đơn vị trong mục đích đặt biệt và đào sâu hơn về rủi ro và lợi ích

Bắt nguồn từ IAS 27 (2008), định nghĩa về khái niệm Kiểm soát như sau: “Quyền Kiểm soát

là khả năng chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của một đơn vị để đạt được những lợi ích từ hoạt động của đơn vị”

Kiểm soát được cho là tồn tại khi công ty mẹ sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua công

ty con nhiều hơn một nửa số quyền biểu quyết của một công ty khác trừ khi trong một số trường hợp ngoại lệ chứng minh được rằng quyền sở hữu không đồng nghĩa với với quyền kiểm soát Ngoài ra, quyền Kiểm soát cũng có thể tồn tại khi công ty mẹ sở hữu ít một nửa hoặc ít hơn một nửa quyền biểu quyết kèm thêm các điều kiện sau:

a Có những thoả thuận khác với các bên liên quan

b Có thể chi phối những chính sách tài chính và hoạt động theo một quy chế hay thoả thuận

c Có thể bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm phần lớn các thành viên HĐQT hoặc tương đương

d Có thể bỏ đa số phiếu tại cuộc họp HĐQT hoặc tương đương

Chính vì những lý do nêu trên, US GAAP và IFRS đã cùng nhau hợp tác nhằm cố gắng đưa

ra những khái niệm phù hợp nhất có thể, một trong số đó là khái niệm Kiểm soát Nằm trong dự

án hội tụ kế toán quốc tế, IFRS 3 – Hợp nhất kinh doanh và IFRS 10 – Báo cáo tài chính hợp nhất đã ra đời

Trang 3

B GIỚI THIỆU KHÁI NIỆM KIỂM SOÁT TRONG IFRS 10 VÀ PHÂN TÍCH CÁC CÁC NỘI DUNG CHÍNH CỦA KHÁI NIỆM

Cho đến khi dự án hội tụ kế toán quốc tế hoàn thành Chúng ta đã có một khái niệm Kiểm soát mới theo IFRS 10 như sau: “Một nhà đầu tư muốn kiểm soát một đơn vị nhận đầu tư khi nó

có biểu hiện hoặc có quyền làm thay đổi lợi nhuận từ việc tham gia của mình đối với bên nhận đầu tư và có khả năng ảnh hưởng đến lợi nhuận thông qua quyền lực của mình đối với bên nhận đầu tư Bao gồm các yếu tố kiểm soát sau:

a Quyền lực đối với bên nhận đầu tư

b Có biểu hiện hoặc có quyền làm thay đổi lợi nhuận từ việc tham gia của mình đối với bên nhận đầu tư

c Có khả năng sử dụng quyền lực của mình trong đơn vị nhận đầu tư để làm ảnh hưởng đến

số lợi nhuận của khoản đầu tư.”

Phân tích và làm rõ những nội dung chính của khái niệm:

a Quyền lực:

Một nhà đầu tư có quyền lực đối với một đơn vị nhận đầu tư khi nhà đầu tư có được những quyền có khả năng ảnh hưởng các hoạt động có liên quan, tức là các hoạt động có ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận của nhà đầu tư

Nhà đầu tư có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến những hoạt động có liên quan bằng quyền lực của mình mặc dù quyền chỉ đạo vẫn còn chưa được thực hiện Bằng chứng đó cho thấy các nhà đầu tư chỉ đạo các hoạt động có liên quan là những nhà đầu tư có quyền lực nhưng bằng chứng đó không phải là kết luận trong việc xác định nhà đầu tư nào là có quyền lực hoàn toàn trên một đơn vị nhận đầu tư

Nếu hai hay nhiều nhà đầu tư có quyền ở thời điểm hiện tại cho thấy họ có khả năng đơn phương ảnh hưởng các hoạt động có liên quan khác nhau thì nhà đầu tư có khả năng ảnh hưởng đáng kể nhất ở thời điểm hiện tại chính là nhà đầu tư có quyền lực lớn nhất đối với đơn vị nhận đầu tư Một nhà đầu tư có thể có quyền kiểm soát đối với một đơn vị nhận đầu tư ngay cả khi có nhiều đơn vị khác cũng có đầu tư

Trang 4

b Thu nhập

Một nhà đầu tư có biểu hiện, hoặc có quyền làm thay đổi lợi nhuận từ sự tham gia của mình đối với bên nhận đầu tư khi các khoản lợi nhuận của đơn vị đầu tư có tiềm năng thay đổi như là một kết quả của hiệu suất đầu tư Lợi nhuận của nhà đầu tư có thể là chỉ tích cực, chỉ tiêu cực hay cả tích cực lẫn tiêu cực

Mặc dù chỉ có một nhà đầu tư có thể kiểm soát đơn vị nhận đầu tư, nhưng lại có nhiều hơn các đơn vị khác chia sẻ khoản lợi nhuận kiếm được

c Mối quan hệ giữa quyền lực và thu nhập

Một nhà đầu tư kiểm soát một đơn vị nhận đầu không chỉ vì nhà đầu tư có quyền lực hơn các nhà đầu tư khác mà còn có biểu hiện hoặc quyền ảnh hưởng đối với sự thay đổi của lợi nhuận với bên nhận đầu tư mà còn có khả năng dùng quyền lực của mình tác động đến lợi nhuận của bên nhận đầu tư

II VỤ BÊ BỐI TÀI CHÍNH LIÊN QUAN ĐẾN HỢP NHẤT BÁO CÁO TÀI CHÍNH -OLYMPUS

A BỐI CẢNH

Trụ sở Tổng công ty Olympus đặt tại Tokyo, được thành lập vào năm 1919, sản xuất máy ảnh kỹ thuật số và thiết bị điện tử, bao gồm cả các thiết bị hình ảnh y tế Doanh thu cho năm tài chính 2011 là $ 10,6 tỷ USD Cổ phiếu Olympus được giao dịch trên cả sàn chứng khoán Tokyo

và Mỹ

Theo Reuters, giá trị thị trường của cổ phiếu công ty giảm 76% giữa ngày 14 Tháng 10 năm

2011 và ngày 09 tháng 11 năm 2011, làm mất hơn 6 tỷ USD của các cổ đông Khi công ty sa thải Giám đốc điều hành, Michael Woodford, hai tuần sau khi được bổ nhiệm đã kích hoạt sự suy giảm trong giá cổ phiếu diễn ra vào ngày 14 Tháng Mười 2011

Olympus là một trong những công ty giúp nền kinh tế Nhật Bản được hưởng sự thịnh vượng

to lớn trong những thập niên 1980 Chỉ số của sự thịnh vượng này - Nikkei 225 đã tăng từ dưới 6.000 vào tháng Giêng năm 1980 đến đỉnh điểm 38.915 vào cuối tháng 12 năm 1989, tăng 550% trong hơn mười năm

Trang 5

Những quan chức Olympus thừa nhận rằng đã giấu những khoản lỗ đầu tư chưa thực hiện từ những năm 1990 Trong năm 2008, công ty đã sử dụng một loạt các vụ mua lại với giá cao hơn thực tế để che giấu những tổn thất này Lợi thế thương mại của các vụ mua lại sau đó được nhanh chóng khai báo ra để che giấu các khoản lỗ Cụ thể, Olympus đã tạo ra các đơn vị kinh tế tách rời nhau để mua các chứng khoán từ Olympus với giá bằng giá trị sổ sách Các nhà quản lý sau đó thực hiện một loạt các giao dịch trong một mạng lưới phức tạp của các đơn vị kinh tế có liên quan, về cơ bản là chuyển đổi các khoản lỗ chưa thực hiện thành lệ phí và lợi thế thương mại Kiểm toán độc lập của Olympus sau đó yêu cầu cắt giảm hầu hết những lợi thế thương mại này Vì vậy, về bản chất thì những đề án chuyển đổi các khoản lỗ đầu tư chưa thực hiện vào chi phí lệ phí và các khoản lỗ được báo cáo là lợi thế thương mại

Trong tháng 12 năm 2011, Olympus nộp năm báo cáo tài chính trình bày lại cộng với kết quả quá hạn trong nửa đầu năm, cho thấy 1,1 triệu $ liên quan đến bảng cân đối kế toán của mình Trong tháng 4 năm 2011, Michael Woodford được bổ nhiệm là chủ tịch của Olympus Trong tháng 8 năm 2011, ông Woodford đã bày tỏ lo ngại về những vụ mua lại có thể không phù hợp Ngày 23 tháng 9, ông Woodford gửi thư cho các thành viên của hội đồng quản trị Olympus đặt câu hỏi về các giao dịch và yêu cầu giải thích, đặc biệt là giao dịch vượt quá $ 600,000,000 phát hành đến người nhận không rõ tên tại quần đảo Cayman Ông cũng gửi các bản sao của bức thư cho kiểm toán viên độc lập của công ty Ngày 1 tháng 10, Woodford được bổ nhiệm làm Giám đốc điều hành Một trong những hành động đầu tiên của ông là uỷ quyền PwC để điều tra các giao dịch nghi vấn

Ngày 14 Tháng 10 năm 2011, ban giám đốc sa thải Michael Woodford khỏi vai trò điều hành của mình tại Olympus Nhưng chỉ một tháng sau đó, sau khi nói dối với công chúng, các quan chức Olympus đã thừa nhận với FBI và Văn phòng Gian lận nghiêm trọng của Anh rằng họ đã trả tiền phí tư vấn gian lận $ 1,7 tỷ USD để che dấu trong hơn một thập kỷ

Olympus đã mất hơn $ 3 tỷ USD vốn hóa thị trường trong hai phiên giao dịch cuối cùng Các

cổ phiếu giảm 24% Các cổ phiếu giảm 18% khi công ty sa thải Woodford

Trang 6

B GIÂN LẬN KẾ TOÁN

Bước đầu tiên là tách các khoản lỗ từ Olympus, được gọi là "loss separation scheme" Bước thứ hai là xử lý các khoản đầu tư thiệt hại liên quan được gọi là "loss diposition scheme"

Olympus tạo ra các quỹ mà sẽ không được hợp nhất vào báo cáo tài chính theo GAAP Nhật Bản hiện tại Từ các ý kiến của một hội đồng bên ngoài, đại diện của bên thứ ba, được bổ nhiệm

để điều tra sự gian lận Mục đích chính là để loại bỏ các khoản đầu tư từ sổ sách của Olympus Mục đích thứ hai là để che giấu những dấu vết gian lận Olympus chuyển đầu tư và tiền bạc giữa các quỹ và tổ chức rất nhiều làm cho các nhà điều tra khó khăn để tìm ra các giao dịch và để hiểu những gì đã xảy ra Ví dụ như vốn vay bằng tiền và việc mua các công cụ tài chính của Olympus thực sự là để che lấp các khoản lỗ chưa thực hiện tại giá trị sổ sách Bên cạnh đó các quỹ này có thể vay tiền từ các ngân hàng nước ngoài bởi vì Olympus đã đồng ý gửi tiền trong ngân hàng hoặc gửi trái phiếu chính phủ có tính thanh khoản cao với các ngân hàng nhằm tạo điều kiện thuận lợi

Các quỹ The Central Forest Corp (CFC) và Quick Progress Co (QP) là trung tâm của kế hoạch CFC và QP là các đơn vị mua chứng khoán Olympus với các khoản lỗ chưa thực hiện Trong một ví dụ, Olympus gửi trái phiếu Chính phủ Nhật Bản trong Ngân hàng LGT ở Lichtenstein Ngân hàng LGT sau đó cung cấp một hạn mức tín dụng và một khoản vay cho CFC Trong một ví dụ khác, Olympus đã thực hiện một khoản đầu tư lớn trong SG Bond, một đối tác ở đảo Cayman SG Bond và một đơn vị khác tham gia trong một chuỗi phức tạp các giao dịch, chuyển tiền được cung cấp bởi Olympus từ một nơi đến một nơi khác nữa cho đến khi các đơn vị nhiều lần ra khỏi Olympus xuất hiện để mua các tài sản có vấn đề giá trị sổ sách

Trong bước thứ hai "loss diposition scheme", Olympus chuyển tiền vào các quỹ không hợp nhất, tạo điều kiện cho họ trả các khoản nợ của họ tại ngân hàng thuận lợi Một khi các khoản vay của quỹ không hợp nhất đã được giải quyết, Olympus đã không còn được yêu cầu để duy trì tiền gửi tại các ngân hàng và tất cả các mối quan hệ với số lỗ chưa thực hiện đã bị cắt đứt Tuy nhiên, Olympus đã không giao dịch trực tiếp với các đơn vị phi hợp nhất Thay vào đó, Olympus

đã tạo một trang web của đơn vị khác thực hiện nhiều giao dịch với các khoản tiền rất phức tạp Hai đơn vị bị kiểm soát (Neo và Class Fund IT Ventures) mua cổ phần trong một số công ty mục tiêu nhỏ Olympus sau đó trả giá cao hơn để mua cổ phần của công ty mục tiêu từ các đơn

Trang 7

vị bị kiểm soát Các đối tượng bị kiểm soát được sử dụng số tiền thu được từ các doanh thu bán hàng để giải quyết khoản vay của CFC từ Ngân hàng LGT, do đó Olympus làm giảm khoản tiền gửi phải duy trì tại Ngân hàng LGT Để không bị lộ, Olympus hiếm khi mua cổ phần trực tiếp từ hai đơn vị bị kiểm soát mà sẽ đầu tư vào các công ty mục tiêu Thay vào đó, Olympus sắp xếp rất nhiều các giao dịch giữa các đơn vị bị kiểm soát Quá trình này tốn rất nhiều chi phí Đại diện bên thứ ba báo cáo rằng Olympus đã trả khoảng ¥ 73,2 tỷ yên cho các cổ phiếu mà giá thực tế của nó chỉ có 700 triệu Yên

Kiểm toán viên độc lập đã không cho phép Olympus mang lợi thế thương mại giao dịch ở mức giá cao Olympus đã được yêu cầu phải xoá lợi thế thương mại và báo cáo khoảng thiệt hại 55,7 tỷ Yên và 1,3 tỷ Yên của các khoản đầu tư trong năm 2009 và 2010 của họ trên báo cáo tài chính

Bước thứ 2 có liên quan đến một số mối quan hệ với các cố vấn tài chính là những người trợ giúp trong việc mua lại 2,2 tỷ Gyrus ACMI Bên thứ ba kết luận rằng các cố vấn tài chính đã được trả tiền phí cao để giải quyết các tài khoản trái phiếu SG nói trên của quần đảo Cayman Trong một bức thư gửi Chủ tịch Olympus, ngày 11 Tháng 10 năm 2011, Michael Woodford (2011) nêu một loạt các thoả thuận với Axes America LLC và Axam Investments Ltd, một đơn

vị ở Cayman Trong năm 2006, thỏa thuận đầu tiên với Axes / Axam là quy định một khoản lệ phí $ 5 triệu USD cộng với một khoản phí bằng một phần trăm của giá mua lại, trả bằng tiền mặt

và một vài lựa chọn Trong năm 2007, đã đàm phán được một thỏa thuận thay thế, quy định rằng Olympus sẽ phải trả các cố vấn tài chính năm phần trăm của giá mua Olympus sẽ phải trả 15%

lệ phí bằng tiền mặt và 85% còn lại với các lựa chọn thêm vào và dịch vụ đảm bảo Khi Olympus mua lại Gyrus ACMI giá 2 tỷ USD trong tháng 2 năm 2008, các cố vấn tài chính nhận được $ 12 triệu tiền mặt, và các lựa chọn thêm vào có giá trị 177 triệu USD, cộng thêm đảm bảo Trong tháng 9 năm 2008, Olympus đã thương lượng để mua các dịch vụ đảm bảo cho $ 50.000.000 và giải quyết các lựa chọn thêm vào bằng cách phát hành cổ phiếu ưu đãi với mệnh giá là $ 177,000,000 ở Gyrus Trong tháng 3 năm 2010, Olympus mua cổ phiếu ưu đãi của Gyrus từ Axam Investments Ltd khoảng $ 620,000,000

Olympus đã trả $ 687 triệu cho hai công ty tư vấn có liên quan đến việc mua Gyrus Group Plc trong năm 2008 Các khoản phí là hơn 1/3 giá mua $ 2 tỷ USD

Trang 8

Phí tư vấn sáp nhập và mua lại phụ thuộc vào các giao dịch cá nhân và thường dao động trong khoảng từ 1% đến 5%, hai người có kiến thức về các giao dịch như vậy nói, từ chối để được đặt tên vì họ không được quyền nói chuyện với các phương tiện truyền thông

50 triệu mà Axam Investments Ltd nhận được từ dịch vụ bảo đảm và $ 620 triệu Axam nhận được cổ phiếu ưu đãi đã được thông qua các đơn vị khác nhau liên quan đến trái phiếu SG

C VẤN ĐỀ QUỐC TẾ VÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHẬT BẢN

Giống như Lehman Brothers, Olympus hoạt động xuyên quốc gia Trong việc duy trì gian lận

kế toán này, Olympus sử dụng ngân hàng tại Lichtenstein, Singapore, Hong Kong và Nhật Bản

và các cố vấn tài chính ở Nhật Bản, Hoa Kỳ và quần đảo Cayman Công ty đã sử dụng các đơn vị kinh tế tại các nước rất nhiều để thực hiện các giao dịch và chuyển đổi Gian lận này rất khó để làm sáng tỏ

Tháng 1-2012, quan chức Sở Giao dịch chứng khoán (GDCK) Tokyo cho biết Olympus phải chịu phạt vì vụ gian lận kế toán nhưng chưa đến mức bị hủy niêm yết trên sàn Tuy nhiên, Olympus gần như bị đặt trong tình cảnh hưởng án treo vì Sở GDCK cho biết sẽ theo dõi chặt chẽ diễn biến liên quan và có hành động thích hợp

Sai trái của Olympus làm hoen ố bộ mặt giới doanh nghiệp Nhật Bản, đến mức Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda phải lên tiếng cải chính: “Đây chỉ là bê bối của một công ty Xã hội Nhật Bản không như thế Không nên đánh giá Nhật Bản qua những hành vi của một công ty”

D HẬU QUẢ CỦA CÁC NHÀ QUẢN LÝ

Ngày 16 tháng hai năm 2012, bảy người đã bị bắt giữ vì đã tham gia trong vụ bê bối này, bao gồm cả Tsuyoshi Kikukawa - Chủ tịch công ty cho đến khi vụ bê bối đã phá vỡ, và hai cựu giám đốc Ba người này đã bị bắt giữ vì tình nghi làm sai lệch báo cáo tài chính Bốn người bị bắt còn lại là những nhân viên ngân hàng và các cộng sự của họ, bị cáo buộc gian lận chứng khoán Nếu

bị kết tội, những người này có thể đối mặt với 10 năm tù giam

E ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI KIỂM TOÁN VIÊN

ShinNihon Ernst & Young (E & Y) đã trở thành kiểm toán viên độc lập của Olympus trong năm 2010, thay thế Azsa KPMG (KPMG) E & Y dựa trên báo cáo kiểm toán không đủ tiêu

Trang 9

chuẩn do KPMG cho năm 2008 và 2009 Cả hai công ty kiểm toán từ chối bất kỳ những cáo buộc làm sai trái Ủy ban của bên thứ ba không buộc tội KPMG hoặc E & Y là đồng lõa trong việc gian lận, họ tin rằng các kiểm toán viên cần phải làm nhiều hơn

Kiểm toán viên nên thực sự mang lại lợi ích cho công ty, phải thường xuyên duy trì thái độ hoài nghi để tìm ra sự thật của các giao dịch và thực hiện nhiệm vụ của mình từ một vị trí công bằng

III ẢNH HƯỞNG CỦA KHÁI NIỆM KIỂM SOÁT ĐỐI VỚI VIỆC LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH

A QUY ĐỊNH RÕ RÀNG HƠN VỀ VẤN ĐỀ QUYỀN KIỂM SOÁT KHI TỶ LỆ QUYỀN BIỂU QUYẾT NHỎ HƠN HOẶC BẰNG 50%

IFRS 10 cung cấp hướng dẫn rõ ràng về khả năng kiểm soát đơn vị nhận đầu tư khi mà nhà đầu tư nắm giữ quyền biểu quyết nhỏ hơn hoặc bằng 50% Theo IFRS 10, Quyền kiểm soát còn phụ thuộc vào khả năng ảnh hưởng của nhà đầu đối với các hoạt động có liên quan làm biến đổi lợi nhuận của đơn vị nhận đầu tư

IFRS 10 cho rằng nhà đầu tư có thể kiểm soát một đơn vị nhận đầu tư với ít hơn hoặc bằng 50% quyền biểu quyế và để xác định quyền kiểm soát khi không có nhà đầu tư nào nắm giữ hơn 50% quyền biểu quyết của một đơn vị nhận đầu tư Một đơn vị đầu tư cần phải xem xét tất

cả các quyền nếu cho rằng nó có liên quan đến đơn vị nhận đầu tư, cũng như các quyền của các bên khác khi đánh giá kiểm soát

B ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI CÁC BÊN CÓ LIÊN QUAN

Khi đánh giá về quyền kiểm soát, một nhà dầu tư phải có trách nhiệm xem xét bản chất của mối quan hệ với các bên có liên quan Việc xác định liệu các bên khác đang hoạt động như là một đại lý hay không không những phải phụ thuộc vào bản chất quan hệ mà còn phụ thuộc vào các bên tương tác với nhau như thế nào với nhà đầu tư

Sau đây là những ví dụ về các bên khác:

a Các bên liên quan đến nhà đầu tư

b Một bên nhận được sự quan tâm như là một sự góp vốn hoặc một khoản vay từ nhà đầu tư

Trang 10

c Một bên mà đa số các thành viên HĐQT hoặc bộ máy quản lý giống với bên nhà đầu tư

d Một bên mà có mối quan hệ chặt chẽ với các nhà đầu tư, chẳng hạn như mối quan hệ giữa nhà cung cấp dịch vụ với một trong những khách hàng quan trọng của mình

C ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI VIỆC LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH HỢP NHẤT

Các trường hợp IFRS 10 quy định nhà đầu tư phải lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất:

- Yêu cầu đơn vị ( công ty mẹ) kiểm soát một hay nhiều đơn vị khác ( công ty con) phải trình bày BCTC hợp nhất.

- Thiết lập khái niệm kiểm soát, coi kiểm soát như là nền tảng của việc hợp nhất.

- Thiết lập cách áp dụng khái niệm kiểm soát để xác định khi nào nhà đầu tư kiểm soát được đơn vị được đầu tư và để hợp nhất đơn vị được đầu tư.

- Xác lập các phương pháp kế toán để lập nên BCTC hợp nhất.

Chuẩn mực này nói rằng công ty mẹ không cần phải hợp nhất nếu đáp ứng các điều kiện dưới đây:

- Là công ty con bị sở hữu hoàn toàn hoặc công ty con bị sở hữu một phần bởi một thực thể khác và các chủ sở hữu khác của nó, bao gồm cả những bên không có quyền bỏ phiếu, đã được thông báo về, và không phản đối, công ty mẹ không trình bày BCTC hợp nhất

- Các công cụ nợ hoặc công cụ vốn không được giao dịch trên thị trường đại chúng(thị trường chứng khoán trong nước hoặc nước ngoài hoặc thị trường phi tập trung OTC, bao gồm cả các thị trường địa phương và khu vực)

- Công ty chưa nộp hoặc đang trong quá trình hoàn tất nộp BCTC lên ủy ban chứng khoán hoặc tổ chức được quy định khác để phát hành các công cụ trên thị trường đại chúng

- Công ty mẹ cuối cùng hoặc công ty mẹ trung cấp của tập đoàn lập BCTC hợp nhất thích hợp tuân thủ theo IFRSs

Sự thay đổi trong sở hữu của công ty mẹ - trường hợp chưa mất quyền kiểm soát:

Sự thay đổi trong sở hữu của công ty mẹ không phải là kết quả từ việc mất quyền kiểm soát đến từ các giao dịch ảnh hưởng đến vốn chủ sở hữu Nó bao gồm trường hợp khi công ty mẹ mua

Ngày đăng: 22/12/2014, 10:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w