1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích hợp nhất báo cáo tài chính - kế toán quốc tế 2 đh kinh tế tp hcm

20 673 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 70,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm kiểm soát được thế giới chấp nhận rộng rãi bao gồm hai yếu tố là quyền chi phối chính sách hoạt động và tài chính của một đơn vị kinh tế để nhận được lợi ích từ hoạt động của n

Trang 1

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

A KIỂM SOÁT TRONG KẾ TOÁN 1

I Khái niệm kiểm soát 1

II.“Kiểm soát” theo US GAAP 1

III “Kiểm soát” theo International Accounting Standards Board 2

B BÊ BỐI TÀI CHÍNH THẾ GIỚI LIÊN QUAN VẤN ĐỀ HỢP NHẤT BCTC 6

I Chuẩn mực kế toán tại thời điểm bê bối xảy ra 6

II.Tóm tắt vụ bê bối 7

III Các vấn đề liên quan đến hợp nhất báo cáo kinh doanh và báo cáo tài chính hợp nhất 9

IV Ảnh hưởng của sự bê bối 10

C ẢNH HƯỞNG CỦA KHÁI NIỆM KIỂM SOÁT MỚI 10

I Quyền kiểm soát khi công ty nắm giữ thấp hơn 50% quyền sở hữu – quyền kiểm soát thực tế (de facto control) 11

II.Quyền bỏ phiếu tiềm năng (potential voting rights) 13

III Trường hợp liên quan tới các mối quan hệ tới đại lý cũng như các bên liên quan 14

D MỘT SỐ KHÁC BIỆT GIỮA IAS/IFRS VÀ VAS VỀ BCTC HỢP NHẤT 15

I Khoản đầu tư vào công ty con trên BCTC riêng của công ty mẹ 16

II.Trình bày báo cáo tài chính hợp nhất 16

III Lập BCTC hợp nhất giữa niên độ 17

IV Chính sách kế toán 17

V.Khái niệm về quyền kiểm soát 18

VI Cổ tức trước hợp nhất 18

VII Lợi thế thương mại 19

Trang 2

A KIỂM SOÁT TRONG KẾ TOÁN

I Khái niệm kiểm soát

Không có định nghĩa duy nhất cho thuật ngữ “kiểm soát” mà tùy thuộc vào các góc độ khác nhau thì có các định nghĩa khác nhau

Theo từ điển Tiếng Việt, kiểm soát là một phương tiện nhằm giảm thiểu những yếu tố gây tác động xấu tới hoạt động của một đối tượng nào đó

Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, người ta thường lập nhóm kiểm soát như một cách để kiểm tra tính chính xác của các thử nghiệm

Trong lĩnh vực kế toán, kiểm soát thường được sử dụng nhằm biểu hiện mức độ chi phối của đơn vị kinh tế này với đơn vị kinh tế khác như quyền kiểm soát của công ty mẹ đối với công ty con

Công ty con là thực thể pháp lý bị kiểm soát bởi công ty mẹ Khái niệm kiểm soát được thế giới

chấp nhận rộng rãi bao gồm hai yếu tố là quyền chi phối chính sách hoạt động và tài chính của một đơn vị kinh tế để nhận được lợi ích từ hoạt động của nó Khái niệm này dựa trên hai tiêu chí để tồn tại kiểm soát là quyền lực và lợi ích

Quyền lực chi phối chính sách hoạt động (như chính sách bán hàng, marketing, sản xuất, nhân sự…) và chính sách tài chính (chính sách kế toán như hoạch định ngân sách, chia cổ tức, chính sách trái phiếu, quản lý tiền mặt…) Nghĩa là bên sở hữu quyền này có khả năng quyết định cách thức sử dụng tài sản của một bên khác hoặc quyết định vay vốn để nâng cao khả năng thanh toán nợ của nó Quyền lực ở đây được cho rằng không thể chia sẻ hay phân ra, tức là chỉ có một đơn vị kinh tế có thể kiểm soát một đơn vị kinh tế khác

Lợi ích phát sinh từ hoạt động của một đơn vị kinh tế bị kiểm soát phần lớn (và trong hầu hết các trường hợp) là liên quan đến quyền sở hữu công cụ vốn do đơn vị kinh tế phát hành Người nắm giữ các công cụ vốn này thu được lợi ích trực tiếp từ cổ tức được chia và biến động giá của cổ phiếu do

sự biến động của tài sản và nghĩa vụ của đơn vị kinh tế hoặc gián tiếp qua việc bán các công cụ vốn Theo định nghĩa trình bày ở trên, khái niệm về kiểm soát là riêng biệt Sự riêng biệt của kiểm soát

có thể ở hai dạng, bao gồm kiểm soát theo pháp lý và kiểm soát theo thỏa thuận

II “Kiểm soát” theo US GAAP

Qua nhiều năm, dự án chính sách hợp nhất của Financial Accounting Standards Board (FASB) tập trung phát triển chuẩn mực mới để xác định những đơn vị kinh tế nào thì nên nằm trong báo cáo

Trang 3

Research Bulletin No.51_Consolidated Financial Statements (ARB 51) được phát hành năm 1959.

ARB 51 trình bày về mục đích của báo cáo tài chính chung và những nguyên tắc cơ bản về chính sách hợp nhất

Theo ARB 51, báo cáo tài chính hợp nhất được yêu cầu khi một đơn vị kinh tế trong một nhóm đơn

vị kinh tế trực tiếp hay gián tiếp có quyền kiểm soát tài chính đối với những đơn vị kinh tế khác Trong ngữ cảnh này, kiểm soát được xem xét dựa trên quyền sở hữu phần lớn quyền biểu quyết (ví

dụ như có trên 50% cổ phần có quyền biểu quyết đang lưu hành) Như vậy, chỉ có sự tồn tại của

kiểm soát pháp lý được coi là cơ sở của hợp nhất Statement of Financial Accounting Standards

SFAS 94 bổ sung cho ARB 51 để loại bỏ tất cả các trường hợp ngoại lệ về hợp nhất, trừ trường hợp

kiểm soát chỉ là tạm thời hoặc nó không là một phần của chủ sở hữu (ví dụ như nếu công ty con đang tổ chức lại hoặc bị phá sản Tuy nhiên, SFAS 144 loại bỏ trường hợp này) Trên thực tế, cả ARB 51 và SFAS 94 đều không định nghĩa về kiểm soát Khái niệm kiểm soát luôn xuất hiện trong các tài liệu kế toán nhưng không bao giờ được định nghĩa

Mục đích của các báo cáo tài chính chung và nguyên tắc chung về hợp nhất trình bày trong ARB 51

là tập trung vào những công ty phát hành cổ phiếu, thường là các doanh nghiệp kinh doanh vì lợi nhuận Những yêu cầu hợp nhất là dựa trên kiểm soát, kiểm soát thường được đánh giá như quyền

sở hữu (trực tiếp hay gián tiếp) nhiều hơn 50% cổ phần biểu quyết đang lưu hành của vốn chủ sở hữu Tuy nhiên, kể từ khi phát hành ARB 51, cả các doanh nghiệp kinh doanh và các tổ chức phi lợi nhuận vẫn tiếp tục phát triển và thực hiện các hoạt động đa dạng thông qua cơ cấu tổ chức ngày

càng phức tạp do đó, FASB đã phát hành Exposure Draft on Consolidated Financial Statements:

Policy and Procedures (ED)_ Dự thảo Báo cáo tài chính hợp nhất: chính sách và thủ tục năm 1995,

trong này đề cập đến định nghĩa về kiểm soát và thủ tục đề ra cho kế toán sử dụng trong việc chuẩn

bị báo cáo tài chính hợp nhất

Năm 1999, FASB đã phát hành ED sửa đổi về chính sách hợp nhất, Consolidated Financial

Statements: Purpose and Policy_ Báo cáo tài chính hợp nhất: mục đích và chính sách Khái niệm

về kiểm soát được định nghĩa như là khả năng chi phối các chính sách và quản lý các hoạt động của đơn vị kinh tế khác để gia tăng lợi ích hay giảm thất thoát từ những hoạt động đó

Sáu năm sau, FASB phát hành một ED, Consolidated Financial Statements, Including Accounting

and Reporting of Noncontrolling Interests in Subsidiaries, thay thế cho ARB 51 Tuy nhiên bản dự

thảo này vẫn dựa vào các nguyên tắc của ARB Điều này cho thấy rằng, theo US GAAP kiểm soát vẫn là kiểm soát pháp lý

III.“Kiểm soát” theo International Accounting Standards Board

Trang 4

Khái niệm về kiểm soát theo IAS/IFRS rộng hơn so với US GAAP: kiểm soát bao gồm cả kiểm soát

theo pháp lý và kiểm soát theo thỏa thuận

Quyền kiểm soát được định nghĩa trong International Accounting Standards IAS 27_ Consolidated

Financial Statements and Accounting for Investments in Subsidiaries (Chuẩn mực kế toán quốc tế

số 27 - Báo cáo tài chính hợp nhất và hạch toán khoản đầu tư vào công ty con) phát hành vào tháng

8 năm 1989, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1990 Sau đó trong Standing Interpretation

Committee SIC-12_ Consolidation – Special Purpose Entities (Hợp nhất – các đơn vị kinh tế với mục đích đặc biệt) phát hành vào tháng 11 năm 1998 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 1999,

quyền kiểm soát được bổ sung thêm một số dấu hiệu để phục vụ việc đánh giá thực hiện hợp nhất cho các đơn vị kinh tế với mục đích đặc biệt (SPEs)

Trải qua các cuộc chỉnh sửa và hoàn thiện IAS 27 (định dạng lại năm 1999, tái cấu trúc lần một năm

2003, năm 2008 tái cấu trúc lần hai), trong đoạn 4, IAS 27 (2008) _Consolidated and Separate

Financial Statements (Báo cáo tài chính riêng và báo cáo tài chính hợp nhất), khái niệm về quyền

kiểm soát là khả năng chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của một đơn vị để đạt được

các lợi ích từ hoạt động của đơn vị đó

Đoạn 13 của chuẩn mực này đưa ra các giải thích cụ thể về quyền kiểm soát Quyền kiểm soát được

xem là tồn tại khi công ty mẹ sở hữu trực tiếp, hoặc gián tiếp thông qua các công ty con, nhiều hơn 50% quyền biểu quyết trong một công ty khác, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt khi có bằng chứng rằng quyền sở hữu không gắn liền với quyền kiểm soát Ngoài ra, quyền kiểm soát còn tồn tại khi mặc dù công ty mẹ nắm giữ bằng hoặc ít hơn 50% quyền sở hữu trong một công ty khác nhưng có sự tồn tại của các điều kiện sau:

 Quyền của công ty mẹ nắm giữ hơn 50% quyền biểu quyết nhờ vào thỏa thuận với các nhà đầu tư khác;

 Quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của công ty mẹ theo một quy chế hay thỏa thuận;

 Quyền chỉ định hoặc miễn nhiệm phần lớn các thành viên của Hội đồng quản trị hoặc các cấp quản lý tương đương trong công ty con; hoặc

 Quyền bỏ đa số phiếu tịa các cuộc họp Hội đồng quản trị hoặc các cấp quản lý tương đương trong công ty con

Theo SIC-12 trong một số tình huống sau có thể chỉ ra mối quan hệ mà trong đó một đơn vị kinh tế nắm quyền kiểm soát một SPE là:

Trang 5

 Về bản chất, các hoạt động của SPE được tiến hành là thay mặt cho đơn vị kinh tế mà theo

đó nhu cầu kinh doanh đặc biệt của nó thu được lợi ích từ hoạt động của SPE;

 Về bản chất, đơn vị kinh tế có quyền ra quyết định để thu được những lợi ích chủ yếu của các hoạt động của SPE hoặc, bằng việc thiết lập các cơ chế tự động, các đơn vị kinh tế ủy quyền cho các cơ chế này ra quyết định;

 Về bản chất, đơn vị kinh tế có quyền có được phần lớn các lợi ích của SPE và do đó có thể

bị đặt vào những rủi ro liên quan đến các hoạt động của SPE; hoặc

 Về bản chất, đơn vị kinh tế vẫn nắm giữ phần lớn những rủi ro của phần còn lại hoặc quyền

sở hữu liên quan đến SPE hoặc tài sản của nó để thu được những lợi ích từ các hoạt động của nó

Cho đến hiện nay, nằm trong dự án hội tụ kế toán quốc tế giữa IFRS và US GAAP, IAS 27 (2008)

được thay thế bằng IAS 27 (2011)_ Separate Financial Statements (Báo cáo tài chính riêng), còn phần báo cáo tài chính hợp nhất được trình bày trong International Financial Reporting Standards

IFRS 10 (2011)_ Consolidated Financial Statements phát hành ngày 12 tháng 5 năm 2011, và có

hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2013 Theo IFRS 10 (2011), khái niệm mới về quyền kiểm soát

quy định rằng một đơn vị đầu tư kiểm soát một đơn vị nhận đầu tư khi nó có biểu hiện, hoặc có quyền, làm biến động thu nhập từ mối liên quan với đơn vị nhận đầu tư và có khả năng tác động đến thu nhập từ khoản đầu tư thông qua sử dụng quyền lực của mình đối với đơn vị nhận đầu tư

Do đó một đơn vị đầu tư kiểm soát một đơn vị nhận đầu tư chỉ khi đơn vị đầu tư có cả ba yếu tố như sau:

 Quyền lực đối với đơn vị nhận đầu tư;

 Có biểu hiện, hoặc có quyền, làm biến động thu nhập từ mối liên quan với đơn vị nhận đầu tư; và

 Khả năng sử dụng quyền lực của mình đối với đơn vị nhận đầu tư để tác động đến thu nhập

từ khoản đầu tư

Sau đây sẽ tìm hiểu rõ một số khái niệm trong quyền kiểm soát mới của IFRS 10:

Quyền lực

Một đơn vị đầu tư được xem liệu nó có kiểm soát một đơn vị nhận đầu tư hay không là dựa vào các yếu tố sau:

 Các hoạt động liên quan

 Cách thức chỉ đạo các hoạt động liên quan

Trang 6

 Những quyền mà đơn vị đầu tư và các bên liên quan có liên quan đến đơn vị nhận đầu tư Quyền lực phát sinh từ quyền Quyền xác định quyền lực là các quyền này đủ cho đơn vị đầu tư có khả năng hiện tại để đơn phương chỉ đạo các hoạt động có liên quan Trong ngữ cảnh này, không nhất thiết đòi hỏi các quyền được thi hành ngay lập tức

Trong vài trường hợp quyền lực được đánh giá một cách đơn giản, như khi quyền lực đối với một đơn vị nhận đầu tư được lấy trực tiếp và duy nhất từ quyền biểu quyết của công cụ vốn chủ sở hữu như cổ phần Trong những trường hợp khác, việc đánh giá sẽ phức tạp hơn và đòi hỏi nhiều hơn một yếu tố để xem xét, ví dụ như khi quyền lực là kết quả từ nhiều thỏa thuận cam kết

Nếu có hai hay nhiều đơn vị đầu tư có quyền cho phép nó đơn phương chỉ đạo các hoạt động liên quan khác nhau, thì đơn vị đầu tư nào có khả năng chỉ đạo các hoạt động có liên quan mà nó ảnh hưởng đáng kể nhất đến các khoản thu nhập của đơn vị nhận đầu tư là đơn vị sở hữu quyền kiểm soát

Một đơn vị đầu tư có quyền kiểm soát đối với đơn vị nhận đầu tư ngay cả khi có các đơn vị đầu tư khác tồn tại khả năng tham gia việc chỉ đạo các hoạt động liên quan (có ảnh hưởng đáng kể)

Thu nhập

Một đơn vị đầu tư có biểu hiện, hoặc có quyền, làm biến động thu nhập từ mối liên quan với đơn vị nhận đầu tư khi các khoản thu nhập của đơn vị đầu tư từ mối liên quan có tiềm năng thay đổi như một kết quả của đơn vị nhận đầu tư Các khoản thu nhập của đơn vị đầu tư có thể chỉ là tích cực, chỉ tiêu cực hay là cả tích cực lẫn tiêu cực

Mặc dù chỉ có một đơn vị đầu tư có thể kiểm soát một đơn vị nhận đầu tư nhưng lại có nhiều bên chia sẻ các khoản thu nhập của đơn vị nhận đầu tư

Mối quan hệ giữa quyền lực và các thu nhập

Một đơn vị đầu tư kiểm soát một đơn vị nhận đầu tư nếu một đơn vị đầu tư không chỉ có quyền lực đối với và có biểu hiện, hoặc có quyền, làm biến động thu nhập từ mối liên quan với đơn vị nhận đầu tư, mà còn có khả năng sử dụng quyền lực của mình đối với đơn vị nhận đầu tư để tác động đến thu nhập từ khoản đầu tư

Mối quan hệ này được xác định phụ thuộc vào một đơn vị đầu tư với quyền ra quyết định là:

 Của bản thân nó (là người ủy nhiệm); hoặc

Trang 7

 Thay mặt cho các đơn vị đầu tư khác đã ủy quyền quyền lực của họ cho nó (là người đại diện)

Theo đó, người đại diện không có quyền kiểm soát đối với đơn vị nhận đầu tư

Trong phần trên đã trình bày về việc xác định quyền kiểm soát của công ty mẹ đối với công ty con

và sự thay đổi của nó theo thời gian Những thay đổi trong khái niệm về quyền kiểm soát không có nhiều ảnh hưởng đến việc đánh giá quyền kiểm soát khi một đơn vị đầu tư riêng lẻ sở hữu phần lớn quyền biểu quyết của một đơn vị nhận đầu tư có cơ cấu quyền sở hữu và quản trị thông thường Tuy nhiên, khái niệm mới có ảnh hưởng đến việc đánh giá quyền kiểm soát trong nhiều trường hợp phức tạp hơn Các ảnh hưởng của khái niệm kiểm soát mới đối với việc lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất của tập đoàn sẽ được trình bày ở phần sau

B BÊ BỐI TÀI CHÍNH THẾ GIỚI LIÊN QUAN VẤN ĐỀ HỢP NHẤT BCTC

I Chuẩn mực kế toán tại thời điểm bê bối xảy ra

Trong nhiều thập kỉ trước năm 1975, Italia đã không thiết lập hệ thống chuẩn mực kế toán Có lẽ những nguyên nhân chính là do hệ thống khung pháp lý nước này đã đưa ra những điều luật chi tiết bắt buộc các doanh nghiệp phải tuân theo, sự sắc sảo của hệ thống đo lường thuế, và sự chống cự mạnh mẽ và kéo dài của những học giả Italia đối với bất kì quá trình chuẩn hóa nào cho việc lập báo cáo tài chính ở các công ty Tuy nhiên, việc bắt buộc kiểm toán độc lập bắt đầu được áp đặt đối với những công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán vào năm 1974 và nghị định số 136/1975 đã yêu cầu các kiểm toán viên phải kiểm tra liệu báo cáo tài chính của công ty có tuân theo cả về các nguyên tắc pháp lý và nguyên tắc kế toán hay không Tại thời điểm này, ở Italia chưa

có bất kì hội đồng chuẩn mực cũng như ủy ban xây dựng chuẩn mực nào

Đứng trước những sự thay đổi đó, năm 1975, Cơ quan nghề nghiệp có thẩm quyền cao nhất của Italia (CNDC) đã thành lập một Ủy ban xây dựng chuẩn mực để đối phó với những vấn đề phát sinh

từ việc áp dụng bắt buộc kiểm toán độc lập Điều này bắt đầu bằng việc phát hành các nguyên tắc

kế toán trong việc đánh giá và trình bày Trong một vài năm, những bộ chuẩn mực khác nhau được đưa ra tranh cãi ở Italia, cho đến khi CONSOB đưa ra sự lựa chọn ủng hộ những chuẩn mực được đưa ra bởi tổ chức nghề nghiệp kế toán và nhận được sự đồng tình của các công ty kiểm toán năm

1982 cũng trong năm này, CONSOB đưa ra nhận định rằng khi các Chuẩn mực kế toán Italia chưa

có quy định cụ thể về một vấn đề nhất định thì sẽ tham khảo cách xử lý của Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS

Vào thời điểm này, một tổ chức nghề nghiệp kế toán khác của Italia (Consiglio Nazionale dei Rugianieri) đã tham gia vào dự án xây dựng chuẩn mực Tháng 12/1999, CONSOB đã sửa đổi

Trang 8

nhận định của mình vào năm 1982, và đặt Chuẩn mực kế toán Italia ngang hàng với Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS, tức là cả hai hệ thống chuẩn mực đều hữu ích cho các công ty được niêm yết Tháng 11/2001, một Ủy ban xây dựng chuẩn mực mới được thành lập ở Italia với tên gọi là Organismo Italiano di Contabilita – OIC Ủy ban này có những khác biệt so với những ủy ban đã được thành lập trước đó, nó miêu tả những lợi ích khác nhau của các bên tham gia (người chuẩn bị, người sử dụng, các chuyên gia, tổ chức tài chính, giao dịch chứng khoán,…) Song song với việc áp dụng Chuẩn mực kế toán Italia, các doanh nghiệp của nước này cũng áp dụng hệ thống chuẩn mực

kế toán quốc tế

Có thể nhận ra rằng, tuy có những chuyển biến tích cực trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kế toán nhưng do sự phát triển chậm hơn so với những quốc gia khác trên thế giới, cùng với sự nghiêm khắc và khá rườm rà của hệ thống Luật pháp và Thuế đã khiến cho việc áp dụng các chuẩn mực này tại Italia gặp khá nhiều khó khăn trong giai đoạn đầu thế kỉ 21 Nhất là khi IAS vẫn đang trong quá trình hoàn thiện và liên tục sửa đổi Riêng đối với Chuẩn mực IAS 27 từ khi ra đời vào năm 1989 với tên gọi “Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán các khoản đầu tư vào công ty con” đến năm 2003 đã trải qua 4 lần định dạng và sửa đổi cả về nội dung lẫn tên gọi (1994, 1998, 2000, 2003)

Việc các chuẩn mực kế toán Italia chỉ chú trọng về các chuẩn mực hướng dẫn nguyên tắc kế toán cho những công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán và chưa quan tâm nhiều đến việc đưa ra các chuẩn mực liên quan đến báo cáo tài chính hợp nhất (bao gồm những hướng dẫn về quyền kiểm soát, lợi ích của các bên liên quan, phương pháp hạch toán và thủ tục hợp nhất báo cáo tài chính,…) cho tập đoàn gồm nhiều công ty con, đặc biệt là tập đoàn có công ty con nước ngoài đã phần nào tạo ra những vụ bê bối trong các tập đoàn lớn tại Italia, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh

tế nước này nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung Điển hình là vụ bê bối của tập đoàn Parmalat Sau đây sẽ là phần phân tích cụ thể về vụ bê bối này

II Tóm tắt vụ bê bối

Parmalat, một trong những tập đoàn thực phẩm hùng mạnh nhất châu Âu, phải nộp đơn xin bảo hộ phá sản năm 2003 Sự sụp đổ của Parmalat được coi là nghiêm trọng nhất tại châu Âu

Xuất phát từ một nhà máy sữa tiệt trùng của chàng thanh niên Calisto Tanzi 22 tuổi ở Parma năm

1961, chỉ sau 4 thập kỷ, công ty đã nhanh chóng trở thành Tập đoàn thực phẩm lớn của Italia chuyên sản xuất sữa, bánh mì và các sản phẩm làm từ bơ, sữa

Trang 9

Vào thời điểm trước khi bị phá sản, Parmalat có 36.400 nhân viên tại 29 quốc gia khác nhau Thanh thế của công ty nổi lên như cồn và tên của Parmalat được nhắc đến khắp mọi nơi, trong cả lĩnh vực thể thao, truyền thông, du lịch…

Không ai biết được rằng, đằng sau bề ngoài thành công của Parmalat, một lỗ hổng cứ ngày càng lớn lên Từ cuối thập niên 1980, tình hình tài chính của Tập đoàn đã rất tồi tệ do bước đột phá vào truyền hình nhưng thất bại Năm 1987, Parmalat chi 130 triệu euro vào kênh truyền hình Odeon TV với hy vọng sẽ biến nó trở thành mạng lưới lớn thứ 3 Italia nhưng đã sụp đổ 3 năm sau đó

Không chịu đầu hàng, Tanzi đã thiết kế cái gọi là kế hoạch sáp nhập, cho Parmalat kết hợp với một công ty chứng khoán không hoạt động nhưng đã lên sàn ở thị trường chứng khoán Milan Công ty kết hợp sau đó gây được vốn khoảng 150 triệu euro từ các nhà đầu tư bên ngoài Nhờ vậy, Parmalat trở thành công ty cổ phần vào năm 1990 và bít những lỗ hổng nợ nần trong tài khoản

Trang 10

Khi đó, giá trị thị trường của công ty vào khoảng 300 triệu euro Đến năm 1993, Parmalat bắt đầu

"phát minh" các giao dịch tài chính để cân bằng bản quyết toán thu chi Họ mở rộng mạng lưới phân phối sản phẩm ở Italia, Brazil, Argentina, Hungary và Mỹ

Hai năm sau, Parmalat lại thiệt hại 300 triệu USD/năm ở riêng châu Mỹ Latinh Tập đoàn quyết định không công bố một số nợ trong báo cáo tài chính Họ sử dụng 3 công ty ở vùng Carribe làm bình phong bằng cách cho các công ty này giả bộ nhận bán các sản phẩm Parmalat và Parmalat gửi cho họ hóa đơn giả để việc "bán hàng" có vẻ hợp pháp

Rồi Tập đoàn ra ghi chú tín dụng về số lượng mà các công ty con được cho là đang nợ, mang tới ngân hàng để vay tiền Để làm nợ biến mất, Parmalat chuyển tiền nợ cho các chi nhánh không có trên giấy tờ cũng như ở những nước được hưởng ưu đãi thuế

Chưa hết, Tanzi và Tonna cùng 2 nhân viên kiểm soát còn nghĩ ra một kế sách là: một nhà sản xuất sữa không có thật ở Singapore cung cấp 300.000 tấn sữa bột cũng không có thật cho một nhà nhập khẩu Cuba thông qua Bonlat, công ty con của Parmalat ở Cayman Island có tài khoản ở Bank of America

Nhưng đi đêm lắm cũng có ngày gặp ma, bê bối của Parmalat đã bị phanh phui khi Tập đoàn này tiết lộ một tài khoản ngân hàng của công ty con không có 3,94 tỷ euro như họ nói Tập đoàn đề đơn phá sản và công bố khoản nợ lên tới 14,3 tỷ euro

Có điều lạ là từ cuối thập kỷ 1990, những tín hiệu báo động đầu tiên về Parmalat đã xuất hiện Năm

1999, Esteban Pedro Villar, một nhân viên hãng dịch vụ tài chính Deloitte & Touche tại Buenos Aires đã nộp bản báo cáo "cảnh báo sớm" về các hoạt động của Parmalat tại châu Mỹ Latinh

Năm 2002, nhà phân tích ngành thực phẩm của Merrill Lynch ở London (Anh) cũng khuyến cáo các nhà đầu tư nên bán cổ phiếu của tập đoàn này vì thấy các tài khoản thật khó hiểu Bỏ mặc ngoài tai những lời khuyên, các ngân hàng lớn nhất thế giới, các nhà đầu tư giỏi nhất và những kiểm toán viên giỏi nhất vẫn giao dịch với Parmalat Thực tế là họ đã nhận được quá nhiều hoa hồng từ Parmalat và không muốn mất kênh làm ăn béo bở này

III.Các vấn đề liên quan đến hợp nhất báo cáo kinh doanh và báo cáo tài chính hợp nhất

Parmalat đã thực hiện hành vi gian lận đối với các khoản nợ của các công ty con bằng cách chuyển

nợ cho các chi nhánh không có trên giấy tờ, điều đó đồng nghĩa với việc khoản nợ của các công ty con trở nên thấp hơn nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho việc vay ngân hàng; và khi hợp nhất báo cáo tài chính, các khoản nợ được chuyển cho các “chi nhánh ma” cũng đồng thời biến mất

Ngày đăng: 22/12/2014, 10:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w