Việc thực hiện các nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước liên quan đến phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc trong thời kỳ xây dựng CNXH đã đem lại những thành tựu rất đáng ghi n
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đoàn kết là truyền thống vô cùng quý báu của dân tộc ta từ xưa đến nay Trải qua hàng nghìn năm, dân tộc ta phải dành nhiều thời gian và nguồn lực cho cuộc đấu tranh để dựng nước và giữ nước Trong lịch sử lâu dài và thăng trầm đó, sức mạnh vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản
là sự đoàn kết của dân tộc Việt Nam Chính nhờ có truyền thống đó mà dân tộc Việt Nam qua bao cơn bão táp trong lịch sử vẫn là một khối thống nhất Dân tộc ta, nước ta vẫn là một, không một kẻ thù tàn bạo nào có thể chia cắt
Vì vậy, khi nói về vấn đề đoàn kết dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân Người coi đoàn kết là lực lượng to lớn, là lực lượng mạnh nhất của chúng ta để chống lại những thế lực xâm lược lớn mạnh hơn về vật chất Trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, Người dặn: ''Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”
Đối với Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam, việc xây dựng, củng
cố khối đoàn kết dân tộc ở mọi thời kỳ cách mạng luôn được xem là vấn đề chiến lược quan trọng Việc thực hiện các nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước liên quan đến phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc trong thời kỳ xây dựng CNXH đã đem lại những thành tựu rất đáng ghi nhận Đó
là những đổi thay về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục, của cả nước, đặc biệt là ở các vùng dân tộc và miền núi
Cũng như cả nước, cộng đồng các dân tộc tỉnh Sơn La trong suốt chiều dài lịch sử phát triển đã có nhiều đóng góp, hy sinh, gian khổ để chống giặc ngoại xâm, bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước Chính quá trình đó
đã hình thành một cộng đồng gắn bó, đoàn kết, chủ động và sáng tạo của
Trang 2nhân dân các dân tộc ở Sơn La Đồng thời, cũng trên vùng đất này, các dân tộc sinh sống trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, phải thường xuyên đối phó với thiên tai, địch họa nên muốn tồn tại họ đã chung lưng đấu cật để cùng tồn tại và phát triển Tất cả những yếu tố đó hình thành nên một sợi dây liên kết giữa cộng đồng các dân tộc tỉnh Sơn La
Trong thời kỳ đổi mới, nhân dân tỉnh Sơn La đã tiếp tục nêu cao các giá trị truyền thống đoàn kết dân tộc, yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, năng động, sáng tạo… trong các yếu tố đó thì truyền thống đoàn kết dân tộc là vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với quá trình phát triển kinh tế -
xã hội; góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự và an toàn xã hội; đảm bảo quốc phòng, an ninh trên địa bàn một tỉnh vùng núi cao, biên giới có vị trí chiến lược về quốc phòng và an ninh của cả nước Song, truyền thống đoàn kết cộng đồng của đồng bào các dân tộc ở tỉnh Sơn La vẫn còn tiềm ẩn nhiều phức tạp, ảnh hưởng không tốt đến sự ổn định chính trị, trật tự, an toàn
xã hội và sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đặc biệt, trong những năm gần đây đã nổi lên hiện tượng ảnh hưởng tiêu cực tới truyền thống đoàn kết dân tộc ở tỉnh Sơn La như sự hiểu biết về lịch sử và các giá trị truyền thống ĐKDT bị sa sút ở một bộ phận quần chúng, nhất là ở thế hệ trẻ, điều đáng lo
là trong đó đã xuất hiện quan niệm dân tộc hẹp hòi, chia rẽ khối ĐKDT Nguy hiểm hơn, một số thế lực thù địch trong và ngoài nước đã truyền bá, mua chuộc, xúi giục những phần tử chống đối, phá hoại truyền thống ĐKDT của đồng bào các dân tộc trong ở tỉnh Sơn La gây ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa của tỉnh
Do đó, để phát huy truyền thống đoàn kết cộng đồng, bình đẳng, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa trên địa bàn tỉnh Sơn La thì vấn đề bảo tồn và phát huy truyền thống ĐKDT ở tỉnh Sơn La cần phải nghiên cứu về cả mặt lý luận và
Trang 3thực tiễn Để đáp ứng yêu cầu đó chúng tôi đã chọn đề tài: "Bảo tồn và phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc ở tỉnh Sơn La hiện nay” làm đề tài luận
văn thạc sĩ để nghiên cứu
2 Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề truyền thống ĐKDT là vấn đề ý nghĩa chiến lược quan trọng của cách mạng Do đó đã có những công trình, bài viết của các tác giả nghiên
cứu với những hình thức, mức độ khác nhau xung quanh vấn đề này
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên khi truyền bá chủ nghĩa Mác
- Lênin vào Việt Nam đã kết hợp một cách đúng đắn, sáng tạo giữa tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây, giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất nhiều lần nhấn mạnh việc phát huy khối ĐKDT Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc là kho tàng lý luận vô giá để lại cho Đảng và nhân dân ta tiếp tục nghiên cứu vận dụng trong công cuộc xây dựng CNXH
gồm 2 tập xuất bản năm 1994 và 1996) đề cập khá sâu sắc về các giá trị tinh thần truyền thống được hình thành trong quá trình lâu dài của lịch sử dân tộc như truyền thống yêu nước, truyền thống đoàn kết dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, truyền thống lao động cần cù - sáng tạo ; Dưới góc độ Dân tộc
học, GS.TS Phan Hữu Dật với tác phẩm "Góp phần nghiên cứu Dân tộc học Việt Nam" (Nxb Chính trị quốc gia, 2004) đưa ra những căn cứ xác đáng
khẳng định tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa các dân tộc ở Việt
Trang 4Nam, nêu những ý kiến góp phần lý giải quan điểm đúng đắn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về chính sách dân tộc, khẳng định ĐKDT vừa là nền tảng tinh thần vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Luận án
tiến sĩ triết học của tác giả Nguyễn Thị Ngân (2000), "Xây dựng ý thức và tình cảm dân tộc chân chính cho con người Việt Nam trước những thách thức hiện nay" phân tích sự hình thành và nội dung cơ bản của tình cảm dân
tộc, đồng thời dự báo về xu hướng phát triển của nó trong những năm tới Các giải pháp của luận án có đề xuất phải đổi mới nội dung và phương pháp
giáo dục ý thức và tình cảm dân tộc chân chính cho con người Việt Nam
Tiếp cận truyền thống ĐKDT ở góc độ lịch sử, luận án tiến sĩ của
Khuất Thị Hoa (2001) với đề tài "Quá trình thực hiện chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945- 1954)" làm rõ cơ sở hình thành và vai trò của chiến lược đại đoàn kết Hồ
Chí Minh đối với thắng lợi của cách mạng ở giai đoạn này, từ đó rút ra một
số bài học kinh nghiệm trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược;
PGS TS Trần Hậu (2008) với “Góp phần nghiên cứu đại đoàn kết dân tộc” đã lý giải một số vấn đề của đoàn kết dân tộc xuất phát từ thực tiễn
hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; PGS Hà Đình Thành (2012)
với “Cộng đồng dân tộc Ê Đê ở tỉnh Đắc Lắk hiện nay” Tác giả đã điều tra
và nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện các nhóm xã hội ở cộng đồng dân tộc
Ê Đê trong đời sống chính trị, văn hóa, xã hội ở Đắc Lắk nói riêng và Tây Nguyên nói chung
Ngoài ra con có các bài viết liên quan như: Nguyễn Văn Nam, Xây dựng khối đoàn kết dân tộc nhằm bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa, (Lý luận chính trị và truyền thông, 10/2009) Tác
giả đã chỉ ra việc xây dựng khối đại đoàn kết từ xưa, đến nay luôn là nhân tố
quan trọng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Đỗ Ngọc Ninh, Về bài học
lớn về: “Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng,
Trang 5đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế” trong Cương lĩnh xây dựng đất nước,
(Tạp chí Triết học, 9/2012) Tác giả đã chỉ ra những điểm chủ yếu để không
ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết giữa Đảng và nhân dân ta trong xây
dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay…
Ngoài các công trình nghiên cứu nêu trên, còn nhiều công trình, bài viết khác nghiên cứu về vấn đề này Nhưng do khuôn khổ và mục đích riêng
mà chưa công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về Bảo tồn
và phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc ở tỉnh Sơn La hiện nay Tuy
nhiên, các công trình nghiên cứu trên là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng
để chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài của mình
3 Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Mục đích: Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của truyền thống
ĐKDT ở tỉnh Sơn La, chỉ ra thực trạng, giải pháp chủ yếu nhằm bảo tồn và phát huy ĐKDT dân tộc ở tỉnh Sơn La hiện nay
* Đối tượng nghiên cứu: Bảo tồn và phát huy truyền thống ĐKDT ở
tỉnh Sơn La hiện nay
* Phạm vi nghiên cứu: Bảo tồn và phát huy truyền thống ĐKDT
trong phạm vi tỉnh Sơn La, trong khoảng thời gian từ 1986 đến nay
4 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
- Đề tài góp phần làm sáng tỏ tầm quan trọng của vấn đề bảo tồn và phát huy truyền thống ĐKDT ở tỉnh Sơn La hiện nay
- Đề tài chỉ ra cơ sở khoa học để bảo tồn và phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc ở tỉnh Sơm La
Đề tài chỉ ra thực trạng, quan điểm và giải pháp chủ yếu để bảo tồn và phát huy truyền thống ĐKDT ở tỉnh Sơn La cho phù hợp với điều kiện mới hiện nay
Trang 65 Phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Đề tài được thực hiện trên quan điểm của chủ
nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta về giữ gìn, phát huy
truyền thống ĐKDT
* Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp lịch sử và
lôgíc, kết hợp phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp, thống kê, điều tra
xã hội học và khảo sát thực tế
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 4 tiết
Trang 7Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
TRUYỀN THỐNG ĐOÀN KẾT DÂN TỘC Ở TỈNH SƠN LA
1.1 Cơ sở lý luận của bảo tồn và phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc ở tỉnh Sơn La
1.1.1 Bảo tồn và phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc
* Khái niệm bảo tồn và phát huy
Trong Từ điển do Hoàng Phê (chủ biên) đã định nghĩa: “Bảo tồn là giữ lại, không để cho mất đi” [42, tr.37], còn “phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” [42, tr.742] Chúng ta thường nghe nói: bảo tồn các di tích lịch sử, bảo tồn nền văn hóa dân tộc Tuy nhiên, quá trình giữ lại này không phải là giữ lại một cách nguyên xi mà bao giờ cũng có sự kế thừa những nét tiến bộ và lọc bỏ những yếu tố lạc hậu
Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó Bảo tồn là không để mai một, “không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái” Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có khái niệm “cải biến”, “nâng cao” hoặc “phát triển” Hơn nữa, khi nói đối tượng bảo tồn “phải được nhìn là tinh hoa”, chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn
Đối tượng được bảo tồn cần thỏa mãn hai điều kiện:
- Một là, nó phải được nhìn là tinh hoa, là một “giá trị” đích thực được thừa nhận minh bạch, không có gì phải hồ nghi hay bàn cãi
- Hai là, nó phải hàm chứa khả năng, chí ít là tiềm năng, đứng vững lâu dài (tức là có giá trị lâu dài, có thể “trơ gan cùng tuế nguyệt”) trước những biến đổi tất yếu về đời sóng vật chất và tinh thần của con người, nhất là trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay với chính sách mở
Trang 8cửa và bối cảnh nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra cực kỳ sôi động
Bảo tồn nguyên vẹn (bảo tồn trong dạng “tĩnh”): Bảo tồn nguyên vẹn văn hóa vật thể ở dạng “tĩnh” là vận dụng thành quả khoa học kỹ thuật công nghệ cao, hiện đại đảm bảo giữ nguyên trạng hiện vật như sự vốn có về kích thước, vị trí, đường nét, màu sắc, kiểu dáng Khi cần phục nguyên các di sản văn hóa vật thể cần sử dụng hiệu quả các phương tiện kỹ thuật vi tính công nghệ 3D theo không gian ba chiều; chụp ảnh;băng hình video; xác định trọng lượng, thành phần chất liệu của di sản văn hóa vật thể Sau khi tiến hành bảo tồn nguyên vẹn, phải so sánh đối chiếu số liệu với nguyên mẫu đã được lưu giữ chi tiết để không làm biến dạng di sản văn hóa vật thể
Bảo tồn phi vật thể ở dạng “tĩnh” là tiến hành điều tra sưu tầm, thu thập các dạng thức phi vật thể như nó hiện có theo quy trình khoa học nghiêm túc chặt chẽ, “giữ” chúng trong sách vở, các ghi chép, mô tả bằng băng hình, băng tiếng, ảnh.v.v Tất cả các hiện tượng phi vật thể này có thể lưu giữ trong các kho lưu trữ, các viện bảo tàng
Bảo tồn trên cơ sở kế thừa (bảo tồn trong dạng “động”): Bảo tồn
“động”, tức là bảo tồn các hiện tượng trên cơ sở kế thừa Các di sản vật thể
sẽ được bảo tồn trên tinh thần giữ gìn những nét cơ bản của di tích, cố gắng phục chế lại nguyên trạng di sản vật thể bằng nhiều kỹ thuật công nghệ hiện đại Đối với các di sản phi vật thể, bảo tồn “động” trên cơ sở kế thừa là bảo tồn các hiện tượng văn hóa đó ngay chính trong đời sống cộng đồng Bởi lẽ, cộng đồng không những là môi trường tạo ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể mà còn là nơi tốt để giữ gìn, bảo vệ, làm giàu và phát huy giá trị của nó trong đời sống xã hội theo thời gian
* Khái niệm truyền thống
Khái niệm "truyền thống" được sử dụng nhiều trên các sách báo, ấn phẩm, các công trình khoa học và cả trong ngôn ngữ sinh hoạt đời thường
Trang 9Nội hàm và ngoại diên của khái niệm này có nhiều cách diễn đạt Do cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu khác nhau mà mỗi tác giả đưa ra ý kiến có
một số điểm không thống nhất xung quanh khái niệm "truyền thống"
Theo cách hiểu thông thường thì truyền thống là những gì được truyền
từ đời này sang đời khác Truyền thống là từ Hán Việt, trong "Đại từ điển tiếng Việt" định nghĩa "Truyền thống: nền nếp, thói quen tốt đẹp được lưu giữ từ đời này qua đời khác" [22, tr 1734]
Cách định nghĩa này chỉ nêu lên được mặt tốt đẹp của truyền thống,
chưa nêu lên mặt hạn chế của nó trong quá trình phát triển của xã hội
Tiếp cận ở góc độ văn hóa, GS Vũ Khiêu định nghĩa: "Truyền thống
là những thói quen lâu đời đã được hình thành trong nếp sống, nếp suy nghĩ
và hành động của một dân tộc, một gia đình, một dòng họ, một làng xã, một tập đoàn lịch sử" [24, tr 536] Khi xem xét truyền thống trong mối quan hệ giữa quá khứ với hiện tại, GS Trần Đình Sử viết: "Truyền thống là mối liên
hệ lịch sử mà một đầu là những giá trị tư tưởng, văn hóa được sáng tạo trong quá khứ lịch sử và một đầu là sự thẩm định, xác lập và phát huy của người hiện đại Vì vậy có thể nói truyền thống là các giá trị quá khứ mang ý nghĩa
nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác" [19, tr 11]
Mặc dù có sự khác nhau trong định nghĩa về "truyền thống" giữa các nhà khoa học, nhà nghiên cứu nhưng nội hàm và ngoại diên của khái niệm này đều được diễn đạt rõ ràng dựa trên thế giới quan và phương pháp luận
Trang 10mác-xít Về cơ bản, tất cả các ý kiến đều thống nhất ở những dấu hiệu đặc trưng của truyền thống Đó là những yếu tố, những giá trị của cộng đồng người được hình thành tương đối ổn định trong lịch sử, được lưu truyền, cải
biến trong hiện tại và tương lai
Truyền thống không chỉ hoàn toàn gồm những cái tốt đẹp mà truyền thống còn có cả những cái xấu, những yếu tố lạc hậu Khi nói đến "giá trị truyền thống" là đã bao hàm sự tuyển chọn và phân biệt, là nói đến những truyền thống tốt đẹp mang ý nghĩa tích cực và tiêu biểu cho bản sắc văn hóa dân tộc GS Trần Văn Giàu sử dụng thuật ngữ "giá trị tinh thần truyền thống"
để chỉ những truyền thống tốt đẹp, phân biệt với những phong tục, tập quán xấu Ông cho rằng: "Giá trị tinh thần truyền thống của một dân tộc là những nguyên lý đạo đức lớn mà con người trong nước thuộc các thời đại, các giai đoạn lịch sử đều dựa vào để phân biệt phải trái, để nhận định nên chăng, nhằm
xây dựng độc lập, tự do và tiến bộ của dân tộc đó" [17, tr 50-51]
Truyền thống có nhiều cấp độ rộng hẹp khác nhau như: truyền thống
gia đình, TTDT, truyền thống phương Đông "Truyền thống dân tộc là hệ
thống các tính cách, các thế ứng xử của một dân tộc, được hình thành trong các điều kiện tự nhiên, xã hội và lịch sử nhất định, được kết tinh, tích luỹ và lưu truyền qua các thế hệ trong lịch sử của dân tộc, làm nên bản sắc dân tộc" [50, tr 14]
Mỗi quốc gia - dân tộc đều có truyền thống riêng của mình, tùy theo điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể mà nó có quá trình hình thành, phát triển sớm muộn khác nhau TTDT Việt Nam hình thành, phát triển do sự tác động tổng hợp, thường xuyên của nhiều yếu tố mang tính tất yếu, đó là: đặc điểm tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử, môi trường văn hóa khu vực Chính sự tác động của những yếu tố đó buộc con người Việt Nam phải tìm cách ứng phó liên tục nên nhiều phẩm chất được tôi luyện, nhiều thói quen dần dần trở thành tập quán và đồng thời tính cách con
Trang 11người cũng được định hình theo một xu hướng nhất định Trải qua biết bao thế hệ con người tiếp nối, TTDT Việt Nam được lưu truyền, vun đắp
và phát triển ngày càng phong phú Trong hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, nhiều truyền thống quý báu thể hiện tính bền vững và trường tồn cùng đồng hành với dân tộc Việt Nam như: truyền thống yêu nước; truyền thống ĐKDT; truyền thống nhân ái, khoan dung; truyền thống lao động cần cù Trong đó, truyền thống ĐKDT là truyền thống cực kỳ quý báu được xem là một trong những giá trị tinh thần đặc
sắc nhất của dân tộc Việt Nam
* Quan niệm truyền thống đoàn kết dân tộc
Truyền thống đoàn kết dân tộc được xem là giá trị tinh thần cao quý
và đặc sắc của dân tộc, là vấn đề mà Đảng, Nhà nước, các nhà khoa học nước ta đặc biệt quan tâm Tuy nhiên, do yêu cầu đặt ra của việc nghiên cứu
mà khái niệm "Truyền thống đoàn kết dân tộc" cho đến nay vẫn chưa có tác
giả nào đưa ra định nghĩa đầy đủ
Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý (chủ biên), xuất bản năm
1998 có định nghĩa đoàn kết là: "kết thành một khối, thống nhất ý chí, không
mâu thuẫn, chống đối nhau" [22, tr 645] Trong Từ điển do Hoàng Phê (chủ
biên) đưa ra khái niệm đoàn kết là "kết thành một khối thống nhất, cùng hoạt động vì mục đích chung" [42, tr 328], còn Đại đoàn kết là "đoàn kết rộng
rãi" [42, tr 279] Đây là những định nghĩa mang tính phổ thông đối với cụm
từ Hán Việt này, chỉ đưa ra cách hiểu đơn giản, chưa có nội dung đầy đủ.
Dưới góc độ lý thuyết hệ thống, đoàn kết là sự tập hợp thành hệ thống các nhân tố riêng lẻ, cá biệt thành hệ thống có trật tự theo một quy trình vận động nhất định, tạo nên một tổng hợp lực phát huy sức mạnh theo cấp số nhân đối với từng cá nhân riêng lẻ
Trang 12Từ góc độ xã hội PGS TS Trần Hậu khẳng định: “Đoàn kết là sự thể hiện sự đồng thuận của các thành viên trong xã hội Mọi người chấp nhận
nhau để cùng hành động cho một mục tiêu chung [21, tr 52]
Từ quan niệm trên có thể hiểu đoàn kết trên các nội dung cơ bản sau:
- Thống nhất ý chí: tức là cùng chung một ý chí, không mâu thuẫn, chống đối nhau
- Mục đích của thống nhất ý chí là kết thành một khối tạo nên nguồn sức mạnh tổng hợp nhằm đạt được một mục đích chung như chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước, v.v
Từ những khái niệm “Bảo tồn”, “phát huy”, "truyền thống", "truyền
thống dân tộc", "đoàn kết" như đã đề cập, có thể hiểu khái quát: Bảo tồn và phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc là giữ gìn và phát triển giá trị tinh thần cao quý và đặc sắc của dân tộc thể hiện sự đồng thuận của các thành viên trong xã hội kết thành một khối thống nhất ý chí và hành động vì mục đích chung, nhằm đáp ứng yêu cầu tồn tại và phát triển của dân tộc trong các thời đại lịch sử
1.1.2 Cơ sở hình thành truyền thống đoàn kết dân tộc Việt Nam
Các công trình nghiên cứu thuộc các lĩnh vực văn hóa, dân tộc học, khảo cổ học, đã cung cấp chứng cứ cho thấy truyền thống đoàn kết dân tộc
Việt Nam có nguồn gốc từ sự tác động của một số yếu tố có tính đặc thù
1.1.2.1 Các dân tộc nước ta cùng chung sống trong hoàn cảnh thiên nhiên nhiều tiềm năng nhưng đầy bất trắc
Đặc điểm về địa hình, khí hậu, tài nguyên và môi trường sinh thái nước ta chứa đựng nhiều tiềm năng to lớn, đồng thời lại gây nhiều khó khăn, thách thức hiểm nghèo đối với con người Qua những tư liệu về lịch sử, kết quả khảo cổ và một số đề tài khoa học khác khẳng định có nhiều chứng cứ cho thấy từ thời cổ đại cư dân ở đây sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt
và đánh bắt Mong muốn của các cư dân khi đến đây là xây dựng một cuộc
Trang 13sống ổn định, văn minh, thoát dần cuộc sống hái lượm, săn bắt bấp bênh đầy
nguy hiểm để tìm tới cuộc sống định cư vững vàng và sung túc
Ở nước ta, trong muôn vàn những yếu tố địa lý có ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của con người thì môi trường sông nước là yếu tố thường xuyên và có tác động mạnh mẽ nhất Các cư dân đầu tiên đến vùng đất này chọn nơi định cư có địa thế tương đối thuận lợi là khu vực hạ lưu có nhiều sông ngòi chằng chịt nằm giữa một bên là đồi núi cao và một bên là biển cả Bởi vì địa hình đó thuận lợi cho công việc trồng trọt, chăn nuôi và đánh bắt nhất Tuy nhiên, công việc khởi đầu của họ không hề dễ dàng do sự khắc nghiệt của thiên nhiên Trước cảnh bốn bề "rừng thiêng nước độc", nhiều vùng trũng thấp nên muốn khai hoang, cải tạo đất, phát triển sản xuất thì họ nhất thiết phải dựa vào sức mạnh của tập thể, đồng cam cộng khổ, có phước cùng hưởng, có hoạ cùng chia Theo đề tài KX.07.02 (Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước) do GS Phan Huy Lê chủ biên, thì có nhiều chứng cứ cho thấy cư dân xa xưa ở khu vực phía Bắc nước ta đã khai thác ruộng đất theo phương thức tập thể, đất đai canh tác trong một thời gian dài thuộc chế độ ruộng đất công Đến nay mô hình ruộng đất công vẫn còn dấu
tích ở nhiều nơi
Nguồn nước dồi dào của các con sông với địa hình dốc đổ ra hướng biển Đông, mưa lớn tập trung chỉ một thời gian ngắn trong năm là nguyên nhân gây ra lũ lụt Thêm nữa, ngoài khơi vùng biển nước ta là một trong những trung tâm phát sinh bão nhiệt đới, trung bình hàng năm có đến hơn 10 cơn bão đổ bộ vào đất liền tàn phá ghê gớm nhà cửa, mùa màng và cuộc sống con người ở đây Việc xây dựng hệ thống đê điều ngăn lũ bảo đảm sản xuất và đời sống là mối quan tâm chung của cộng đồng Hoàn thành hệ thống
đê điều có đến hàng nghìn ki-lô-mét là công trình vĩ đại tốn nhiều công sức của nhiều thế hệ tự nó đã nói lên ý chí mạnh mẽ, sức mạnh to lớn của sự
Trang 14đoàn kết chung lòng xây dựng đất nước của ông cha ta Thực tế và kinh
nghiệm cuộc sống đã dạy cho nhiều thế hệ con người ở đây bài học:
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại thành hòn núi cao
Thời tiết khắc nghiệt, mưa nắng thất thường, sâu bệnh phát sinh khiến cho con người phải chống chọi vất vả Những lúc gặp hoạn nạn, khó khăn thì với tình nghĩa "đồng bào", tinh thần "lá lành đùm lá rách", "thương người như thể thương thân", mọi người sẵn sàng giúp đỡ nhau để vượt qua cơn hiểm nghèo
Ca dao Việt Nam có câu:
Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn
1.1.2.2 Các dân tộc nước ta cùng chung lợi ích và vận mệnh lịch sử
Theo những tư liệu lịch sử, nhà nước đầu tiên của Việt Nam được thành lậptừ thời các vua Hùng (khoảng 2879 - 258 tr.CN) có tên gọi là Văn Lang Nhà nước Văn Lang ra đời trên cơ sở liên minh của 15 bộ lạc thuộc phạm vi miền Bắc cho đến Hoành Sơn và một dải đất thuộc phía Bắc Việt Nam giáp với tỉnh Quảng Tây của Trung Hoa Trung tâm của nhà nước Văn Lang là vùng đất Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Sơn Tây ngày nay, dân số vào khoảng 50 vạn người [10, tr 7 - 11] Đến thời nhà Nguyễn lãnh thổ Việt
Trang 15Nam mở rộng xuống phía Nam và sang phía Tây thu hút thêm nhiều dân tộc gia nhập vào đại gia đình các dân tộc Việt Nam Hiện nay trên lãnh thổ Việt Nam có đến 54 dân tộc chọn nơi đây làm nơi định cư sinh sống, cùng xem là Tổ quốc thiêng liêng của mình Mặc dù 54 dân tộc đến đây định cư vào những thời kỳ khác nhau trong lịch sử nhưng khi chọn Việt Nam là Tổ quốc thiêng liêng, họ đã chung sức cùng nhau xây dựng, bảo vệ và phát
triển đất nước
Việt Nam ở vào một vị trí địa lý - chính trị có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng Nơi đây còn là vùng đất phì nhiêu, đường giao thông thủy bộ tiện lợi nằm bên cạnh một đế chế Trung Hoa rộng lớn trở thành nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến những biến cố lịch sử, cuộc sống và truyền thống Việt Nam Kể từ cuộc kháng chiến chống Tần (thế kỷ III tr.CN) đến thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam phải thường xuyên đấu tranh chống xâm lược và giải phóng dân tộc với hơn 12 thế kỷ Thật hiếm thấy một quốc gia - dân tộc nào trên thế giới lại có quá trình đấu tranh chống xâm lược kiên cường, bền bỉ và anh dũng như dân tộc ta mà kẻ thù luôn là những đế chế hoặc đế quốc hùng
mạnh vào bậc nhất thế giới
Trước cuộc chiến đấu không cân sức như vậy, con đường sống còn và chiến thắng của dân tộc là phải huy động cao độ sức mạnh tổng hợp về vật chất và tinh thần của cả dân tộc Bởi "nước mất thì nhà tan", mọi người vì nghĩa lớn mà chiến đấu hy sinh "vì nước quên nhà" Đồng bào cả nước từ miền xuôi đến miền ngược, từ Bắc chí Nam không phân biệt nam nữ, trẻ già, thành phần đều đoàn kết một lòng, chung lưng đấu cật chiến đấu oanh liệt bảo vệ nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Qua nghiên cứu đời sống các dân tộc, các nhà Dân tộc học đã nhận định rằng: Các dân tộc nước
ta qua gắn bó máu thịt với quốc gia Việt Nam mà gắn bó máu thịt với nhau Cùng chung sống trong Tổ quốc, mẹ Việt Nam, các dân tộc no đói có nhau, vinh nhục bên nhau, đồng cam cộng khổ, sống chết một lòng Tinh thần đoàn
Trang 16kết, tương trợ truyền thống đó được thể hiện qua sự nghiệp dựng nước và giữ nước của đại gia đình các dân tộc trong trường kỳ lịch sử, nó là quy luật phát
triển của dân tộc Việt Nam [11, tr 365]
Thật vậy, lược qua lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước đến thế kỷ
XX, tất cả những chiến công hiển hách chống xâm lược chính là thành tích chung của 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam Khi nhà Tần xua quân xâm lược nước ta, dưới sự lãnh đạo của Thục Phán, nhân dân Bách Việt đoàn kết một lòng đánh đuổi quân Tần về nước Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã huy động được nhân dân cả 65 thành hồi ấy đồng loạt đứng lên khởi nghĩa Sang thời nhà Trần, các dân tộc miền núi phía Bắc phối hợp với dân tộc Kinh đã anh dũng chiến đấu thắng giặc Nguyên - Mông Cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi và Nguyễn Trãi chống sự đô hộ của nhà Minh, tụ nghĩa ở Lam Sơn là vùng đất sinh sống của dân tộc Mường, được nhân dân khắp nơi hưởng ứng và lập nên chiến công vang dội ở ải Chi Lăng Cuộc hành quân thần tốc kỳ lạ từ Nam ra Bắc của Nguyễn Huệ tiêu diệt hơn 20 vạn quân Thanh có sự tham chiến hiệu quả của đội "tượng binh" các dân tộc ở Tây Nguyên Thời Pháp thuộc (thế kỷ XIX), lịch sử ghi nhận có rất nhiều cuộc nổi dậy của các dân tộc anh em trên khắp cả nước Từ khi có Đảng với lãnh
tụ Hồ Chí Minh, sức mạnh truyền thống ĐKDT được nhân lên gấp bội Khắp nơi trong cả nước, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa và miền núi - chính là những vùng căn cứ địa vững chắc của cách mạng Những chiến công vang dội như Việt Bắc, Điện Biên Phủ, Buôn Mê Thuột, Tây Nguyên làm kinh
hoàng quân giặc đều thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Nhìn lại những trang vàng ấy của lịch sử, ta thấy bên cạnh chiến công hiển hách của các vị anh hùng dân tộc như: Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Hồ Chí Minh, còn có các đại biểu
ưu tú của các dân tộc thiểu số như: Tôn Đản, Hà Bổng, Hà Đặc, Bế Khắc Thiệu, Ma Luân, Phạm Cuông Vì vậy, trong dòng chảy của lịch sử Việt
Trang 17Nam luôn có sự hòa trộn mồ hôi và xương máu biết bao thế hệ con người
thuộc các dân tộc
Tuy nhiên, lịch sử Việt Nam không chỉ toàn những trang sử hào hùng, oanh liệt, không phải lúc nào các dân tộc cũng hòa thuận đoàn kết, không có mâu thuẫn Trong xã hội có giai cấp đối kháng, có áp bức bất công thì các dân tộc ở nước ta không tránh khỏi xảy ra những xung đột xung quanh vấn
đề chủ yếu là lợi ích Có lúc vì lợi ích cá nhân, dòng tộc mà tập đoàn phong kiến cam tâm bán rẻ dân tộc, gây mâu thuẫn, chia rẽ dân tộc, tạo cơ hội cho thế lực bên ngoài xâm lược nước ta Tuy nhiên, nét chủ đạo, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trường kỳ lịch sử Việt Nam vẫn là mối quan hệ đoàn kết keo sơn giữa các dân tộc anh em, giữa dân tộc đa số với dân tộc thiểu số và giữa dân tộc
thiểu số với nhau
1.1.2.3 Các dân tộc nước ta có chung ý thức bảo tồn và phát triển nền văn hóa dân tộc thống nhất trong tính đa dạng
Nước ta nằm ở khu vực tiếp xúc giữa đại lục và đại dương, nơi đầu mối của các đường giao thông tự nhiên nối liền giữa lục địa và tỏa ra các hải đảo, qua con đường hàng hải nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương Bởi vậy, Việt Nam là nơi giao thoa gặp gỡ của nhiều dân tộc trên đường di trú, nơi giao lưu rộng rãi của các nền văn hóa trong khu vực với các nền văn hóa lớn trên thế giới Trước đây có một số quan niệm cho rằng Việt Nam không phải là khu vực có nền văn hóa độc lập, mà chỉ là khu vực nằm giữa hai nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ Quan niệm đó đã bị bác bỏ bởi những kết quả nghiên cứu khảo cổ học, lịch sử, văn hóa, trong những thập niên gần đây Những phát hiện này chứng minh từ thời tiền sử và sơ sử xa xưa, Việt Nam từng có một nền văn hóa khá phát triển với một cơ tầng văn hóa rõ nét Mặc dù nằm bên cạnh và chịu ảnh hưởng của hai nền văn minh là Trung Hoa và Ấn Độ nhưng Việt Nam vẫn bảo tồn và phát triển được bản
sắc văn hóa riêng do hoàn cảnh lịch sử cụ thể quy định
Trang 18Vào những năm 70 thế kỷ XX, tức ngay trong thời kỳ cả nước ta đang tiến hành cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, các nhà khoa học Việt Nam
đã đưa ra những căn cứ khoa học đầy thuyết phục, chứng minh nền văn hóa Đông Sơn là sản phẩm tinh thần của dân tộc Việt Nam tương ứng với thời Hùng Vương dựng nước Văn Lang Nền văn hóa đó có thời kỳ phát triển rực
rỡ và lan tỏa ra nhiều nước Đông Nam Á, đến tận miền Viễn Đông Xi-bê-ri bấy giờ Chính nền văn hóa Đông Sơn hình thành nên cốt lõi để sau này phát triển lên thành bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, một nền văn hóa thống
nhất và đa dạng
Sự thống nhất của nền văn hóa dân tộc ta do thực tế khách quan của lịch sử quy định Sự thống nhất trong tính đa dạng là thuộc tính vốn có, là
quy luật phát triển của nền văn hóa Việt Nam
Sự thống nhất của nền văn hóa Việt Nam là do sự hội tụ của hai yếu
tố: Một là, do chúng có chung một cơ tầng là văn hóa Đông Nam Á mà nét chủ yếu là văn minh lúa nước Hai là, do nguồn gốc lịch sử chung của nhiều
nhóm dân tộc như Việt (Kinh) - Mường, Tày - Thái, Nam Đảo, Môn - Khmer, sinh tụ lâu đời trên lãnh thổ nước ta Đối với các nhóm dân tộc không cùng chung nguồn gốc lịch sử thì chính do sự tụ cư gần nhau lâu đời, chịu sự tác động môi trường và sinh thái như nhau, chung lợi ích và vận mệnh lịch sử, sự giao lưu văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác đã làm nảy
sinh nhiều yếu tố văn hóa thống nhất
Nghiên cứu một số hiện tượng văn hóa ở các dân tộc, GS,TS Phan Hữu Dật cho rằng, thật khó xác định được dân tộc nào trong số các dân tộc
trên đất nước ta là chủ nhân của hiện tượng văn hóa như: ta leo (vật bằng tre
đan cắm lá thường thấy trên các nương rẫy, đầu đường vào bản hay trước
cửa nhà khi có kiêng cữ), hoa văn hình thập ngoặc, uống rượu cần, ăn cơm lam, lễ hội đâm trâu Rất có thể đó là sản phẩm chung của quá trình lao
động và sáng tạo của tất cả các dân tộc
Trang 19Tính đa dạng của nền văn hóa dân tộc thể hiện trong sắc thái văn hóa vùng và nét đặc sắc của từng dân tộc Theo nghiên cứu, phát hiện của các nhà văn hóa thì nước ta hiện có bảy vùng văn hóa tương đối rõ ràng: Trung
du và Đồng bằng Bắc Độ, Tây Bắc và miền núi Bắc Trung Bộ, Việt Bắc, Đồng bằng duyên hải Bắc Trung Bộ, Đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ, Trường Sơn - Tây Nguyên và Nam Bộ Mỗi vùng văn hóa đều có sắc thái riêng và được phân thành những tiểu vùng, mỗi tiểu vùng lại có một số yếu
tố văn hóa riêng Điều đó phần nào nói lên tính đa dạng của nền văn hóa Việt Nam Hơn nữa, tính đa dạng của nền văn hóa Việt Nam còn thể hiện ở sắc thái văn hóa riêng của mỗi dân tộc Theo đó có thể chia sắc thái văn hóa các dân tộc thành ba cấp độ từ rộng đến hẹp, như sau: sắc thái văn hóa của nhóm ngôn ngữ (Việt - Mường, Tày - Thái, Môn - Khmer, Mông, Dao, ); sắc thái văn hóa của từng dân tộc (gồm có 54 dân tộc); sắc thái văn hóa của từng bộ phận trong một dân tộc (Thái trắng - Thái đen, Mông trắng - Mông đen - Mông hoa ) Những sắc thái văn hóa ấy tạo nên tính đa dạng và phong phú của văn hóa dân tộc Nó như những bông hoa với nhiều sắc màu và hương
thơm khác nhau trong vườn hoa chung của dân tộc Việt Nam
Đề cao tính đa dạng của nền văn hóa dân tộc nhưng chúng ta cần ý thức rằng đó là tính đa dạng trong sự thống nhất Vì thế, không nên đem đối lập tính đa dạng với tính thống nhất; hoặc ngược lại cũng sẽ là sai lầm nếu quá nhấn mạnh tính thống nhất mà hạ thấp và bỏ quên tính đa dạng của nền văn hóa dân tộc Cho nên nếu vì một lý do nào đó ta xem nhẹ hay đánh mất
nó thì có nghĩa là làm suy yếu đi sức mạnh tổng hợp của dân tộc
Các dân tộc cùng sống chung trên dải đất Việt Nam ý thức được rằng sức sống của mỗi dân tộc chính là ở yếu tố nội sinh, tức những giá trị trong nền văn hóa lâu đời của dân tộc Đối với mỗi con người Việt Nam, văn hóa
và sự hiểu biết đem lại cho đời sống những điều tốt đẹp nhất về phẩm chất
mà nếu thiếu nó thì cuộc sống sẽ trở nên mất ý nghĩa Vì thế mà tất cả mọi
Trang 20thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam đều có chung ý thức bảo
vệ và phát triển nó
Văn hóa như một cơ thể sống luôn diễn ra sự vận động biến đổi do hai yếu tố nội sinh và ngoại sinh, trong đó yếu tố nội sinh là chủ yếu còn yếu tố ngoại sinh là quan trọng Nếu một nền văn hóa bị khép kín, không giao lưu với bên ngoài giống như không có sự trao đổi chất sống thì sớm hay muộn sẽ
trở thành nền văn hóa lụi tàn và cuối cùng biến khỏi nền văn hóa nhân loại
Suốt mấy nghìn năm phát triển nền văn hóa dân tộc, người Việt Nam sớm hình thành ý thức độc lập, tự chủ, tự cường, dựa vào sức mạnh của bản thân là chính Mặt khác, dân tộc ta lại có tinh thần rộng mở, không đố kỵ hẹp hòi, khép kín Với tinh thần mở cửa như vậy, con người Việt Nam sẵn sàng giao lưu để chọn lọc văn hóa bên ngoài nhằm phát triển phong phú thêm văn hóa dân tộc mình Ngay cả khi bị các đế chế, đế quốc xâm lược kéo theo sự xâm lược, áp đặt văn hóa từ bên ngoài thì sự tiếp thu của các dân tộc ở nước
ta cũng hết sức chủ động và sáng tạo Hàng nghìn năm đô hộ của các đế chế Trung Hoa, hàng trăm năm đô hộ của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, vậy mà đất nước Việt Nam vẫn còn đó, dân tộc Việt Nam vẫn còn đó, nền văn hóa Việt Nam không hề bị lai căng hay mất gốc mà lại càng thêm thấm đậm bản
sắc dân tộc
Ý thức giữ gìn nền văn hóa tốt đẹp của các dân tộc còn thể hiện rõ trong văn học, nhất là văn học dân gian Văn học dân gian các dân tộc không phải ngẫu nhiên ghi nhận tất cả các dân tộc trên đất nước ta đều cùng chung một nguồn gốc: Dân tộc Kinh có câu chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ với cái bọc trăm trứng nở trăm con là tổ tiên của các dân tộc, dân tộc Mường có câu chuyện đôi chim Âu cái ứa, dân tộc Mông có câu chuyện kể về nguồn gốc các dân tộc do cùng một cục thịt phân ra treo ở trên các cây đào cây lý, dân tộc Bana có câu chuyện trong quả bầu lần lượt chui ra các dân tộc Cho
dù văn học dân gian thường có tính hư cấu, nhưng phải chăng ngay trong
Trang 21tiềm thức các dân tộc ở nước ta muốn khẳng định nguồn gốc chung của dân
tộc Việt Nam nên cùng dốc sức chăm lo, bảo vệ nền văn hóa dân tộc
Các cụm từ trong tiếng Việt như: đồng bào, Tổ quốc, mẹ Việt Nam trở thành thiêng liêng đối với tất cả các dân tộc Trong nền văn hóa Việt Nam, tiếng Việt của dân tộc Kinh được chọn làm ngôn ngữ chung, gọi là Quốc ngữ Tiếng Việt luôn được các cộng đồng chăm lo giữ gìn, phát triển đồng
thời với ngôn ngữ và chữ viết riêng của mỗi dân tộc
Để phát triển nền văn hóa Việt Nam cần phải dựa trên quan điểm khách quan, khoa học, đánh giá lại toàn bộ di sản nền văn hóa dân tộc Quan điểm của học thuyết Mác - Lênin về lĩnh vực đời sống tinh thần xã hội cho chúng ta hiểu rằng tự thân nền văn hóa luôn hòa quyện yếu tố giai cấp, dân tộc và nhân loại Các yếu tố tạo thành nền văn hóa không phải tất cả đều tốt đẹp hay tất cả đều xấu Vì vậy, việc chắt lọc, "gạn đục khơi trong" thúc đẩy nền văn hóa nước ta phát triển đúng hướng, đáp ứng yêu cầu văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là công việc có tầm quan trọng đặc biệt Phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc là quan điểm có tầm chiến lược của Đảng ta "làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người, hoàn thiện hệ giá trị mới của con người Việt Nam,
kế thừa các giá trị truyền thống của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa của loài người, tăng sức đề kháng chống văn hóa đồi trụy, độc hại" [18, tr.213] Chiến lược phát triển nền văn hóa dân tộc của Đảng vừa phù hợp với yêu cầu thực tiễn của đất nước vừa đáp ứng đúng nguyện vọng và tình cảm của các
dân tộc trên đất nước ta
Như vậy, truyền thống ĐKDT Việt Nam có cơ sở hình thành từ hoàn cảnh đặc thù, do sự tác động thường xuyên của hoàn cảnh thiên nhiên, chung lợi ích và vận mệnh lịch sử, ý thức bảo tồn và phát triển nền văn hóa thống nhất trong đa dạng Ba yếu tố đó như ba chiếc trụ chụm lại tạo thành một cái
đỉnh chung chính là truyền thống ĐKDT
Trang 221.1.3 Truyền thống đoàn kết dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh
Truyền thống đoàn kết, ý thức cộng đồng đã đóng vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của dân tộc ta từ ngày đầu dựng nước cho đến hôm nay Từ khi Đảng Cộng sản lãnh đạo, đặc biệt là vai trò của Hồ Chí Minh, truyền thống ĐKDT được nâng lên tầm cao mới, có cơ sở lý luận,
có mục tiêu, nguyên tắc rõ ràng Từ tư tưởng Hồ Chí Minh, sức mạnh của khối đại ĐKDT trở thành nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta Tư tưởng ĐKDT Hồ Chí Minh trở thành di sản tinh thần vô giá mà Đảng và nhân dân ta tiếp tục khai thác
Dưới thời Pháp thuộc, thực dân Pháp chia cắt nước ta thành ba kỳ với
ba chế độ cai trị khác nhau bằng thủ đoạn chia rẽ Bắc - Trung - Nam, miền núi với miền xuôi, dân tộc đa số với dân tộc thiểu số, lương với giáo, thành thị với nông thôn, nhằm gây mâu thuẫn, nô dịch lâu dài dân tộc Việt Nam Suốt gần một trăm năm nhân dân ta đã bền bỉ chiến đấu làm cho kẻ thù không lúc nào yên ổn Cứ cuộc nổi dậy này bị dập tắt thì cuộc khởi nghĩa khác lại bùng nổ Tuy nhiên, tất cả các phong trào khởi nghĩa, các cuộc vận động cải cách, chấn hưng dân tộc đều đi đến kết cục thất bại Cách mạng nước ta vẫn chưa tìm ra con đường giải thoát đúng đắn Một trong những nguyên nhân thất bại là do chưa có ngọn cờ tập hợp, thức tỉnh dân tộc, truyền thống ĐKDT chưa được khơi dậy và phát huy đúng mức
Song lịch sử không bao giờ đặt ra vấn đề không thể giải quyết, Hồ Chí Minh xuất hiện trong bối cảnh như vậy Từ một thanh niên yêu nước, nung nấu hoài bão đưa dân tộc thoát khỏi cảnh bị áp bức nô lệ, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc ra đi tìm chân lý khắp năm châu Rồi dưới ánh sáng của Cách mạng tháng Mười, Người tìm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin "Đối với tôi câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập" [33, tr 192] Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 23ra đời với lãnh tụ Hồ Chí Minh, từ đây sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc chuyển sang bước ngoặt mới có sự lãnh đạo của Đảng
Các văn kiện đầu tiên của Đảng do Hồ Chí Minh khởi thảo: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt là
mẫu mực của sự vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin, đường lối của Quốc
tế cộng sản vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam Hồ Chí Minh phân tích một cách khoa học tính chất và những mâu thuẫn của xã hội nước ta thời bấy giờ Tính chất của xã hội nước ta là xã hội thuộc địa nửa phong kiến Những mâu thuẫn cơ bản của xã hội ta đó là mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến, mâu thuẫn giữa công nhân với tư sản dân tộc và tư sản chính quốc, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc với đế quốc và bọn tay sai Trong những mâu thuẫn cơ bản đó, Hồ Chí Minh xác định mâu thuẫn chủ yếu cần tập trung lực lượng giải quyết là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa thực dân Pháp và bọn tay sai của chúng Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cách mạng lúc này là huy động sức mạnh của cả dân tộc đấu tranh đánh đổ đế quốc và phong kiến, giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh đã khơi dậy ngọn lửa yêu nước, thức tỉnh tinh thần dân tộc trong mọi trái tim người Việt Nam Bất kỳ người Việt Nam yêu nước nào cũng có thể góp công sức vào công cuộc kháng chiến và kiến quốc Vì thế, sức mạnh truyền thống ĐKDT được Hồ Chí Minh và Đảng ta phát huy mạnh mẽ chưa từng có
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Hồ Chí Minh nói nhiều
về đoàn kết với những cụm từ: đại đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết nhân dân, đoàn kết nội bộ, ĐKDT, đoàn kết quốc tế Theo những nhà nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh thì Người đề cập đến "đoàn kết dân tộc" với hai nghĩa khác nhau:
Thứ nhất, "đoàn kết dân tộc" có ý nghĩa tương tự như đoàn kết toàn
dân, có lần Người viết: "Đảng ta đã khéo tập hợp mọi lực lượng yêu nước và
Trang 24tiến bộ trong Mặt trận dân tộc thống nhất, thực hiện đoàn kết dân tộc để đấu
tranh chống đế quốc và phong kiến" [38, tr.18]
Thứ hai, "đoàn kết dân tộc" với nghĩa là sự đoàn kết giữa dân tộc đa số
với dân tộc thiểu số, đoàn kết giữa các dân tộc thiểu số với nhau
Về lý luận và thực tiễn, quan điểm Hồ Chí Minh về ĐKDT là sự kết hợp tuyệt vời giữa lý luận Mác - Lênin với thực tiễn lịch sử và truyền thống Việt Nam
Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc đến "đại đoàn kết", trong bài nói chuyện tại Hội nghị đại biểu Mặt trận Liên - Việt toàn quốc (năm 1951), Người giải thích: Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại
đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác Đó là nền gốc của đại đoàn kết Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ [37, tr 438]
Đây được xem là định nghĩa đầy đủ nhất của Hồ Chí Minh về đại ĐKDT Định nghĩa này còn nêu ra mục tiêu và nguyên tắc của đại ĐKDT
Mục tiêu bất di bất dịch của đại ĐKDT là bảo đảm lợi ích tối cao của
dân tộc và quyền lợi cơ bản của toàn thể nhân dân Việt Nam Đó chính là
"hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ" Vấn đề lợi ích dân tộc Người nói đến không phải là cái gì trừu tượng, chung chung mà luôn gắn với nhiệm vụ
cụ thể của từng giai đoạn cách mạng "Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc, ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà", nhân dân được ấm no, hạnh phúc; bởi vì, độc lập tự do mà để cho dân đói khổ thì độc lập tự do ấy có nghĩa lý gì
Để thực hiện mục tiêu quan trọng đó, Hồ Chí Minh còn chỉ ra các nguyên tắc của xây dựng khối ĐKDT
Trang 25Một là, đoàn kết dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đây là nguyên tắc nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh Người nhận thức rất rõ cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, mà bộ phận tiên tiến nhất, cách mạng nhất hiện nay là giai cấp công nhân Việt Nam Giai cấp công nhân cần có lý luận tiên phong dẫn đường là lý luận Mác - Lênin và phải thông qua chính đảng của mình để lãnh đạo toàn xã hội Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nông dân và nhân dân lao động nước ta, Đảng còn đại biểu cho lợi ích của toàn dân tộc
Hai là, đoàn kết rộng rãi và lâu dài Bất kỳ người Việt Nam yêu nước
nào tự nguyện tán thành mục tiêu của Đảng miễn là muốn phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân thì Đảng và nhân dân lao động Việt Nam "thật thà" đoàn kết lâu dài với họ Đoàn kết là một chính sách dân tộc chứ không phải là một thủ đoạn chính trị Thậm chí ngay cả khi trong quá khứ người đó có sai lầm, khuyết điểm, chống đối ta mà nay thành tâm hối cải và quyết lòng sửa chữa thì chúng ta cũng thu phục sử dụng để họ có cơ hội trở thành người có ích, góp sức đấu tranh và xây dựng nước nhà
Ba là, phải không ngừng xây dựng và củng cố khối ĐKDT Đây là
công việc thường xuyên, xây dựng và củng cố phải làm từ dưới lên trên, từ
trong ra ngoài Cái "nền gốc" là khối liên minh giữa giai cấp công nhân với
nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác Hồ Chí Minh dạy rằng:
công nông là gốc của cách mạng, liên minh này có vững chắc thì Mặt trận dân tộc thống nhất và khối ĐKDT mới bảo đảm Đối với nguyên tắc này,
Người nhiều lần nhấn mạnh Đảng phải đoàn kết, nếu trong nội bộ Đảng không đoàn kết thì làm sao lãnh đạo, làm sao tạo được sự đoàn kết thống nhất toàn xã hội Cho nên: "Các đồng chí từ trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình" [40, tr 510] Lịch sử đã cho ta bài học về sức mạnh, sức mạnh của
Trang 26dân tộc ta là ở sự đoàn kết thống nhất Người dạy rằng: "Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn" [34, tr.217] Củng cố, phát huy truyền thống đoàn kết của Đảng, của dân tộc cần đi đôi với việc ngăn chặn, đẩy lùi những truyền thống, thói quen lạc hậu gây ảnh hưởng tiêu cực đến đoàn kết Tức là xây đồng thời với chống, muốn xây thì phải chống Muốn xây dựng, củng cố khối ĐKDT thì cần chống hai quan điểm sai lầm là "cô độc, hẹp hòi và đoàn kết vô nguyên tắc" Bệnh hẹp hòi là căn bệnh nguy hiểm
"Trong, thì bệnh này ngăn trở Đảng thống nhất và đoàn kết
Ngoài, thì nó phá hoại sự đoàn kết toàn dân" [35, tr.236]
Mặt khác, "đối với những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô", "vì quyền lợi cá nhân chống lại lợi ích quốc gia", hay đoàn kết theo kiểu phường hội, cục bộ, địa phương, cũng là những biểu hiện của đoàn kết vô nguyên tắc thường xuất hiện trong các tổ chức chính trị ở mọi nơi, mọi lúc cần đấu tranh và kiên quyết loại trừ
Quan điểm về đoàn kết và đại ĐKDT của Hồ Chí Minh chính là sự kế thừa, phát triển truyền thống ĐKDT Việt Nam; đồng thời còn là sự vận dụng sáng tạo "tinh thần" chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng nước ta Dưới ngọn cờ của Đảng, của Hồ Chí Minh, mọi tầng lớp nhân dân không phân biệt trẻ già, nam nữ, giàu nghèo, dân tộc, lương giáo, địa vị
xã hội, tất cả đều được huy động, khai thác triệt để không bỏ sót đối tượng nào Khi tìm hiểu về sự bí ẩn, kỳ diệu của dân tộc Việt Nam, GS Trần Văn Giàu nêu ra câu hỏi cho lịch sử nhưng câu hỏi này lại đúng là lời giải đáp: có dân tộc nào nhiều lần phải đương đầu nhất với một nước lân cận lớn mạnh hơn gấp 10 lần, 20 lần, 30 lần, và rốt cuộc đều đứng vững, không bị đồng hóa, giữ được bản sắc của mình và nếu phải tiến hành chiến tranh thì đều kết thúc bằng những chiến thắng oanh liệt? Hãy thử tìm một nước, một dân tộc,
Trang 27không phải một lần, mà hai lần trong lịch sử hiện đại đánh bại hai cường quốc mạnh nhất thế giới Lần thứ nhất là chiến thắng Pháp, lần thứ hai là chiến thắng Mỹ
Vậy mà chiến lược cách mạng và quan điểm "đại đoàn kết dân tộc" của Hồ Chí Minh có lúc bị coi là không tuân thủ các nguyên tắc của Quốc tế cộng sản Nhiều giai tầng được Hồ Chí Minh thực hiện "đoàn kết rộng rãi" như: phú nông, địa chủ, tiểu tư sản, tư sản dân tộc, từng bị Quốc tế cộng sản khuyến cáo "không được cường điệu khuynh hướng cách mạng" hoặc
"không bao giờ được liên minh với họ" Tuy nhiên, Đại hội lần thứ VII Quốc
tế cộng sản (năm 1935) đã khẳng định quan điểm chiến lược về ĐKDT của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là rất đúng đắn, sáng tạo
Tư tưởng ĐKDT Hồ Chí Minh còn là sự kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố giai cấp - dân tộc - quốc tế, phù hợp với xu thế phát triển thời đại, nâng truyền thống ĐKDT Việt Nam lên tầm cao mới, có cơ sở lý luận và trở thành đường lối chiến lược của Đảng ta
Sau ngày đất nước độc lập, thống nhất, cùng đi lên xây dựng CNXH, những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về phát huy truyền thống ĐKDT có điều kiện thực hiện thuận lợi hơn trong cả nước Thế nhưng
do nhận thức ấu trĩ, tả khuynh của nhiều nước XHCN, trong đó có cả Việt Nam là nguyên nhân chủ quan làm cho đất nước sau chiến tranh phát triển hết sức trì trệ Khủng hoảng kinh tế - xã hội ở những năm đầu thập niên 80 (thế kỷ XX) là một minh chứng
Bước vào thời kỳ đổi mới, vấn đề ĐKDT ở Việt Nam lại đặt ra trong bối cảnh phức tạp trước sự đổ vỡ của nhiều quốc gia thuộc khối các nước XHCN Vấn đề ĐKDT phát sinh trên cả hai bình diện, vừa là vấn đề của một quốc gia - dân tộc thống nhất, vừa là vấn đề của từng dân tộc thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam Thêm một lần nữa tư tưởng ĐKDT
Hồ Chí Minh tiếp tục soi sáng công cuộc đổi mới của Đảng ta Đảng ngày
Trang 28càng nhận thức rõ hơn vai trò động lực của truyền thống ĐKDT, đặc biệt là ở giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước
Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng luôn có những bước tiến quan trọng trong nhận thức và vận dụng tư tưởng "đại đoàn kết dân tộc" Hồ Chí Minh Nhiều nghị quyết của Đảng đề cập, nhấn mạnh việc củng cố, tăng cường và mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc: Đại đoàn kết dân tộc là đoàn kết mọi người trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, bao gồm các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, người trong nước và người định cư ở nước ngoài vì
mục tiêu chung: giữ vững độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu sớm thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tiến lên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, lần đầu tiên Đảng ta sử dụng thuật ngữ "đại đoàn kết toàn dân tộc", thực chất muốn nhấn mạnh việc mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết dân tộc Trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI (2011) một lần nữa khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [16, tr 48] Đây là quan điểm thể hiện tinh thần cầu thị, mở rộng dân chủ, xoá bỏ mọi định kiến, phân biệt đối
xử trong mọi tầng lớp nhân dân nhằm phát huy tối đa "nội lực" kết hợp với
"ngoại lực" tạo thành sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc để xây dựng một đất nước Việt Nam hùng cường Những quan điểm trên thể hiện sự tiến bộ về nhận thức và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, là sự kế tục và phát huy truyền thống ĐKDT trong mọi thời kỳ cách mạng của Đảng ta
1.2 Cơ sở thực tiễn của bảo tồn và phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc ở tỉnh Sơn La
1.2.1 Sự tồn tại các dân tộc trong một cộng đồng thống nhất
Trang 29Dân tộc ta có truyền thống đoàn kết lâu đời trong sự nghiệp đấu tranh, xây dựng cộng đồng dân tộc thống nhất Trong mối quan hệ giữa các dân tộc
ở nước ta thì đoàn kết thống nhất là đặc điểm nổi bật nhất, xuyên suốt mọi thời kì trong lịch sử dân tộc Việt Nam “Các dân tộc sống trên đất nước ta trong những giai đoạn khác nhau nhưng đều có chung một vận mệnh lịch sử
là xây dựng một quốc gia dân tộc thống nhất Sự đoàn kết giữa các thành phần dân cư, cùng chung sống trên một đất nước ngay từ buổi bình minh của lịch sử đã tạo nên một cộng đồng quốc gia, dân tộc bền vững mà không phải quốc gia, dân tộc nào trên thế giới cũng có” [45, tr 71] Thực tế lịch sử đã chứng minh, từ khi các vua Hùng dựng nước cho đến nay, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, các tộc người trong dân tộc Việt Nam vẫn luôn đoàn kết
thống nhất để bảo vệ đất nước
Có thể nói các dân tộc sinh sống trên đất nước ta trong những giai đoạn khác nhau, nhưng đều có chung một vận mệnh lịch sử Sự gắn kết cộng đồng các dân tộc thống nhất là đảm bảo sự sống còn của từng dân tộc cũng như của cả cộng đồng các dân tộc trong quá trình phát triển đất nước Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng cao đẹp nhất của tinh thần dân tộc chân chính, chủ nghĩa yêu nước và tinh thần đoàn kết dân tộc Tư tưởng của Người về đoàn kết dân tộc trong một cộng đồng thống nhất đã được khẳng định: "Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán; Gia rai hay Êđê, Xê đăng hay Ba na và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh
em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta" [34, tr.27]
Trong cộng đồng dân tộc ở tỉnh Sơn La, nhiều dân tộc có chung cội nguồn Nói về nguồn gốc dân tộc Việt Nam đã có nhiều truyền thuyết như truyện "Quả bầu mẹ" giải thích các dân tộc có chung nguồn gốc; truyện "Ðôi
Trang 30chim" đẻ ra hàng trăm, hàng ngàn trứng nở ra người Kinh, người Mường, người Thái, người Khơ-mú ; đặc biệt là truyện Lạc Long Quân lấy bà Âu
Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng nở ra trăm người con, một nửa theo cha xuống biển trở thành người Kinh, một nửa theo mẹ lên núi thành các dân tộc thiểu
số Vua Hùng được coi là Tổ tiên chung của cả nước Các tài liệu lịch sử cũng cho thấy, người Việt, người Mường là con cháu của người Lạc Việt,
là chủ nhân của nền văn hoá Ðông Sơn Theo nhiều nhà nghiên cứu, việc tách nhóm Việt - Mường thành các dân tộc là một quá trình lâu dài, bắt đầu vào cuối thiên niên kỷ I, đầu thiên niên kỷ II sau công nguyên Người Tày, Thái, Nùng là những bộ phận của người Tày, Thái cổ, trong quá trình lịch
sử đã tách thành các dân tộc Tày, Thái Người Mông, Dao xưa kia có cùng nguồn gốc, sau tách thành các dân tộc Mông, Dao và Pà Thẻn Các dân tộc
có cùng nguồn gốc lịch sử, có nhiều điểm tương đồng là điều kiện thuận lợi
dễ gần gũi gắn bó với nhau Song dù cùng hoặc không cùng một nguồn gốc sinh ra, có sự khác nhau về tâm lý, phong tục, tập quán thì đều là người trong một nước, con trong một nhà, vận mệnh gắn chặt với nhau, các dân tộc sinh sống ở tỉnh Sơn La luôn kề vai sát cánh bên nhau, thương yêu đùm bọc lẫn nhau
Là tỉnh có vị trí địa lý nhiều thuận lợi song điều kiện tự nhiên cũng rất khắc nghiệt Do địa hình phức tạp, có nhiều tiểu vùng khí hậu nên diễn biến thời tiết hàng năm khá phức tạp Những năm gần đây nhiệt độ không khí trung bình/năm có xu hướng tăng hơn 20 năm trước đây từ 0,50
C - 0,60C (thành phố Sơn La từ 20,90
C lên 21,10C; Yên Châu từ 22,60C lên 230C) Lượng mưa trung bình năm có xu hướng giảm: thành phố Sơn La từ 1.445
mm xuống 1.402 mm, Mộc Châu từ 1.730 mm xuống 1.563 mm Độ ẩm không khí trung bình năm cũng giảm, hiện tại ở thành phố độ ẩm không khí trung bình cả năm là 82%, Yên Châu 80%; số ngày có gió Tây khô nóng trung bình năm tăng lên: thành phố Sơn La từ 1,27 ngày tăng lên 4,3 ngày,
Trang 31Yên Châu từ 34 ngày tăng lên 37,2 ngày Do tình hình khô hạn kéo dài vào mùa đông nên khó tăng vụ trên diện tích canh tác, cộng với gió Tây khô nóng vào những tháng cuối mùa khô đầu mùa mưa (tháng 3 – 4) đã gây không ít khó khăn cho sản xuất và đời sống của một số vùng trong tỉnh Sương muối, mưa đá, lũ quét thường xuyên xảy ra ở diện cục bộ từng nơi của nhiều địa phương, đã làm ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất và đời sống của nhân dân Do yêu cầu tồn tại và phát triển ở một tỉnh miền núi, cộng đồng các dân tộc phải liên kết nhau lại, hợp sức để khai phá đất hoang, chống thú dữ, xây dựng các hệ thống thuỷ lợi , nhằm đảm bảo phát triển sản xuất Hiện nay, trước những biến đổi bất lợi về khí hậu, thời tiết có tính toàn cầu, càng đòi hỏi nhân dân các dân tộc Sơn La đã chung sức, chung lòng hợp sức phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai cũng như khắc phục hậu quả do bão lụt, hạn hán gây ra Cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên đòi hỏi sự gắn kết cộng đồng các dân tộc Sơn La thành một khối thống nhất và gắn bó chặt chẽ
Lịch sử tồn tại và phát triển của các dân tộc ở tỉnh Sơn La không chỉ là kết quả tinh thần đấu tranh bất khuất chống áp bức, chống đồng hóa của ngoại bang mà còn thể hiện bản lĩnh và cần cù, lao động sáng tạo của họ để tạo nên một nền văn hóa tinh thần cộng đồng đặc sắc, phản ánh sinh động sự hòa quyện giữa con người với thiên nhiên, cũng như giữa các dân tộc với nhau, với ước mơ có cuộc sống ổn định, phát triển đầy đủ và thực sự tự do hạnh phúc Thực tế đó đã khẳng định các dân tộc Sơn La đã tự nguyện cố kết với nhau và cố kết với cộng đồng các dân tộc Việt Nam, kiên quyết đẩy lùi
và dập tắt mọi biểu hiện của khuynh hướng phân ly, quyết tâm xây dựng một nền kinh tế mới và một nền văn hóa mới trên cơ sở nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với ý thức quốc gia “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”
Hiện nay, cả tỉnh Sơn La hiện có 12 dân tộc anh em Trong 12 dân tộc,
có những dân tộc vốn sinh ra và phát triển trên mảnh đất Sơn La ngay
Trang 32từ thửa ban đầu, có những dân tộc từ nơi khác lần lượt di cư đến Do vị trí địa, điều kiện tự nhiên của tỉnh Sơn La có sự thuận lợi, nên nhiều dân tộc ở các tỉnh khác đã di cư đến Sơn La, rồi định cư trên mảnh đất này Trong cộng đồng các dân tộc Sơn La, dân số giữa các dân tộc không đều nhau, với
12 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Thái chiếm có dân số lớn nhất, chiếm gần 55,3% dân số toàn tỉnh Các dân tộc có dân số đông tiếp theo là dân tộc Kinh 17,2%, dân tộc Mông 13,4%, dân tộc Mường 8,3%, dân tộc Dao 2,1%,
dân tộc Khơ Mú 1,8%, còn lại là các dân tộc khác Trong đó số các dân tộc ở
tỉnh Sơn La có 04 dân tộc chiếm tới 94.2% dân số của toàn tỉnh gồm các dân tộc: Thái, Mông, Kinh, Mường và 8 dân tộc nhưng chỉ chiếm 5,8% dân số của toàn tỉnh gồm các dân tộc: La Ha, Khơ Mú, Lào, Dao, Xinh Mun,
Kháng, Tày, Hoa Tuy số dân các dân tộc có sự chênh lệch đáng kể, nhưng
các dân tộc vẫn coi nhau như anh em một nhà, quý trọng, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, chung sức xây dựng và bảo vệ tỉnh Sơn La nói riêng và đất nước nói chung, cả khi thuận lợi cũng như lúc khó khăn Mặt khác, ở đây không có tình trạng dân tộc đa số cưỡng bức, đồng hoá, thôn tính các dân tộc
ít người, do đó cũng không có tình trạng dân tộc ít người chống lại dân tộc
đa số
Ngày nay, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, các dân tộc anh
em trên sống trên địa bàn tỉnh Sơn La tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp tục tăng cường đoàn kết, nỗ lực phấn đấu xây dựng tỉnh Sơn
La thống nhất, giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội
1.2.2 Các dân tộc ở tỉnh Sơn La có truyền thống đoàn kết gắn bó lâu đời trong xây dựng và bảo vệ đất nước
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, đồng bào các dân tộc Sơn La luôn giữ gìn và phát huy truyền thống anh hùng bất khuất, thông minh, sáng tạo cùng cộng đồng các dân tộc Việt
Trang 33Nam viết nên những trang sử hào hùng truyền thống vẻ vang xây dựng và bảo vệ đất nước Thực hiện đường lối cách mạng của Đảng, trong hai cuộc kháng chiến chống bọn thực dân cướp nước, nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Sơn La đã trở thành căn cứ địa cách mạng Trong gian khổ, khó khăn vẫn một lòng đi theo Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc Trong những năm thực hiện đổi mới, Đảng bộ và các cấp chính quyền tỉnh Sơn La luôn
quan tâm giải quyết các vấn đề đoàn kết dân tộc trong cộng đồng thống nhất
Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử đấu tranh chống đế quốc thực dân của dân tộc Trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân ta, thực dân Pháp tăng cường đàn áp, khủng bố, bắt và giam cầm hàng loạt đảng viên và quần chúng trung kiên của cách mạng Ở Sơn La, thực dân Pháp mở rộng nhà ngục, đưa hàng chục đoàn chính trị phạm lên giam giữ Có thời gian tù chính trị ở đây lên tới 500 người, phần lớn là cán bộ cốt cán của Đảng Từ trong lao tù, các chiến sĩ cách mạng trung kiên đã đưa ánh sáng của Đảng đến với đồng bào các dân tộc, phát huy ảnh hưởng đối với phong trào của nhân dân các dân tộc Sơn
La Từ hai tổ thanh niên người Thái cứu quốc được thành lập ở Sơn La và Mường La, các đội tự vệ vũ trang đã phát triển rộng khắp ở các huyện: Mai Sơn, Mường La, Phù Yên… làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh trong toàn tỉnh Trong Cách mạng Tháng Tám, các chiến sĩ ở khắp các châu, mường trong tỉnh đã phối hợp chặt chẽ với đồng bào các dân tộc kéo về tỉnh
lỵ, đấu tranh vũ trang, buộc quân Nhật phải đầu hàng, giành chính quyền về tay nhân dân, cùng với cả nước giành thắng lợi vĩ đại trong Cách mạng Tháng Tám, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á
Trong cuộc kháng chiến đầy cam go và gian khổ chống thực dân Pháp, với lòng yêu nước nồng nàn và ý chí kiên cường bất khuất, đồng bào các dân tộc Sơn La, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đã
Trang 34đoàn kết xung quanh Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, tham gia rất tích cực vào phong trào đấu tranh chống “giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm”, bám nương rẫy, ruộng đồng để tăng gia sản xuất, tham gia mở đường, tiếp đạn tải lương, phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang, các đại đoàn chủ lực giành chiến thắng vang dội trong Chiến dịch Tây Bắc - Thu Đông năm 1952 lịch
sử, giải phóng Sơn La – một địa bàn có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng – tạo một cách cửa thép, một địa bàn vũng chắc để quân và dân ta tiến công, giành chiến thắng vang dội trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, có hàng ngàn người con của các dân tộc trong tỉnh Sơn La lên đường ra mặt trận, đóng góp sức người, sức của cùng cả nước kháng chiến Bằng tình yêu Tổ quốc, đồng bòa các dân tộc tỉnh Sơn La đã huy động gần 22 nghìn dân công với hơn 2 triệu 400 nghìn ngày công, vận chuyển 4.450.000 tấn hàng hóa, đóng góp hơn 4000 tấn gạo, 1450 tấn thịt,
1400 nghìn tấn rau xanh cho mặt trận Hàng vạn thanh niên nam, nữ các dân tộc Sơn La không quản ngại hi sinh, gian khổ ngày đêm băng rừng, trèo đèo, lội suối vận chuyển lương thực đạn dược cho bộ đội, góp phần làm nên chiến thắng của chiến dịch Từ phong trào thi đua ái quốc thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, nhiều đơn vị đã được phong tặng đơn vị anh hùng như: Anh hùng lực lượng vũ trang tỉnh Sơn La, Anh hùng lực lượng
vũ trang nhân dân các huyện: Mộc Châu, Phù Yên, Mường La, Mai Sơn… Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân các xã: Chiềng Xôm, Mường Chùm, Nậm Păm, Cò Nòi…cùng những tấm gương anh dũng, quả cảm của các Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lò Văn Giá, Đinh Tỷ, Vàng Lý Tả,
Lò Văn Hắc… đã trở thành biểu tượng anh hùng đấu tranh bất khuất của đồng bào các dân tộc ở tỉnh Sơn La trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập, tự do của Tổ quốc
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, cùng với miền Bắc, tỉnh Sơn La hoàn toàn giải phóng, bước sang giai đoạn vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa
Trang 35chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, vừa tiễn phỉ, trừ gian, giữ vững an biên giới, góp phần cùng cả nước giải phóng miền Nam
Thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước, Đảng bộ, chính quyền tỉnh Sơn La đã lãnh đạo nhân dân thực hiện công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, khôi phục phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; nhanh chóng củng cố lực lượng, xây dựng hệ thống chính trị, xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, tiến hành xóa mù chữ và bổ túc văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa, xóa bỏ các
hủ tục lạc hậu…
Suốt những năm tháng kháng chiến chống Mĩ cứu nước, đồng bào các dân tộc Sơn La đã đoàn kết thành một mặt trận, mỗi người dân là một chiến
sĩ Đồng bào các dân tộc trong tỉnh Sơn La đã hăng hái tham gia các phong
trào yêu nước: Thanh niên với phong trào “Ba sẵn sàng”, phụ nữ với phong trào “Ba đảm đang” với quyết tâm “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt” tất cả cho tiền tuyến lớn “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” Trong
công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hàng ngàn con em các dân tộc Sơn La lại lên đường cứu nước, tham gia các chiến dịch lớn, cùng toàn dân, toàn quân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất
Tổ quốc Những địa danh “Cầu Tà Vài”, “Cầu trắng”… và hinh tượng người phụ nữ dân tộc Sơn La, vừa tham gia lao động sản xuất, vừa chiến đấu, bắn rơi máy bay địch trong bài hát “Người Châu Yên bắn may bay” vẫn in đậm trong trái tim mỗi người dân Tây Bắc và trở thành bài ca bất hủ, vang vọng mãi đến tận hôm nay
Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) đến nay, cùng với công cuộc đổi mới đất nước với sự nỗ lực và quyết tâm của Đảng, chính quyền, nhân dân tỉnh Sơn La đã phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái đã làm cho Sơn La có những
sự thay đổi hết sức quan trọng: sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc tiếp tục
Trang 36được củng cố và phát huy; sự nghiệp đổi mới được thực hiện trên nhiều lĩnh vực; chính trị, xã hội và kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao; an sinh xã hội được chăm lo nhiều hơn…
Ghi nhận những thành tích xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, lao động sản xuất của nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn
La, Đảng và Nhà nước đã trao tặng cho tỉnh Sơn La nhiều phần thưởng cao quý: danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Pháp cho 21 tập thể, 6 cá nhân; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cho 9 tập thể, 5 cá nhân; 5 tập thể và 8 cá nhân được tặng danh hiệu Anh hùng lao động… Tỉnh Sơn La vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Huân chương sao vàng Những thành tích và phần thưởng cao quý trên mãi mãi là niềm tự hào, là sự động viên to lớn đối với đồng bào các dân tộc ở tỉnh Sơn La trong sự nghiệp cách mạng hôm nay
Những thành tựu đạt được trong quá trình đổi mới rất to lớn và đáng tự hào cho thấy khối đại đoàn kết dân tộc cộng đồng các dân tộc tỉnh Sơn La đã
có tầm cao mới và chiều sâu mới, là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển, làm cho thế và lực của cách mạng tỉnh Sơn La hiện nay được tăng cường Có thể nói, đoàn kết trong lao động và trong chiến đấu là một trong những nhân
tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng ở tỉnh Sơn La hiện nay
1.2.3 Các dân tộc cư trú phân tán và xen kẽ nhau
Các dân tộc ở tỉnh Sơn La không có lãnh thổ riêng rõ rệt, họ sống xen
kẽ với nhau Xu hướng sống xen kẽ giữa các dân tộc ngày càng có chiều hướng gia tăng, điều đó tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc cùng nhau thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Các dân tộc cư trú phân tán và xen kẽ nhau được thể hiện rất rõ, địa bàn cư trú của người Kinh chủ yếu tập trung ở phố xá, ở ven đường quốc lộ
và ở các nông trường Song cũng có một số bộ phận đến sinh sống ở vùng
Trang 37cao, rẻo giữa các vùng dân tộc thiểu số của người Thái, Mông, Mường… Đồng bào Kinh có bộ phận lên lập nghiệp ở Sơn La từ xa xưa Bộ phận thứ hai, từ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, nghe theo tiếng gọi của Đảng lên Sơn La
và các tỉnh miền núi Tây Bắc xây dựng kinh tế mới từ sau chiến dịch Điện Biên Phủ Đồng bào Kinh ở Sơn La sinh sống xen kẽ với các dân tộc bản địa Sơn La, đã nhanh chóng hòa nhập trong lao động sản xuất, giao lưu văn hóa, đoàn kết tạo ra sự gắn bó, hòa đồng, hòa nhập cùng xây dựng cộng đồng các dân tộc ở Sơn La
Người Thái có mặt ở Sơn La từ rất sớm, bao gồm hai nhánh là Thái đen (Tay đăm) và Thái trắng (Tay đón), người Thái cư trú ở ven sông vùng trung lưu sông, suối và chiếm cứ các các thung lũng tương đối rộng, thuận tiện việc trồng lúa nước và chăn nuôi Bên cạnh đó còn có một số nghề thủ công như trồng bông dệt vải, làm mộc, rèn,… Người Mông có tập quán du canh du cư, nguồn sống chính là làm nương rẫy, trồng ngô, lúa, lúa mạch, có nơi làm ruộng bậc thang Ngoài ra, họ còn trồng lanh để lấy sợi dệt vải, nghề thủ công khá đa dạng như rèn đúc dụng cụ, làm giấy bản, làm đồ đựng bằng
gỗ, thợ bạc làm đồ trang sức Dân tộc Mường thường định cư ở nơi có nhiều đất canh tác, dọc theo sông, suối, gắn với nghề trồng lúa nước Nghề thủ công mĩ nghệ của người Mường cũng khá phát triển như nghề dệt vải thổ cẩm, dệt tơ lụa, đan lát mây tre Ngoài ra các dân tộc La Ha, Khơ Mú, Lào, Dao, Xinh Mun,… thường sống đan xen với nhau ở khắp các huyện, xã Mặc
dù sống xen kẽ hay biệt lập, ở thị trấn đông người hay ở vùng cao, vùng sâu
xa xôi mối quan hệ về dân tộc vẫn giữ được khá chặt chẽ Cách đây chưa lâu (khoảng năm, sáu chục năm), ở Sơn La hầu hết cư dân vẫn là người tại chỗ, mỗi dân tộc đều có khu vực cư trú riêng, ranh giới giữa các tộc người, giữa các bản còn rõ ràng thì hiện nay ở Sơn La hầu như không có huyện nào chỉ
có một dân tộc cư trú Nhiều huyện có tới 9 dân tộc cư trú như Mai Sơn,
Trang 38Mộc Châu, Yên Châu, Phù Yên Phần lớn các huyện có từ 5 dân tộc trở lên
cư trú Nhiều xã, bản có tới 2 - 3 dân tộc cùng sinh sống
Mặt khác, cộng đồng các dân tộc Sơn La cư trú phân tán và xen kẽ nhau nhưng luôn có ý thức tương trợ, hợp tác phát triển với tinh thần đề cao vai trò tập thể, mọi công việc chung do cả bản hay cả tổ bàn bạc và quyết định Chính tư tưởng tốt đẹp này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng tinh thần đoàn kết với lẽ sống “mọi người vì mỗi người, mỗi người vì mọi người”
Cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ở Sơn La, đã tạo điều kiện mở rộng giao lưu, tăng cường hiểu biết lẫn nhau cùng tiến bộ và tăng cường quan hệ
về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc, làm cho các dân tộc hiểu nhau, hòa hợp và xích lại gần nhau trong lao động sáng tạo, trong đời sống vật chất, sinh hoạt văn hóa và hôn nhân gia đình Do sống gần nhau, việc kết hôn giữa thanh niên nam nữ thuộc các dân tộc khác nhau ngày càng phổ biến, càng có thêm điều kiện đoàn kết và hoà hợp giữa các dân tộc anh
em Thực tế đó không làm lu mờ, xóa bỏ ý thức dân tộc, đồng tộc của mỗi cá nhân, không làm tan biến sắc thái riêng biệt, những đặc thù về văn hóa, tâm
lý dân tộc Đoàn kết, thống nhất, gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau trong từng dân tộc
và trong các dân tộc Sơn La đặc điểm nổi bật, là giá trị văn hóa đặc sắc và đây luôn là quy luật tồn tại của từng dân tộc trong công cuộc chinh phục thiên nhiên, phát triển kinh tế - xã hội và đấu tranh chống kẻ thù xâm lược qua các giai đoạn lịch sử
Như vậy, hình thái cư trú, xen kẽ làm cho quan hệ xã hội, hợp tác kinh
tế, giao lưu văn hóa… của các dân tộc ở Sơn La được tăng cường, đồng thời củng cố bản sắc văn hóa của từng dân tộc Nhưng cư trú phân tán và xen kẽ nhau cũng rất dễ tạo ra mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân giữa các dân tộc do thiếu hiểu biết và thiếu tôn trọng phong tục tập quán văn hóa giữa dân tộc này với dân tộc khác nên xuất hiện mâu thuẫn, tranh chấp về lợi ích, nhất là
Trang 39lợi ích kinh tế, dẫn đến va chạm giữa những người thuộc các dân tộc cùng sống trên một địa bàn
1.2.4 Bản sắc văn hóa của các dân tộc phong phú, đa dạng trong thống nhất
Từ xưa tới nay, các dân tộc anh em ở Sơn La cùng với cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã chiến đấu bất khuất không chỉ bảo vệ cuộc sống vật chất, mà còn chống lại sự đồng hóa, để bảo tồn lối sống và bản sắc tộc người của mình trước các thế lực ngoại xâm Văn hóa các dân tộc Sơn La luôn mang trong mình nó nội dung thống nhất, được cố kết trong quá trình chung sống và được thể hiện đa dạng trong nền văn hóa Việt Nam muôn màu muôn
vẻ, tạo nên sức mạnh thần kỳ để xây dựng nên nền văn hóa chung của dân tộc ta và không bị đồng hóa bởi văn hóa ngoại lai Ở Sơn La, việc coi bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc là sức mạnh nội tại của mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là hạt nhân năng động nhất trong toàn bộ tinh thần sáng tạo truyền từ đời này qua đời khác Bản sắc văn hóa làm cho một dân tộc của sống trong trên mảnh đất Sơn La luôn là chính mình Bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc còn là mối liên hệ thường xuyên, có định hướng của cái riêng (văn hóa mỗi dân tộc) và cái chung (văn hóa toàn thể dân tộc) Mỗi dân tộc trong quá trình giao lưu văn hóa, sẽ cống hiến những gì đặc sắc của mình vào kho tàng văn hóa chung của toàn thể dân tộc Vệt Nam “Văn hóa Sơn La đã có một quá trình lịch sử kéo dài và nối liền từ tiền – sơ sử cho đến ngày nay Các đặc điểm địa lý tự nhiên và lịch sử xã hội của vùng đất này đã tạo nên một vị thế và đặc điểm văn hóa riêng, có những đóng góp quan trọng vào tiến trình văn hóa dân tộc [47, tr 423]
Nói đến Sơn La là nói đến một vùng văn hóa đa dạng, phong phú, giàu hương sắc và đậm đà bản sắc dân tộc, bởi mảnh đất này là nơi hội tụ sinh sống từ lâu đời của 12 dân tộc anh em, mỗi dân tộc có một kho tàng di sản văn hóa mang sắc thái riêng và hết sức quý giá Thực tế cho thấy, các dân tộc
ở tỉnh Sơn La dù đa số hay thiểu số đều liên kết với nhau bằng những giá trị
Trang 40văn hóa, tạo thành ý thức tự giác dân tộc, tức là có chung một khát vọng được cùng chung sống, có chung một số phận lịch sử thể hiện ở ký ức lịch sử (lịch sử, truyền thuyết, huyền thoại, phong tục ) Với tư cách là cộng đồng các dân tộc, các dân tộc ở Sơn La tùy theo khả năng của mình đều góp phần xây dựng nên lịch sử và văn hóa Việt Nam đa dân tộc Họ đều có ý thức tự giác là người Việt Nam, là công dân Việt Nam, họ đều có quyền lợi và nghĩa
vụ bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thống nhất và đa dạng Tuy nhiên, mỗi dân tộc cư trú trên địa bàn Sơn La có bản sắc văn hoá riêng, được rút tỉa, chọn lọc ra từ tổng thể văn hóa của dân tộc, bao gồm văn hóa vật thể và đặc biệt là văn hóa phi vật thể, những gì mà mỗi dân tộc coi
đó là thân thương, là thiêng liêng, là đặc trưng nổi trội nhằm phân biệt với các dân tộc khác Những bản sắc văn hoá riêng đó đã trở thành nếp sống, trở thành các chuẩn giá trị được đồng bào giữ gìn và lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác Đó là những nét đẹp trong truyền thống sản xuất, trong cách
ăn, ở, mặc, trong cách đối nhân xử thế, trong đời sống tâm linh hay trong văn học nghệ thuật của cộng đồng các dân tộc Thái, Mông, Dao ở Sơn La Chính sự phát triển đó đã góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng trong tính thống nhất của nền văn hoá các dân tộc ở tỉnh Sơn La
Hiện nay, tại Bảo tàng Sơn La còn lưu giữ hơn 13.000 hiện vật, di vật,
cổ vật trong đó có hơn 4.000 hiện vật thể khối với nhiều cổ vật giá trị Với
26 di tích được công nhận, trong đó có 15 di tích cấp quốc gia, 11 di tích cấp tỉnh Trong số đó phải kể đến bộ sưu tập chữ Thái cổ, chữ Dao cổ với hơn 1.000 cuốn thuộc các thể loại như: sử thi, trường ca, truyện thơ dân gian, sưu tập bộ trống đồng và đồ đồng cổ có giá trị phục vụ nghiên cứu khoa học
Văn hóa của Sơn La được hình thành từ bản sắc văn hóa lâu đời của các dân tộc thiểu số bản địa gốc Sơn La và nhiều dân tộc khác từ các vùng, miền đến định cư Chính sự đan xen, hòa quyện giữa các yếu tố văn hóa này
đã tạo cho Sơn La có một kho tàng văn hóa dân gian đặc sắc, phong phú, đa